Một vài năm trở lại đây đặc biệt là năm 2006 đất nước ta đã đạt được nhiều bước tiến dài quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đó là năm Việt Nam tổ chức thành công hội nghị APEC tại Hà Nội
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Một vài năm trở lại đây đặc biệt là năm 2006 đất nước ta đã đạt đượcnhiều bước tiến dài quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thếgiới, đó là năm Việt Nam tổ chức thành công hội nghị APEC tại Hà Nội, chínhthức gia nhập tổ chức kinh tế thế giới WTO Đứng trước vận hội mới Đảng vàNhà nước ta đã không ngừng hoàn thiện các chính sách tài chính, kinh tế nhằmđáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn, góp phần thúc đẩy mọi thành phầnkinh tế phát triển và hòa nhập với nền kinh tế thế giới Cùng góp sức với sựchuyển mình của đất nước thành phần kinh tế ngoài quốc doanh luôn được sựquan tâm khuyến khích, số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang pháttriển một cách mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng ở khắp nơi, dần đã trởthành lực lượng kinh tế quan trọng của đất nước
Để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 đưa nước ta
cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa, chúng ta cần
có nguồn thu Ngân sách Nhà nước lớn để phục vụ cho các chiến lược phát triển
Do đó yêu cầu đặt ra cho hệ thống thuế là phải bao quát được nguồn thu có thểkhai thác, động viên để thuế trở thành nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhànước Thuế phải có tác dụng khuyến khích mọi tiềm năng, đảm bảo sự cạnhtranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế và thực hiện công bằng xã hội
Thủ đô Hà Nội là trái tim của cả nước, là trung tâm kinh tế, chính trị, vănhóa xã hội của cả nước Thực hiện đường lối phát triển kinh tế xã hội nhiềuthành phần nên các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn đã có đượcnhững điều kiện thuận lợi để phát triển, đóng góp vào sự phát triển kinh tế củathủ đô, giải quyết việc làm, ổn định cuộc sống và tạo thu nhập cho người laođộng Nhưng bên cạnh sự phát triển đó cũng đặt ra những thách thức đối với cơquan quản lý thuế, nhất là những cán bộ quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp Do
Trang 2vậy cần phải có những biện pháp, cách thức tổ chức quản lý thu thuế thu nhậpdoanh nghiệp hữu hiệu đối với loại hình này để đảm bảo tính công bằng và hiệuquả của thuế cũng như vai trò của thuế được khẳng định trong nền kinh tế.
Xác định được tầm quan trọng của vấn đề trong giai đoạn hiện nay, là một
sinh viên cuối khóa, em xin đi sâu tìm hiểu đề tài: “Quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2004-2006”.
III.Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế thu nhập doanhnghiệp đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thànhphố Hà Nội
Do hiểu biết còn hạn chế, thời gian lại có hạn nên bài viết không thể tránhđược sai sót, vì vậy em rất mong nhận được sự góp ý của cô để bài đề án đượchoàn thiện hơn
Trang 3I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH VÀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP.
1.1 VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐCDOANH TRONG NỀN KINH TẾ NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1.1 Khái niệm và các hình thức doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giaodịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mụcđích thực hiện các hoạt động kinh doanh
Theo Luật doanh nghiệp được Quốc Hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam khóa XI kỳ họp thứ 8 thông qua thì doanh nghiệp ngoài quốc doanhhiện nay gồm: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợpdoanh, doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã Các hình thức này có hoạt độngkinh doanh đa dạng, phong phú về mọi lĩnh vực, mỗi hình thức của doanhnghiệp ngoài quốc doanh lại có những đặc điểm khác nhau:
* Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp,
- Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định
* Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ
chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ
sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác củacông ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
* Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
Trang 4- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba vàkhông hạn chế số lượng tối đa;
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản kháccủa doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho ngườikhác, trừ các trường hợp theo quy định
* Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
- Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùngnhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoàicác thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn;
- Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tàisản của mình về các nghĩa vụ của công ty;
- Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công tytrong phạm vi số vốn đã góp vào công ty
* Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanhnghiệp
* Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu
cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định củapháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và từng xã viên giúp nhau thực hiện
có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đờisống góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Tóm lại, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là hình thức doanh nghiệp không
thuộc sở hữu nhà nước, trừ khối hợp tác xã; toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đềuthuộc sở hữu tư nhân hay tập thể người lao động, chủ lao động doanh nghiệphay chủ cơ sở sản xuất kinh doanh chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sảnxuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau
Trang 5khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào từ các quyếtđịnh của Nhà nước hay cơ quan quản lý.
1.1.2 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Thứ nhất: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là loại hình doanh nghiệp có
tư liệu sản xuất, phương thức sản xuất thuộc sở hữu cá nhân hay tập thể ngườilao động sáng lập, tổ chức bộ máy quản lý của các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh thường gọn gàng linh hoạt Do đó đây là loại hình doanh nghiệp năngđộng, sáng tạo nhạy bén với thị trường
Thứ hai: ngành nghề hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp rất
phong phú đa dạng như: thương nghiệp, dịch vụ, sản xuất… và tồn tại dướinhiều hình thức như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợpdanh, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã Quy mô các doanh nghiệp thường làvừa và nhỏ, điều kiện vật chất còn khó khăn như vốn ít, lao động ít, kiến thứckinh doanh còn hạn chế do mang tính tự phát
Thứ ba: Từ khi Luật doanh nghiệp năm 2005 ra đời, các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh tăng nhanh về số lượng, nhưng sự gia tăng thường không ổnđịnh có nhiều biến động, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phụ thuộc vào quanđiểm Nhà nước có khuyến khích các doanh nghiệp hay kiềm chế sự hoạt độngcủa các doanh nghiệp
Tóm lại doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoàn toàn độc lập tự chủ về
nguồn tài chính, các doanh nghiệp tự bỏ vốn, công sức để đầu tư kiếm lợi nhuậncho chính doanh nghiệp một cách tối đa Do vậy việc kiểm soát hoạt động củacác loại hình doanh nghiệp này hết sức khó khăn phức tạp nhất là xu hướng hiệnnay các doanh nghiệp dùng mọi thủ đoạn để tìm cách trốn và tránh thuế bất luậnhậu quả họ mang lại cho nền kinh tế như thế nào
Trang 61.1.3 Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Thực hiện đường lối đổi mới, kinh tế khu vực ngoài quốc doanh nóichung, nhất là khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã phát triển vượt bậc.Thực tiễn đã khẳng định những đóng góp của khu vực này trong sự nghiệp phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước
Cùng với sự gia tăng về số lượng và các ngành nghề kinh doanh phongphú đa dạng của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh như: thương nghiệp, dịch
vụ, sản xuất… đã đem lại số thu cho ngân sách nhà nước hàng năm ngày càngchiếm tỷ trọng lớn Sự phát triển của khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã
mở mang ra nhiều ngành nghề, thúc đẩy lưu thông hàng hóa Đã xuất hiện nhiều
cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động hiệu quả, tạo được chỗ đứng trên thịtrường Sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú, được người tiêu dùng trongnước và ngoài nước ưa chuộng Một số DN đã tạo thêm mặt hàng mới, thịtrường mới, sản phẩm đã có sức cạnh tranh Theo Bộ Thương mại, khu vực nàyđóng góp gần một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, trong đó kim ngạchxuất khẩu trực tiếp của DNNQD lĩnh vực phi nông nghiệp đạt 2,851 tỷ USD, vớicác mặt hàng chủ lực là thủ công mỹ nghệ, chế biến nông sản, thủy sản Ở HàNội, các DNNQD chiếm khoảng 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của địaphương, TP Hồ Chí Minh khoảng 12,5% Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, khu vựcDNNQD với 96% số DN vừa và nhỏ đã đóng góp khoảng 26% GDP, 31% giátrị sản xuất công nghiệp, 78% tổng mức bán lẻ, 64% khối lượng vận chuyểnhàng hóa trong giai đoạn 2001-2005
Mặt khác doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn có vai trò lớn trong việc ổnđịnh nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thúcđẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong giai đoạn 2001-
2005, bình quân cả nước tạo việc làm mới cho người lao động được khoảng 1,5triệu việc làm/năm Trong đó, khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh có đóng
Trang 7góp đáng kể, khoảng 0,3 triệu việc làm/năm Nhiều đối tượng lao động như:người đến tuổi lao động cần việc làm; lao động dôi dư từ các cơ quan, doanhnghiệp nhà nước do tinh giảm biên chế, giải thể, chuyển đổi, phá sản; lao độngnông nhàn trong nông nghiệp do chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển sang làmviệc trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn có khả năng thu hút vốn trong xã hộinhanh, hiệu quả đầu tư vốn cao tạo ra khối lượng sản phẩm lớn cho xã hội, gópphần tích tụ tập trung tư bản tạo điều kiện để tái sản xuất làm tăng nhanh nguồnthu cho ngân sách nhà nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong năm năm từ
2001 đến 2005, có hơn 150 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng
ký đạt hơn 305.122 tỷ đồng cao hơn tám lần so với giai đoạn 1991-1999 Nếumức vốn đăng ký kinh doanh bình quân của một doanh nghiệp ngoài quốc doanhthời kỳ 1996 - 2000 là gần 0,65 tỷ đồng, thì đến giai đoạn 2001 - 2005 là 2,02 tỷđồng Vốn sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh qua các năm cũng liêntục tăng Nếu năm 2000 là 98.348 tỷ đồng, thì năm 2004 là 442.892 tỷ đồng,tăng 4,5 lần Tỷ trọng đầu tư của khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh caotrong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội
Trên phương diện đóng góp cho Ngân sách Nhà nước, số thu thuế từdoanh nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng chiếm tỷ trọng lớn so với tổng thucủa Ngân sách Nhà nước Trong tổng số thu từ thuế đối với doanh nghiệp ngoàiquốc doanh, thuế thu nhập doanh nghiệp ngày càng chiếm vị trí quan trọng
1.2 NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM CỦA THUẾ THU NHẬP DOANHNGHIỆP NƯỚC TA HIỆN NAY
1.2.1 Khái quát chung về thuế thu nhập doanh nghiệp.
Thuế thu nhập xuất hiện rất sớm trong lĩnh vực thuế khóa Hiện nay ở cácnước phát triển thuế thu nhập giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảonguồn thu NSNN và thực hiện phân phối thu nhập
Thuế thu nhập doanh nghiệp ra đời bắt nguồn từ các lý do sau đây:
Trang 8- Thuế thu nhập doanh nghiệp được sử dụng để điều tiết thu nhập của cácnhà đầu tư nhằm góp phần đảm bảo công bằng xã hội.
- Thuế thu nhập doanh nghiệp là một trong các nguồn thu quan trọng củangân sách nhà nước và có xu hướng tăng lên cùng với sự tăng trưởng của nềnkinh tế
- Xuất phát từ yêu cầu phải quản lý các hoạt động đầu tư và kinh doanhtrong từng thời kì nhất định thông qua việc quy định đối tượng nộp thuế, đốitượng chịu thuế
Thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế đánh trực tiếp vào thu nhập chịu thuế của các công ty trong một thời gian nhất định.
* Thuế thu nhập doanh nghiệp là một sắc thuế trong hệ thống thuế, nómang một só đặc điểm sau:
- Thuế thu nhập doanh nghiệp là một sắc thuế trực thu Gọi thuế thu nhậpdoanh nghiệp là một sắc thuế trực thu bởi lẽ nhìn chung sắc thuế này ít có khảnăng chuyển gánh nặng thuế cho đối tượng khác, đối tượng nộp thuế theo luật
và đối tượng chịu thuế đồng nhất khác với thuế gián thu Tuy nhiên đặc điểmnày mang tính chất tương đối, nó còn phụ thuộc vào độ co giãn cung cầu hànghóa
- Thuế thu nhập doanh nghiệp gắn bó hữu cơ với thuế thu nhập cá nhân,đặc biệt trong mô hình của công ty, nếu xử lý không tốt thì loại thuế này có thể
bị đánh trùng với thuế thu nhập cá nhân do người lao động trong công ty thựchiện nghĩa vụ đối với Nhà nước
- Xét ở một góc độ nào đó thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế
“cá nhân” được xem xét đến điều kiện hoàn cảnh của từng doanh nghiệp khithực hiện nghĩa vụ thuế đối với từng doanh nghiệp, khác với thuế “thực” trongphân loại thuế hiện đại
* Vai trò thuế thu nhập doanh nghiệp được thể hiện trên hai khía cạnh
Đối với nhà nước, thuế thu nhập doanh nghiệp góp phần tăng cường
nguồn thu vào ngân sách nhà nước Khi nền kinh tế phát triển,đầu tư gia tăng,
Trang 9thu nhập của các doanh nghiệp và của các nhà đầu tư tăng lên làm cho khả nănghuy động nguồn tài chính cho nhà nước thông qua thuế thu nhập doanh nghiệpngày càng ổn định và vững chắc Mặt khác, thông qua điều tiết thuế thu nhậpdoanh nghiệp Nhà nước nắm được tình hình sản xuất, kinh doanh thực tế củacác doanh nghiệp, từ đó có những quyết sách đúng đắn để thực hiện chức năngquản lý vĩ mô nền kinh tế.
Đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, thông qua thuế thu nhập doanh
nghiệp thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường công tác hạch toán kế toán Bằngviệc quy định các khoản chi phí hợp lý để xác định thu nhập chịu thuế đã thúcđẩy các doanh nghiệp quan tâm đến việc tiết kiệm chi phí, tăng cường hiệu quảsản xuất kinh doanh, củng cố công tác kế toán, hóa đơn chứng từ theo đúng quyđịnh Hơn nữa việc quy định ưu đãi thuế suất, miễn giảm thuế thu nhập doanhnghiệp đã góp phần thực hiện công bằng xã hội
1.2.2 Nội dung của thuế thu nhập doanh nghiệp ở nước ta hiện nay
Nội dung thuế thu nhập doanh nghiệp được quy định tại Luật thuế thunhập doanh nghiệp số 09/2003/QH11 được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 3thông qua ngày 17/6/2003, Nghị định 164/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày22/12/2003 và thông tư 128/2003/TT-BTC của Bộ tài chính ngày 22/12/2003 cómột số nội dung cơ bản như sau:
1.2.2.1 Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
Tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập đềuphải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trừ các hộ thuộc đối tượng không thuộcdiện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Đối tượng không thuộc diện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp: hộ gia đình,
cá nhân, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có thu nhập từ sản phẩm trồng trọt,chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản không thuộc diện nộp thuế thu nhập doanhnghiệp, trừ hộ gia đình và các cá nhân nông dân sản xuất hàng hóa lớn có thunhập cao theo quy định của Chính phủ
Trang 10Đối tượng chịu thuế là những khoản thu nhập chịu thuế (thu nhập từ hoạtđộng sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ và thu khác, kể cả thu nhập được từhoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ ở nước ngoài).
1.2.2.2 Căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp.
Căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp là thu nhập chịu thuế và thuếsuất Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế bao gồm thu nhập chịu thuế của hoạtđộng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và thu nhập chịu thuế khác, kể cả thu nhậpchịu thuế từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ ở nước ngoài
X
Thuế
-Các khoảnthuộc dạngmiễn giảmTrong đó:
kỳ tính thuế
-Chi phíhợp lýtrong kỳtính thuế
+
Thu nhậpchịu thuếkhác trong
kỳ tínhthuế
-Khoản lỗnămtrướcchuyểnsang
* Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế
Là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cung ứng dịch vụ, kể cả trợgiá phụ thu, phụ trội mà cơ sở kinh doanh được hưởng; trường hợp doanh thubằng ngoại tệ thì phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái do Ngânhàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu bằng ngoạitệ
Doanh thu xác định theo phương pháp khấu trừ là doanh thu chưa baogồm thuế giá trị gia tăng, doanh thu xác định theo phương pháp trực tiếp tínhtrên giá trị gia tăng thêm là doanh thu bao gồm cả thuế giá trị gia tăng
Thời điểm xác định doanh thu để tính thuế thu nhập chịu thuế được xácđịnh như sau:
Trang 11Đối với hàng hóa là thời điểm chuyển giao sở hữu hàng hóa hoặc hóa đơnbán hàng.
Đối với dịch vụ là là thời điểm dịch vụ hoàn thành hoặc xuất hóa đơn bánhàng
*Chi phí hợp lý được tính trừ khi xác định thu nhập chịu thuế dựa trên các
nguyên tắc sau:
Các khoản chi phải liên quan đến trực tiếp tới việc tạo ra thu nhập củacông ty như: Chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu năng lượng, hàng hóa sửdụng vào sản xuất kinh doanh; chi phí khấu hao tài sản cố định…
Các khoản đó phải có tính thu nhập hơn là tính vốn: các khoản trích lập
dự phòng, chi về tiêu thụ hàng hóa…
Các khoản chi đó phải thực chi và mức trả hợp lý: Chi phí tiền lương, tiềncông, các khoản phụ cấp trả cho người lao động theo quy định của bộ luật laođộng; chi phí tiền ăn giữa ca, các khoản chi cho lao động nữ, chi bảo hộ laođộng hoặc chi trang phục, trích nộp quỹ bảo hiểm xã hội…
Các khoản chi đó phải có chứng từ hợp pháp: Khi mua hàng hóa hoặc khibán hàng hóa thì doanh nghiệp cần phải có hóa đơn chứng từ hợp pháp, phiếuxuất kho, phiếu nhập kho…
Các khoản thu nhập chịu thuế khác không được thu lại từ hoạt động kinhdoanh chính của doanh nghiệp như: thu nhập từ chuyển quyền sử dụng tài sản,chênh lệch về mua bán chứng khoán…
*Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở kinh doanh là 28%,thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở kinh doanh tiến hành tìmkiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác từ 28% đến 50%.Ngoài ra để nhằm khuyến khích hoạt động đầu tư Nhà nước đã đưa thuế suất ưuđãi một số ngành nghề được áp dụng mức thuế suất 20%, 15%, 10%
Riêng đối với các đơn vị có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp có phạm vi các trường hợp
Trang 12được quy định trong luật thuế này nhưng thực hiện không đúng chế độ kế toán,hóa đơn, chứng từ, không kê khai thuế đúng thời hạn, kê khai không đúng căn
cứ để tính thuế, không chứng minh được các căn cứ đã ghi trong tờ khai… Thì
cơ quan thuế sẽ ấn định thu nhập chịu thuế để tính thuế thu nhập doanh nghiệpcăn cứ vào tài liệu điều tra của cơ quan thuế
Số thuế thu nhập doanh
nghiệp phải nộp chịu
ấn định
X
Thuếsuất
*Miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp: Nhằm tạo điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp mới thành lập và bắt đầu đi vào hoạt động sản xuất kinhdoanh Nhà nước có chính sách nhằm khuyến khích các doanh nghiệp theo đuổithị trường, tăng đà phát triển tiến kịp với các doanh nghiệp khác trong một vùng,một lĩnh vực kinh doanh, một ngành nghề được miễn thuế trong một số trườnghợp sau:
Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư và cơ sở kinh doanh dichuyển địa điểm được miễn thuế, giảm thuế
Đối với các khu kinh tế, các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư do thủtướng Chính phủ quyết định mức thuế suất ưu đãi và thời gian miễn giảm thuếthu nhập doanh nghiệp nhưng tối đa không quá 04 năm miễn thuế kể từ khi cóthu nhập chịu thuế và 50% số thuế phải nộp cho 09 năm tiếp theo
Cơ sở kinh doanh đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy
mô, đổi mới công nghệ cải thiện môi trường sinh thái, nâng cao năng lực sảnxuất được miễn giảm thuế cho phần thu nhập tăng thêm do đầu tư này mang lại
Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho hộ kinh doanh cá thể, cho hợp tác
xã có thu nhập bình quân tháng của mỗi lao động hay của mỗi thành viên tronghợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể có mức lương thấp hơn so với mức lương Nhànước quy định…
Trang 13II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2004-2006
2.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CHUNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆPNGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội thành phố Hà Nội
Hà Nội nằm ở trung tâm của đất nước Việt Nam, tiếp giáp với 6 tỉnh:Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hà Tây, Hưng Yên, Vĩnh Phúc Với dân
số là 3.235.400 người, hiện nay gồm 14 quận huyện với 104 xã, thị trấn HàNội là trái tim của cả nước, đầu não chính trị, hành chính quốc gia, trung tâmlớn về văn hóa, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế
Đặc điểm kinh tế xã hội thành phố Hà Nội đã có những ảnh hưởng rất lớntới sự hoạt động của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng như công tácquản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp Cùng với sự tăng trưởng kinh tế của cảnước, nền kinh tế thủ đô tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao, đều và tương đối ổnđịnh Hầu hết các mục tiêu đều đạt và vượt so với kế hoạch đề ra do vậy đã tạođiều kiện thuận lợi cho công tác thu thuế thu nhập doanh nghiệp Cụ thể:
Tổng thu ngân sách năm 2006 đạt 34.337 tỷ đồng, đạt 114,33% dự toánpháp lệnh, 111,67% dự toán phấn đấu, tăng 27,36% so với thực hiện năm 2005.Thu nội địa (trừ dầu) đạt 28.244 tỷ, đạt 104,10% dự toán pháp lệnh, 96,21% dựtoán phấn đấu tăng 16,95% so với thực hiện năm 2005
Có 12/18 lĩnh vực thu, khoản thu đã vượt mức dự toán và đạt mức tăngthu cao so với thực hiện năm 2005 là doanh nghiệp nhà nước trung ương (đạt114,59% dự toán và tăng 21,6%), thuế công thương nghiệp dịch vụ ngoài quốcdoanh (đạt 113,78% và tăng 37,75%), dầu thô (đạt 210,11% và tăng 116,82%),thuế nhà đất (đạt 120,24%, tăng 3,86%)
Trang 14Còn một số lĩnh vực thu, khoản thu, sắc thuế không đạt đự toán như thu
từ doanh nghiệp nhà nước địa phương, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,thu lệ phí trước bạ, phí xăng dầu, phí và lệ phí
2.1.2 Tình hình phát triển chung của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của thành phố Hà Nội
Thành phố Hà Nội với dân số chỉ chiếm 3,7% cả nước nhưng tỷ lệ cácdoanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn so với cả nước đã tăng rất nhanhtrong thời gian qua Nếu năm 2001 có 2.818 doanh nghiệp ngoài quốc doanh thìtính tới thời điểm tháng 5 năm 2005 có tới 25.479 doanh nghiệp, chiếm 16,1%tổng số doanh nghiệp cả nước Như vậy sau hơn 3 năm đã có hơn 22 ngàn doanhnghiệp ngoài quốc doanh ra đời Bình quân mỗi năm có trên 7.000 doanh nghiệpđược thành lập
Tuy tăng nhanh về số lượng nhưng quy mô đầu tư sản xuất nói chung còntương đối nhỏ Một doanh nghiệp tư nhân bình quân chỉ có 31 lao động, 4 tỷđồng vốn, trong khi đó với doanh nghiệp Nhà nước, con số này là 421 lao động
và 167 tỷ đồng vốn Với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, con số tươngđương là 299 lao động, 134 tỷ đồng vốn Vốn ít đã khiến các doanh nghiệpngoài quốc doanh ít có khả năng trang bị công nghệ tiên tiến, với mức đầu tưtrung bình cho tài sản cố định trên một lao động chỉ có 43 triệu đồng so với 137triệu đồng đối với doanh nghiệp Nhà nước và 247 triệu đồng đối với doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Hiện nay nước ta có hơn 200.000 doanhnghiệp ngoài quốc doanh với tổng số vốn lên đến hàng trăm nghìn tỷ đồng
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh đóng góp cho ngân sách ngày càng tăng.Năm 2001 số thu khu vực ngoài quốc doanh có tỷ trọng là 2,6% tổng số thu, đếnnăm 2006 con số này đã là 8,17% Doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt độngtrong lĩnh vực công thương nghiệp và dịch vụ phát triển góp phần quan trọnggiải quyết công ăn việc làm cho người lao động Hà Nội đến nay có hơn 26 ngàn
Trang 15doanh nghiệp ngoài quốc doanh bình quân mỗi doanh nghiệp giải quyết công ănviệc làm cho 30 lao động thì đã giải quyết được trên 750 ngàn lao động
2.2 TÌNH HÌNH THU THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀTHỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP DOANHNGHIỆP Ở CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
2.2.1 Tình hình thu thuế thu nhập doanh nghiệp.
Trong thời gian qua ngành thuế đã cố gắng hết sức thực hiện phấn đấuhoàn thành nhiệm vụ được giao, đặc biệt trong công tác quản lý thuế thu nhậpdoanh nghiệp đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Do đó số thu thuế thunhập doanh nghiệp ngoài quốc doanh qua các năm luôn vượt chỉ tiêu được giao
Số thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh trên địa bàn Hà Nội luôn hoàn thành vượt chỉ tiêu (năm 2005 là 103,67%
và năm 2006 là 108,5%) Số thu năm sau luôn cao hơn năm trước: năm 2004 là592.334 triệu đồng thì năm 2005 là 769.871 triệu đồng, tăng 30%; năm 2006 là1.085.038 triệu đồng tăng 41% so với năm trước
2.2.2 Thực trạng công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội
Năm 2004, quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp theo cơ chế tự kê khai, tựnộp được thí điểm tại cục thuế Quảng Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh Đến1/1/2005 thì phương thức quản lý này đã được áp dụng tại cục thuế Hà Nội
Quá trình thực hiện cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế là quá trình thay đổiphương pháp quản lý từ chỗ cơ quan thuế căn cứ vào hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp ra thông báo thuế để đối tượng nộp thuế thực hiện chuyển sang cơchế cơ quan thuế tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ để doanh nghiệp tự tính toánthực hiện nghĩa vụ thuế Đồng thời cơ quan thuế tăng cường biện pháp theo dõigiám sát và kiểm tra việc tuân thủ nghĩa vụ thuế dựa trên kỹ thuật quản lý rủi ro
Trang 16Cụ thể:
2.2.2.1 Công tác quản lý đối tượng nộp thuế
Để huy động được nguồn thu ngân sách đối với khu vực ngoài quốcdoanh thì cần phải quản lý đối tượng nộp thuế bởi thông qua công tác quản lýđối tượng nộp thuế sẽ giúp cho cục thuế thống kê được các đơn vị sản xuất kinhdoanh về mặt số lượng, ngành nghề kinh doanh, hình thức Do vậy công tácquản lý đối tượng nộp thuế là công việc đầu tiên trong quá trình thu thuế và có ýnghĩa quyết định đến số thu vào ngân sách Nhà nước
Để quản lý tốt đối tượng nộp thuế ban lãnh đạo cục và đặc biệt là đội quản
lý doanh nghiệp đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan đăng kí kinh doanh trong việcquản lý các doanh nghiệp trên địa bàn, đặc biệt đối với các doanh nghiệp thànhlập mới, tách nhập, giải thể thông qua công tác cấp mã số thuế, nhằm quản lýđối tượng nộp thuế đạt mức cao nhất
Phối hợp chặt chẽ với địa phương, với Hội đồng tư vấn thuế xã, phường
rà soát các đối tượng kinh doanh có địa điểm cố định trên địa bàn; Một số quận,huyện như Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm Ủy Ban Nhân dân quận đã thành lập độicông tác liên ngành rà soát các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, vì vậy đã hạnchế được tình trạng bỏ sót
Phối hợp với cơ quan cấp đăng kí kinh doanh, với chính quyền phường,
xã, thị trấn để kiểm tra sự tồn tại của doanh nghiệp nhằm ngăn chặn tình trạngthành lập doanh nghiệp để buôn bán hóa đơn, trốn lậu thuế
Việc quản lý đối tượng nộp thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh là rất khó khăn phức tạp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ lẻ Mặc dù vậynhưng với sự nỗ lực, cố gắng của ngành thuế và được sự trợ giúp của các ngànhliên quan Cho nên tình hình quản lý đối tượng nộp thuế đã đạt được những kếtquả tốt, nhiều cơ sở kinh doanh đã được đưa vào diện quản lý thu thuế
Trang 172.2.2.2 Công tác quản lý căn cứ tính thuế
Thực tế cho thấy việc kiểm soát căn cứ tính thuế là những công việc hếtsức khó khăn phức tạp đối với cán bộ trong công tác quản lý thuế nói chung vàquản lý thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng Đặc biệt đối với doanh nghiệpngoài quốc doanh, để quản lý tốt số thu nhập tính thuế thì phải mất nhiều thờigian và công sức mới có thể hạn chế được gian lận; nhất là trong thời gian gầnđây cơ chế kê khai tự tính thuế được áp dụng mạnh mẽ trong khi đó thì cán bộkhó thể kiểm soát hết toàn bộ các doanh nghiệp mà cục quản lý Qua tài liệu báocáo kiểm tra quyết toán thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh viphạm được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1: Báo cáo kiểm tra quyết toán thuế đối với các doanh nghiệp ngoàiquốc doanh vi phạm trên địa bàn Hà Nội
Qua bảng 1 ta có thể thấy mặc dù số doanh nghiệp vi phạm qua các nămtăng lên về số tuyệt đối nhưng tỷ lệ các doanh nghiệp vi phạm / tổng số doanhnghiệp hiện đang hoạt động giảm đi đáng kể qua từng năm Năm 2003 tỷ lệ này
là 11% thì năm 2004 là 8,6% và năm 2005 là 7% Đây là một dấu hiêu khả quanbởi nó cho thấy việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế tốt hơn của các doanh nghiệp.Thời gian đầu khi mới thực hiện cơ chế tự khai tự nộp nên các doanh nghiệp còngặp nhiều khó khăn, thường xảy ra sai sót nhưng sau đó các doanh nghiệp đãquen dần và áp dụng cơ chế mới tốt hơn
Về các chính sách thuế mới Cục thuế Hà Nội đã tập huấn, hướng dẫn vềmục đích, ý nghĩa, nội dung chính sách thuế mới cho cán bộ chủ chốt các doanhnghiệp, các hộ kinh doanh rõ để thực hiện Đặc biệt cơ quan thuế đã thành lập tổ
Trang 18thường trực giải đáp hướng dẫn chính sách thuế tại 12 chi cục thuế quận huyện
và 1 phòng tư vấn dịch vụ miễn phí giúp các tổ chức, cá nhân thực hiện đúngcác luật thuế, tạo sự công bằng nghĩa vụ nộp thuế đối với các doanh nghiệp
Với việc tăng cường các biện pháp quản lý đối với các doanh nghiệpngoài quốc doanh, năm 2005 mức thuế thu nhập doanh nghiệp bình quân/doanhnghiệp tăng 19% so với năm 2004 Năm 2004, bình quân mỗi doanh nghiệp truythu được 11 triệu đồng, năm 2005 số tiền này là 13,1 triệu đồng
* Quản lý doanh thu tính thuế
Trong những năm gần đây doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bànthành phố Hà Nội không chỉ tăng nhanh về số lượng mà còn tăng lên cả về quy
mô kinh doanh Về nguyên tắc các đơn vị tính thuế theo phương pháp kê khaiphải phán ánh một cách trung thực, kịp thời đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phátsinh vào sổ kế toán và hóa đơn chứng từ trên nguyên tắc ghi nhận doanh thu tínhthuế Nhưng thực tế thì các doanh nghiệp luôn tìm mọi cách che dấu doanh thutính thuế Hiện tượng này không chỉ xảy ra ở một số trường hợp mà nó còn diễn
ra ở rất nhiều doanh nghiệp khác trên phạm vi cả nước và ở nhiều ngành nhiềulĩnh vực khác nhau Thông qua việc kiểm tra, điều chỉnh doanh thu của cán bộthuế năm 2006 với 18.879 doanh nghiệp, số thuế tăng thêm là 2.303 triệu đồng.Các đơn vị thực hiện tương đối tốt là chi cục thuế Hoàn Kiếm, Ba Đình, Tây Hồ,Gia Lâm, Từ Liêm, Đông Anh Việc che dấu doanh thu không phản ánh đúngthực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích làmgiảm số thuế thu nhập doanh nghiệp mà cơ sở phải nộp, việc này thường xảy ra
ở một số trường hợp sau:
Lợi dụng thói quen của người dân khi mua hàng hóa về nhằm mục đíchtiêu dùng thường không lấy hóa đơn bán hàng hoặc thông đồng với người muahàng hóa để ghi giá bán thấp hơn so với giá thực bán Hình thức này thườngdiễn ra đối với các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng như: Ô tô, xe máy, điện
tử, điện lạnh