Đề bài:So sánh 3 chỉ số tỷ lệ biết chữ ở người lớn, tỷ lệ đi học đại học, tỷ lệngười thoả mãn với chất lượng giáo dục năm 2013 giữa Việt Nam vớiSingapore, từ đó rút ra những nhận xét và
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
GIÁO DỤC SO SÁNH
ảng viên phụ trách: ụ trách: ễn Tiến Đạt ến Đạt Đạt
Trang 2HÀ NỘI – 2014
Trang 3Hạn nộp bài theo qui định: ngày 9 tháng 5 năm 2014
Thời gian nộp bài: ngày 9 tháng 5 năm 2014
Nhận xét của giảng viên chấm bài:
Điểm: Giảng viên (kí tên):
Trang 4Đề bài:
So sánh 3 chỉ số (tỷ lệ biết chữ ở người lớn, tỷ lệ đi học đại học, tỷ lệngười thoả mãn với chất lượng giáo dục) năm 2013 giữa Việt Nam vớiSingapore, từ đó rút ra những nhận xét và nêu lên phương hướng phấn đấucủa Việt Nam
Bài làm
Trang 5MỤC LỤC TRANG
LỜI NÓI ĐẦU……… …6
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu……… … 6
2 Mục đích nghiên cứu……….7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……….…7
4 Phương pháp nghiên cứu……… 8
5 Kết cấu của tiểu luận:………8
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT HỆ THỐNG GIÁO DỤC VIỆT NAM VÀ HỆ THỐNG GIÁO DỤC SINGAPORE……… 9
1.1 Khái quát hệ thống giáo dục Việt Nam……… 9
1.1.1 Cơ cấu hệ thống - Mạng lưới nhà trường ……….…9
1.1.2 Giáo dục mầm non và việc thực hiện quyền trẻ em……….… 11
1.1.3 Giáo dục tiểu học……… ….12
1.1.4 Giáo dục trung học……… 15
1.1.5 Giáo dục nghề nghiệp - trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề 16
1.1.6 Giáo dục đại học……….18
1.1.7 Giáo dục thường xuyên……… ………19
1.2 Khái quát hệ thống giáo dục Singapore………21
1.2.1 Giáo dục tiểu học………22
1.2.2 Giáo dục trung học……… 22
1.2.3 Giáo dục sau trung học và giáo dục đại học………22
CHƯƠNG 2 SO SÁNH 3 CHỈ SỐ (TỶ LỆ BIẾT CHỮ Ở NGƯỜI LỚN, TỶ LỆ ĐI HỌC ĐẠI HỌC, TỶ LỆ NGƯỜI THOẢ MÃN VỚI CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC) NĂM 2013 GIỮA VIỆT NAM VỚI SINGAPORE 2.1 Bảng số liệu và biểu đồ so sánh 3 chỉ số (tỷ lệ biết chữ ở người lớn, tỷ lệ đi học đại học, tỷ lệ người thoả mãn với chất lượng giáo dục) năm 2013 giữa Việt Nam với Singapore……… 25
Trang 62.2 Nhận xét………
27 CHƯƠNG 3 NHỮNG NHẬN XÉT VỀ ƯU NHƯỢC ĐIỂM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHẤN ĐẦU CỦA VIỆT NAM……… …31
3.1 Những thành tựu đã đạt được của giáo dục Việt Nam trong những năm qua……… 31
3.2 Nguyên nhân của những thành tựu đã đạt được………34
3.3 Những bất cập và yếu kém của giáo dục Việt Nam……… 34
3.4 Nguyên nhân của những bất cập, yếu kém………36
3.5 Những phương hướng phấn đấu đối của giáo dục Việt Nam……37
KẾT LUẬN……….39
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 40
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Các bảng,
Bảng 2.1
Bảng số liệu so sánh 3 chỉ số (tỷ lệ biết chữ ở ngườilớn, tỷ lệ đi học đại học, tỷ lệ người thoả mãn với chất lượng giáo dục) năm 2013 giữa Việt Nam với Singapore
25
Biểu đồ 2.1
So sánh 3 chỉ số (tỷ lệ biết chữ ở người lớn, tỷ lệ đi học đại học, tỷ lệ người thoả mãn với chất lượng giáo dục) năm 2013 giữa Việt Nam với Singapore
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Giáo dục so sánh (Comparative Education) là một lĩnh vực nghiêncứu tập hợp của nhiều môn học khác nhau Nó thẩm định, đánh giá nềngiáo dục của các nước đã phát triển cũng như đang phát triển, đồng thờiđánh giá vai trò của nền giáo dục ấy với sự phát triển của cả cá nhân và đấtnước Nó cũng nghiên cứu các hệ thống giáo dục và thẩm định các giá trị
xã hội ảnh hưởng đến hệ thống giáo dục đó như thế nào Giáo dục so sánh
đề cập đến vai trò, mục tiêu của một nền giáo dục và hiệu quả của nó đốivới xã hội Đặc biệt khi nghiên cứu, chú ý nhiều tới các chính sách vàhoạch định cộng đồng của một nền giáo dục
Phát triển Giáo dục so sánh là một đòi hỏi cấp bách đối với giáo dụcViệt Nam Việc nghiên cứu so sánh sẽ làm cho những nghiên cứu về giáodục trong nước không bị bó hẹp trong cái nhìn có tính chất địa phương mà cónhãn quan rộng hơn, từ đó việc nhìn nhận và đánh giá các hiện tượng giáodục, kể cả thành tựu và những khiếm khuyết của nó sẽ có tầm hơn và do đó
mà cũng chính xác hơn
Bên cạnh đó, thế giới luôn luôn vận động, biến đổi theo quy luật kháchquan vốn có của nó Do vậy để tồn tại và phát triển thì đòi hỏi mỗi quốc gia,dân tộc, hay bất cứ một tổ chức đơn vị nào cũng phải biết vị trí của mìnhtrong mối tương quan với các quốc gia, dân tộc hay đơn vị khác, đánh giáđược thực trạng của đơn vị mình từ đó nhằm định hướng xu thế phát triển chophù hợp với xu thế phát triển chung Để làm được việc đó, nhất định phải có
so sánh, đối chiếu Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay thế giới đang bước vào
xu thế toàn cầu hóa - vấn đề mở cửa và hội nhập và thách thức dường nhưkhông còn là vấn đề riêng của một quốc gia dân tộc nào, thiết nghĩ để pháttriển đất nước xứng tầm với vị thế của Việt Nam trên trường Quốc tế rất cầnđến sự phát triển giáo dục Việt Nam sẽ đặt mình vào hệ thống chung của giáo
Trang 10dục toàn cầu, đánh giá theo những chuẩn mực phổ biến chứ không phải nhữngtiêu chí có tính chất biệt lập.
Mặt khác, chúng ta cần so sánh giáo dục để nghiên cứu, phân tích và
so sánh các hoạt động giáo dục trên thế giới hiện nay, nêu ra các xu hướngchủ yếu trong giáo dục và xác định các con đường tiếp tục phát triển
Với đặc điểm chung là từ nền giáo dục thuộc địa tới độc lập, pháttriển Việt Nam và Singapore có điểm xuất phát giống nhau Nhưng hiệnnay, Singapore là một trong những nước có trình độ phát triển KH-CN cao,
có nhiều kinh nghiệm trong việc phát triển một nền giáo dục và đào tạo tiêntiến, hiện đại
Ở Việt Nam, chưa lúc nào chất lượng giáo dục lại được đặt ra nhưmột nhu cầu bức thiết như hiện nay Đổi mới là con đường duy nhất đểgiáo dục phát triển và phát triển bền vững
Xuất phát từ những yêu cầu trên sau khi học xong môn Giáo dục so
sánh em đã chọn đề tài nghiên cứu: “So sánh 3 chỉ số (tỷ lệ biết chữ ở người lớn, tỷ lệ đi học đại học, tỷ lệ người thoả mãn với chất lượng giáo dục) năm
2013 giữa Việt Nam với Singapore, từ đó rút ra những nhận xét và nêu lên phương hướng phấn đấu của Việt Nam”.
2 Mục đích nghiên cứu
Là một học viên cao học chuyên ngành Quản lí giáo dục, mục đíchnghiên cứu là bước đầu tìm hiểu vị trí giáo dục Việt Nam trên bản đồ ĐôngNam Á Từ đó rút ra những nhận xét và nêu lên phương hướng phấn đấu củaViệt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: giáo dục Việt Nam và giáo dục Singapore
- Nghiên cứu, so sánh 3 chỉ số: tỷ lệ biết chữ ở người lớn, tỷ lệ đi họcđại học, tỷ lệ người thoả mãn với chất lượng giáo dục
Trang 11- Phạm vi nghiên cứu: Với xu hướng thu hẹp phạm vi của so sánh giáodục chuyển từ quốc tế sang quốc nội, giải quyết những hạn chế vướng mắccủa nền giáo dục Việt Nam.
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng lý luận về giáo dục so sánh, quản lý giáo dục trên lĩnhvực GD-ĐT và sử dụng phương pháp thống kê chọn mẫu, phương pháp phântích đánh giá trên biểu đồ, phương pháp so sánh tổng hợp
Tiểu luận đã sử dụng các số liệu đã được thầy giáo Nguyễn Tiến Đạtcung cấp, gồm:
Bảng 2 So sánh tỷ lệ biết chữ người lớn ALR (Adult Literacy Rate) Bảng 5: So sánh tỷ lệ đi học đại học TEGER (Tertiary Education Gross Enrolment Ratio)
Bảng 9: So sánh tỷ lệ người tỷ lệ người thoả mãn với chất lượng giáo
dục SEQ (Satisfaction with Education Quality)
(Nguồn: Human Development Report 2013)
5 Kết cấu của tiểu luận:
Ngoài lời nói đầu và kết luận, nội dung của tiểu luận gồm 3 chương:Chương 1 Khái quát hệ thống giáo dục Việt Nam và hệ thống giáo dụcSingapore
Chương 2 So sánh 3 chỉ số (tỷ lệ biết chữ ở người lớn, tỷ lệ đi học đạihọc, tỷ lệ người thoả mãn với chất lượng giáo dục) năm 2013 giữa Việt Namvới Singapore
Chương 3 Những nhận xét về ưu nhược điểm và phương hướng phấnđấu của Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT HỆ THỐNG GIÁO DỤC VIỆT NAM VÀ
HỆ THỐNG GIÁO DỤC SINGAPORE
1.1 Khái quát hệ thống giáo dục Việt Nam
Việt Nam (tên chính thức: Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) làmột quốc gia nằm ở phía đông bán đảo Đông Dương, thuộc khu vực ĐôngNam Á Việt Nam phía bắc giáp Trung Quốc, phía tâygiáp Lào và Campuchia, phía tây nam giáp vịnh Thái Lan, phía đông và phíanam giáp biển Đông
1.1.1 Cơ cấu hệ thống - Mạng lưới nhà trường
Đối với cơ cấu hệ thống giáo dục, có nhiều cách xác định khác nhau Ởđây, khái niệm cơ cấu hệ thống chỉ giới hạn trong phạm vi phân chia cấp lớp/trình độ đào tạo kèm theo đó là một số chú ý về phương thức giáo dục, loạihình trường và việc phân bố trường/ lớp trên các địa bàn (thường được gọi làmạng lưới trường/ lớp)
* Về cơ cấu hệ thống giáo dục Luật giáo dục năm 2005 được sửa
đổi, bổ sung năm 2009 quy định tại Điều 4:
- “Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dụcthường xuyên” [1] Như vậy, giáo dục thường xuyên vừa có thể hiểu như mộtphương thức giáo dục, vừa có thể xem là một tiểu hệ thống/phân hệ của hệthống giáo dục quốc dân
- Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân baogồm:
a) Giáo dục mầm non, có nhà trẻ và mẫu giáo;
b) Giáo dục phổ thông, có 3 cấp học: tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 5),trung học cơ sở (từ lớp 6 đến lớp 9), trung học phổ thông (từ lớp 10 đến lớp12);
Trang 13c) Giáo dục nghề nghiệp, gồm 3 trình độ đào tạo: sơ cấp, trung cấp(trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề), cao đẳng;
d) Giáo dục đại học, gồm 4 trình độ đào tạo: cao đẳng, đại học, thạc sĩ,tiến sĩ
* Về mạng lưới trường/ lớp, theo nguyên tắc phân bố trường gần dân,
đến nay trên các địa bàn dân cư đều có các cơ sở giáo dục Cụ thể là:
- Mỗi xã, phường hoặc thị trấn đều có ít nhất một cơ sở giáo dục mầm
non, một trường tiểu học, một trường trung học cơ sở hoặc một trường liêncấp tiểu học và trung học cơ sở (hình thức này chỉ có ở vùng kinh tế - xã hộiđặc biệt khó khăn); phần lớn các xã có trung tâm học tập cộng đồng
- Mỗi quận, huyện, thị xã hoặc thành phố thuộc tỉnh đã có một hoặc
một số trường trung học phổ thông, có một trung tâm giáo dục thường xuyêncủa huyện Các thị xã, các quận và nhiều huyện đã có trung tâm kỹ thuật tổnghợp-hướng nghiệp Các huyện miền núi, hải đảo đều có một trường trung học
cơ sở nội trú dành cho học sinh dân tộc thiểu số và trường phổ thông có nhiềucấp học
- Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều có một trường trung
học phổ thông chuyên dành cho học sinh xuất sắc trong việc học tập mộttrong các các môn học, có trường trung cấp hoặc/và một trường cao đẳng(junior college), một trung tâm giáo dục thường xuyên của tỉnh Các tỉnh miềnnúi và các tỉnh có nhiều huyện miền núi đều có trường trung học phổ thôngnội trú dành cho học sinh dân tộc thiểu số Một số tỉnh và thành phố trựcthuộc trung ương còn có trường năng khiếu nghệ thuật, trường năng khiếu thểdục-thể thao và trường dành cho người khuyết tật, tàn tật
- Các trường đại học tập trung ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh vàmột số thành phố như Hải Phòng, Thái Nguyên, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ Ngoài ra, hầu như mỗi tỉnh đều có trường cao đẳng hoặc trường đại học
Trang 141.1.2 Giáo dục mầm non và việc thực hiện quyền trẻ em:
Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
em từ mười hai tháng tuổi đến sáu tuổi Mục tiêu giáo dục mầm non là giúp
trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, ngôn ngữ, thẩm mỹ, hình thànhnhững yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1 Cơ sởgiáo dục mầm non gồm nhà trẻ (tiếp nhận trẻ từ ba tháng tuổi đến ba tuổi) vàtrường mẫu giáo (tiếp nhận trẻ từ ba tuổi đến năm tuổi)
Chính sách cơ bản của Đảng và Nhà nước là bảo đảm các quyền của trẻ
em được quy định trong Luật Giáo dục và Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em
Cụ thể là:
- Trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục để phát triển toàn diện
về thể chất, tình cảm, trí tuệ, ngôn ngữ, thẩm mỹ phù hợp với tâm sinh lý lứatuổi
- Trẻ em được chăm sóc sức khoẻ ban đầu và khám bệnh, chữa bệnhkhông phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập
- Trẻ em được giảm phí đối với các dịch vụ vui chơi, giải trí
Việc thành lập các nhà trẻ nhằm mục đích giúp các bà mẹ có nơi gửicon để đi làm và tham gia hoạt động xã hội, góp phần tạo điều kiện thực hiện
sự bình đẳng về giới
Về mặt quản lý nhà nước, các cơ sở giáo dục mầm non hoặc do Uỷ bannhân dân cấp huyện thành lập (cơ sở công lập), hoặc do cộng đồng xã,phường thành lập (cơ sở dân lập), hoặc do tư nhân thành lập (cơ sở tư thục)
- Các cơ sở giáo dục mầm non công lập chỉ được thành lập tại các xãthuộc địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng cư trú của các dân tộcthiểu số
- Các cơ sở giáo dục mầm non dân lập chủ yếu được thành lập tại nôngthôn Dân cư trong cộng đồng đóng góp xây dựng trường sở, mua sắm thiết bị
Trang 15và bảo đảm kinh phí hoạt động, chính quyền địa phương có trách nhiệm hỗtrợ về nguồn lực.
- Chính phủ khuyến khích tư nhân thành lập các cơ sở giáo dục tiền họcđường tư thục Các trường này được hưởng các chính sách ưu đãi như đượcgiao hoặc cho thuê đất, được giao hoặc cho thuê cơ sở vật chất, được hưởng
ưu đãi về thuế và tín dụng
Về quy mô giáo dục mầm non, trong năm học 2007-2008, cả nước có3.057.718 trẻ em được bố mẹ gửi vào 11.620 cơ sở giáo dục mầm non; trong
đó có 5.678 cơ sở giáo dục mầm non công lập tiếp nhận 1.336.824 trẻ em,5.942 cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập tiếp nhận 1.720.894 trẻ em
* Mục tiêu phát triển của giáo dục mầm non đến 2015 là:
- Nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ em trước 6 tuổi Giảm tỷ
lệ suy dinh dưỡng của trẻ em trong các cơ sở giáo dục tiền học đường xuốngdưới 15%
- Mở rộng hệ thống nhà trẻ, trường mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư,đặc biệt ở nông thôn và vùng khó khăn để hệ thống này có thể thu hút 18% trẻ
em dưới 3 tuổi, 67% trẻ em trẻ em từ 3 đến 5 tuổi Phổ cập trẻ 5 tuổi, tích cựcthu hút 95% - 100% trẻ 5 tuổi đến trường để chuẩn bị cho các em có kỹ năngvào học lớp một
- Tăng cường các hoạt động phổ biến kiến thức, tuyên truyền và tư vấncho các bậc ông bà, cha mẹ về nuôi dạy trẻ em theo khoa học
1.1.3 Giáo dục tiểu học
Cấp tiểu học gồm 5 lớp, thu nhận trẻ em từ 6 tuổi Như vậy, nếu trẻkhông lưu ban, bỏ học thì đến 11 tuổi sẽ tốt nghiệp tiểu học
Mục tiêu giáo dục của cấp tiểu học là giúp học sinh hình thành những cơ
sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất,thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên cấp trung học cơ sở.Trong chương trình tiểu học hiện hành, ở lớp 1, lớp 2 và lớp 3 có 6 môn học là:
Trang 16Tiếng Việt, Toán, Tự nhiên và xã hội, Đạo đức, Thể dục, Nghệ thuật (Mỹ thuật,
Âm Nhạc); trong đó, chỉ có Tiếng Việt và Toán có sách giáo khoa (để học sinh
sử dụng), bốn môn còn lại có tài liệu hướng dẫn giảng dạy (để giáo viên sửdụng); ở lớp 4 và lớp 5 có 7 môn học là: Tiếng Việt, Toán, Lịch sử và Địa lý,Khoa học, Đạo đức, Thể dục, Nghệ thuật; trong đó, bốn môn có sách giáo khoa
là Tiếng Việt, Toán, Lịch sử và Địa lý, Khoa học, các môn học còn lại có tài liệuhướng dẫn giảng dạy Ngoài ra, cần đưa dần chương trình tin học vào tiểu học để
bổ sung các kỹ năng cơ bản cho học sinh lên cấp học cao hơn
Năm học 2007-2008, cả nước có 14.939 trường tiểu học với 6.832.567học sinh Số trường công lập là 14.844 với 6.832.218 học sinh Số trườngngoài công lập là 95 với 18.349 học sinh Trong những năm gần đây, số họcsinh tiểu học giảm liên tục Bên cạnh tình trạng học sinh bỏ học, nhiều nhàphân tích cho rằng hiện tượng này là kết quả của việc giảm tỷ lệ tăng dân số(nhân khẩu trong độ tuổi 6-11 giảm) và việc trẻ em đi học đúng độ tuổi (trướcđây quy mô cấp tiểu học lớn hơn dân số trong độ tuổi 6-11)
Thực hiện quy định của Luật phổ cập giáo dục tiểu học 1991, mọi trẻ
em chậm chất là đến 14 tuổi đều phải tốt nghiệp tiểu học, hơn chục năm trở
lại đây, ngày 5-9 được lấy làm ngày toàn dân đưa trẻ em đến trường với mục
tiêu vận động tất cả các gia đình có con lên 6 đều đưa vào học lớp một Năm
2000, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi 6-11 đi học là 95%; năm học 2004-2005 tỷ lệ
đó là hơn 98%
Mục tiêu phát triển của giáo dục tiểu học đến 2015 là: Thực hiện phổ
cập giáo dục đúng độ tuổi (thu hút 99% trẻ em trong độ tuổi đi học, giảmthiểu tỷ lệ lưu ban, bỏ học), nâng cao chất lượng và hiệu quả, tiến tới thựchiện dạy và học 2 buổi/ngày, đưa ngoại ngữ vào học từ lớp 3, giảm tỷ lệ hs/gv
và quy mô các lớp học
Trang 17Sơ đồ 1.1 Hệ thống giáo dục Việt Nam
Trang 18Trung học phổ thông gồm 3 lớp (từ lớp 10 đến lớp 12) Mục tiêu giáo dục của cấp trung học phổ thông là giúp học sinh củng cố và phát triển những
kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và cónhững hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện pháthuy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, hoặc học lên đại học, caođẳng, hoặc học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
Năm học 2007-2008, cả nước có 10.491 trường trung học cơ sở với5.791.229 học sinh; trong đó, số trường công lập là 10.458 với 5.791.229 họcsinh và số trường ngoài công lập là 33 với 68.297 học sinh Cũng trong nămhọc này, số trường trung học phổ thông là 2.476 với 3.070.023 học sinh; trong
đó, số trường công lập là 1.826 với 2.238.141 học sinh và số trường ngoàicông lập là 831.882 học sinh
Tại các tỉnh có đông người dân tộc thiểu số (tỉnh miền núi và tỉnh cóhuyện miền núi) trong các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông cómột số trường nội trú Theo thống kê năm 2005, tổng số trường nội trú dànhcho con em dân tộc thiểu số là 325; trong đó có 11 trường dân tộc nội trútrung ương với 4.400 học sinh; 48 trường tỉnh (trung học phổ thông) vớikhoảng 20 nghìn học sinh; và 266 trường huyện (trung học cơ sở) với khoảng
60 nghìn học sinh
Trang 19Triển khai chương trình phân ban ở trung học phổ thông là một nộidung đổi mới quan trọng ở giáo dục phổ thông Từ năm học 2006-2007, cấptrung học phổ thông có ba ban: (i) Ban cơ bản, (ii) Ban khoa học tự nhiên,(iii) Ban khoa học xã hội và nhân văn Chương trình của cả ba ban đều gồmcác môn học: Văn học, Lịch sử, Địa lý, Toán học, Vật lý, Hoá học, Ngoạingữ, Chính trị và Giáo dục công dân, Thể dục thể thao Yêu cầu của ban cơbản chính là chuẩn kiến thức và kỹ năng (nghĩa là yêu cầu tối thiểu cần thiết)đối với tất cả các môn học thuộc chương trình của cấp học Yêu cầu của Bankhoa học tự nhiên là nâng cao đối với bốn bộ môn: Toán, Vật lý, Hoá học vàSinh học Yêu cầu của ban khoa học xã hội và nhân văn là nâng cao đối vớibốn bộ môn: Văn học, Lịch sử, Địa lý và Ngoại ngữ
Đối với một trường, việc giảng dạy, học tập theo mấy ban, là ban nàotuỳ thuộc sự lựa chọn của hiệu trưởng/ hội đồng nhà trường sau khi báo cáo
và được giám đốc sở giáo dục và đào tạo đồng ý Đối với những trường chọnban cơ bản thì để tăng cường khả năng lựa chọn của học sinh, nhà trường cóthể có tổ chức thực hiện các chương trình tự chọn đối với các môn học đượcnâng cao ở hai ban: Ban khoa học tự nhiên (và toán), Ban khoa học xã hội vàngoại ngữ
* Mục tiêu của giáo dục trung học phổ thông đến năm 2015 là: Thực
hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở; thu hút 99% trẻ em trong độ tuổi
11-15 đi học trung học cơ sở, 50% trẻ em trong độ tuổi 11-15-18 đi học trung họcphổ thông; giảm tỷ lệ lưu ban, bỏ học; bảo đảm tất cả học sinh đều được họcmột ngoại ngữ liên tục từ lớp 6 đến lớp 12
1.1.5 Giáo dục nghề nghiệp - trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề
Mục tiêu giáo dục nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức
và kỹ năng nghề nghiệp, có đạo đức và lương tâm, có ý thức kỷ luật và tácphong công nghiệp nhằm tạo điều kiện cho người lao động có thể tìm việclàm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Trang 20Giáo dục nghề nghiệp có ba trình độ đào tạo: sơ cấp, trung cấp và caođẳng Đào tạo trình độ sơ cấp thực hiện trong thời gian dưới một năm; đào tạotrình độ trung cấp và cao đẳng thực hiện trong thời gian từ một đến ba nămtuỳ theo đặc điểm, yêu cầu nghề nghiệp và trình độ của người học ở đầu vào.
Cơ sở giáo dục nghề nghiệp bao gồm các trường trung cấp chuyênnghiệp thuộc quyền quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường dạy nghề
và các trung tâm dạy nghề thuộc quyền quản lý của Bộ Lao động - Thươngbinh và Xã hội Theo thống kê năm 2006, trong cả nước có 1.688 cơ sở dạynghề phân bố ở tất cả các tỉnh, bao gồm 236 trường dạy nghề (tăng gấp đôi sovới năm 1998), 404 trung tâm dạy nghề và trên 1.000 các lớp dạy nghề18.Trong hệ thống các trường dạy nghề, ngoài các trường công lập, có trường tưthục, trường có vốn đầu tư của nước ngoài và trường của quân đội để thựchiện việc dạy nghề cho bộ đội xuất ngũ Về các trường trung học chuyênnghiệp (thuộc quyền quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo), mặc dầu nhiềutrường mạnh lần lượt chuyển thành trường cao đẳng nhưng trong 5 năm (từ
2001 đến 2005) tổng số các trường trung học chuyên nghiệp vẫn tăng Cụ thể,năm học 2001 có 253 trường đến năm học 2005 có 285 trường, với 283.335học sinh Trong đó, có 238 trường công lập và 47 trường tư thục; có trườngthuộc các bộ và có trường thuộc địa phương, mỗi tỉnh trung bình có từ 3 đến 5trường (trừ 3 tỉnh mới thành lập)
* Mục tiêu phát triển của giáo dục nghề nghiệp đến năm 2015 là:
- Thiết lập hệ thống đào tạo nghề nghiệp thực hành đáp ứng yêu cầuphát triển kinh tế - xã hội, chú trọng đào tạo nghề ngắn hạn và đào tạo côngnhân lành nghề, đội ngũ kỹ thuật viên và cán bộ chuyên môn ở trình độ caođẳng từ những người tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề
- Thu hút 30% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học các trườngtrung cấp và 10% học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào học các caođẳng nghề
Trang 211.1.6 Giáo dục đại học
Giáo dục đại học đào tạo bốn trình độ: cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến
sĩ Cụ thể:
- Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ 2-3 năm, đối với người
tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề;1-2 năm đối với người tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành;
- Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ 4-6 năm đối với người tốt
nghiệp trung học phổ thông hoặc trung cấp; từ 21/2- 4 năm đối với người tốtnghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; từ 11/2- 2 năm đối với người tốt nghiệpcao đẳng cùng chuyên ngành;
- Đào tạo trình độ thạc sĩ thực hiện từ 1-2 năm đối với người tốt nghiệp
đại học;
- Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện trong 4 năm đối với người tốt
nghiệp đại học; từ 2-3 năm đối với người có bằng thạc sĩ
Mục tiêu giáo dục của cấp đại học là đào tạo sinh viên thành những
người có phẩm chất chính trị, có đạo đức và ý thức phục vụ nhân dân, có kiếnthức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, cósức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Các cơ sở giáo dục đại học của nước ta gồm:
- Các trường cao đẳng (junior college);
- Các trường đại học (university), trong đó có đại học gồm nhiều trườngthành viên (colleges), có đại học chỉ có các khoa;