1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nâng cao 2 kỹ năng nghe nói cho hco5 sinh tiểu học

11 246 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 140,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. Nhận thức cũ – giải pháp cũ I. Nhận thức cũ 1. Dạy kỹ năng nghe: Hiện nay trường tiểu học của ta còn coi nhẹ việc rèn luyện ngôn ngữ nói, do đó tất yếu dẫn đến coi nhẹ kỹ năng nghe. Chương trình Tiếng Việt hiện hành ở bậc học này không có phần môn nào đặt trọng tâm kỹ năng nghe như Tập đọc rèn luyện kỹ năng đọc, Tập viết rèn kỹ năng viết,… Kỹ năng nghe được rèn một cách tự phát qua việc học các phần môn như Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện,…Đồng thời kỹ năng nghe cũng không được xác định rõ mức độ cần đạt được qua từng lớp. Nhiều người đơn giản trong suy nghĩ thường cho rằng không cần dạy cho học sinh kỹ năng nghe với lập luận sau : Ai nghe tiếng mẹ đẻ mà không hiểu? Đó là một sự ngộ nhận. Bởi thực tế, nhiều trường hợp nghe mà chỉ hiểu một phần hoặc thậm chí không hiểu hoặc có hiểu thì không thấu đáo, đầy đủ, không hiểu hết sự tinh vi, tinh tế của người nói. Vì vậy mà nhà trường cần rèn cho học sinh kỹ năng nghe. Nghe là một hoạt động nhận tin nhờ bộ máy thính giác. Trước hết người nghe phải nghe chính xác, đầy đủ thông báo; sau đó nhờ các hoạt động tư duy mà hiểu được các nội dung thông báo. Có hai hình thức nghe: Nghe đối thoại ( trong giao tiếp hội thoại). Nghe độc thoai ( trong giao tiếp truyền, phát tin) Người nghe đối thoại là người trong cuộc tham gia xác lập nội dung hội thoại. Trong quá trình giao tiếp, luôn có sự đổi vai từ người nghe sang người nói hoặc ngược lại. Đề tài cuộc giao tiếp có thể được xác định trước, cũng có khi tuỳ hứng của những người tham gia, song nội dung luôn phát triển, biến đổi suốt cuộc hội thoại. Người nghe độc thoại chỉ đóng vai trò là người nhận tin, không có sự chuyển vai như trong hội thoại. Nội dung của các cuộc độc thoại do người nói quy định, người nghe không tham dự trực tiếp vào việc xác lập nội dung.

Trang 1

A Nhận thức cũ – giải pháp cũ giải pháp cũ

I Nhận thức cũ

1 Dạy kỹ năng nghe:

Hiện nay trờng tiểu học của ta còn coi nhẹ việc rèn luyện ngôn ngữ nói, do đó tất yếu dẫn đến coi nhẹ kỹ năng nghe Chơng trình Tiếng Việt hiện hành ở bậc học này không có phần môn nào đặt trọng tâm kỹ năng nghe nh Tập đọc rèn luyện kỹ năng đọc, Tập viết rèn kỹ năng viết,… Kỹ năng nghe đ Kỹ năng nghe đợc rèn một cách tự phát qua việc học các phần môn nh Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện,… Kỹ năng nghe đĐồng thời kỹ năng nghe cũng không đợc xác định rõ mức độ cần đạt đợc qua từng lớp Nhiều ngời đơn giản trong suy nghĩ thờng cho rằng không cần dạy cho học sinh kỹ năng nghe với lập luận sau :

- Ai nghe tiếng mẹ đẻ mà không hiểu?

Đó là một sự ngộ nhận Bởi thực tế, nhiều trờng hợp nghe mà chỉ hiểu một phần hoặc thậm chí không hiểu hoặc có hiểu thì không thấu đáo, đầy đủ, không hiểu hết

sự tinh vi, tinh tế của ngời nói Vì vậy mà nhà trờng cần rèn cho học sinh kỹ năng nghe

Nghe là một hoạt động nhận tin nhờ bộ máy thính giác Trớc hết ngời nghe phải nghe chính xác, đầy đủ thông báo; sau đó nhờ các hoạt động t duy mà hiểu đợc các nội dung thông báo

Có hai hình thức nghe:

- Nghe đối thoại ( trong giao tiếp hội thoại)

- Nghe độc thoai ( trong giao tiếp truyền, phát tin)

Ngời nghe đối thoại là ngời trong cuộc tham gia xác lập nội dung hội thoại Trong quá trình giao tiếp, luôn có sự đổi vai từ ngời nghe sang ngời nói hoặc ngợc lại Đề tài cuộc giao tiếp có thể đợc xác định trớc, cũng có khi tuỳ hứng của những ngời tham gia, song nội dung luôn phát triển, biến đổi suốt cuộc hội thoại

Ngời nghe độc thoại chỉ đóng vai trò là ngời nhận tin, không có sự chuyển vai

nh trong hội thoại Nội dung của các cuộc độc thoại do ngời nói quy định, ngời nghe không tham dự trực tiếp vào việc xác lập nội dung

* Ưu điểm :

- Trong quá trình dạy giáo viên dễ truyền tải đầy đủ nội dung bài học

- Không cần chú trọng khai thác nội dung bài học do đó, có nhiều thời gian

và thời lợng để cung cấp kiến thức cho học sinh

* Nhợc điểm :

- Giáo viên không luyện đợc cho học sinh kỹ năng nói và các tín hiệu phi ngôn ngữ

- Không phát huy đợc kỹ năng giao tiếp cho học sinh

- Mức độ nghe của học sinh bị hạn chế, nhiều khi nghe mà không hiểu hay nghe mà thiếu phân tích

Trang 2

2 Dạy kỹ năng nói :

Nói là hoạt động phát tin nhờ bộ máy phát âm đầu tiên ngời nói phải xác định nội dung lời nói, lựa chọn nội dung để diễn tả nội dung đó Sau đó ngời nói sử dụng

bộ máy phát âm để truyền đi chuổi lời nói đã đợc xác định Có 2 dạng nói: Độc thoại và đối thoại Mỗi dạng có đặc điểm riêng

Thực tế giảng dạy ở các trờng tiểu học hiện nay đã có phần chú trọng đến cho học sinh kỹ năng nói Cụ thể là qua các buổi học nh Tập đọc đã rèn cho học sinh nói khi trả lời câu hỏi, kể lại câu chuyện; Chính tả cũng rèn kỹ năng nói, trong Tập

đọc còn rèn nói chính xác ở phần luyện đọc Kể chuyện – giáo viên cho học sinh

kể lại câu chuyện… Kỹ năng nghe đ nh vậy đã rèn đợc kỹ năng nói cho học sinh… Kỹ năng nghe đ

Nh vậy với quan điểm chỉ cần cho học sinh luyện nói theo chủ đề cho sẵn thì học sinh nói đợc nh thế là đã đợc thành công

* Ưu điểm :

- Giáo viên truyền tải đợc kỹ năng nói cho học sinh theo yêu cầu nội dung ở sách giáo khoa

- Phát huy và tập cho học sinh kỹ năng nói trớc đông ngời Trình bày bằng lời trớc sự chứng kiến của nhiều ngời

* Tồn tại :

- Chỉ chú trọng đến kỹ năng nói ở dạng độc thoại mà không rèn kỹ năng đối thoại

- Ngời nói cha chú ý đến tác động bên ngoài để điều chỉnh lời nói của bản thân

- Lời độc thoại thờng diễn ra liên tục Do đó ngời nói ít có thời gian ngng nghỉ

để chuẩn bị

II Giải pháp cũ :

1 Dạy kỹ năng nghe: Có hai hình thức nghe :

a Nghe đối thoại (trong giao tiếp hội thoại)

Ngời nghe đối thoại là ngời trong cuộc tham gia xác lập nội dung hội thoại Trong quá trình giao tiếp, luôn có sự thay đổi vai từ ngời nghe sang ngời nói hoặc ngợc lại Đề tài của cuộc hội thoại thờng đợc giáo viên xác định và cho trớc, cũng

có khi tuy hứng của học sinh

ở hình thức nghe đối thoại thờng đợc giáo viên cho học sinh trả lời câu hỏi sau

đó ngời nghe phân tích và nhận xét ở kỹ năng này còn đợc giáo viên luyện cho học sinh nghe hiểu văn bản Nghe để viết một đoạn hay bài Chính tả

b Nghe độc thoại :

Nghe độc thoại chỉ đóng vai trò nhận tin, không có sự chuyển đổi vai nh trong hội thoại Nội dung của cuộc độc thoại do ngời nói(giáo viên) quy định, ngời nghe( học sinh hay học sinh – học sinh) không tham dự trực tiếp vào việc xác lập nội dung

Trang 3

ở kỹ năng nghe độc thoại thờng đợc giáo viên truyền tải – học sinh nghe nh ngời nhận tin, giáo viên đóng vai trò là ngời phát thanh viên Kỹ năng này đợc giáo viên luyện một cách đơn điệu trong các phân môn Kể chuyện, Chính tả ( nghe – viết),… Kỹ năng nghe đ

* Ưu điểm :

- Đối với kỹ năng nghe đối thoại :

+ Giáo viên đạt đợc yêu cầu là truyền tải nội dung bài học

+ Học sinh chú ý nghe để tiếp thu nội dung

- Đối với kỹ năng nghe độc thoại :

+ Giáo viên khai thác đợc nội dung bài học thông qua nghe và trả lời câu hỏi + Học sinh rèn đợc kỹ năng nghe giáo viên, bạn bè, bố mẹ hay ngời xung quanh nói để chú ý lắng nghe

* Nhợc điểm :

- Chỉ chú trọng hình thức nghe độc thoại và coi nhẹ hình thức nghe đối thoại

- Gây cho học sinh nhiều thiệt thòi trong việc hoàn thiện năng lực sử dụng Tiếng Việt

2 Dạy kỹ năng nói : Có hai dạng nói : Đối thoại và độc thoại

a ở dạng đối thoại :

Hiện nay ở trờng tiểu học kỹ năng nói đối thoại đợc thông qua các phân môn

nh trong Tập đọc, học sinh nghe – nói cho bạn nghe Phân môn Kể chuyện đợc giáo viên tổ chức cho sắm vai để đối thoại

b ở dạng độc thoại :

Giáo viên hiện nay dạy kỹ năng độc thoại cho học sinh bằng cách học sinh nghe giáo viên nói, đặt câu hỏi sau đó trả lời Kỹ năng này giáo viên nói theo nội dung có sẵn học sinh thông qua câu hỏi, tìm hiểu nội dung đã có và trả lời đối thoại với giáo viên

* Ưu điểm :

- Dạng đối thoại : Ngời đối thoại là ngời tham gia vào qúa trình xây dựng nội dung và diễn biến cuộc hội thoại

- Dạng độc thoại : Ngời độc thọai giữ vai trò chủ động khi đã có định hớng nội dung của giáo viên

* Nhợc điểm :

- Lời độc thoại diễn ra liên tục, do đó ngời nói ít có thời gian ngng nghỉ để chuẩn bị

- Cha chú ý đến kỹ năng đối thoại

B Nhận thức mới – giải pháp cũ giải pháp mới

I Nhận thức mới

Mục đích của việc dạy Tiếng Việt là giúp cho học sinh biết sử dụng thành thạo, sinh động Tiếng Việt trong giao tiếp, sử dụng đúng và hay Tiếng Việt trong việc

Trang 4

sản sinh văn bản Bài viết này tập trung vào vấn đề dạy các kỹ năng nghe, nói cho học sinh bậc tiểu học đợc nâng cao hơn

Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả là những phân môn của môn Tiếng Việt, có nhiều

điều kiện rèn kỹ năng nghe cho học sinh Chính tả rèn cho học sinh nghe đúng, nghe chính xác và nghe tinh tế để viết lại đúng, chính xác bài chính tả Tập đọc rèn cho học sinh nghe đúng, nghe chính xác và nghe tinh tế để nhận ra sự diễn cảm trong giọng đọc của ngời đọc Có lẽ, phân môn kể chuyện có u thế hơn cả trong việc rèn luyện kỹ năng nghe Học sinh không những đợc nghe đúng, chính xác mà còn đợc rèn luyện khả năng thông hiểu nội dung câu chuyện để sau đó có khả năng tái tạo lại câu chuyện đó

II Giải pháp mới

1 Rèn kỹ năng nghe : Có thể rèn cho học sinh tiểu học theo các loại bài tập

sau :

Cụ thể các loại bài tập trên đợc trình bày nh sau :

(a) - Bài tập rèn luyện khả năng phân biệt các âm thanh trong tự nhiên.

Các bài tập rèn kỹ năng nghe cho học sinh

Bài tập

rèn các

khả năng

phân biệt

các âm

thanh

trong tự

nhiên

Bài tập rèn các khả năng phân biệt các âm thanh trong Tiếng Việt

Bài tập rèn khả

năng nhận biết các kiểu câu nhờ phân biệt ngữ

điệu

Bài tập rèn khả

năng ghi nhớ và ghi chép nội dung văn bản

Bài tập rèn khả năng thông hiểu nội dung văn bản vừa nghe

Trang 5

Trờng tiểu học của ta hầu nh không sử dụng loại bài tập này, song ở các nớc trên thế giới, mở đầu cho lớp học đầu tiên bậc tiểu học (nh lớp 1 của ta) chỉ định một số tiết học để thực hiện các bài tập phân biệt âm thanh trong tự nhiên Loại bài tập này nhằm rèn luyện sự tinh nhạy của đôi tai đối với các âm thanh( nhanh nhận

ra sự thay đổi của cao độ, trờng độ, cờng độ, âm sắc của từng loại âm thanh… Kỹ năng nghe đ) Với loại bài tập này có thể rèn luyện các bài cụ thể sau:

+ Nhận ra những âm thanh cụ thể trên cơ sở các âm thanh khác nhau hoặc phân chia các âm nghe đợc thành từng nhóm

+ Phân biệt các âm về cao độ (cao hay thấp), trờng độ (dài hay ngắn), cờng độ (to hay nhỏ)

+ Nhận biết ý nghĩa của một số âm thanh nghe đợc

Ví dụ : Tiết học ngoài trời, học sinh nhận ra tiếng chim hót giữa các âm thanh lẫn lộn ngoài thiên nhiên

(b) - Bài tập rèn khả năng phân biệt các âm thanh trong Tiếng Việt

Loại bài tập này đợc dùng trong các giờ học âm, học vần, giờ chính tả so sánh (Khi làm bài tập phân biệt chính tả giữa các phụ âm đầu, vần, thanh, phụ âm cuối

do địa phơng phát âm sai so với âm chuẩn, … Kỹ năng nghe đ).Giúp học sinh sửa lỗi phát âm sai, các lỗi chính tả đợc phát âm nhầm lẫn ở địa phơng

Với loại bài tập này, giáo viên lần lợt đọc hoặc nói các cặp từ ngữ, các đoạn, câu có chứa các âm, vần, thanh địa phơng thờng hay lẫn lộn hoặc cần học Học sinh nghe rồi đọc lại hoặc ghi ra giấy

(c) – Bài tập rèn khả năng nhận biết các kiểu câu nhờ phân biệt ngữ điệu.

Giáo viên đọc từng đoạn văn bản học sinh cha biết, chú ý đọc đúng ngữ điệu các câu kể, câu hỏi, câu cảm, câu cầu khiến có trong đoạn văn Học sinh nghe và nhận biết từng loại câu Ngoài ra, có thể sử dụng hình thức trò chơi sắm vai, đóng kịch,… Kỹ năng nghe đ để học sinh nghe và phân biệt ngữ điệu các kiểu câu

(d) – Bài tập rèn khả năng ghi nhớ và ghi chép nội dung văn bản vừa nghe.

Giáo viên đọc một đến hai lần một văn bản (cụ thể là một câu chuyện, một bản tin, một văn bản hành chính,… Kỹ năng nghe đ) mà học sinh cha đọc, học sinh chú ý nghe rồi làm các bài tập với nhiều mức độ nh :

+ Kể lại nhân vật, thời gian, không gian xảy ra câu chuyện hoặc sự kiện

+ Kể lại hay viết các chi tiết chính, các sự kiện quan trọng, các tin tức chủ yếu trong văn bản

+ Ghi lại thành dàn bài các ý chính của văn bản

+ Vừa nghe, vừa tập ghi các chi tiết của văn bản

(e) – Bài tập rèn khả năng thông hiểu nội dung văn bản vừa nghe.

Giáo viên đọc một đến hai lần đoạn văn có tình tiết phức tạp, học sinh ch a biết Học sinh nghe rồi làm các bài tập:

Trang 6

+ Nêu mối quan hệ giữu các sự kiên, tình tiết, các nhân vật, … Kỹ năng nghe đ có trong văn bản

+ Nêu lên ý kiến đánh giá nhân vật hoặc sự kiện trong văn bản( ý kiến cần nên ngắn gon, cô đọng)

2 Dạy kỹ năng nói :

Có hai dạng nói : Đối thoại và độc thoại

- Đối thoại : Ngời đôí thoại là ngời tham gia vào quá trình xây dựng nội dung và diễn biến cuộc hội thoại

- Độc thoại : Ngời độc thoại thờng giữ vai trò chủ động trong việc lựa chọn nội dung, định hớng nói, xác định phơng pháp nói Độc thoại có 2 loại :

+ Độc thoại trực tiếp có sự hiển diện của ngời nghe (ví dụ : giáo viên giảng bài) + Độc thoại gián tiếp không có ngời nghe trớc mặt( ví dụ : các phát thanh viên truyền thanh hay truyền hình)

So với kỹ năng nghe, trờng tiểu học của ta đã chú ý đến dạy kỹ năng nói cho học sinh Song chỉ chú ý đến khả năng độc thoại, bỏ qua khả năng đối thoại

Trong chơng trình tiểu học sau này cần chú ý cân đối cho học sinh cả hai dạng

đối thoại và độc thoại Việc rèn kỹ năng nói có thể tiến hành khi dạy các phân môn học khác nh khi học sinh trả lời các câu hỏi do giáo viên nêu ra

Có thể rèn kỹ năng nói cho học sinh tiểu học theo các dạng bài tập sau :

Bài tập rèn kỹ năng nói cho học sinh tiểu học

Bài tập

luyện

phát

âm

theo

Bài tập tình huống.

Bài tập ngâm thơ, học thuộc

Bài tập luyện cách nói dựa theo câu hỏi định hớng hoặc

Bài tập luyện cách nói theo

Bài tập rèn kỹ năng hội thoại.

Bài tập kể chuyện

Trang 7

(a) (b) (c) (d) (e) (g) (h)

Các bài tập đợc trình bày có nội dung nh sau :

(a)– Bài tập luyện phát âm theo chuẩn :

Hiện nay, loại bài tập này ít đợc sử dụng Với dạng bài tập này giáo viên lựa chọn các loại âm, vần địa phơng thờng phát âm sai chuẩn xây dựng thành câu hoặc

đoạn bắt học sinh nói đi, nói lại nhiều lần các âm vần đoạn đó Điều quan trong là cần có ngời nói mẫu đúng chuẩn

Ví dụ : Để chữa các bài tập phát âm sai l/n cho học sinh tập nói các câu con“con

lơn nó lợn trong lọ , cái lọ lộc bình nó lăn lông lốc ”, “cái lọ lộc bình nó lăn lông lốc” “con ”, “cái lọ lộc bình nó lăn lông lốc”

(b) – Bài tập tình huống : Cho học sinh sắm vai, đóng kịch

Bài tập này nhằm luyện tập các nghi thức lời nói và phát triển ngôn ngữ nói ở

lớp 1, lớp 2 học sinh tập trung theo từng nhóm chơi đóng vai (ví dụ : ông già và

các cháu nhỏ; ngời bán hàng và ngời mua hàng… Kỹ năng nghe đ) để luyện tập các nghi thức lời nói (chào hỏi khi gặp mặt, chia tay, nói lời cảm ơn, xin lỗi; yêu cầu đề nghị một việc gì đó… Kỹ năng nghe đ) Hoạt động này là một cách phát triển ngôn ngữ qua hình thức vừa chơi, vừa học, vừa phát triển ngôn ngữ nói, vừa giáo dục tác phong văn minh, lịch sự,… Kỹ năng nghe đ

ở các lớp lớn hơn, có thể ra các bài tập tình huống giao tiếp phức tạp hơn (tặng quà, mừng sinh nhật, mời tham dự hoạt động… Kỹ năng nghe đ) Học sinh sẽ trình bày các ứng xử bằng ngôn ngữ hành động

Hai loại bài tập trên hầu nh cha đợc ứng dụng ở trờng tiểu học của ta song ở các nớc khác lại thực hiện nhiều Với loại bài tập này, hình thức tổ chức học tập sẽ thay đổi Bên cạnh tổ chức học theo lớp còn tổ chức học theo nhóm nhỏ, theo cá nhân, học trong lớp và học ngoài trời

(c) – Bài tập ngâm thơ - học thuộc lòng

Bài học thuộc lòng tháng nào cũng có và cũng đợc kiểm tra Bởi vậy, giáo viên cần chú ý yêu cầu học sinh không những đọc thuộc bài thơ, bài văn mà có ngữ

điệu, giọng đọc, cách ngắt nghỉ phù hợp với thể thơ, với nội dung bài thơ, câu thơ, bài văn, câu văn

ở trờng tiểu học của ta hiện nay chỉ sử dụng hình thức ngâm thơ khi nào ngẫu nhiên cô giáo (hoặc có học sinh) biết ngâm thơ Cần khuyến khích học sinh tập ngâm thơ ( qua các buổi sinh hoạt ở câu lạc bộ,… Kỹ năng nghe đ), coi đây một hoạt động chính

Trang 8

thức của môn Tiếng Việt có nh vậy mới phát triển đợc hình thức ngâm thơ trong nhà trờng

(d) – Bài tập luyện cách nói dựa theo câu hỏi định hớng hoặc trả lời câu

hỏi

Hiện nay ở lớp 2 và lớp 3 có các tiêt Tập làm văn nói, kể lại nội dung bài tập

đọc, nội dung của tranh vẽ… Kỹ năng nghe đ theo các câu hỏi gợi ý, còn việc trả lời câu hỏi đợc thực hiện ở tất cả các môn học Tuy vậy, nhiều gíao viên chỉ chú ý đến cách nói để uốn nắn khi có sai sót Đã đén lúc mọi giáo viên cần hớng dẫn học sinh biết cách nói mạch lạc, hấp dẫn khi trả lời câu hỏi của bất cứ môn học nào

(e) – Bài tập luyện cách nói theo dàn bài

Hình thức này đợc luyện tập trong các tiết Tập làm văn nói Các biện pháp khắc phục nhợc điểm của tiết Tập làm văn nói đã phân tích : chỉ cho nói những đề bài gây hứng thú, tạo nhu cầu nói năng cho học sinh khi bớc vào tiết học, hớng dẫn học sinh sử dụng các yếu tố phụ trợ (điệu bộ, cử chỉ, nét mặt,… Kỹ năng nghe đ) khi nói năng

(g) – Bài tập luyện kỹ năng hội thoại

Loại bài tập này hầu nh cha có ở trờng tiểu học của ta Trong thực tế, học sinh hăng hái tham gia các cuộc hội thoại, tranh luận … Kỹ năng nghe đ Vì thế, giáo viên có thể lựa chọn đề tài gây tranh cãi, gây dựng thành tình huống để kích thích học sinh hứng thú tham gia của mọi học sinh (nh trả lời cuộc phỏng vấn, thi tranh luận chung quanh một đề tài mọi ngời quan tâm… Kỹ năng nghe đ) Sắp xếp lại cách ngồi trong lớp: chia thành từng nhóm, tổ và ngồi quây quần với nhau để thảo luận hoặc để đóng vai Có thể tổ chức thi giữa các tổ : mỗi tổ cử một ngời trình bày ý kiến của tổ xem ai có lý lẽ

đúng nhất và cách nói hấp dẫn Cần đề phòng cách ra đề bài đơn giản, cuộc hội thoại trở thành tẻ nhạt, buồn chán

(h) – Bài tập kể chuyện

Loại bài tập này đợc áp dụng cả ở phân môn Kể chuyện và phân môn Tập làm văn nói Có thể cho học sinh kể lại câu chuyện đã nghe, đã đọc; có thể dựa vào tranh để kể lại câu chuyện đã biết; có thể dựa vào tranh để sáng tác ra câu chuyện… Kỹ năng nghe đ cần chú ý hớng dẫn học sinh có t thế, có giọng kể thích hợp, biết sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ bổ trợ, đặc biệt nắm vững câu chuyện định kể

Lu ý : Loại bài kể chuyện chuyển đổi ngôi kể : đang kể theo lời ngời dẫn

truyện chuyển sang kể theo lời nhân vật này chuyển sang lời nhân vật khác

Giáo viên cần quan tâm rèn cho học sinh cả hai kỹ năng nghe và nói

C Kết quả sau khi áp dụng “một số giải pháp nâng cao hai

kỹ năng nghe, nói cho học sinh tiểu học”

Trang 9

Với sáng kiến “conmột số giải pháp nâng cao hai kỹ năng nghe, nói cho học sinh tiểu học”, “cái lọ lộc bình nó lăn lông lốc”., tôi đã áp dụng trong năm học 2008 – 2009 với đối tợng là học sinh lớp

5 – Trờng tiểu học Diễn Kim – Diễn Châu Kết quả nh sau :

1 Đối với kỹ năng nghe :

50

150

125 100

0

20

40

60

80

100

120

140

160

180

200

Ghi chú :

- Các chữ a, b, c, d, e, là các kỹ năng

- Cột không ghạch chéo là trớc ghi áp dụng

- Cột ghạch chéo là khi đã đợc áp dụng

2 Đối với kỹ năng nói : 7 kỹ năng nh nội dung sáng kiến đã viết bao gồm các mục

: a, b, c, d, e, g, h ở mục giải pháp Kết quả sau và trớc khi áp dụng sáng kiến :

Số học

sinh

B i tài t ập

Số học

sinh

Trang 10

117

155

135

180

155

180

0

20

40

60

80

100

120

140

160

180

200

Ghi chú :

: Trớc khi áp dụng

: Sau khi áp dụng

D bài học kinh nghiệm

- Giáo viên cần đầu t thời gian để tìm nội dung phù hợp với từng loại bài tập nh đã nêu ở sáng kiến.

- Giáo viên cần lu ý đến mối quan hệ giữa hai kỹ năng nghe và nói Việc rèn

luyện hai kỹ năng thờng gắn với nhau

- Việc kiểm tra kết quả rèn kỹ năng nghe phải thông qua lời nói

- Hai kỹ năng nghe và nói có quan hệ với kỹ năng đọc và viết

B i tài t ập

Ngày đăng: 27/06/2015, 17:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w