Trong hội nhập kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò cực kỳ to lớn
Trang 1Lêi më ®Çu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đối với bất kỳ một quốc gia nào, tốc độ phát triển của đầu tư đều quyếtđịnh tốc độ phát triển nền kinh tế và cũng chính là thước đo đánh giá khảnăng phát triển của quốc gia đó Đầu tư vốn theo dự án đang ngày càng trởthành một xu hướng tất yếu, phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn ở mọiquốc gia khác trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển Hướng tớimục tiêu Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước, nâng cao thu nhập chongười dân, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động… nhànước ta đã rất chú trọng, khuyến khích phát triển hoạt động đầu tư theo dự án,coi đây là cơ sở để xây dựng một nền kinh tế tăng trưởng vững mạnh, hộinhập với kinh tế thế giới
Quá trình trên đòi hỏi một khối lượng vốn rất lớn Với chức năng thuhút và phân bổ vốn cho nền kinh tế, vai trò và vị thế của các Ngân hàngthương mại ngày càng được củng cố và nâng cao Đầu tư vốn theo dự án cũngtrở thành một trong những lĩnh vực kinh doanh chủ yếu mang lại lợi nhuậncao nhất cho Ngân hàng Tuy nhiên, để đảm bảo lợi nhuận và an toàn chonguồn tài trờ dự án của mình đồng thời cũng là bài toán khá nan giải, phức tạpđối với các NHTM Điều này xuất phát từ đặc tính đa dạng và hàm chứanhiều rủi ro của hoạt động đầu tư theo dự án Do vậy, thẩm định dự án đầu tưluôn là một công việc cần thiết, một công cụ hữu hiệu mà mỗi ngân hàng đềuphải thực hiện trước khi tiến hành tài trợ Về thực chất thì công tác thẩm định
là việc kiểm soát trước hoạt động tín dụng, và có thể nói chất lượng công tácthẩm định quyết định đến phần lớn chất lượng tín dụng sau này, nâng cao chấtlượng thẩm định dự án đầu tư chính là nâng cao chất lượng tín dụng cho ngânhàng Đây hiện đang là một khó khăn rấtl lớn của các ngân hàng thương mạiViệt Nam trong tiến trình tiếp tục đổi mới theo xu hướng hội nhập quốc tếbởi những hạn chế nhất định về trình độ, công nghệ, kỹ thuật… trong thẩmđịnh Vấn đề nâng cao chất lượng thẩm định dự án luôn thu hút được sự quantâm và đầu tư của tất cả các ngân hàng
Chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội là một chi nhánh trẻ, mới đượcthành lập và đi vào hoạt động từ năm 2001 Công tác thẩm định dự án đầu tư
Trang 2tại chi nhánh tuy đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhưng không thểtránh được một số tồn tại nhất định do nhiều nguyên nhân khách quan và chủquan khác nhau Điều này ảnh hưởng không nhỏ dến hiệu quả đầu tư và nănglực cạnh tranh của ngân hàng trong lĩnh vực tài trợ dự án so với các đơn vịkhác Nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư luôn là một yêu cầu đòihỏi khách quan, là mục tiêu nỗ lực không ngừng của chi nhánh trong suốt thờigian qua để xây dựng hình ảnh và uy tín của mình.
Từ những nguyên nhân trên, cùng những kiến thức đã có và sự quan
tâm tìm hiểu của bản thân, em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “ Một số giải
pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội ” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp với
mong muốn sẽ đưa ra được một số đóng góp nhất định để nâng cao hơn chấtlượng thẩm định tại chi nhánh thực tập
2 Mục tiêu của đề tài
Từ những lý luận cơ bản về thẩm định dự án, nghiên cứu tình hình thực
tế tại đơn vị thực tập, đề tài đề ra phương hướng và giải pháp nhất định nhằmhoàn thiện nội dung và quy trình thẩm định, đáp ứng yêu cầu nâng cao chấtlượng thẩm định dự án của ngân hàng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Thẩm định dự án đầu tư là một công việc phức tạp, đa dạng liên quanđến nhiều yếu tố Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chỉ xin đề cập đếnnhững khái niệm, nội dung cơ bản nhất của hoạt động thẩm định dự án, quytrình và một số kết quả của hoạt động này tại chi nhánh NHNo&PTNT Bắc
Hà Nội trên cơ sở nghiên cứu một ví dụ thẩm định cụ thể Từ đó đưa ra một
số giải pháp và kiến nghị để nâng cao chất lượng công tác thẩm định tại ngânhàng
4 Phương pháp nghiên cứu.
Khoá luận sử dụng phương pháp nghiên cứu biện chứng khoa học, kếthợp so sánh, thống kê, nhận xét, lý luận để nêu bật nội dung của đề tài
5 Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm có ba phần, chia thành ba chương như sau:
Trang 3Chương I: Lý luận chung về chất lượng thẩm định dự án đầu tư của Ngân hàng Thương Mại.
Chương 2: Thực trạng chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội trong thời gian qua
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội.
Đây là một lĩnh vực nghiên cứu rất rộng, liên quan đến nhiều vấn đề,đòi hỏi một kiến thức chuyên sâu vững vàng và mức độ am hiểu nhất định vềlĩnh vực tài trợ dự án Dù đã rất cố gắng nhưng do những hạn chế lớn về trình
độ cũng như kinh nghiệm bản thân, đề tài chắc chắn không tránh khỏi nhữngsai sót, em rất mong thầy cô cùng các bạn sẽ đóng góp những ý kiến giúp đỡ
để đề tài có thể hoàn thiện hơn
Qua đây, em xin được gửi lời cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáoNguyễn Thuỳ Dương cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô chú đang làm việctại chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội đã giúp em hoàn thành khoá luậnnày
Em xin trân trọng cảm ơn!
Sinh viên thực hiện Trịnh Quỳnh Nga
Trang 4CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI.
1.1 Tổng quan về dự án đầu tư.
1.1.1 Khái niệm dự án đầu tư.
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới trong những thập niên gần đây đãkhẳng định vai trò của đầu tư đối với sự phát triển của mỗi quốc gia nói chung
và từng doanh nghiệp nói riêng Đầu tư cho tương lai đóng một vai trò thenchốt, quyết định vận hội kinh tế của các quốc gia và sự tồn tại, phát triển củacác doanh nghiệp thông qua hoạt động chính là bỏ vốn ban đầu với mục đíchtìm kiếm lợi nhuận cao hơn chi phí đã bỏ ra Các nguồn lực được sử dụngtrong đầu tư là vốn, tài nguyên, chất xám, thời gian…, lợi nhuận dự kiến đạtđược có thể lượng hóa (như lợi nhuận, doanh thu ) hay không thể lượng hóa(như đóng góp vào sự phát triển y tế, giáo dục, xã hội…) Hoạt động đầu tưrất đa dạng và phong phú, nhưng tựu chung lại đều có một nội dung: đó là quátrình sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu nhất định trong một thờigian nhất định Để thực hiện được mục tiêu này, một trong những điều kiệnkhông thể thiếu là các nhà đầu tư trước khi đưa ra quyết định nhất thiết phảilập được dự án đầu tư Thực tiễn đã chứng minh, hiệu quả của đầu tư chỉ đượctối đa hóa khi nó được tiến hành trên cơ sở các dự án được soạn thảo và xemxét một cách kĩ lưỡng Vì vậy đầu tư theo dự án trở thành xu thế phổ biếntrong nền kinh tế thị trường
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về dự án đầu tư tùy theo từngcách tiếp cận và phương diện tiếp cận cụ thể Theo Ngân hàng thế giới thì:
“Dự án là tổng thể các chính sách hoạt động và chi phí liên quan đến nhauđược hoạch định nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một khoảngthời gian nhất định” Đứng trên phương diện những nhà quản lý: “Dự án làtập hợp các đối tượng được hình thành và hoạt động theo một kế hoạch cụ thể
để đạt được mục tiêu nhất định trong khoảng thời gian nhất định”
Trang 5Trong giáo trình Quản trị dự án đầu tư trong nước và quốc tế, Phó giáo
sư - tiến sĩ Võ Thanh Thu lại có một định nghĩa khác: “Dự án đầu tư hay còngọi là luận chứng kinh tế là văn kiện phản ánh trung thực kết quả nghiên cứu
cụ thể các vấn đề: thị trường, kinh tế, kỹ thuật… có ảnh hưởng trực tiếp đến
sự vận hành khai thác và tính sinh lợi của công cuộc đầu tư” Theo nghị định
số 177/CP về điều lệ quản lý dự án đầu tư và xây dựng, dự án đầu tư đượcđịnh nghĩa: “Là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộnghay cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về sốlượng, cải tiến hay nâng cao chất lượng hay dịch vụ nào đó trong khoảng thờigian nhất định”
Như vậy, có thể thấy, về bản chất, dự án đầu tư chính là tập hợp kết quảnghiên cứu liên quan đến sự vận hành và tính sinh lời của công cuộc đầu tư
Về mặt hình thức, nó là tài liệu do chủ đầu tư chịu trách nhiệm lập, trong đótrình bày một cách khoa học và đầy đủ các nội dung liên quan đến công cuộcđầu tư, nhằm khẳng định đúng đắn của chủ trương đầu tư và đảm bảo hiệuquả của vốn đầu tư
1.1.2 Vai trò của dự án đầu tư.
.Như phần trên đã trình bày, dự án là “sản phẩm” đem lại cho đầu tưmột hiệu quả như mong muốn Chính nguồn gốc ra đời của dự án đã cho thấykhái quát vai trò của dự án đối với sự phát triển Vai trò ấy được thể hiện cụthể ở những điểm chính sau:
Đối với chủ đầu tư, dự án là căn cứ quan trọng để quyết định sự bỏ vốn
đầu tư, đồng thời là phương tiện quan trọng để các tổ chức tín dụng xem xéttài trợ cho vay vốn Dự án cũng là cơ sở để chủ đầu tư theo dõi, đôn đốc,kiểm tra quá trình thực hiện đầu tư, kế hoạch mua sắm máy móc, thiết bị…cũng như kịp thời điều chỉnh những tồn tại, vướng mắc trong thực hiện vàkhai thác công trình
Đối với Nhà nước, dự án đầu tư là cơ sở để các cơ quan quản lý xem
xét, phê duyệt cấp vốn và cấp giấy phép đầu tư Dự án được phê chuẩn chỉ khi
có mục tiêu phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của đất nước, mang lại
Trang 6hiệu quả kinh tế xã hội Đồng thời đây cũng chính là cơ sở pháp lý để giảiquyết những mâu thuẫn nảy sinh giữa các bên liên quan liên quan.
Đối với các nhà tài trợ, khi tiếp cận các dự án xin tài trợ vốn của chủ
đầu tư, các tổ chức tài chính tín dụng se xem xét nội dung cụ thể , để từ đó điđến quyết định đầu tư hay không Khi chấp nhận đầu tư, dự án sẽ là cơ sở đểcác tổ chức này lập kế hoạch cấp vốn hay cho vay theo tiến độ thực hiện đầu
tư, thu hồi vốn vay
1.2.3 Yêu cầu của dự án.
Dự án có một vai trò rất quan trọng đối với nhiều đối tượng, do vậyviệc soạn thảo là một công việc khá khó khăn và phức tạp Để một dự án đầu
tư có tính thuyết phục và thu hút các bên tham gia, khi soạn thảo dự án cầnđảm bảo những yêu cầu cơ bản sau:
Một là, dự án phải có tính khoa học Đây là điều kiện hàng đầu của dự
án Số liệu thông tin, dữ liệu xây dựng dự án phải đảm bảo tính trung thực,chính xác, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Quá trình phân tích, lý giải các nộidung đã nêu trong dự án phải đảm bảo tính logic, chặt chẽ Do khối lượngtính toán trong một dự án thường lớn, do vậy phải lựa chọn phương pháp đơngiản, chính xác Việc trình bày cũng phải có hệ thống, rõ ràng, sạch đẹp
Hai là, tính pháp lý Tính pháp lý của dự án phản ánh quyền lợi của
quốc gia trong dự án Cơ sở pháp lý của dự án cần vững chắc, phù hợp vớichủ trương, chính sách của nhà nước
Ba là, tính thực tiễn Tính thực tiễn của dự án thể hiện ở khả năng ứng
dụng và triển khai trong thực tế Điều này đòi hỏi, mỗi dự án phải xuất phát từthực tế, phải được xây dựng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể về mặt bằng,thị trường, vốn…
Bốn là, tính thống nhất Dự án phải biểu hiện thống nhất lợi ích giữa
các bên tham gia Việc xây dựng dự án từ bước tiến hành đến nội dung, hìnhthức, cách trình bày dự án phải tuân thủ theo những quy định chung mangtính quốc tế Điều này sẽ tạo thuận lợi cho các bên chấp thuận dự án
Năm là, tính phỏng định Thực tế xảy ra không hoàn toàn đúng với dự
báo, cho dù người soạn thảo đã có rất nhiều kinh nghiệm cũng như có sự
Trang 7chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo Vì vậy, dự án cần có tính phỏng định Sự phỏngđịnh ấy phải dựa trên những căn cứ khoa học, trung thực, khách quan, nhằmgiảm thiểu rủi ro, bất định trong quá trình thực hiện dự án.
1.1.4 Chu trình dự án.
Một công cuộc đầu tư được xem như bắt đầu từ ý tưởng về dự án đầu
tư Từ ý tưởng ban đầu đến việc xây dựng, thực hiện và kết thúc dự án là cảmột quá trình Quá trình này thường được chia làm 3 giai đoạn và trong mỗigiai đoạn lại gồm rất nhiều công việc diễn ra vừa tuần tự vừa đan xen lẫnnhau
Giai đoạn 1: Chuẩn bị đầu tư
Giai đoạn này thường gồm những bước chính sau:
- Nghiên cứu cơ hội đầu tư
- Nghiên cứu tiền khả thi
- Nghiên cứu khả thi
- Thẩm định để ra quyết định đầu tư
Giai đoạn 2: Thực hiện đầu tư
Giai đoạn này bao gồm các bước:
- Xin giao đất hoặc thuê đất (đối với các dự án có sử dụng đất)
- Xin giấy phép xây dựng (nếu yêu cầu phải có giấy phép xây dựng) vàgiấy phép khai thác tài nguyên (nếu có khai thác tài nguyên)
- Thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng
- Đàm phán, ký kết các hợp đồng
- Thiết kế và lập dự toán thi công công trình
- Thi công xây lắp công trình
- Vận hành, chạy thử nghiệm thu công trình
Giai đoạn 3: Vận hành kết quả đầu tư.
Đây là giai đoạn cuối cùng của dự án đầu tư, thực chất là việc tổ chứcsản xuất kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu của dự án đề ra, trong đómục tiêu chủ yếu là thu hồi vốn và lợi nhuận Do tình hình chưa ổn định nên ởnhững năm đầu, công suất thực tế của dự án không cao Thông thường, năm
Trang 8thứ nhất là khoảng 50% công suất thiết kế, năm thứ hai là 75%, và từ năm thứ
ba mới đạt mức cao nhất là 90% công suất thiết kế
1.2 Những vấn đề cơ bản về thẩm định dự án đầu tư.
1.2.1 Khái niệm thẩm định dự án đầu tư.
Hoạt động đầu tư theo dự án là hoạt động mang lại lợi nhuận cao songlại hàm chứa nhiều rủi ro Xuất phát từ tính phức tạp của đầu tư nên ngườisoạn thảo dù có nhiều kinh nghiệm và chuẩn bị hết sức chu đáo, kỹ lưỡngcũng không thể lường hết được những yếu tố sẽ chi phối hoạt động đầu tưtrong tương lai, cũng như khẳng định được dự án đó sẽ thành công 100% Bêncạnh đó, đứng trên góc độ quản lý Nhà nước về đầu tư và quy hoạch đầu tư,cần có sự đánh giá một cách tổng thể, khách quan về tác động của dự án đóđối với quốc gia trên mọi phương diện Với tư cách là người tài trợ vốn cho
dự án, các Ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính – tín dụng cũngđặc biệt quan tâm đến việc thẩm định dự án để đảm bảo tính hiệu quả và antoàn của công cuộc đầu tư Có thể nói, thẩm định dự án đầu tư không chỉ làmột khâu trong quá trình tín dụng mà còn là điều kiện tiên quyết, một yếu tốkhông thể thiếu tính cân nhắc của Ngân hàng, tạo cơ sở vững chắc cho quátrình ra quyết định tài trợ vốn
Thẩm định dự án đầu tư là việc tiến hành nghiên cứu phân tích mộtcách khách quan, khoa học và toàn diện tất cả các nội dung kinh tế, kỹ thuậtcủa dự án, đặt trong mối tương quan với môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội
để cho phép đầu tư và quyết định tài trợ vốn
1.2.2 Mục đích của thẩm định dự án đầu tư.
Thẩm định dự án đầu tư là một công việc phức tạp bao gồm nhiềubước, nhiều công đoạn Tuy là khâu cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị đầu tưnhưng nó lại là khâu then chốt quyết định sự thành công hay thất bại của dự
án và được coi là khởi đầu quan trọng nhất của quá trình đầu tư tín dụng Tùytheo các quan điểm và cách tiếp cận thẩm định dự án khác nhau mà kết quảthẩm định cũng có ý nghĩa khác nhau đối với mỗi chủ thể
Đối với nhà đầu tư: việc thực hiện thẩm định độc lập với quá trình
soạn thảo sẽ cho phép chủ đầu tư dự án nhìn nhận lại dự án của mình một
Trang 9cách khách quan hơn, trên cơ sở đó kịp thời phát hiện ra những thiếu sót để bổsung, sửa chữa.
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: thông qua việc thẩm định sẽ
đánh giá được mức độ phù hợp của dự án đối với quy hoạch phát triển chungcủa ngành, địa phương và của cả nước trên các lĩnh vực: mục tiêu, quy hoạch
và hiệu quả Đồng thời, cũng giúp các nhà quản lý xác định được tính lợi hại
và sự tác động của dự án khi đi vào hoạt động trên các khía cạnh như: ứngdụng công nghệ, ô nhiễm môi trường hay các lợi ích về kinh tế, xã hội mà dự
án đem lại
Đối với các ngân hàng: việc thẩm định dự án đầu tư có một vai trò đặc
biệt quan trọng Là người trực tiếp tài trợ cho dự án, các ngân hàng thườngxem xét, cân nhắc rất kỹ lưỡng trước khi ra quyết định đầu tư tín dụng và việcthẩm định dự án cũng được các ngân hàng tiến hành theo một quy trình chặtchẽ theo các chỉ tiêu cụ thể nhằm các mục đích:
- Rút ra kết luận chính xác về tính khả thi, hiệu quả kinh tế, khả năngtrả nợ và những rủi ro có thể xảy ra với dự án để quyết định đồng ý hoặc từchối cho vay
- Thông qua những thông tin và kinh nghiệm đã đúc kết được trong quátrình thẩm định nhiều dự án khác nhau, ngân hàng thương mại chủ động thamgia góp ý cho chủ đầu tư nhằm bổ sung, điều chỉnh những nội dung còn thiếusót trong dự án, góp phần nâng cao tính khả thi của dự án
- Làm cơ sở để xác định số tiền vay, thời gian cho vay, mức thu nợ hợp
lý, đảm bảo vừa tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động có hiệuquả, vừa có khả năng thu hồi vốn cho vay đúng hạn
1.2.4 Nội dung công tác thẩm định dự án đầu tư.
Để đảm bảo tính an toàn, hợp pháp, hiệu quả của công cuộc đầu tư theo
dự án, các ngân hàng trước khi quyết định tài trợ không chỉ thẩm định các yếu
tố liên quan đến dự án đầu tư mà còn rất chú trọng đến việc xem xét, nghiêncứu tình tràng
doanh nghiệp vay vốn Có thể nói, thẩm định doanh nghiệp và thẩm định dự
án đầu tư là hai nội dung quan trọng chi phối quyết định đầu tư của ngân hàng
Trang 101.2.4.1 Thẩm định doanh nghiệp vay vốn.
Việc lựa chọn các yếu tố để thẩm định doanh nghiệp vay vốn phụthuộc rất nhiều vào quy mô, số lượng, thời hạn khoản vay và nó có ảnh hưởngkhông nhỏ đến sự thành bại của dự án cũng như mức độ rủi ro, tính an toàn,lành mạnh của khoản đầu tư Thông thường, cán bộ tín dụng xem xét các yếu
tố sau:
* Các yếu tố định tính:
- Năng lực pháp lý của doanh nghiệp xin vay
- Uy tín doanh nghiệp vay vốn
- Năng lực quản lý
- Các điều kiện kinh tế có liên quan: chính là môi trường vĩ mô của dự
án, bao gồm các yếu tốnhư: khả năng phát triển của ngành, mức độ tăngtrưởng hay suy thoái của nền kinh tế, mức độ bất ổn về chính trị…
* Các yếu tố mang tính định lượng (thẩm định tài chính doanh nghiệp).
- Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán:
- Nhóm chỉ tiêu này phản ánh khả năng của doanh nghiệp trong việctrang trải các khoản nợ
- Nhóm chỉ tiêu hoạt động
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ cấu nguồn vốn
Các chỉ tiêu vừa nêu là các chỉ tiêu cơ bản thường được dùng để phântích tình hình tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho hoạt động tín dụng Ngânhàng khi tiến hành thẩm định cần phải phối hợp so sanh giữa các chỉ tiêu để
có thể đưa ra những quyết định chính xác và hiệu quả nhất Ngân hàng cũng
có thể dùng thêm một số chỉ tiêu khác để có một cái nhìn toàn diện hơn vềdoanh nghiệp như: các chỉ tiêu về chi phí so với doanh thu, lợi tức trước thuế
so với tài sản…
Trang 11a Thẩm định sự cần thiết và mục tiêu của dự án.
Trước tiên cán bộ tín dụng cần phải thẩm định cơ sở pháp lý của dự án:luận chứng kinh tế có được cấp thẩm quyền phê duyệt, các hợp đồng thươngmại, các quy định phê duyệt của các cấp chủ quan, các văn bản liên quan cầnthiết khác…
Mỗi một dự án, đánh giá được sự cần thiết phải đầu tư và những mụctiêu mà dự án cần đạt được là mối quan tâm hàng đầu của người thẩm định
Cụ thể, cán bộ tín dụng cần phải nắm bắt được những nội dung chủ yếu sau:
- Mục tiêu của dự án có thực sự cần thiết không? Có phù hợp với mụctiêu, chủ trương phát triển của ngành, của cả nước không? Mục tiêu nào làtrọng tâm của dự án? Lợi ích dự án mang lại đối với chủ đầu tư, đối với nềnkinh tế - xã hội và bản thân ngân hàng
- Đánh giá quan hệ cung cầu của sản phẩm hiện tại và dự đoán trongtương lai, từ đó xác định khả năng tham gia thị trường, tiềm năng phát triểncủa dự án
Trang 12Trong trường hợp đầu tư có máy móc thiết bị để hợp lý hóa sản xuất,cán bộ tín dụng cần phải phân tích năng lực tài chính hiện có, những côngđoạn thừa thiếu năng lực sản xuất, từ đó nêu bật lên sự cần thiết phải đầu tư
để đáp ứng nhu cầu đổi mới công nghệ, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm
- Khi vay, khách hàng cần phải chứng minh được khả năng thực thicông trình của mình, như khả năng xây dựng, mua sắm và lắp đặt máy móc,thiết bị, phương thức thanh toán, khả năng về địa điểm của dự án Ngoài ra,cán bộ tín dụng phải được biết về khả năng vận hành, quản lý khi công trìnhđược đưa vào hoạt động
b Thẩm định phương diện thị trường của dự án
Nghiên cứu thị trường trong dự án đầu tư xuất phát từ việc nắm bắt cácthông tin về nhu cầu của giới tiêu thụ để quyết định loại mặt hàng sản xuất,quy cách phẩm chất, khối lượng sản phẩm, mạng lưới phân phôi…cả ở hiệntại và tương lai Điều này đặc biệt quan trọng trong điều kiện cạnh tranh gaygắt của thị trường hiện nay, quyết định trực tiếp đến sự thành bại của dự án
Do đó, việc chủ đầu tư nghiên cứu kỹ nội dung thị trường và ngân hàng thẩmđịnh lại những luận cứ mà chủ đầu tư đã đưa ra là hết sức cần thiết để khẳngđịnh tính khả thi của dự án Tuy nhiên, việc thẩm định này rất phức tạp vìviệc nhận biết và vận dụng các quy luật của kinh tế thị trường là khó khăn,mang nặng tính lý thuyết, nguồn thông tin được sử dụng trong thẩm định lạikhông đủ độ tin cậy cao
* Xác định nhu cầu hiện tại của sản phẩm:
Nhu cầu hiện tại của sản phẩm được xác định thông qua mức tiêu thụhiện tại của sản phẩm đó
Mức tiêu thụ hiện tại = Tổng sản phẩm sản xuất trong nước + Tổngnhập khẩu - Tổng xuất khẩu - Tồn kho
Để xác định chính xác cần phải tìm hiểu thị trường trong nước, nướcngoài, mức thu nhập bình quân đầu người của từng vùng, thị trường tiêu thụ,tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người cũng như thói quen tập quántiêu dùng của người địa phương
* Dự báo nhu cầu tương lai
Trang 13Việc dự báo này thường được dựa trên giả thiết: những gì đã xảy ratrong quá khứ theo một quy luật nào đó sẽ vẫn diễn ra trong tương lai theoquy luật đó Do vậy, để việc dự báo được chính xác hơn, cần phải thu thập các
số liệu thông tin đầy đủ, chính xác với thời gian tối thiểu là 5 năm
Nhu cầu tiêu thụ = Lượng tiêu thụ Tốc độ tăng trưởng
năm sau năm trước bình quân
Dự báo này chỉ tương đối chính xác trong điều kiện kinh tế - xã hộiphát triển bình thường, tức là không có đột biến xảy ra
* Phân tích khả năng cạnh tranh
Việc phân tích khả năng cạnh tranh của sản phẩm được thể hiện trêncác mặt sau:
- Đánh giá tình hình cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường có gay gắtkhông?
- Xác định xem sản phẩm đó hiện đang và sẽ có doanh nghiệp nào sảnxuất? Xu hướng phát triển của các doanh nghiệp này như thế nào?
- Xác định ưu thế của dự án trong cạnh tranh
- Xác định công cụ để tiến hành cạnh tranh
c Thẩm định về phương diện kỹ thuật của dự án.
Đây là phần cố lõi của dự án, quyết định đến kết quả và hậu quả củađầu tư, nên được xem xét kỹ trước khi đánh giá các khía cạnh khác, kể cảnăng sinh lời về mặt tài chính và kinh tế của dự án Quá trình nghiên cứutrong điều kiện nhất định về vốn, thị trường, điều kiện xã hội cho phép lựachọn công nghệ, trang thiết bị phù hợp, địa điểm xây dựng tối ưu… chẳngnhững thỏa mãn các yêu cầu kinh tế kỹ thuật dự án đề ra, mà còn tránh gây ônhiễm môi trường và thuận lợi trong việc tiêu thụ sản phẩm Vì vậy, có thểnói, nghiên cứu kỹ thuật của dự án thực sự góp phần rất quan trọng vào việcđảm bảo tính khả thi của dự án đó Nó bao gồm những công việc sau:
- Lựa chọn địa điểm xây dựng
- Xác định quy mô, công suất dự án
- Lựa chọn công nghệ và trang thiết bị
Trang 14- Kiểm tra việc cung cấp nghuyên vật liệu và các yếu tố đầu vào khác
- Kiểm tra quy mô, giải pháp xây dưng công trình
- Kiểm tra tính hợp lý về kế hoạch, tiến độ thực hiện dự án
d Thẩm định về chi phí, doanh thu và lợi nhuận hàng năm của dự án.
Đối với người kinh doanh, chi phí sản xuất, doanh thu và lợi nhuậnluôn luôn là mối quan tâm hàng đầu Các ngân hàng thương mại tài trợ vốncho dự án cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề trên vì khả năng trả nợ vay của
dự án phụ thuộc rất lớn vào kết quả kinh doanh của chủ đầu tư Do vậy, thẩmđịnh về chi phí sản xuất, doanh thu và lợi nhuận hàng năm của dự án là việclàm không thể thiếu trong thẩm định tài chính dự án Để xác định được chiphí sản xuất hàng năm, người thẩm định cần đi sâu thẩm tra tính đầy đủ củacác yếu tố chi phí trong giá thành sản phẩm
Chi phí sử dụng vốn bình quân = k
m 1
I : lượng vốn của nguồn k
Rk : lãi suất tương ứng của nguồn k
m : số vốn huy độngDoanh thu hàng năm của dự án gồm: doanh thu từ sản phẩm chính, sảnphẩm phụ, tiền thu từ việc cung cấp dịch vụ cho bên ngoài, các khoản tiền thukhác Sau khi xác định được nguồn thu và nguồn chi trong kỳ, ngân hàng phảixác định dòng tiền ròng hàng năm của dự án:
NCFi = Bi – Ci Bi: nguồn thu năm thứ i
Ci: nguồn chi năm thứ i
NCFi: dòng tiền ròng hàng năm của dự án
e Thẩm định về phương diện tài chính của dự án.
Với vai trò là một chủ đầu tư, việc ngân hàng tham gia tài trợ cho dự áncũng chính là một hoạt động đầu tư tín dụng mà mục tiêu là an toàn và sinhlời Một dự án được coi là thành công dưới con mắt của ngân hàng chỉ khi nó
Trang 15tạo ra được lợi nhuận và đủ khả năng hoàn trả cả vốn lẫn lãi từ khấu hao vàlợi nhuận đó Vì thế, đánh giá khía cạnh tài chính của dự án được xem là yếu
tố chi phối nhất tới việc ra quyết định đầu tư của ngân hàng Thẩm định tàichính dự án được tiến hành theo những nội dung sau:
* Thẩm định tổng vốn đầu tư và tính khả thi của phương án nguồn vốn
+ Vốn cố định
+ Vốn lưu động án
+ Dự phòng vốn đầu tư
Trong phần này, cán bộ thẩm định phải xem xét, đánh giá mức độ hợp
lý, đầy đủ, cần thiết của tổng vốn đầu tư, cũng như nghiên cứu các yếu tố cóthể phát sinh thêm làm thay đổi số lượng hay cơ cấu nguồn vốn Từ đó, cán
bộ tín dụng đưa ra cơ cấu vốn đầu tư hợp lý mà vẫn đảm bảo đạt được mụctiêu dự kiến ban đầu của dự án, làm cơ sở xác định mức tài trợ tối đa mà ngânhàng nên tham gia vào dự án
- Xác định nhu cầu vốn đầu tư theo tiến độ thực hiện dự án
Việc thực hiện án cần phải trải qua nhiều giai đoạn với khối lượng côngviệc rất khác nhau cùng với sự tham gia của nhiều nguồn vốn Thông thường,một dự án có thể hình thành từ các nguồn sau:
+ Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp (bao gồm cả vốn do các bêntham gia đóng góp)
Trang 16+ Nguồn từ ngân sách nhà nước
+ Nguồn vốn tín dụng ngân hang
+ Nguồn vốn vay hay liên doanh với các nhà đầu tư nước ngoài
+ Nguồn vốn huy động trực tiếp thông qua con đường phát hành tráiphiếu
Cán bộ tín dụng sẽ xem xét, đánh giá về tiến độ thực hiện dự án, nhucầu vốn cho từng giai đoạn và tỉ lệ, khả năng từng nguồn vốn tham gia trongcác giai đoạn đó có hợp lý và bảo đảm hay không? Việc xác định tiến độ bỏvốn cho dự án và tra cơ cấu nguồn vốn cũng như sự đảm bảo của nó sẽ giúpcho quá trình điều hành vốn của ngân hàng được thuận lợi trong khâu lập kếhoạch, sử dụng vốn, tăng tính an toàn và hiệu quả cho công cuộc đầu tư củangân hàng Ngân hàng sẽ theo dõi tốt hơn các hoạt động của chủ đầu tư, từ đóđánh giá chính xác mức độ sinh lời của đồng vốn bỏ ra
* Thẩm định các chỉ tiêu tài chính của dự án.
Mục đích của thẩm định tài chính dự án lá giúp ngân hàng thương mạiđưa ra quyết định có tài trợ dự án hay không? Để đưa ra được quyết định đóthì các ngân hàng phải dựa trên các chỉ tiêu thẩm định tài chính cụ thể
Giá trị hiện tại ròng ( Net Present Value – NPV )
Giá trị hiện tại ròng là chênh lệch giữa tổng giá trị hiện tại của các dòngtiền thu được trong từng năm thực hiện dự án với vốn đầu tư bỏ ra được hiệntại hóa ở mốc 0 Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất trong thẩm địnhtài chính dự án
Chỉ tiêu NPV dùng để phản ánh lợi nhuận tuyệt đối của dự án Nó đượcxác định theo công thức sau:
P = TN – CFTrong đó: TN: Tổng thu nhập ròng sau thuế
CF: Tổng chi phí của giai đoạn thực hiện đầu tư
Trong điều kiện môi trường kinh doanh ổn định, lạm phát được kiềmchế ở mức thấp nhất, thì việc tính toán thu nhập chi phí mới chính xác Nhưng
Trang 17trên thực tế, dòng thu nhập và chi phí của một dự án đầu tư thường phát sinh
ở nhiều kỳ khác nhau theo thời gian Do vậy, để đánh giá chính xác lợi íchcủa dự án đầu tư, ngân hàng thường sử dụng phương pháp hiện giá, tức làchuyển lợi nhuận thu được hàng năm về cùng mặt bằng thời gian Lợi nhuậnsau khi tính chuyển này được gọi là giá trị hiện tại ròng
r
CF TN
Trong đó: TNt: thu nhập dự án năm thứ t
CFt: Chi phí của dự án năm thứ t
r: Lãi suất chiết khấu được lựa chọn
11r: Hệ số chiết khấu năm t ứng với lãi suất r đãchọn
Nếu NPV < 0 thì thu nhập của dự án không đủ bù đắp chi phí đã bỏ ra Nếu NPV = 0 tùy thuộc vào tình hình cụ thể mà chấp nhận hay từ chối.Nếu NPV > 0, DAĐT có hiệu quả, nếu NPV càng lớn, thì hiệu quả tàichính càng cao, dự án càng hấp dẫn
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ
Tỷ suất doanh lợi nội bộ hay lãi suất hoàn vốn nội bộ là tỷ suất chiếtbkhấu phải tìm sao cho với mức lãi suất đó tổng hiện giá của các khoản phảithu trong tương lai do đầu tư mang lại bằng hiện giá của đồng vốn đầu tư(ứng với nó là NPV = 0)
IRR = k1 +
2 1
1 2 1
NPV NPV
k k NPV
Để tăng tính chính xác của IRR thường hai giá trị lãi suất chiết khấuđược chọn không quá 5%
IRR chính là lãi suất thu hồi vốn mà bản thân dự án được tạo ra Vì thế
có thể so sánh IRR với các tỷ suất có liên quan khác như lãi suất cho vay củangân hàng Dự án được lựa chọn để đầu tư phải có IRR lớn hơn hoặc bằng lãisuất thông thường Còn nếu IRR của dự án đầu tư nhỏ hơn lãi suất vay vốn thì
Trang 18chứng tỏ đầu tư sẽ bị lỗ, nếu gửi tiền vào ngân hàng sẽ lợi hơn là bỏ vốn đầu
tư Chỉ tiêu IR tùy thuộc không những vào ngành nghề, lĩnh vực đầu tư màcòn tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng dự án như: cơ cấu vốn, điều kiệnkinh tế xã hội nơi thực hiện dự án, năng lực triển khai dự án của chủ đầu tư.Vìthế, dự án khác nhau sẽ có chỉ số IRR khác nhau.Nhìn chung nếu IRR lớn hơnmức chi phí vốn đầu tư thì dự án có hiệu quả và ngược lại Nếu dự án có IRRcàng lớn thì hiệu quả tài chính càng cao, dự án càng hấp dẫn và ngược lại
Chỉ số doanh lợi ( PI )
Chỉ số doanh lợi (profit index) là chỉ số phản ánh khả năng sinh lợi của
dự án, tính bằng tổng giá trị hiện tại của các dòng tiền trong tương lai chiacho vốn đầu tư bỏ ra ban đầu
PI cho biết một đồng vốn đầu tư bỏ ra sẽ tạo ra bao nhiêu đồng thunhập Thu nhập này chưa tính đến chi phí vốn đầu tư đã bỏ ra
CF
n 1 t
k: lãi suất chiết khấu, được mặc định là không đổi qua các năm
PI càng cao thì dự án càng dễ chấp nhận, nhưng tối thiểu phải bằng lãisuất chiết khấu Nếu không chi phí cơ hội bỏ ra khi thực hiện dự án khôngđược bù đắp Người ta thường sử dụng kết hợp chỉ tiêu này với chỉ tiêu NPV
Thời gian hoàn vốn đầu tư
Thời gian hoàn vốn đầu tư là khoảng thời gian cần thiết để thu nhậpròng đạt được vừa đủ hoàn lại số vốn đầu tư đã bỏ ra ban đầu
Tp =
KH P
Trang 19V : Tổng vốn đầu tư.
P: Lợi nhuận ròng trong kỳ
KH: Khấu hao tài sản cố định trong kỳ
Nếu khấu hao và lợi nhuận ròng của các năm khác nhau, người ta tính
bằng cách lấy vốn đầu tư trừ dần thu nhập mỗi năm cho đến khi thu hồi hết
vốn Tp cho biết thời gian thu hồi lại số vốn đã bỏ ra để đầu tư.Một dự án đầu
tư có Tp càng nhỏ càng tốt vì Tp càng nhỏ thì càng càng hạn chế được mức
độ rủi ro có thể xảy ra Chỉ tiêu này được các nhà tài trợ ưa thích vì thời giab
thu hồi vốn đầu tư vì thời gian thu hồi vốn đầu tư càng dài thì nhà trợ càng
phải đương đầu với rủi ro trong việc thu hồi vốn
Chỉ tiêu này có ưu điểm là dễ tính, đánh giá dự án một cách trực quan,
được sử dụng rộng rãi trong việc thẩm định những dự án có quy mô nhỏ, thời
gian thu hồi vốn nhanh Tuy nhiên, chỉ tiêu này cũng cần lưu ý khi sử dụng vì
nó không xét đến thu nhập sau thời kỳ Tp Do vậy, một dự án có Tp lớn
nhưng những thu nhập về sau lại cao hơn (làm cho NPV cao hơn) thì vẫn có
thể là một dự án tốt
Thời gian hoàn trả vốn vay
Thời gian hoàn trả vốn vay (Tv) về phương pháp được xác định tương
tự việc xác định Tp, chỉ khác một điều Tv được xác định căn cứ vào tổng số
vốn vay phải trả chứ không phải tổng vốn đầu tư
Ngoài việc tính Tv, người ta còn tính khả năng trả nợ, việc đánh giá
khả năng trả nợ thường dựa vào tỷ lệ đảm bảo trả nợ
Tổng số vốn vay
Tv =
Khấu hao TSCĐ + P dự án dùng để trả nợ + Nguồnkhác nếu có
Trang 20Tỷ lệ đảm bảo trả nợ càng cao thì khả năng trả nợ càng tốt Các nguồntrả nợ càng cao thì việc thu hồi vốn đúng hạn càng chắc chắn.
Khả năng thanh toán nợ DSCR (Debt Service Cover Ratio)
Chỉ số khả năng thanh toán nợ của dự án được tính trên cơ sở so sánhgiữa các nguồn trả nợ hàng năm của dự án với nợ phải trả (gốc và lãi theo kếhoạch) theo kế hoạch trả nợ
Chỉ tiêu này thường được so sánh với 1 Nếu DSCRt > 1 thì dự án đảmbảo khả năng hoàn trả nợ vay như dự kiến tính toán Ngược lại, nếu DSCRt <
1 dự án không có khả năng hoàn trả nợ vay theo kế hoạch trả nợ và thời giantrả nợ dự kiến,
Sử dụng chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán nợ từ nguồn trả hìnhthành từ hoạt động của dự án so với kế hoạch trả nợ dự kiến ban đầu
Điểm hòa vốn ( BEP – Break Event Point)
Điểm hòa vốn là điểm tại đó doanh thu bằng chi phí bỏ ra Về mặt toánhọc, điểm hòa vốn là giao điểm của đường biểu diễn doanh thu và chi phí
Tổng chi phí mà dự án bỏ ra bao gồm chi phí cố định (định phí) và chiphí biến đổi ( biến phí) Định phí ( FC – Fixed costs) là những chi phí khôngthay đổi khi sản lượng thay đổi Biến phí ( VC – Variable costs ) là những chiphí thay đổi khi sản lượng thay đổi
Phân tích điểm hòa vốn là quá trình áp dụng các công cụ phân tích độ
an toàn tài chính của dự án thông qua việc xác định điểm hòa vốn Điểm nàybiểu thị sản lượng hòa vốn, doanh thu hòa vốn và công suất hòa vốn
Số nợ gốc phải trả hàng năm ( gốc + lãi )
Tỷ lệ đảm bảo trả nợ = Các nguồn trả nợ hàng năm
DSCRt =
Số nợ phải trả hàng năm (gốc + lãi)Lợi nhuận ròng + KHCB + Mức trả lãi vay vốn cố
định năm thứ t
Trang 21V : Biến phí cho một đơn vị sản phẩm
- Doanh thu hòa vốn - DT hv
Doanh thu hòa vốn là doanh thu cần thiết mà dự án đạt được để đảmbảo vừa bù đắp chi phí
hv
DT = Q hv x P
- Công suất hòa vốn
Công suất hòa vốn là công suất hoạt động cần thiết mà dự án phải đạtđược để đảm bảo vừa đủ bù đắp chi phí
Công suất hòa vốn = Q Q hv
100 = 100
DT
Trong đó: Q : Sản lượng tính theo năm
DT: Doanh thu thuần trong nămPhân tích điểm hòa vốn cho thấy dự án cần phải hoạt động với côngsuất tối thiểu là bao nhiêu để so với công suất thiết kế, mức sản lượng, mứcdoanh thu bao nhiêu so với doanh thu cực đại theo quy mô đầu tư thì mới đạtđược mức doanh thu cần thiết hòa vốn Điểm hòa vốn được xem là điểmchuyển tiếp giữa lỗ và lãi Dự án chỉ có lãi khi hoạt động vượt qua mức hòavốn và ngược lại, dự án sẽ thua lỗ khi hoạt động dưới điểm hòa vốn Điểmhòa vốn càng thấp thì dự án càng hiệu quả và rủi ro càng thấp.Tuy nhiên, chỉtiêu đíểm hòa vốn không cho thấy được khả năng thu hồi vốn đầu tư của dự
án, nó chỉ tính đến khả năng hoàn vốn khi dự án đi vào hoạt động, bỏ qua chiphí đầu tư ban đầu
Trang 22 Độ nhậy của dự án đầu tư.
Khi phân tích độ nhạy của dự án, các ngân hàng thường tính toán sựthay đổi của các chỉ tiêu NPV, IRR hoặc lãi ròng khi giả định có một nhân tốthay đổi
Dự án có độ nhạy ( thay đổi) của các chỉ tiêu hiệu quả ( NPV, IRR…)nhỏ nhất được coi là rủi ro ít nhất Để có sự đánh giá cụ thể hơn ảnh hưởngcủa từng nhân tố đến hiệu quả dự án, có thể tính độ nhạy theo công thức:
Ví dụ: Một dự án có chỉ tiêu thẩm định về khả năng sinh lời IRR =15%, nếu giá bán sản phẩm giảm 10% thì IRR nhận được sẽ là 12% Vậy độnhậy của dự án trong trường hợp này là:
% 10
100
% 15
% 15
% 12
f Thẩm định về khả năng trả nợ cho ngân hàng
Trong quá trình thẩm định dự án đầu tư, ngân hàng thương mại đặc biệtquan tâm đến khả năng hoàn trả của chủ đầu tư khi đến kỳ hạn trả nợ Khảnăng trả nợ của một doanh nghiệp, chủ đầu tư phụ thuộc vao nhiều yếu tốnhư: dự án xin vay là dự án đầu tư mới hay dự án đầu tư chiều sâu, nguồn trả
nợ chủ yếu trông đợi vào khả năng sản xuất kinh doanh của dự án hoặc còn cónhững nguồn bổ sung nào khác
Độ nhậy =
Tỷ lệ (%) thay đổi của chỉ tiêu hiệu quả (NPV, IRR…)
Tỷ lệ (%) thay đổi của chỉ tiêu nhân tố
Trang 23Hiện nay các NHTM đang xác định mức trả nợ từng lần theo côngthức:
Từ công thức trên, nếu sau khi đã dự kiến số kỳ trả nợ và biết tổng số
nợ gốc phải trả mỗi kỳ, NHTM có thể so sánh cân đối các nguồn thu từ dự ánnhư lợi nhuận ròng, khấu hao cơ bản tài sản cố định và các nguồn khác xemkhả năng trả nợ có đảm bảo không
g Thẩm định hiệu quả về mặt kinh tế xã hội
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhànước, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó có hoạt động đầu tư nhấtthiết phải được xem xét về mặt hiệu quả kinh tế - xã hội Trong thực tế, đánhgiá hiệu quả về mặt kinh tế - xã hội của dự án là một vấn đề hết sức rộng lớn
và phức tạp CBTĐ thường đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế xã hội thông quaviệc thẩm tra, đối chiếu một số chỉ tiêu sau:
- Hiệu quả giá trị gia tăng trên vốn đầu tư được tính bằng % phải đạthai con số trở lên
- Khả năng tạo thêm việc làm và thu nhập cho người lao động
- Mức độ đóng góp cho ngân sách nhà nước\
- Các chỉ tiêu khác: góp phần phát triển kinh tế địa phương, nâng caokết cấu hạ tầng…
h Thẩm định về phương pháp bảo đảm tiền vay
Một trong những điều kiện tiên quyết của ngân hàng khi quyết địnhtham gia đầu tư là an toàn Do vậy, với bất kỳ một khoản vay nào, ngân hàngcũng yêu cầu vật bảo đảm Đây là phương án dự phòng, nguồn thu thứ hai củangân hàng trong trường hợp không thu được nợ CBTĐ xem xét kỹ, đánh giáchính xác vật bảo đảm của khoản vay, bao gồm:
- Hình thức bảo đảm: thế chấp, cầm cố, bảo lãnh
Số kỳ trả nợ dự kiến = Tổng số nợ gốc phải trả
LợI nhuận ròng trả nợ + KHCB từ vốn vay
+ Các nguồn khác
Trang 24Các điều kiện đảm bảo tiền vay: tính hợp lý, hợp pháp của tài sản
Xác định giá trị thực của tài sản bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ hoàntrả
Các điều kiện khác…
* Phân tích, xác định rủi ro tiềm ẩn của dự án
Bất kỳ một cuộc đầu tư nào cũng hàm chưa ít hay nhiều rủi ro Rủi ro
đó có thể do yếu tố khách quan gây nên như sự thay đổi cơ chế chính sách bấtlợi, biến động thị trường giá cả sản phẩm…cũng có thể do yếu tố chủ quan từphía nhà đầu tư Vì vậy, việc đánh giá phân tích, dự đoán các rủi ro có thể xảy
ra là rất quan trọng nhằm tăng tính khả thi của phương án tính toán dự kiếncũng như chủ động có biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu Các rủi ro chủ yếuthường xảy ra là:
- Rủi ro do cơ chế chính sách
- Rủi ro xây dựng hoàn tất
- Rủi ro về thị trường
- Rủi ro về kỹ thuật vận hành bảo trì
- Rủi ro về môi trường, xã hội
- Rủi ro từ phía ngân hàng
- Các rủi ro khác…
Để phân tích và xác định được rủi ro, cán bộ thẩm định cần phải có sựvững vàng về nghiệp vụ, sự nhanh nhạy trong việc nắm bắt và dự đoán xuhướng phát triển của dự án cũng như môi trường Bên cạnh đó, người cán bộcũng cần phải nắm vững, cập nhật được những đạo luật, chỉ thị mới của Chínhphủ có liên quan đến dự án… hạn chế những mặt tiêu cực, đảm bảo dự ánthành công và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng
i Đánh giá, kết luận dự án.
Sau khi đã thẩm định đầy đủ trên mọi phương diện, tiến hành đúc kếtcác vấn đề trọng tâm nhằm nêu bật được mục tiêu của dự án đầu tư; đặt rathứ tự ưu tiên về các chỉ tiêu và quan điểm khi lựa chọn dự án đó, công việcthẩm định sẽ đi đến kết luận về khả năng có thể thực hiện dự án Các ngân
Trang 25hang sau khi thẩm định dự án sẽ đưa ra các quyết định về tham gia đầu tư nếu
dự án được thực hiện
1.3 Chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư.
1.3.1 Quan điểm về chất lượng thẩm định dự án đầu tư và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng TĐ DAĐT.
Đầu tư vốn theo dự án đang ngày càng trở thành xu hướng phổ biến củacác trung gian tài chính không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới TạiViệt Nam, để hướng tới mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nướcnâng cao thu nhập cho người dân, cải thiện đời sống vật chất tinh thần củangười lao động…nhà nước ta đã rất chú trọng tới việc khuyến khích, pháttriển đầu tư theo dự Đầu tư theo dự án đồng thời cũng là phương thức phốihợp giữa các ngân hàng nhằm chia sẻ rủi ro, đáp ứng được những dự án cónhu cầu lớn về tài chính thông qua nghiệp vụ cho vay hợp vốn và đồng tài trợ
Là một tổ chức trung gian tài chính hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh tiền
tệ, các ngân hàng thường tìm kiếm lợi nhuận cho mình bằng cách đa dạng hóaloại hình nghiệp vụ, trong đó tài trợ cho dự án chính là một mảng hoạt độngchủ yếu mang lại lợi nhuận cho ngân hàng
Tuy nhiên, như ta đã biết, đầu tư, đặc biệt là đầu tư theo dự án là mộthoạt động kinh tế - kỹ thuật phức tạp và hàm chứa nhiều rủi ro, để đảm bảolợi nhuận và an toàn cho nguồn tài trợ dự án của mình là một bài toán khá nangiải và phức tạp đối với các NHTM Do vậy trước khi tiến hành đầu tư, cácNHTM luôn tiến hành thẩm định dự án rất kỹ lưỡng Về thực chất thì công tácthẩm định là việc kiểm soát trước hoạt động tín dụng, và có thể nói chất lượngcủa công tác thẩm định quyết định đến phần lớn chất lượng tín dụng sau này
Thẩm định dự án đầu tư được coi là có chất lượng khi nó đạt được mụctiêu thẩm định của ngân hàng, đồng thời thoả mãn được nhu cầu khách hàng
Nó là yếu tố cốt lõi quyết định sự thành bại của dự án cũng như sự thành côngcủa công cuộc đầu tư Tuy là một khái niệm khá trừu tượng, nhưng tùy theotừng góc độ phân tích dự án khác nhau, ta có thể cụ thể hóa chất lượng thẩmđịnh dự án đầu tư như sau:
Trang 26Với nhà đầu tư: hoạt động thẩm định dự án đạt chất lượng khi nó cung
cấp đầy đủ những thông tin cần thiết, tin cậy, giúp chủ đầu tư lựa chọn đượcphương án tối ưu, hỗ trợ đắc lực cho việc thực hiện kế hoạch đầu tư, đảm bảo
dự án khi đi vào hoạt động sẽ được hiệu quả đúng như tiêu chí đã đề ra
Với cơ quan quản lý nhà nước: việc thẩm định được coi là thành công
khi nó giúp cho nhà quản lý đưa ra được quyết định đúng đắn khi phê duyệt
dự án, đảm bảo dự án không những khả thi mà còn góp phần thực hiện địnhhướng phát triển kinh tế xã hội
Với ngân hàng: chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư của ngân
hàng được đánh giá dựa trên mức độ khách quan, toàn diện và sâu sắc khi tiếnhành thẩm tra các yếu tố của dự án Ngoài ra nó còn thể hiện ở khả năng ngânhàng vận dụng những kinh nghiệm tích lũy của mình để giúp chủ đầu tư kịpthời điều chỉnh và bổ sung những điểm chưa hợp lý hay còn thiếu sót trong dự
án Từ đó, ngân hàng có thể tìm ra những cơ hội đầu tư tốt nhất, đạt hiệu quảtài chính và hiệu quả kinh tế xã hội., tránh được những rủi ro, những tổn thấtkhông đáng có khi tiến hành đầu tư của các chủ thể có liên quan cũng như bảnthân ngân hàng Nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư trở thành mộtyêu cầu quan trọng, một nội dung thu hút rất nhiều sự quan tâm và đầu tư củangân hàng
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thẩm định dự án đầu tư 1.3.2.1 Các chỉ tiêu định tính
Khả năng mở rộng và nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự áncủa ngân hàng được đánh giá trước tiên ở mức độ chính xác, cập nhật và đầy
đủ của việc thu thập và xử lý thông tin Các thông tin số liệu mà cán bộ thẩmđịnh thể hiện trên báo cáo thẩm định phải đảm bảo phản ánh đúng đắn, chínhxác nhất thực trạng doanh nghiệp vay vốn và tính khả thi của dự án tài trợ cả
về mặt kinh tế tài chính lẫn xã hội Từ đó hỗ trợ đắc lực cho ngân hàng raquyết định đầu tư
Quy trình thẩm định khoa học toàn diện cùng với công tác tổ chức và
bộ máy thẩm định phù hợp với hoạt động ngân hàng cũng chứng tỏ sự chuyênnghiệp trong thẩm định dự án của ngân hàng đó Trên cơ sở xây dựng được
Trang 27một hệ thống chỉ tiêu đánh giá dự án hợp lý, cán bộ thẩm định có năng lựccũng cần phát hiện và dự báo tốt các xu hướng, rủi ro liên quan đến quá trìnhđầu tư Điều đó sẽ giúp ngân hàng có biện pháp hạn chế đề phòng hữu hiệu.Công tác thẩm định có chất lượng còn cung cấp cho khách hàng những tiệních đa dạng Đó là tư vấn về kế hoạch kinh doanh, phương án nguồn vốn, tổchức quản lý kinh doanh…những gợi ý giúp dự án hoàn thiện hơn, mang lạilợi ích tối ưu cho chủ đầu tư cũng như ngân hàng.
1.3.2.2 Các chỉ tiêu định lượng.
Chỉ tiêu định lượng đầu tiên thường được xem xét khi đánh giá chấtlượng thẩm định dự án là thời gian thẩm định Thời gian thẩm định hợp lý khivừa đủ để ngân hàng đánh giá đúng dự án, vừa phù hợp với nhu cầu kinhdoanh của khách hàng Tuy nhiên nó vẫn phải đảm bảo tiết kiệm được chi phítối đa cho ngân hàng Chi phí, thời gian thẩm định không nên cứng nhắc mànên điều chỉnh linh hoạt tùy theo quy mô, lĩnh vực, mức độ phức tạp của dự
án đầu tư, điều kiện cho khách hàng, tận dụng thời cơ kinh doanh, cũng làmang lại cho ngân hàng một cơ hội đầu tư tốt
Một dự án được coi là hiệu quả với ngân hàng khi nó đảm bảo 3 yếu tố:
an toàn, lành mạnh và sinh lời Chất lượng thẩm định tốt sẽ mang lại cho ngânhàng nhiều dự án hiệu quả, nâng cao chất lườngj thẩm định dự án đầu tư theo
dự án của ngân hàng Như vậy, các chỉ tiêu phản ánh chất lượng đầu tư theo
dự án cũng gián tiếp phản ánh chất lượng dự án của ngân hàng như: tỷ trọnglợi nhuận đầu tư dự án, hiệu suất từ đồng vốn đầu tư, tỷ trọng đư nợ đầu tư…
Trang 281.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định dự án là một công việc phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiềunhân tố Để nâng cao được chất lượng thẩm định dự án tạo cơ sở tin cậy để raquyết định đầu tư đúng đắn, cần nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng để có biệnpháp thích hợp
1.3.3.1 Nhân tố chủ quan.
- Đội ngũ cán bộ: Nhà quản lý và cán bộ thẩm định là nhân tố quyếtđịnh trực tiếp đến chất lượng thẩm định dự án Bởi họ là người quyết địnhtrực tiếp tiến hành thẩm định và trên quan điểm củ mình sẽ đưa ra quyết định,
đè xuất có đầu tư hay không Nếu nhà quản lý nhận thức đúng ý nghĩa củathẩm định thì họ mới tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ thẩm định Bên cạnh
đó, nếu CBTĐ có năng lực chuyên môn tốt, thực hiện tốt quy trình thẩm định,lựa chọn phương pháp, chỉ tiêu, thông tin tốt… thì kết quả đưa ra mới đángtin cậy, có độ chính xác cao Do tính chất phức tạp và phạm vi liên quan tới
dự án, người cán bộ không những phải có kiến thức chuyên môn sâu mà cònphải hiểu biết rộng, có phẩm chất đạo đức tốt, sẵn sàng tư vấn cho khách hàngkhi cần thiết, tạo được lòng tin và thu hút được khách hàng
- Thông tin: Thẩm định tài chính dự án được tiến hành trên cơ sở phântích các thông tin trực tiếp và gián tiếp liên quan đến dự án Đó là các thôngtin về thị trường trong nước và quốc tế; thông tin về kỹ thuật, quy hoạch pháttriển kinh tế của nhà nước…Nếu những thông tin này không được thu thậpmột cách chính xác và đầy đủ tgì kết quả thẩm định tài chính dự án sẽ bị hạnchế, quyết định đầu tư sai
- Tổ chức công tác thẩm định tài chính dự án: Do thẩm định tài chính
dự án được tiến hành theo nhiều giai đoạn nên tổ chức công tác thẩm định cóảnh hưởng không nhỏ tới thẩm định tài chính dự án Nếu công tác này được tổchức một cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phân công trách nhiệm cụ thể chotừng cá nhân, có kiểm tra giám sát chặt chẽ, kết quả thẩm định tài chính dự án
sẽ cao
Trang 291.3.3.2 Nhân tố khách quan.
Một dự án đầu tư thường có hiệu quả lâu dài, do đó các nhân tố môitrường bên ngoài như tình hình kinh tế xã hội, sức ép cạnh tranh trong cácngành, các quy định của pháp luật cũng ảnh hưởng nhất định tới thẩm định dự
án đầu tư của ngân hàng Nhân tố này luôn thay đổi và nằm ngoài tầm kiểmsoát của ngân hàng Khi rủi ro bất khả kháng như thiên tai, chiến tranh xảy ra,ngân hàng cũng không thể thu hồi vốn bởi loại rủi ro này cũng ảnh hưởngnghiêm trọng tới dự án và doanh nghiệp không thể chống đỡ được
Các quyết định, chính sách của Chính phủ cũng như các văn bản điềuchỉnh lãi suất, quy chế cho vay của ngân hàng trung ương cũng tác động tớicông tác thẩm định dự án
Ngoài ra, trình độ lập dự án của chủ đầu tư cũng như độ trung thực củacác báo cáo tài chính còn hạn chế làm giảm sút chất lượng thẩm định dự ánđầu tư
Trang 30CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NHNo&PTNT CHI NHÁNH
BẮC HÀ NỘI.
2.1 Khái quát về NHNo&PTNT Chi nhánh Bắc Hà Nội.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển NHNo&PTNT Chi nhánh Bắc Hà Nội.
Hòa chung với nhịp độ phát triển kinh tế thế giới, Việt Nam đang nỗlực đẩy mạnh cải cách kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đấtnước, cơ cấu lại nền kinh tế quốc dân trên cơ sở phát huy thế mạnh lợi thế sosánh của mình Điều này đỏi hỏi một khối lượng vốn rất lớn Hệ thống cácngân hàng ngày càng được mở rộng và chuyên nghiệp hóa nhằm đáp ứng nhucầu phát triển của nền kinh tế
NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội là chi nhánh cấp I thuộcNHNo&PTNT Việt Nam - một ngân hàng thương mại đứng đầu trong cảnước về quy mô nguồn vốn cũng như phạm vi hoạt động Được thành lập vàongày 5/9/2001 theo quyết định số 324/HĐQT Việt Nam, chi nhánh có trụ sởgiao dịch chính đặt tại 217 Đội Cấn – Ba Đình – Hà Nội
Tuy là chi nhánh mới thành lập được ba năm, chưa có bề dày hoạtđộng cũng như tích lũy kinh nghiệm, nhưng chi nhánh ngân hàng nông nghiệp
và phát triển nông thôn Bắc Hà Nội đang ngày càng phát triển và hoàn thiệnmình Với quy mô còn nhỏ, nhân sự hạn chế, các điều kiện cơ sở vật chất kỹthuật chưa thực sự đầy đủ, chi nhánh đã lựa chọn cho mình phương châm hoạtđộng là gọn nhẹ, an toàn, hiệu quả Đây là một phương châm phù hợp và trên
cơ sở đó chi nhánh đã tận dụng tốt những ưu thế sẵn có, tạo ra những khởi sắcđáng kể trong mọi mặt hoạt động của mình
2.1.2 Mô hình tổ chức của chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội
Sau ba năm hoạt động hiện nay chi nhánh NHNo&PTNT chi nhánhBắc Hà Nội đã mở rộng cả về số lượng lẫn chất lượng Khi mới thành lập chi
Trang 31nhánh chỉ có Ban giám đốc và 05 phòng ban với quân số 42 cán bộ công nhânviên, đến thời điểm 31/12/2004 chi nhánh có thêm 02 chi nhánh cấp hai và baphòng giao dịch trực thuộc Mạng lưới huy động vốn và kinh doanh ngàycàng được mở rộng
Sơ đồ tổ chức nhân sự của chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội
Phònggiao dịch
số 2
Chi nhánhHoàng QuốcViệt
Phòng giaodịch số 4
Phònghànhchínhnhânsự
Ban giám đốc
Phòngkếhoạchkinhdoanh
Phòngthanhtoánquốctế
Phòngthẩmđịnh
Tổ kế toán
Tổ tín dụng
Trang 32+ Phòng kế hoạch kinh doanh: Thực hiện các hoạt động cho vaytrực tiếp đối với các tổ chức kinh tế trong và ngoài quốc doanh Xây dựng kếhoạch cân đối về nguồn sử dụng vốn, lập bảng cân đối lãi lỗ, phối hợp huyđộng vốn với các phòng ban liên quan
+ Phòng thẩm định: thẩm định các dự án vay vốn (chính thức đượctách riêng và đi vào hoạt động từ năm 2004)
+ Phòng thanh toán quốc tế: Trực tiếp thực hiện các nghiệp vụthanh toán, dịch vụ quốc tế, mua bán ngoại tệ
+ Phòng kế toán, kho quỹ: Quản lý và thực hiện công tác tài chính
kế toán trong ngân hàng, mở và quản lý tài khoản cho khách hàng, báo cáođịnh kỳ về doanh số cho vay, thu nợ, thực hiện các hoạt động ngân quỹ
+ Phòng kiểm tra, kiểm soát nội bộ: kiểm tra, kiểm soát mọi hoạtđộng ngân hàng theo quy định, văn bản hiện hành hỗ trợ hoạt động chỉ đạocủa Ban giám đốc
+ Phòng hành chính tổ chức: Quản lý nhân sự, lao động tiềnlương, quản trị hành chính tổng hợp
Chi nhánh trực thuộc: Chi nhánh Kim Mã, chi nhánh Hoàng Quốc Việtcùng 03 phòng giao dịch trực thuộc
Ngoài các chức năng cụ thể của mình, các phòng ban đều có mối liên
hệ, hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, cùng hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạtđộng cho ngân hàng
2.1.3 Một số thuận lợi và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội.
2.1.3.1 Khó khăn.
- Một trong những khó khăn nổi bật ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt độngcủa chi nhánh trong thời gian qua nói riêng và toàn bộ hệ thống ngân hàngViệt Nam nói chung là thiên tai, dịch bệnh nhiều, gây thiệt hại nghiêm trọng.Điều này đã có tác động xấu tới tổng sản phẩm quốc dân, hạn chế tốc độ pháttriển nền kinh tế Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, do những biến độngthất thường về giá cả các mặt hàng trọng yếu trên thị trường trong nước và
Trang 33quốc tế, những khó khăn trong sản xuất nông nghiệp đã bị ảnh hưởng ngay từđầu năm Sự bung phát của dịch cúm gia cầm và đến nay vẫn còn ở nhiềutỉnh, thành phố, thiên tai diễn biến phức tạp… dẫn đến chỉ số giá cả tăng9,5% Trong hoạt động kinh doanh của hệ thống NHNo&PTNT Việt Namxuất hiện thêm những khó khăn: chi phí huy động vốn tăng cao nên lãi suấtcho vay cao là bất lợi trong cạnh tranh tín dụng
- Chỉ số giá cả của một số mặt hàng nhập khẩu như xăng dầu, phânbón, sắt thép, tân dược và lương thực, thực phẩm trong nước tăng cao
- Tiến trình hội nhập quốc tế thông qua việc Việt Nam đang và sẽ trởthành thành viên chính thức các tổ chức AFATA, WTO,…chắc chắn sẽ mở ranhiều cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam Đây vừa là cơ hội, cũngvừa là thách thức cho các NHTM Việt Nam trong nước đầu tư, tài trợ vốn chocác dự án xuất nhập khẩu, nhất là cạnh tranh với các chi nhánh ngân hàngnước ngoài trong lĩnh vực nay
- Cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng trong và ngoài hệ thống diễn ragay gắt cả ở phạm vi, quy mô, mức độ, cả ở lĩnh vực nội và ngoại tệ, nhất làcạnh tranh về điều kiện cho vay, đảm bảo tiền vay, mức phán quyết cho vay.Nhiều ngân hàng có tiềm lực tài chính, lao động do có bề dày hoạt động đãchấp nhận thua lỗ ban đầu, nhanh chóng đổi mới công nghệ, đưa ra nhiều tiệních mới để thu hút khách hàng Trong khi đó chi nhánh NHNo&PTNT Bắc
Hà Nội là một chi nhánh mới đi vào hoạt động, còn nhiều hạn chế, chưa cóđược những lợi thế nổi trội để tăng thị phần Cơ sở vật chất còn nghèo, thiếuthốn, sự kế thừa về nguồn lực kinh doanh, khách hàng và tài chính khôngnhiều… gây khó khăn cho hoạt động của chi nhánh trong môi trường đầycạnh tranh hiện nay
2.1.3.1 Thuận lợi.
- Tuy bị những tác động xấu từ nguyên nhân khách quan như thiên tai,dịch bệnh nhưng năm 2004 tăng trưởng kinh tế của cả nước và trên địa bànvẫn được duy trì ở mức cao Nhiều chỉ tiêu cụ thể đều đã đạt và vượt kế hoạch
đề ra: huy động vốn đầu tư xã hội tăng 12%, đời sống nhân dân tiếp tục đượccải thiện, an ninh chính trị được giữ vững Tình hình chính trị và đời sống xã
Trang 34hội tại Việt Nam đang được đánh giá có độ an toàn trong khu vực, tốc độ tăngtrưởng kinh tế đạt mức cao và tăng trưởng liên tục qua nhiều năm, đảm bảocác điều kiện làm ăn yên ổn, lâu dài Chính vì vậy, rất có khả năng các nhàđầu tư nước ngoài sẽ chuyển dịch vùng đầu tư từ các nước kém an toàn hơnsang Việt Nam Chính điều này sẽ tạo cơ hội cho các NHTM trong việc huyđộng vốn, tham gia đầu tư, phát triển.
- Môi trường pháp lý trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạtđộng ngân hàng nói riêng đã có những bước đổi mới và hoàn thiện dần theohướng tích cực và chủ động hội nhập Quốc tế Đảng, Chính phủ, Ngân hàngnhà nước và thành phố ban hành nhiều chủ trương, chính sách tác động tíchcực tới hoạt động hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế,
mở rộng quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các ngân hàng thương mại
- Ngân hàng NHNo&PTNT Việt Nam tích cực triển khai các đề ánmang tính chiến lược, từng bước tạo lập uy tín, vị thế và khả năng cạnh tranhtrong nước, quốc tế Hội đồng quản trị và Ban Tổng giám đốc tăng cườngquan tâm chỉ đạo sát sao, kịp thời chỉnh sửa, ban hành nhiều cơ chế, chínhsách cụ thể sát hợp với điều kiện kinh doanh của chi nhánh trên địa bàn thủđô
- Hoạt động kinh doanh của chi nhánh đã ổn định, số lượng kháchhàng tăng lên, thị phần được mở rộng, trình độ cán bộ được nâng cao
2.1.3 Những hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHN0&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội trong thời gian qua.
2.1.3.1 Về hoạt động huy động vốn.
Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn, NHNo&PTNT chinhánh Bắc Hà Nội đã không ngừng nỗ lực, xây dựng uy tín và lòng tin vớimọi đối tượng khách hàng, sắp xếp và mở rộng mạng lưới hợp lý, đa dạng hóahình thức huy động, tạo điều kiện thu hút vốn từ các tổ chức kinh tế và dâncư
Bảng 1: Tình hình huy động vốn của NHNo&PTNT
chi nhánh Bắc – Hà Nội
Đơn vị: Tỷ đồng
Trang 35Tiêu chí Năm 2003 Năm 2004
Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng
Phân theo thời gian huy động
- Tiền gửi có kỳ hạn <12 tháng 894 39,3% 1785 52,18%
- Tiền gửi có kỳ hạn >12 tháng 771 39,9% 777 22,7%
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2003,2004)
Nhìn trên bảng số liệu ta có thể nhận thấy, nguồn vốn củaNHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh,
cơ cấu nguồn vốn biến động theo hướng tích cực
Cụ thể: - Khối lượng nguồn vốn tăng từ 2275 tỷ lên 3421 tỷ ( tăng
1146 tỷ, tức 50%) trong đó đặc biệt là sự tăng lên của tiền gửi không kỳ hạn( 249 tỷ, 40%), tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng (891 tỷ, 99%)
- Tỷ trọng nguồn vốn có sự chuyển dịch trong đo tỷ trọng của tiền gửi
có kỳ hạn dưới 12 tháng tăng lên từ 39,3% lên 53,18% Điều này sẽ giúp chongân hàng giảm chi phí trả lãi song cũng phần nào làm giảm tính ổn định vềnguồn vốn của ngân hàng Đây là xu hướng tất yếu của sự phát triển, mở rộngđối tượng khách hàng, tạo lên lợi thế để ngân hàng có thể tăng uy tín trên thịtrường tài chính tiền tệ, tích lũy vốn và kinh nghiệm cho hoạt động tương lai
Trang 362004
Tăng so với2003(tuyệ
t đối)
Tăng với 2003( %)
( Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh ngân hàng năm 2003,2004)
Nhìn vào bảng trên ta có thể nhận thấy doanh số cho vay, thu nợ cũngnhư tổng dư nợ của chi nhánh đều có những bước cải thiện đáng kể Tổng dư
nợ đến thời điểm 31/12/04 đạt 1028 tỷ đồng, chiếm 30,5 tổng nguồn vốn, tăng
388 tỷ ( tương đương 60,6%) trong đó dư nợ nội tệ 623 tỷ, chiếm tỷ trọng60,6% tổng dư nợ, dư nợ ngoại tệ (quy đổi VND) là 405 tỷ, chiếm tỷ trọng39,4% tổng dư nợ
2 Phân theo thời gian cho vay
+ Cho vay trung dài hạn 250 39% 473,7444 46%
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh NHno&PTNT năm 2003,2004)
Trang 37Một trong những điểm tiến bộ nổi bật của chi nhánh trong thời gian qua
là số dư nợ cho vay doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là doanh nghiệp doanhnghiệp ngoài quốc doanh cũng như tiêu dùng tăng Điều này chứng tỏ ngânhàng tiếp cận và đa dạng hóa được nhiều đối tượng khách hàng, số vốn huyđộng được sử dụng một cách có hiệu quả Năm 2004 đã có phát sinh nợ quáhạn 387 triệu đồng gồm 13 khách hàng, tỷ lệ nợ quá hạn là 0,037% nhưng đều
là cho vay tiêu dùng và có khả năng thu hồi được Uy tín của ngân hàng trênđịa bàn đã được nâng cao và còn mở rộng ra các địa bàn khác
2.1.3.3 Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế:
So với năm 2003, nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của chi nhánh đã cónhững bước phát triển nhảy vọt, thể hiện cụ thể như sau:
- Thanh toán hàng nhập khẩu: tổng số 886 món với tổng giá trị61,252,819 USD, tăng 184 món (tăng 26% so với năm 2003); số tiền tăng trịgiá 39,148,860 USD ( tăng 177% so với năm 2003)
- Thanh toán hàng xuất khẩu: tổng số 14 món với tổng giá trị869,188USD ( tăng 100% so với 2003)
- Doanh số mua bán ngoại tệ: năm 2004 chi nhánh đạt được tổng doanh
số mua bán ngoại tệ trị giá 75, 043,319 USD, tăng 150% so với năm 2003,trong đó:
+ Doanh số mua ngoại tệ: 36,975,883 USD, tăng 144% so với năm2003
+ Doanh số bán ngoại tệ: 38,069,436 USD tăng 155% so với năm 2003
- Phục vụ dự án: rút vốn về tài khoản đặc biệt tại ngân hàng nôngnghiệp Bắc Hà Nội đến 31/12/2004 với tổng số 4,081, 919 USD Chi nhánh
đã thực hiện tốt các nghiệp vụ thanh toán phục vụ các đơn vị chủ đầu tư
- Chi trả kiều hối: Thực hiện công văn chỉ đạo số 4132/NHNo –QHQT, NHNo Bắc Hà Nội đã tích cực triển khai các chương trình tiếp thị,quảng cáo và khuyến mại cho khách hàng nhận kiều hối Kết quả năm 2004như sau:
Trang 38+ Qua kênh WESTERN UNION là: 71 món với số tiền 37,602USD và 18,3 triệu VND
+ Qua tài khoản cá nhân: 69 món với số tiền là 359,664 USD
- Triển khai thành lập các bàn thu đổi ngoại tệ: Đến 31/12/2004 đã kýkết hợp đồng với 5 doanh nghiệp vàng bạc làm đại lý thu đổi ngoại tệ chongân hàng nông nghiệp Bắc Hà Nội và đã được ngân hàng nhà nước thànhphố Hà Nội cấp giấy phép hoạt động
Nhìn chung: Các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng quốc tế năm 2004 củangân hàng nông nghiệp Bắc Hà Nội tăng mạnh so với năm 2003, tự cân đốiđược nguồn ngoại tệ phục vụ thanh toán quốc tế, tăng thu đáng kể từ các dịch
vụ thanh toán, thực hiện tốt quy trình nghiệp vụ, đảm bảo an toàn không cósai sót
2.1.3.4 Thanh toán trong nước.
- Doanh số chuyển tiền điện tử:
+ Số món: 13.473 tăng so với năm 2003 là 3.014 món
+ Số tiền: 11.634 tỷ đồng, tăng so với năm 2003 là 5.638 tỷ đồng
- Doanh số thanh toán điện tử liên ngân hàng
+ Số món: 12.332 món
+ Số tiền: 4629 tỷ đồng, tăng so với năm 2003 là 3.233 tỷ đồng
- Thu, chi tiền mặt (bao gồm cả ngoại tệ quy đổi)
+ Doanh số thu tiền mặt: 2.68 tỷ, trong đó ngoại tệ quy đổi là 366 tỷ + Doanh số chi tiền mặt:2.750 tỷ, trong đó ngoại tệ quy đổi à 368 tỷđồng
- Công tác ngân quỹ được đảm bảo an toàn đúng chế độ, không để xảy
ra sai sót nhầm lẫn Hoạt động ngân quỹ về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầugiao dịch của khách hàng, bước đầu đa dạng hóa phương thức chi trả, tạo sựthuận tiện cho khách hàng Ngoài việc thu chi tiền mặt tại quỹ, Chi nhánh cònthành lập các tổ chức thu chi lưu động để phục vụ thu, chi tại trụ sở giao dịchcủa các doanh nghiệp lớn hoặc tại nhà đối với các khách hàng cá nhân
Một số chỉ tiêu cơ bản của các chi nhánh và phòng giao dịch:
Trang 39+ Chi nhánh Hoàng Quốc Việt: Nguồn vốn: 464,5 tỷ, dư nợ: 150, 8 tỷ + Chi nhánh Kim Mã: Nguồn vốn: 453,6 tỷ, dư nợ: 47,3 tỷ.
+ Phòng giao dịch số 2: Nguồn vốn:25,3tỷ, dư nợ: 3.1tỷ
+ Phòng giao dịch số 4: Nguồn vốn: 17,9 tỷ, dư nợ: 13,6 tỷ
+ Phòng giao dịch số 5: Nguồn vốn: 13,0 tỷ, dư nợ: 2,9 tỷ
Nhận xét chung: Tuy còn một số mặt hạn chế thiếu sót cần phải tiếp
tục phấn đấu khắc phục trong những năm tới nhưng nhìn lại một năm công táccủa NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội, ta thấy: Các chỉ tiêu nguồn vốn, dư
nợ, tài chính tiếp tục có mức tăng trưởng khá Chi nhánh đã hoàn thành vượtmức chỉ tiêu kế hoạch năm 2004 do TTĐH giao Mạng lưới kinh doanh được
mở rộng, nguồn lực kinh doanh được cải thiện đáng kể: tiền lương, tiềnthưởng được đảm bảo, đời sống cán bộ được nâng cao Dân chủ trong kinhdoanh được tôn trọng, nội bộ đoàn kết tốt
Hiện nay, NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội đang áp dụng mức lệphí dịch vụ mới nói chung thấp hơn các NHTM khác và so với Bưu điện nênngày càng thu hút được nhiều đối tượng khách hàng sử dụng những dịch vụcủa ngân hàng Chi nhánh cũng rất quan tâm đến việc nâng cao trình độnghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ công nhân viên, tuân thủ tốt các mục tiêu vàchính sách của NHNo&PTNT Việt Nam, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tếcũng như góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
2.2 Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư tại NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội
2.2.1 Quy trình thẩm định dự án đầu tư.
Công tác thẩm định được tiến hành theo một quy trình gồm 5 bước sau:
Bước 1:
Khi có nhu cầu xin vay, khách hàng sẽ nộp vào Ngân hàngđơn xin vay,trình bày rõ lý do và các hồ sơ, tài liệu dùng thuyết minh cho việc vay vốn.Cán bộ tín dụng sẽ trực tiếp nhận hồ sơ từ khách hàng và yêu cầu khách hàngliên hệ với Ngân hàng vào một ngày xác định để trả lời về việc xin vay Cácgiấy tờ, tài liệu ngân hàng yêu cầu gồm có:
Trang 40+ Đơn xin vay
+ Quyết định thành lập doanh nghiệp
+ Bảng tổng kết tài sản
+ Báo cáo tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Báo cáo tình hình công nợ
+ Báo cáo nghĩa vụ nộp ngân sách
+ Các hợp đồng kinh tế liên quan
+…
Bước 2:
Sau khi đã tiếp nhận hồ sơ do khách hàng cung cấp, cán bộ tín dụng sẽtiến hành xử lý, thẩm định thông tin Đây là bước rất quan trọng, quyết địnhchính các khoản vay có được hoàn trả hay không Việc khảo sát cơ sở củadoanh nghiệp đòi hỏi cán bộ tín dụng phải có kinh nghiệm, hiểu biết sâu rộng
về quy trình, công nghệ, cách thức tổ chức, trình độ quản lý của doanh nghiệp
để từ đó có những đánh giá chính xác
Bước 3:
Khi nhận được tờ trình thẩm định từ cán bộ tín dụng, trưởng phòng tíndụng phải tiến hành xét duyệt, thẩm tra những nội dung được đề cập trong tờtrình, kết hợp cùng cán bộ tín dụng khảo sát cơ sở sản xuất kinh doanh củakhách hàng vay vốn Nếu đồng ý với đề nghị của cán bộ tin dụng, trưởngphòng tín dụng sẽ cho biết ý kiến và trong vòng 5 ngày phải trình lên chogiám đốc xét duyệt
Bước 4:
Giám đốc chi nhánh chỉ xét duyệt cho vay nếu có đủ chữ ký của cán bộtín dụng và trưởng phòng tín dụng trong phạm vi 5 ngày và trong phạm viphán quyết Trong trường hợp món vay vượt thẩm quyền, giám đốc phải gửi
hồ sơ và tờ trình lên tổng giám đốc để xin ý kiến