Hơn hai mươi năm kể từ đại hội đảng VI năm 1986, công cuộc đổi mới của Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, tạo cơ sở vững chắc để đẩy mạnh công nghiệp hoá, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển
Trang 1Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Hơn hai mươi năm kể từ đại hội đảng VI năm 1986, công cuộc đổimới của Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử,tạo cơ sở vững chắc để đẩy mạnh công nghiệp hoá, sớm đưa nước ta rakhỏi tình trạng kém phát triển, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thànhmột nước công nghiệp theo hướng hiện đại Đất nước ra khỏi tình trạngkhủng hoảng, kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, liên tục, năm sau caohơn năm trước Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình tổng quát là xâydựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đến năm 1995, lầnđầu tiên hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch nhà nước 5 năm 1991-
1995 được hoàn thành và hoàn thành vượt mức Đất nước ra khỏi khủnghoảng kinh tế xã hội, tạo được những tiền đề để chuyển sang thời kỳ pháttriển mới - thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá Cơ cấu kinh tế cũng cónhững chuyển biến tích cưc theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá vớithị trường
Nước ta tiến hành chuyển dịch cơ cấu phải gắn với tiến trình hộinhập kinh tế của đất nước, phải dựa trên hiệu quả và lợi ích của toàn bộ nềnkinh tế quốc dân, tiến hành từng bước với sự nỗ lực đồng bộ của các ngành,các cấp và cả người lao động, sức người, sức của và tổ chức thực hiện, cầnkết hợp cơ cấu thành phần và cơ cấu vùng lãnh thổ Dựa trên những quanđiển cơ bản và tình hình thực tế của các ngành cũng như những cam kếtViệt Nam đã đưa ra trong định hướng chuyển dịch cơ cấu các ngành Trên
cơ sơ đó, trong các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội đều nhấn mạnh tớichuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và đã đạt được những thành tựu to lớn,phải kể đến chuyển dịch cơ cấu giai đoạn 2001-2005
Nhóm chúng tôi xin “Phân tích cơ cấu ngành kinh tế và tác động
của các ngành tới tăng trưởng giai đoạn 2001 – 2005” Bài viết của
chúng tôi gồm 3 phần chính:
- Phần I - Đánh giá chung về sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
- Phần II - Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành kinh tế giai đoạn 2001-2005
- Phần III - Các giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong giai đoạn 2006-2010.
Do thời gian và trình độ có hạn nên bài viết của chúng tôi không tránh khỏisai sót Rất mong nhận được sự chỉ bảo của cô giáo và sự đóng góp ý kiếncủa bạn đọc
Xin chân thành cảm ơn!
Nhóm thực hiện: 2 + 7
Trang 2PHẦN I - ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ SỰ CHUYỂN DỊCH CƠ
GDP toàn nền kinh tế 100%
Nông - lâm - thủy sản 20-21%
Công nghiệp – Xây dựng 38-39%
Nguồn: Bộ kế hoạch đầu tư.
II THỰC TRẠNG CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ GIAI ĐOẠN 2001-2005
Trong 5 năm 2001-2005, nền kinh tế nước ta đã đạt được tốc độ tăngtrưởng khá, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân là 7.5%/năm, đạt mục tiêu
kế hoạch đề ra Trong bối cảnh khó khăn cả ở trong nước và nước ngoài thì
đó là một thành tựu to lớn, Nước ta đã có tốc độ tăng trưởng khá cao so vớicác nước trong khu vực và thế giới Trong thời kỳ qua, chuyển dịch cơ cấungành kinh tế đã chuyển dịch đúng hướng với tỷ trọng giảm dần của khuvực nông lâm thuỷ sản, tăng dần tỷ trọng đóng góp của khu vực côngnghiệp và dịch vụ Nền kinh tế Việt Nam đang từng bước xây dựng mộtnền công nghiệp hiên đại
Bảng 1: Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế qua các năm theo giá
Trang 3Dịch vụ (%) 38.63 38.48 37.99 38 38.1
Nguồn: Tổng cục thống kê.
Qua bảng trên ta thấy, tỷ lệ trong khu vực 1 giảm 1.44%, khu vực 2tăng gần 2% và khu vực 3 giảm không đáng kể 0.53% Với kết quả đó,chúng ta yên tâm vì mục tiêu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành doĐại hội IX đề ra đã đạt và vượt, chỉ có khu vược 3 là không đạt
Ở khu vực 1, tuy tỷ trọng đóng góp của ngành giảm nhưng quy mô
về sản lượng lương thực tăng qua các năm, đảm bảo được an ninh lươngthực và hướng ra xuất khẩu Quy mô nền kinh tế ngày càng có sự tăng lên
Như vậy nhận tháy rằng chúng ta đã chuyển dịch đúng hướng và có
sự thay đổi về chất theo hướng công nghiệp hoá tạo tiiền đề cho sự pháttriển kinh tế
Bảng 3: Cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam giai đoạn 2001-2005(%)
và xây dựng luôn giữ tốc độ tăng trưởng trên 10%/năm, cao hơn tốc độtăng trưởng của toàn nền kinh tế Riêng ngành du lịch mức 7% và cao hơntrong năm 2005(8.48%) Trong khi đó đóng góp của khu vực dịch vụ nhìn
Trang 4chung còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng, đang chiếm tỷ trọng thấp
và có xu hướng giảm
Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu theo 3 khu vực kinh tế, các số liệuđộng thái về tỷ trong gia tăng trong tổng sản phẩm trong nước còn cho thấynội bộ từng khu vực kinh tế cũng có sự dịch chuyển nhất định Trong nội
bộ khu vực nông -lâm -thuỷ sản sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng giảm tỷtrọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng của ngành thuỷ sản tỷ trọng củangành lâm nghiệp tương đối nhỏ do vậy ít ảnh hưởng Tuy nhiên sự chuyểndịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp, tức giữa trồng trọt và chănnuôi thì chưa thật rõ nét Ngành trồng trọt vẫn chiếm trên 80%, chăn nuôihàng năm chỉ tạo được gần 20% giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp dochăn nuôi ở nước ta quy mô nhỏ, phân tán, khó chủ động trong phòngchống bệnh dịch
Khu vực công nghiệp và xây dựng chuyển dịch theo hướng tăng tỷtrọng công nghiệp chế biến và tỷ trọng của ngành xây dựng Ngành điện,
ga và nước giữ được tỷ trọng ổn định Tỷ trọng của ngành công nghiệp khaithác có xu hướng giảm Tuy nhiên, tỷ trong công nghiệp chế biến tăngkhông nhiều do các ngành công nghiệp gia công lắp ráp chiếm tỷ trọngngày càng lớn trong sản xuất công nghiệp Giá trị sản xuất công nghiệpnhững năm gần đây tăng trương nhanh nhưng chủ yếu tăng trong các ngànhmay mặc, giầy da, lắp ráp ôtô, lắp ráp tivi, lắp ráp xe máy có giá trị tăngthêm chỉ chiếm 10-15% giá trị sản xuất
Khu vực dịch vụ nhìn chung không tăng được tỷ trọng trong tổng sảnphẩm trong nước chủ yếu là do những ngành dịch vụ có khả năng tạo nhiềugiá trị tăng thêm vẫn chua được đầu tư thích đáng, nhất là đầu tư chiều sâucho các ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ cảng biển, dịch vụhàng không, dịch vụ bưu chính viễn thông, dịch vụ bưu chính vận tải, dịch
vụ du lịch Tuy nhiên, trong những năm qua cũng đã có một số ngành tăngtrưởng tương đối khá: thương mại, khách sạn, nhà hàng, vận tải, kho bãi,thông tin liên lạc, tín dụng, tài chính
Nhìn chung các ngành đều có sự chuyển dịch theo hướng phù hợp.Trong ngành nông nghiệp có sự chuyển dịch hợp lý trong nội bộ ngành:trồng trọt từng bước chuyển sang sản xuất hàng hoá gắn với thị trường,nâng cao chất lượng sản phẩm Lâm nghiệp chú trọng bảo vệ rừng, từngbước chuyển từ lâm nghiệp do nhà nước quản lý sang lâm nghiệp có sựtham gia của nhiều thành phần kinh tế Thuỷ sản phát triển nhanh về nuôitrồng Kinh tế nông thôn phát triển theo hướng đa dạng hoá ngành nghề,tăng tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ giảm sản xuất thương nông, nhiềulàng nghề được khôi phục, kết cấu hạ tầng nông thôn được nâng cấp
Công nghiệp và xây dựng duy trì ở mức cao và tương đối ổn định tuynhiên hiệu quả chung của toàn ngành chưa được cải thiện, sản phẩm cóthương hiệu, có sức cạnh tranh, tiến độ chậm Giá trị sản xuất(GO) ngànhcông nghiệp 5 năm 2001-2005 tăng 16.5%/năm nhưng giá trị gia tăng chưa
Trang 5tương xứng, bình quân chỉ tăng 10.2%/năm Công nghệ hiện đại sử dụngtrong các ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng thấp, tốc độ đổi mới công nghệchậm, năng lực cạnh tranh của nhiều sản phẩm còn thấp, giá thành cao, một
số dự án triển khai còn chậm, gây lãng phí lớn và giảm hiệu quả đầu tư,chưa có sự gắn kết giữa triển khai công nghệ chế biến và phát riển các vùngnguyên liệu nông sản, hạ tầng còn yếu kém
Khu vực dịch vụ tuy có sự phát triển bùng nổ của khu vực tư nhânsau khi luật doanh nghiệp có hiệu lực, đã tạo ra khá nhiều việc làm xongkhông có khả năng xoay chuyển tình hình một cách nhanh chóng và cănbản Điều đó làm tăng áp lực thất nghiệp vốn đã gay gắt Do tác động của
xu hướng đầu tư kích cầu trong những năm qua nhằm vào khu vực doanhnghiệp nhà nước và cho các dự án đầu tư sử dụng nhiều vốn thay vì sửdụng nhiều lao động Nói tóm lại, chuyển dịch cơ cấu ngành về mặt sốlượng đã cõ những bước tiến nhất định, nhưng lại hầu như không tác độngđến chuyển dịch cơ cấu lao động
Do tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướngtiến bộ nên đóng góp của từng ngành trong GDP cũng thay đổi, rõ nhấttrong những năm gần đây
Bảng 4: Tỷ lệ đóng góp của từng ngành vào tốc độ tăng GDP cả nước
Đơn vị %
Nông-lâm-ngư nghiệp 0.69 0.93 0.79 0.92 0.82Công nghiệp-xây dựng 3.68 3.47 3.92 3.93 4.19
Nguồn: Tổng cục thống kê
Trang 6PHẦN II – ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU TRONG TỪNG NGÀNH KINH TẾ GIAI ĐOẠN 2001-2005
I THÀNH TỰU
1 Ngành nông – lâm - thuỷ sản
1.1 Sự chuyển dịch cơ cấu trong ngành nông - lâm - thuỷ sản
Cơ cấu nông – lâm - thuỷ sản trong những năm 2001 - 2005 vừa qua có
sự chuyển đổi đúng hướng và phát huy được những lợi thế của từng vùngtrên phạm vi lãnh thổ, chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp tuy chậm có
xu hướng giảm tỷ trọng những ngành nông nghiệp trong 5 năm tỉ trọngngành nông, lâm ngư nghiệp giảm còn khoảng 20.7% năm 2005 để thấy rõ
sự chuyển dịch trong nội bộ ngành và sự đóng góp vào tăng trưởng kinh tếtrong thời gian vừa qua như thế nào chúng ta có thể xem xét kỹ hơn quacác số liệu mà nền kinh tế đã đạt được trong 5 năm 2001 – 2005
Bảng 5 - Giá tri sản lượng của ngành nông nghiệp trong thời kỳ
(Nguồn từ niên giám thống kê 2006)
Bảng 6 - Cơ cấu ngành trong ngành nông-lâm-ngư nghiệp
Trang 7Từ hai bảng trên ta có thể thấy sự chuyển dịch trong ngành nôngnghiệp có xu hướng tăng dần về giá trị tuyệt đối nhưng tỷ trọng tương đốilại có xu hướng giảm dần qua các năm.
Ngành nông nghiệp luôn chiếm một tỷ trọng cao nhất trong toàn
ngành nông nghiệp và ngành này có xu hướng tăng dần về giá trí tuyệt đối
từ 87861 năm 2001 tới 132633 năm 2005 nhưng giảm dần về tỉ trọng tươngđối cuả nó trong toàn ngành nông nghiệp từ 18.55% năm 2001 còn 75.77%
năm 2005 Nông nghiệp là ngành đóng vai trò quan trọng trong toàn ngành
nông lâm ngư nghiệp Xong trong ngành nông nghiệp cũng thể hiện sựchuyển dịch thay đổi những sự chuyển dịch này chậm và nhẹ nhưng nócũng thể hiện sự thay đổi dần trong cơ cấu kinh tế của toàn ngành Ta cóthể thấy được sự chuyển dịch này thể hiện qua bảng sau:
Bảng 7 - Chuyển dịch kinh tế trong ngành nông nghiệp qua các
( nguồn từ niên giám thống kê 2006)
Ta thấy trong ngành nông nghiệp trồng trọt luôn giữ một vai trò rấtlớn trong giá trị và là ngành chủ đạo trong ngành nông nghiệp( chiếm tỉtrọng hơn 70%) trong những năm qua ngành này lại có xu hướng giảm tỉtrọng ( từ 77.9% năm 2001 xuống còn 73.5% năm 2005 ) do diện tích sửdụng đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp giảm khoảng 220 nghìn haphục vụ cho những chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang các ngành công nghiệp
và dịch vụ , nhiưng năng suất và chất lượng của ngành luôn tăng do ápdụng những khoa học kĩ thuật mới nâng cao năng suất chất lượng của cácsản phẩm từ trồng trọt trong những năm 2001 – 2005 Việt Nam không chỉđáp ứng được nhu cầu lương thực trong nước mà còn có rất nhiều sản phẩmxuất khẩu có hiệu quả: gạo, cà phê, sảnphẩm đặc sản, hạt điều, hạt tiêu….Trong đó giá trị xuất khẩu gạo và cà phê, hạt điều, hạt tiêu đứng đầu thế
Trang 8giới an ninh lương thực được đảm bảo sản lượng lương thực có hạt tăngbình quân hàng năm là 1 triệu tấn ( năm 2005 đạt 39.5 triệu tấn) trrồng trọt
đã tứng bước chuyển sang sản xuất hàng hoá gắn với thị trường, chú ý nângcao chất lượng và giá trị sản phẩm phát huy thế mạnh cuả mình với nhữngcây công nghiệp và những cây có lợi thế xuất khẩu như cà phê, cau su, hồtiêu, hạt điều…đóng góp một phần lớn trong giá trị xuất khầu của nền kinh
tế
Bên cạnh đó ngnàh Chăn nuôi là ngành mang lại thu nhập cao trongngành nông nghiệp có tỉ trọng ngày càng tăng từ 19.6% năm 2001 lên tới24.7% năm 2005 ngành chăn nuôi trong những năm gần đây được quantâm đầu tư nhiều vì ngành này mang lại giá trị lớn cho người dân góp phầnlớn vào thu nhập của người dân, nâng cao cuộc sống của nhân dân cả vềthu nhập lẫn giá trị dinh dưỡng mà những sản phẩm của ngành mang lại,ngành chăn nuôi phát triển theo hướng công nghiệp nhiều mô hình chănnuôi trang trại lớn được hình thành được áp dụng những công nghệ mớitrong công tác tuyển chọn giống, chăm sóc, nhân giống, nguồn thức ăn…tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao và năng suất cao
Các ngành dịch vụ trong nông nghiệp có xu hướng giảm tỉ trọng 2.5%năm 2001 còn 1.8 % năm 2005) do áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹthuật mới chất lượng cao, khả năng bao trùm lớn do vậy ngành không đòihỏi nhiều dịch vụ như trước nữa vì thế ngành dịch vụ cho nông nghiệp có
xu hướng giảm về tỉ trọng song chất lượng dịch vụ luôn được đảm bảo đápứng mọi nhu cầu cho phát triển nông nghiệp
Ngành lâm nghiệp cũng có sự chuyển dịch mặc dù không rõ nhưng
nó cúng phản ánh được sự thay đổi tỉ trọng của ngành lâm nghiệp trong qui
mô toàn ngành này có tỷ trọng tương đối tăng mặc dù tăng châm 5.45%năm 2001 tới 5.74% năm 2005 trong giai đoạn này tỉ trọng của ngành lâmnghiệp có những biến đổi nhưng nói chung là chuyển dịch tăng khồn rõràng giao động lên xuống Ngành lâm nghiệp tiếp tục có những bướcchuyển biến trong cơ cấu công tác bảo vệ rừng ngành càng được chú ý,tứng bước chuyển hướng lâm nghiệp từ nhà nước quản lý là chính sanggiao khoán, phát triển lâm nghiệp với sự tham gia của nhiều thành phầnkinh tế chú trọng công tác trồng cây gây rừng bảo vệ các loài động vật quíhiểm do vậy tỉ trọng củ nhành trồng và nuôi rừng có xu hướng tăng lên ( từ13.2% năm 2001 lên tới 14.8% năm 2005) đây là một chuyển biến theohướng tích cực đáp ứng nhu cầu chuyển dịch chung của ngành
Trong ngành khai thác một ngành chiếm một tỉ trọng lớn nhất trongngành lâm nghiệp ( luôn chiếm trên 79% toàn ngành) lả nguồn thu nhập tạo
ra giá trị chính trong ngành Nhưng trong những năm gần đây công tác bảo
vệ và hạn chế vịêc khai thác lâm sản, các loài động vật quí hiếm ngày càngđược chú trọng hơn, số lượng rừng và các sản phẩm của rừng cũng ngàycnàg cạn kiệt do không có những chính sách bảo vệ thích đáng nên giá trịgia tăng của ngành khai thác lâm sản có xu hướng giảm, tỉ trọng của nó
Trang 9trong ngành cũng có xu hướng giảm (82.8% năm 2001 xuống còn 79.5%năm 2005)
Chính sự chú trọng của các cấp chính quyền với những chính sách bảo
vệ rừng được thắt chặt nên các dịch vụ và hoạt động lâm nghiệp cũng đượcchú trọng và phát triển, chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong cơ cấu ngànhlâm nghiệp
Bảng 8 - Thành phần cơ cấu trong nội bộ ngành lâm nghiệp (%)
Ngành thuỷ sản trong những năm gần đây có xu hướng tăng về tỉ
trọng trong toàn ngành nông nghiệp cả về sản lượng tuyệt đối cả về tỉ trọngtương đối năm 2001 sản lượng tuyệt đối của ngành thuỷ sản là 17904 tỷđồng và chiếm 16% trong toàn ngành tới năm 2005 sản lượng này là 32363
tỉ đồng( gần gấp đôi) và tỷ trọng chiém trong toàn ngành là 18.49% Ngànhthủy sản là ngành chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong cơ cấu các ngànhkinh tế là một lợi thế kinh tế của nước ta Trong những năm 2001- 2005ngành thủy sản cũng có sự chuyển biến lớn trong cơ cấu ngành Thể hiệntrong bảng sau:
Bảng 9 -Thành phần cơ cấu trong nội bộ ngành thuỷ sản (%)
Từ bảng trên ta có thể thấy xu hướng chuyển dịch của ngành thuỷ sản:
tỉ trọng ngành chăn nuôi ngày càng tăng 52.3% năm 2001 tới 64.2% năm
2005 sự chuyển dịch này là do trong những năm gần đây đảng và chính phủ
ta chú trọng hơn vào các ngành chăn nuôi thuỷ sản xuất khẩu, nhiều môhình nuôi thuỷ sản có giá trị cao được đưa vào Thay co việc khai thác thuỷsản từ những nguồi tài nguyên sẵn có, sông, biển…bảo vệ môi trường tựnhiên, và những môi trường sinh thái đang dần biến mất Người dân đã đầu
tư nhiều hơn cho các hoạt động nuôi trồng đảm bảo sự phát triển vững trắccủa ngành
Trang 10Cũng vì thế tỉ trọng của ngành khai thác giảm đáng kể ( từ 47.7%năm 2001 còn 35.8% năm 2005) mặc dùng tỉ trọng của ngành luôn cao hơn
tỉ trọng ngành nuôi trồng Sản lượng thuỷ sản năm 2005 đạt 3.43 triệu tấn,tăng hơn 1.52 lấm sao với năm 2000, trong đó nuôi trồng thuỷ sản đạt 1.44triệu tấn, khai thác đạt 2 triệu tấn
Nguyên nhân của xu hướng chuyển dịch của các ngành nông-lâm-ngư
nghiệp trong nền kinh tế là do:
Điều kiện địa lý, khí hậu của nước ta mặc dù có những biến động lớnnhững thay đổi thất thường xong chính điều kiện khí hậu này cũng là mộtthế mạnh của nước ta trong việc phát triền nông lâm ngư nghiệp Đa dạnghoá các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản Thích hợp vớinhiều loại cây con nên mặc dù giảm về tỉ trọng xong giá trị tuyệt đối cuảngành vẫn tăng cao
Xu hướng chuyển dịch chung của nền kinh tế tăng dần tỉ trọng cácngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỉ trọng tương đối cuả ngành nôngnghiệp từng bước công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế, trong nhữngnăm vừa qua chúng ta đầu tư và trú trọng nhiều hơn vào các ngành có tiềmnăng, phát triển dịch vụ đảm bảo đời sống của nhân dân
1.2 Tác động của ngành nông lâm thuỷ sản tới tăng trưởng kinh tế:
Bảng 10 - Cơ cấu ngành nông – lâm - thuỷ sản chiếm trong tổng
GDP
Chỉ tiêu
Năm
Tổng GDP(tỷđồng)
GDP của ngànhnông-lâm-thuỷsản(tỷ đồng)
2.1 Sự chuyển dịch cơ cấu trong ngành công nghiệp
Là ngành đóng góp nhiều cho tăng trưởng vởi trên 40% GDP, côngnghiệp và xây dựng vẫn luôn là ngành được quan tâm và đầu tư nhiều nhất.Trong những năm qua ngành công nghiệp và xây dựng vẫn duy trì được tốc
độ tăng trưởng cao và ổn định Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân16%/ năm đã góp phần duy trì tốc độ trưởng chung của nền kinh tế Giá trị
Trang 11tăng thêm của ngành công nghiệp tăng bình quân 10,1%/năm, trong nội bộngành cũng có sự chuyển biến đáng kể.
Trong giai đoạn 01-05, tỷ trọng ngành CN-XD chiếm trong GDP đãtăng từ 38,12% lên 41%, như vậy là đạt kế hoạch đề ra Trong đó côngnghiệp khai thác mỏ tăng từ 9,21% lên 10,59%, công nghiệp chế biến tăng
từ 19,78% lên 20,63%, sản xuất và phân phối điện nước, khí đốt tăng đềulên khoảng gần 3,5%
(Nguồn niên giám thống kê)
Đây là xu hướng chuyển dịch đúng đắn để đảm bảo cho sự phân triển
ôn định và lâu dài, phát huy được lợi thế của từng ngành, hình thành đượcmột số ngành mũi nhọn, một số khu công nghiệp, khu chế xuất có côngnghệ cao, đồng thời phát triển một số ngành chế biến nông sản
Trong nội bộ ngành công nghiệp, cơ cấu chuyển dịch ngành côngnghiệp theo hướng tích cực, góp phần chuyển dịch cơ cấu công nghiệp hợp
lý Các ngành công nghiệp khai thác, cơ khí, sản xuất kim loại, điện tử vàcông nghệ thông tin, hoá chất đều tăng tỷ trọng, những ngành còn lại có xuhướng giảm dần Điều này cho thấy những ngành công nghệ cao đang dầndần tăng tỷ trọng phù hợp với xu thế chung của thế giới Có thể thấy Côngnghiệp khai thác đã giảm tỷ trọng khá nhiều cà thay vào đó tỷ trọng cuangành cơ khí tăng thêm đáng kể, chứng tỏ ngành công nghiệp đang trênđường phát triển theo xu hướng CNH-HĐH Giảm dần tỷ trọng các ngànhkhai thác, xuất khẩu sản phẩm thô, tiến tới xây dựng những ngành côngnghiệp có vốn lớn, công nghệ cao
Trang 12Bảng 12 - Bảng cơ cấu ngành công nghiệp giai đoạn 2001-2005
Cơ cấu ngành CN(%) Năm
Bảng 13 - Tốc độ tăng và CDCC ngành CN phân theo ngành
Ngành Tốc độ tăng bình quân mỗi năm
trong 5 năm 2001-2005
Nguồn: Viện NCCL, chính sách công nghiệp
Qua bảng số liệu trên đồ cho thấy nền công nghiệp nước ta cònđang ở điểm phát triển thấp so với các nước trong khu vực, xu hướngchuyển dịch của ngành trong 5 năm vừa qua mặc dù có những khả quannhưng chưa đủ để trở thành nhân tố thúc đẩy nền công nghiệp phát triển nóiriêng, nền kinh tế Việt Nam nói chung Những ngành có tỷ trọng tăng như:
Cơ khí ( tăng 3,6%), sản xuất kim loại (tăng 0,29%), hoá chất ( tăng1,17%), dệt may và da dày(tăng 0,43%), chế biến Nông Lâm Thuỷ Sản(tăng 0.03%) Những ngành có xu hướng giảm tỷ trọng là : công nghiệpkhai thác (4,67%), Điện tử và CNTT (0,05%), Sản xuất vật liệu xây dựng(0.08%), Điện, ga (0,52%)
Theo khía cạnh phân ngành khác, ngành công nghiệp chế biến chiếmtrên 84% và có xu hướng tăng lên do một số ngành sản phẩm mới có điềukiện tăng trưởng cao như sản xuất ô tô, xi măng, các phương tiện vận tảikhác và một số ngành từ kim loại ( trừ máy móc thiết bị) may mặc, sản xuấtcác sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại
Trang 13Công nghiệp khai thác mỏ vốn chiếm tỷ trọng nhỏ lại liên tục giảm chỉcòn 9% năm 2006 (ước tính), tốc độ tăng trưởng bình quân thấp nhất trongcác ngành CN-XD (6,8%) (nguyên nhân chủ yếu chủ yếu là ngành khaithác dầu khí chiếm 70% GTSX của ngành kinh tế, trong khi đó tỷ trọnggiảm dần xuống còn 6,1% năm 2006 (ước tính) Thêm vào đó tốc độ tăngtrưởng của ngành dầu khí chậm
Ngành sản xuất điện nước năm 2006 chiếm 6% trong ngành côngnghiệp (Điện: chiếm 5,6%, Nước: 0,4%) Với tỷ trọng này cho thấy sảnxuất điện nước ở mực thấp, đặc biệt là từ năm 2000 lại đây tỷ trọng chiếmtoàn ngành đã không tăng mà còn giảm nhẹ ở năm 2005 Ngành có tốc độtăng trưởng 14,1% đảm bảo được cân đối nhu cầu phát triển sản xuất củanền kinh tế và tiêu dung dân cư
Tuy nhiên sự mất cân đối về cung cầu điện, nước luôn tiềm ẩn ảnhhưởng đến tăng trưởng, lâu dài đến nền kinh tế nói chung và sản xuất côngnghiệp nói riêng
Đánh giá sự chuyển dịch theo hướng tích cức qua chỉ tiêu vềtốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp
Bảng 14 – Tốc độ tăng GTSX ngành công nghiệp
(Nguồn: Niên giám thống kế)
Với tốc độ tăng trưởng khá cao thể hiện ngành công nghiệp trên đàphát triển theo hướng công nghiệp hoá, và cũng chuyển dịch theo hướnghợp lý
2.2 Tác động của ngành công nghiệp đối với tăng trưởng kinh tế
Bảng 15 – Đóng góp ngành công nghiệp vào GDP