đầu tư là điều kiện quyết định sự ra đời, tồn tại và tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, là yếu tố quyết định sự phát triển và tăng trưởng của nền sản xuất xã hội.
Trang 1Mục lục
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
1 Thực trạng xuất khẩu hàng nông sản chế biến ở Việt Nam 3
1.1 Sơ lợc về tình hình và vị trí của xuất khẩu hàng nông sản chế biến trong cơ cấu Kinh tế Quốc Dân 3
1.2 Đặc điểm về hàng nông sản chế biến 6
1.3 Những điểm mạnh của công nghiệp chế biến nông sản 7
1.4 Những điểm yếu của công nghiệp chế biến nông sản 10
1.5 Những cơ hội của công nghiệp chế biến nông sản 14
1.6 Những thách thức của công nghiệp chế biến nông sản: 16
2 Hệ thống các quan điểm cơ bản định hớng phát triển xuất khẩu mặt hàng chế biến nông sản 17
2.1 Các quan điểm định hớng phát triển công nghiệp chế biến nông sản 17
2.2 Hệ thống các mục tiêu chiến lợc cần đạt đợc trong định hạn thời gian chiến lợc 18
3 Các giải pháp 19
3.1 Về phía cộng đồng các doanh nghiệp công nghiệp chế biến nông sản 19
3.2 Về phía Nhà Nớc 23
3.3 Về phía cộng đồng các chủ thể kinh tế thuộc các ngành và lĩnh vực khác của nền kinh tế 24
KẾT LUẬN 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trên con đờng hiện đại hoá, công nghiệp hoá, nông nghiệp Việt Nam
đang từng bớc tiến tới một nền sản xuất hàng hoá lớn, với sản phẩm ngàycàng dồi dào, giá thành ngày càng hạ, cho đến nay, sản xuất nông nghiệp đã
áp ứng tốt nhu cầu lơng thực, thực phẩm cho 80 triệu dân và một số hàngnông sản xuất khẩu của ta đã đứng hàng thứ 2-thứ 3 trên thế giới Tuy nhiên,thị trờng năm qua cũng cho thấy tình trạng thừa ứ một số mặt hàng nông sản
đã làm cho ngời nông dân đợc mùa mà không vui, thu hoạch tăng mà vẫnnghèo túng Để chặn đứng hậu quả đó, con đờng đúng nhất là đẩy mạnh chếbiến nông sản thực phẩm hàng hoá Có thể thấy hàng hoá nông sản cha quachế biến thì giá trị của nó biến động lớn, không ốn định, còn khi đa vào chếbiến có quy hoạch thì sản lợng ổn định, chất lợng cao
Trong bối cảnh mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động sản xuấtcủa các nớc là thớc đo đánh giá kết quả của quá trình hội nhập quốc tế vàphát triển trong mối quan hệ tuỳ thuộc vào nhau giữa các quốc gia Việc mởcủa hội nhập kinh tế và tự do hoá thơng mại toàn cầu chác chắn sẽ diễn ra sựcạnh tranh gay gắt và quyết liệt, mà trong cuộc chiến này, Việt Nam không
tự xây dựng chiến lợc nâng cao sức cạnh tranh trên thơng trờng thì sẽ gặpnhiều khó khăn và thua thiệt Việc gấp rút phân tích và đánh giá đúng đắncác lợi thế so sánh và các mặt bất lợi trong việc phất triển sản xuất- kinhdoanh từng loại nông sản chế biến xuất khẩu, để đề ra một đối sách thíchhợp là rất quan trọng
Với những ý nghĩa trên, em xin chọn đề án : “MỘT SỐ GIẢI PHÁPPHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU HÀNG NễNG SẢN CHẾ BIẾN Ở VIỆT NAM.”
Trang 3NỘI DUNG
1 Thực trạng xuất khẩu hàng nông sản chế biến ở Việt Nam
1.1 Sơ lợc về tình hình và vị trí của xuất khẩu hàng nông sản chế biến trong cơ cấu Kinh tế Quốc Dân
Từ một nớc hàng năm phải nhập khẩu lơng thực, chỉ hơn một thập niênsau nhiều mặt hàng nông sản Việt Nam đã chiếm lĩnh thị trờng thế giới nhgạo, hạt điều nhân, cà phê…
Theo thời gian Trong những năm qua, hàng hoá nông sản chế biến
xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam ra thế giới không ngừng tăng ởng cả về số lợng và giá trị Xuất khẩu hàng nông sản chủ lực tăng lên khácao, chẳng hạn ngành cao su xuất đợc 607.000 tấn đạt gần 1,3 tỷ USD trongnăm 2006, đến năm 2007 kim ngạch xuất khẩu cao su tăng 16,5%, hạt điềutăng 13,5%, rau quả tăng 29%
tr-Kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 4.300 triệu USD, tăng hơn năm
1991 là 3,9 lần và chiếm 30% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của ViệtNam Trong giai đoạn vừa qua, hàng nông sản vẫn chiếm tỷ trọng cao nhấttrong tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản của Việt Nam Bìnhquân thời kỳ 1995-2000 kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản chiếm khoảng70% và hàng thuỷ sản chiếm 25% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông,lâm, thuỷ sản
Năm 2005 hàng nông lâm thuỷ hải sản xuất khẩu chiếm gần 25% tổngkim ngạch xuất khẩu cả nớc, với hơn 8 tỷ USD trong đó gạo 1,4 tỷ USD, mặthàng gỗ và lâm sản chiếm với 1,6 tỷ USD, thuỷ sản 2,6 tỷ USD, cao su 787triệu USD, cà phê 730 triệu USD, hạt điều gần 500 triệu USD, hồ tiêu 120triệu USD
Xét về tốc độ gia tăng giá trị kim ngạch thì rau quả đã tăng rất nhanh,năm 1998 đạt 52 triệu USD thì năm 1999 là 105 triệu USD và năm 2000 đạt
205 triệu USD tăng gấp hai lần so với năm 1999 Thứ đến là hồ tiêu với chỉ
số tăng 51%, rồi dến cà phê (28%) và cao su (22%)
Khối lợng nông sản xuất khẩu tuy có tăng lên, năm sau cao hơn nămtrớc, nhng giá trị kim ngạch xuất khẩu lại không tăng lên tơng xứng, vì giábán của ta giảm xuống Ví dụ năm 1999 gạo của ta xuất khẩu đợc 4,5 triệutấn tức là tăng 19,3% so với năm 1998 nhng kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng
Trang 49,1% Cao su năm 1999 xuất khẩu 265 ngàn tấn, tăng hơn năm 1998 là38,7% nhng kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng 14,8%
Theo thị trờng Thị trờng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam ngày
càng mở rộng và thay đổi về cơ cấu thị trờng Sau khi hệ thống Xã Hội ChủNghĩa tan rã, thị trờng này không còn nữa thì các nớc Châu Á đã nhanhchóng trở thành các bạn hàng xuất khẩu chính của ta Trong số các nớc Châu
Á thì Nhật Bản và ASEAN đóng vai trò lớn, tuy nhiên tỷ trọng kim ngạchxuất khẩu hàng nông sản chế biến của ta sang các nớc đó cũng đã thay đổitheo hớng giảm dần và tăng ở các nớc khối EU và Châu Mỹ
Nhật Bản trở thành bạn hàng lớn của xuất khẩu nông sản chế biến ViệtNam với các mặt hàng gạo thịt chế biến Vừa qua gạo Việt Nam tiếp tụctrúng thầu tại nớc này với 21.000 tấn gạo tẻ hạt dài Và xuất khẩu các sảnphẩm chế biến từ thịt lợn nh: xúc xích, giăm bông…
Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trờng EUnhiều năm gần đây thờng xuyên chiếm 18%-19% kim ngạch xuất khẩu toànngành nông nghiệp nớc ta Những nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu vàothị trờng EU ổn định và liên tục tăng từ năm 2000 đến nay là : điều nhân32%/ năm, chè 35,8%/ năm, cao su sơ chế 44,7%/ năm, rau quả 35,5%/năm
Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản đang khai thác tốt và cóthị phần tơng đối lớn ở khu vực này: tại Bỉ chiếm 10,1% thị trờng nhập khẩu,Pháp chiếm 48,5%, Đức chiếm 57%, Italy chiếm 49,6%, Tây Ban Nha chiếm53,9%, Anh chiếm 64,2
Theo mặt hàng Trong hoàn cảnh nông nghiệp, Việt Nam vẫn còn nặng
về các sản phẩm trồng trọt, xuất khẩu chủ yếu là các sản phẩm thô, ít qua chếbiến, sự tác động của tính chất giá cả các sản phẩm nông nghiệp trên thế giới
và các xu hớng thứ sinh đối với sản xuất các sản phẩm nông nghiệp có phầnkhông thuận lợi Sự giao động về giá cả các sản phẩm nông nghiệp trên thếgiới luôn ở mức độ cao và xảy ra thờng xuyên, bởi nguyên nhân chủ yếu là
sự bất ổn định của sản xuất nông nghiệp ( sự phụ thuộc vào thiên nhiên) Cácsản phẩm thô có biên độ dao động cao hơn các sản phẩm đã qua chế biến Cơcấu các mặt hàng xuất khẩu cũng đợc cải thiện theo chiều hớng đa dạng hoá,giảm tỷ trọng loại hàng nông sản cha qua chế biến Trong hàng nông sảnxuất khẩu, lúa gạo vẩn chiếm tỷ trọng cao nhất( 23,8%), thứ đến là càphê( 13,5%), hạt điều(4,4%) và cao su( 3,2%)
Trang 5Thực phẩm là mặt hàng xuất khẩu chiếm kim ngạch khá lớn của VIệtNam Song tỷ trọng công nghiệp chế biến một số nông sản còn thấp so vớinguyên liệu hiện có, nh mía đờng 30%, chè 55%, rau quả 5% Việt Nam trởthành đối thủ cạnh tranh của Thái Lan về gạo, với Ấn Độ về điều nhân, vớiBrazil về cà phê và không có đối thủ về hồ tiêu.
Theo số liệu thông kê, hiện nay tổng công suất của cơ sở công nghiệpchế biến trên cả nớc khá cao Ví dụ năng lực chế biến gạo theo quy mô côngnghiệp ở cả ba công đoạn: xay xát, đánh bóng, phân chia chủng loại sảnphẩm đợc trên 22 triệu tấn một năm Những nhà máy, dây chuyền côngnghiệp chế biến cà phê trên cả nớc có tổng công suất tới gần 150.000 tấn mộtnăm Năng lực chế biến đờng đạt gần 3,5 triệu tấn mía/ năm Năng lực chếbiến cao su khô là 250.000 tấn/ năm, chế biến hạt điều đạt 200.000 tấn/ năm.Cả nớc có 60 nhà máy chế biến rau quả với tổng công suất 180.000 tấn mộtnăm
Có thể nói, trong những năm qua, ngành công nghiệp chế biến nôngsản ở nớc ta đã đợc Nhà nớc quan tâm chỉ đạo, đạt sự tăng trởng, phát triển
đáng kể Bằng chứng là có tới gần 30 phân ngành công nghiệp chế biến khácbao trùm hầu hết sản phẩm nông nghiệp nh lúa gạo, cao su, cà phê, hạt điều,mía đờng, bột ngọt, hạt tiêu… Tổng số lao động làm việc ở ngành côngnghiệp chế biến hiện nay là gần 3,5 triệu ngời Một số cơ sở công nghiệp chếbiến đã có công nghệ đạt trình độ quốc tế và khu vực
1.2 Đặc điểm về hàng nông sản chế biến
Về sản phẩm: Tuy chủng loại hàng hoá xuất khẩu của ta đa dạng hơn
nhng nhìn chung thì diện mặt hàng còn khá đơn điệu, cha có sự thay đổi độtbiến về chủng loại, về chất lợng tơng đối thấp, cha ổn định, chỉ tiêu cha cao.Xuất khẩu chủ yếu vẫn dựa vào một vài mặt hàng chủ lực, truyền thống nhgạo, cà phê, cao su…mà phần lớn chúng đều tiềm ẩn nguy cơ tăng trởngchậm dần do gặp phải những hạn chế mang tính cơ cấu nh diện tích có hạn
Những mặt hàng kém chất lợng vẫn tham gia vào xuất khẩu đã làmnảy sinh nhiều khó khăn không đáng có, làm giảm uy tín hàng hoá ViệtNam Nguyên thứ trởng Lơng Văn Tự- Bộ Thơng mại dẫn ra rằng sản phẩmchè là một điển hình : “Tạo công ăn việc làm cho dân bằng việc cho ra đờinhững cơ sở chè, trong khi nhà máy thiếu nguyên liệu chế biến đã làm chochất lợng chè thấp”
Trang 6Về giá: Giá bán vẫn còn thấp và hầu nh bị khách hàng nớc ngoài chi
phối Giá xuất khẩu sản phẩm chế biến của Việt Nam thờng thấp hơn các nớctrong khu vực từ 10-15%, cha nói đến các nớc phát triển Mặt hàng gạo dù có
sự cải thiện đáng kể về giá so với Thái Lan nhất là gạo cấp thấp và trungbình, nhng giá gạo bình quân vẫn thấp hơn Thái Lan 60 USD/ tấn Hồ tiêuViệt Nam xuất khẩu kém giá của các nớc khác vài trăm tấn, mặt hàng cà phê,
điều nhân cũng tơng tự Tất cả đều do vấn đề chất lợng sản phẩm và uy tíndoanh nghiệp cũng nh thiếu sự liên kết giữa những nhà sản xuất và xuấtkhẩu
Một vấn đề nóng về xuất khẩu nông sản hiện nay là tình trạng một sốdoanh nghiệp xuất khẩu “tự nguyện” đua nhau giảm giá xuất khẩu nh gạocao cấp (5% tăm) từ 260 USD/tấn xuống 240 USD/ tấn, trong khi các doanhnghiệp Thái Lan vẫn ký bán giá cao (300-303 USD/ tấn) Hạt điều của ViệtNam cũng lâm vào tình trạng tơng tự
Về kênh phân phối: Kênh phân phối còn yếu kém, rời rạc Tuy chúng
ta có cộng đồng ngời Việt ở nớc ngoài khá đông nhng cha tận dụng đợc lợithế này để xây dựng mạng lới thơng mại cho hàng nông sản
Về xúc tiến thơng mại: Doanh nghiệp cha quan tâm đầu t cho chiến
l-ợc chất lợng sản phẩm gắn liền với xây dựng thơng hiệu và quảng bá sảnphẩm Mẫu mã bao bì hàng chế biến nông sản của Việt Nam còn sơ sài, đơn
điệu Mặt khác ý thức về tầm quan trọng của công tác xúc tiến thơng mại chacao, giới thiệu quảng bá hàng hoá của các doanh nghiệp nớc ta nói chung,doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến nói riêng cha đợc quan tâm đúngmức
1.3 Những điểm mạnh của công nghiệp chế biến nông sản
Việt Nam với điều kiện thuận lợi về đất đai và khí hậu ( nhiệt đới ở
phía Nam và Á nhiệt đới ở phía Bắc), với nhiều chủng loại rau quả, trái cây
đặc trng, có lợi thế so sánh với các nớc trong khu vực và trên thế giới Điềukiện sinh thái tự nhiên của nhiều vùng nớc ta rất thuận lợi cho việc phát triểnsản xuất một số loại rau quả, trái cây vụ đông có hiệu quả nh cà chua, cảibắp, tỏi, khoai tây… Trong khi cũng vào thời gian này ở các vùng Viễn
Đông của Liên Bang Nga và thậm chí ở cả Trung Quốc đang bị tuyết dày baophủ không thể trồng trọt đợc gì nhng những nơi này lại là thị trờng tiêu thụlớn và tơng đối dễ tính Các đối thủ cạnh tranh nh Thái Lan, Phillipin lại kémlợi thế hơn so với Việt Nam cả về điều kiện tự nhiên sinh thái, cả về kỹ năng,
Trang 7kinh nghiệm sản xuất và tính cần cù lao động trong việc trồng trọt các loạinông sản đó.
Một số ít nông sản đợc các nớc phát triển ở Châu Âu, Bắc Mỹ achuộng nh nhân hạt điều, dứa, lạc lại có thể trồng ở Việt Nam trên các đấtbạc màu, đồi trọc ( nh điều) hay trên đất phèn (nh dứa)
Nhiều sản phẩm nông sản chế biến đợc sản xuất trên dây chuyền hiện
đại Trong lĩnh vực này, nhiều dây chuyền mới đã đợc chuyển giao vào Việt
Nam nh dây chuyền sản xuất các loại rau quả hộp, nớc trái cây, một số liêndoanh đã đợc thành lập ở Việt Nam Nhiều loại thiết bị chế biến đã đợc đavào Việt Nam thuộc loại tiên tiến và hiện đại bậc nhất thế giới nh dây chuyềnxay xát gạo Satake của Nhật Bản, dây chuyền sản xuất bột mỳ của Singapo,Inđônêxia, các dây chuyền chế biến rau quả của ý, Hà Lan, các dây chuyềnchế biến thịt của úc, các dây chuyền chế biến chè của Nhật bản, Bỉ, ĐàiLoan, các nhà máy đờng của Anh, Pháp, Ấn Độ, liên doanh chế biến sữa vàcác sản phẩm sữa, liên doanh sản xuất bia, nớc giải khát… Các công nghệmới này góp phần tạo ra một khối lợng hàng nông sản xuất khẩu lớn, chất l-ợng cao và giá thành hạ, có khả năng cạnh tranh trên thế giới
Tốc độ phát triển của ngành hàng này rất nhanh Theo Bộ trởng bộ
Công nghiệp Hoàng Trung Hải, những năm qua, tốc độ tăng trởng côngnghiệp chế biến luôn đạt khá, 13% ( năm 2001) và gần 16% ( năm 2002).Việc áp dụng kỹ thuật, công nghệ mới, các giống mới với các đặc tính chất l-ợng cao đã làm cho năng suất các loại cây trồng tăng cao, dẫn tới sản lợngngày càng lớn Trớc đây, Việt Nam trồng dứa Victoria, năng suất chỉ đạt 10tấn/ ha, nay chuyển sang trồng giống Cayen năng suất có thể đạt 68-80 tấn/
ha, các giống mía của Việt Nam trớc đây chỉ đạt 30-40 tấn/ ha, nay nhờ nhậpnội các giống mía của Ấn Độ, Đài Loan, Châu Mỹ La Tinh đã đạt 80-120tấn/ ha Không chỉ bằng giống mới mà việc áp dụng các công nghệ mới trongcanh tác cũng làm tăng năng suất gấp 5-6 lần Nhờ đó giá nguyên liệu hạ,chất lợng nông sản tốt nên hiệu suất thu hồi cao, dẫn tới giá thành sản phẩmchế biến cũng rẻ hơn
So với các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu khác nh hàng dệt may,giầy da hay cơ khí, điện tử, lắp ráp… thì trong cùng một lợng kim ngạchxuất khẩu thu về nh nhau, tỷ lệ chi phí sản xuất có nguồn gốc ngoại tệ của
hàng chế biến rất thấp, do đó thu nhập ngoại tệ ròng của hàng nông sản chế
biến xuất khẩu sẽ cao hơn nhiều Ví dụ chi phí sản xuất gạo xuất khẩu có
Trang 8nguồn gốc ngoại tệ ( phân bón, thuốc trừ sâu bệnh và các loại hoá chất, xăngdầu, máy móc…) chỉ chiếm từ 15%-20% giá trị xuất khẩu kim ngạch gạo.
Điều đó có nghĩa là xuất khẩu gạo đã tạo ra từ 80%-85% thu nhập ngoại tệthuần cho đất nớc, chỉ số này đối với nhân hạt điều xuất khẩu là khoảng 27%
đến 73% Đây là lợi thế ban đầu của các nớc nghèo, khi cha có đủ nguồnngoại tệ để đầu t xây dựng những nhà máy lớn, các khu công nghiệp để sảnxuất- kinh doanh những mặt hàng tiêu tốn nhiều ngoại tệ
Ngành công nghiệp chế biến cần sử dụng nhiều lao động trong quátrình sản xuất- kinh doanh Đây là một u thế quan trọng hiện nay của ngành
vì hàng năm nớc ta phải giải quyết thêm việc làm cho 1,4 triệu ngời bớc vào
tuổi lao động Trong khi đó, giá nhân công Việt Nam rẻ hơn các nớc kháctrong khu vực, phổ biến với mức 1- 1,2 USD/ ngày công lao động nh trongsản xuất lúa gạo, cà phê Tuy nhiên lợi thế này sẽ không đợc tồn tại lâu dài
do sự phát triển kinh tế xã hội của đất nớc và thế giới
Thể chế chính trị ổn định và hệ thống luật pháp của Việt Nam ngày
càng hoàn thiện Những chính sách mới của Nhà nớc đang tạo cho Việt Namthụân lợi để mở rộng thị trờng nông sản và xuất khẩu nh: chính sách u đãithuế cho các mặt hàng xuất khẩu, chính sách khuyến khích hoạt độngchuyển giao công nghệ và lĩnh vực công nghiệp chế biến, thời gian qua chínhphủ Việt Nam đã có những chính sách khá mạnh trong việc thu hút vốn đầu
tủ trực tiếp nớc ngoài FDI và công nghệ hiện đại vào lĩnh vực này, chínhsách trang trại đang cho phép những chủ doanh nghiệp t nhân có vốn, có kiếnthức, tham gia mở rộng và ổn định thị trờng nông sản, chính sách thuế nôngnghiệp theo chất lợng đất đai ổn định trong nhiều năm và các chính sáchkhuyến nông khác đã giúp cho hàng triệu nông dân tiếp cận với công nghệmới, đặc biệt là công nghệ sinh học Những chính sách này đang tạo ra mộtmôi trờng sản xuất và kinh doanh hàng chế biến nông sản sôi động, có chiềusâu và hiệu quả ngày càng tăng, làm tăng thêm tính hấp hẫn của môi truờng
đầu t trong lĩnh vực này Trong những năm qua, Nhà Nớc đã quan tâm đàotạo đội ngũ cán bộ làm công tác chế biến, kinh doanh xuất khẩu có năng lực
và trình độ ở trong nớc và nớc ngoài
Quan hệ thơng mại của ta với các nớc trên thế giới ngày càng phát
triển, mở rộng Sau nhiều năm mở cửa, quan hệ thơng mại của ta với nhiều
n-ớc trên thế giới đã ngày càng mở rộng, nhất là trao đổi buôn bán với các nn-ớcASEAN, với Nhật, Mỹ và với EU Nhiều thị trờng tiếp tục đặt mua các loạinông sản của Việt Nam trông điều kiện giá nh hiện tại, đồng thời đang có
Trang 9những khả năng mới cho việc mở rộng thị trờng Đó là: nhiều công ty nớcngoài bán máy móc, thiết bị cho Việt Nam với điều kiện cho vay vốn và trảchậm bằng hàng hoá, nhiều doanh nghiệp nớc ngoài sẵn sàng đầu t vào ViệtNam với điều kiện xuất khẩu một phần hoặc toàn bộ sản phẩm ra nớc ngoài (
nh liên doanh sản xuất thịt lợn ở Bình Dơng, bột mỳ cao cấp ở Bà Rịa- VũngTàu, liên doanh chế biến chè, hồ tiêu…)
1.4 Những điểm yếu của công nghiệp chế biến nông sản
Về nguyên liệu, công nghệ trồng và thu hoạch, bảo quản còn rất lạc hậu: Việt Nam cha hình thành đợc các vùng chuyên canh sản xuất hàng tơi
sống và vùng nguyên liệu tập trung cho các nhà máy chế biến lớn theo yêucầu kỹ thuật và kinh tế Phần lớn các loại cây con, giống hiện đang đợc nôngdân sử dụng có năng suất và chất lợng thấp hơn so với các nớc trên thế giới
và các đối thủ cạnh tranh trong khối ASEAN Trên địa bàn cả nớc cha hìnhthành đợc hệ thống cung ứng giống tốt cho ngời sản xuất Năng suất lúa củaViệt Nam chỉ bằng 61% năng suất lúa của Trung Quốc và thấp hơn nhiều sovới lúa của Nhật Bản, Italy, Mỹ Năng suất cà chua của ta chỉ bằng 65%năng suất cà chua thế giới, cao su Việt Nam mới đạt 1,1 tấn/ ha, so với năngsuất thế giới là 1,5-1,8 tấn/ ha, thấp hơn tới 30-40% Nông sản đợc thu mua
lẻ tẻ trong dân nên chất lợng không đồng đều, gây khó khăn trong việc kiểmsoát đầu vào nguyên liệu của nhà máy chế biến
Máy móc, thiết bị phuc vụ chế biến còn lạc hậu: Việt Nam là một nớc
nông nghiệp có nguồn nông sản nguyên liệu dồi dào, nhng thiết bị công nghệchế biến nông sản không đủ năng lực sản xuất hàng xuất khẩu Có thể điểmqua các số liệu sau:
-128 nhà máy xay xát gạo, tổng công suất 2,4 triệu tấn nhng thiết bị từnhững năm 60 ( ở miền Bắc) và những năm 80 ( ở miền Nam)
-18 nhà máy chế biến rau quả, cha đảm bảo chế biến đợc 5% sản lợngrau quả, cha đáp ứng chỉ tiêu xuất khẩu
-30 nhà máy chế biến thịt của cả nớc, chỉ đạt tỷ lệ chế biến 1,5%
- Các khu vực chế biến dầu thực vật, chè, cà phê, cao su cũng cha đợc
đầu t thích đáng, thiết bị cũ, hiệu quả thấp
Đa số địa phơng khi xây dựng nhà máy chế biến đều nhập công nghệtrung bình hoặc đã lạc hậu hàng chục năm Hiện nay có tới 60% nhà máy,dây chuyền sản xuất của ngành công nghiệp chế biến có “tuổi thọ” hơn 20năm Thiết bị công nghệ cho công nghiệp chế biến chậm đổi mới Hệ số đổimới những năm qua của công nghiệp chế biến mới đạt mức 7%/ năm, chỉ
Trang 10bằng 1/2 đến 1/3 mức tối thiểu của các nớc Do đó khi bớc vào sản xuất côngsuất thấp, tiêu thụ năng lợng nhiều nên thiếu sức cạnh tranh Nhiều chuyêngia thơng mại xuất nhập khẩu đã khẳng định những loại sản phẩm nh gạo, càphê, cao su, hạt điều của nớc ta rất tốt nhng công nghiệp chế biến thấp nênluôn luôn bị “rớt giá” từ 10%-15% so với sản phẩm cùng loại của nớc ngoài.Kết cấu hạ tầng phục vụ cho việc vận chuyển, bảo quản dự trữ, bốc xếp hànghoá nông sản nhất là hàng tơi sống rất yếu kém.
Tỷ lệ hao hụt trong khâu thu hoạch và bảo quản vẫn còn cao dẫn đến
giá thành chế biến cao Tỷ lệ thất thoát ở các khâu thu hoạch và sau thuhoạch lớn, nh lơng thực là 8-10% ( riêng Đồng bằng sông Cửu Long là 15%),rau quả 7-8%
Tổ chức liên kết trong sản xuất và kinh doanh chế biến nông sản còn
cha đảm bảo tạo ra sức mạnh tổng hợp cũng nh bảo đảm mối liên hệ sản xuấtgiữa các ngành, các khâu trong phát triển chế biến
Năng lực quản lý sản xuất kinh doanh, chế biến và xuất khẩu nông sảncha đáp ứng đợc yêu cầu trong diều kiện tự do hoá thơng hoá, đặc biệt làkhâu marketing, dự tính, dự báo thị trờng Mối liên kết kinh tế giữa các khâusản xuất- chế biến- xuất khẩu, giữa các khâu cung ứng vật t đầu vào và tiêuthị sản phẩm đầu ra, giữa các khâu kỹ thuật với khâu kinh tế… cha thiết lập
ng hiện nay việc cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thờngxuyên không ổn định vì cha có vùng cây công nghiệp chuyên canh tậptrung Hầu hết các vùng cây công nghiệp do hộ nông dân quản lý nên thờng
tự ý thay đổi cơ cấu cây trồng theo sự biến động của thị truờng Một số địaphơng nôn nóng muốn chuyển đổi cơ cấu kinh tế trên địa bàn nhanh, đôi khi
bỏ qua khâu quy hoạch dẫn tới tình trạng các doanh nghiệp chế biến lúcthừa, lúc thiếu nguyên liệu thờng xảy ra
Bộ trởng Bộ Công nghiệp Hoàng Trung Hải cho rằng: “ Đây cũng làtrách nhiệm của các nhà đầu t trong việc xây dựng nhà máy chế biến Trớctiên phải phát triển nguyên liệu cho chính nhà máy của mình, chứ không thể
Trang 11đổ lỗi cho nông dân Anh muốn nhà máy của anh hoạt động có hiệu quả thìphải quy hoạch, có vùng nguyên liệu, và nó phải phù hợp với vùng nguyênliệu chung của ngành NN-PTNT”.
Các mặt hàng chế biến của Việt Nam cha có thơng hiệu rõ rệt, uy tín
và chỗ đứng trên thị trờng thế giới Nhiều năm qua, hàng nông sản chủ lựccủa Việt Nam nh gạo, hạt điều, cao su, cà phê, hạt tiêu, đã đợc tổ chức sảnxuất và tiêu thụ tốt, tăng nhanh sản lợng nhng hàng nông sản Việt Nam cha
có thơng hiệu rõ rệt, đa số ngời tiêu dùng nớc ngoài không biết đến sự tồn tạicủa hàng nông sản Việt Nam, có lúc gạo ngon Việt Nam lại đợc đóng góimang thơng hiệu Thái Lan Ông Nguyễn Văn Lạng - Chủ Tịch UBND tỉnh
Đắk Lắk , “ thủ phủ cà phê Việt Nam”, cũng bức xúc “ Chỉ riêng mặt hàng
cà phê Việt Nam đã bị thiệt hại khoảng 100 triệu USD mỗi năm do khôngbán trực tiếp cho những công ty nứớc ngoài mà phải tiêu thụ qua trunggian…” Theo Bộ NN-PTNT, hồ tiêu Việt Nam đã đợc xuất khẩu đến hơn 70quốc gia ở khắp thế giới Tuy nhiên, hầu hết lợng tiêu xuất khẩu không xuấttrực tiếp đợc mà phải xuất cho các công ty trung gian của Singapore, Hà Lan,
Đức…để các công ty này tiếp tục xuất khẩu vào các nớc khác với thơng hiệucủa họ Do doanh nghiệp cha thực sự quan tâm đầu t cho chiến lợc sản phẩmgắn liền với xây dựng thơng hiệu và quảng bá sản phẩm Mẫu mã, bao bìhàng nông sản chế biến còn quá sơ sài, đơn điệu
Các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu còn cha hiểu biết về nhu
cầu thị trờng, đặc biệt là thị trờng nớc ngoài Thiếu chiến lợc xây dựng mặt
hàng xuất khẩu chủ lực, chủng loại hàng hoá còn dàn trải
Nhận thức về thị trờng nớc ngoài của các doanh nghiệp cha đầy đủ, việc sảnxuất chế biến và tiêu thụ hàng nông sản cha đa dạng, cha chuyên sâu, nắmbắt thị hiếu tiêu dùng còn yếu Những quốc gia thuộc thị trờng EU, Mỹ, cha có nhiều thông tin về hàng hoá Việt Nam, ngợc lại các doanh nghiệpxuất khẩu của chúng ta cũng thiếu thông tin, cha nói đến là cập nhập đợcthông tin ngay ở thị trờng mà doanh nghiệp đã xuất khẩu Khả năng thu thậpthông tin, phân tích thị trờng của các cơ quan Nhà nớc và các doanh nghiệpcòn rất hạn chế Các nghiên cứu sâu về thị trờng đối với hàng nông sản chếbiến mới chỉ triển khai có tính chất đơn lẻ, cha tập hợp thành các tài liệutham khảo
Chất lợng tơng đối thấp, các chỉ tiêu cha cao, cha đồng đều Chất lợng
là vấn đề luôn đợc đặt ra đối với các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu thựcphẩm Khi cách cửa WTO hé mở cũng là lúc chúng ta phải đặc biệt quan tâm
Trang 12đến chất lợng các mặt hàng nông sản xuất khẩu Vấn đề chất lợng, d lợngthuốc bảo vệ thực vật đang làm cho khoảng cách giữa hàng nông sản ViệtNam với thế giới ngày một doãng ra Tại hội thảo Quản lý chất lợng hàngnông sản xuất khẩu diễn ra ngày 6/4/07 tại Hà Nội của Bộ NN-PTNT chothấy tốc độ tăng nhng chất lợng thì…thật đáng buồn Hầu hết các cơ sở chếbiến và kinh doanh chỉ phấn đấu đạt chất lợng theo yêu cầu của khách hàng,chứ cha áp dụng các tiêu chuẩn riêng biệt để có chỗ đứng trên thị trờng thếgiới Nhiều ngời cho rằng, nếu xử lý tốt khâu thu hoạch, cà phê của ta sẽ có40% đạt chất lợng xuất khẩu loại I Về cao su, chất lợng cao su sơ chế cha ổn
định và chỉ tiêu cha cao, cha đồng đều, đặc biệt là các nhà máy, cơ sở nhỏ ở
địa phơng Với chè và rau quả còn đáng lo ngại hơn Chất lợng chè hiện naycha đáp ứng đợc nhu cầu xuất khẩu Các loại chè tốt nh P, OP, FOBP mới chỉ
đạt trên dới 50% sản lợng chè xuất khẩu Hàm lợng tạp chất cao, d lợngthuốc bảo vệ thực vật nhiều, hơng vị, màu sắc cha hấp hẫn khách hàng là cảntrở lớn nhất của sản phẩm này Rau quả tơi thì kém quá xa về chất lợng sovới các nớc trong khu vực
Nhận thức của các cơ quan quản lý Nhà nớc còn mơ hồ, hành langpháp lý còn “mỏng” Nguyên nhân quan trọng làm công nghiệp chế biến chaphát triển đủ tầm là do công tác quy hoạch Thủ tớng Nguyễn Tấn Dũng chorằng, quy hoạch của chúng ta hiện rất kém, làm giảm hiệu quả và chậm tốc
độ phát triển của công nghiệp chế biến Sự quản lý lơi lỏng trong phát triểnvùng nguyên liệu dẫn đến tự phát Thủ tớng đặc biệt chú trọng công tác quyhoạch vùng nguyên liệu có định hớng cho công nghiệp chế biến
1.5 Những cơ hội của công nghiệp chế biến nông sản
Thị trờng hàng nông sản thế giới luôn chứa đựng những xu hớng pháttriển mới theo nhiều phơng diện khác nhau cả về sản xuất, tiêu thụ, giá cả vànhững thơng lợng buôn bán giữa các quốc gia và các khu vực với nhau Tấtcả đều đó đang mở ra những thách thức và cơ hội đối với mỗi quốc gia trongquá trình phát triển kinh tế nói chung và phát triển công nghiệp chế biến nóiriêng
Sự gia tăng về dân số là một thách thức lớn đối với nền kinh tế và đối
với vấn đề an ninh lơng thực toàn cầu nói riêng Theo dự báo của Liên HợpQuốc, dân số thế giới sẽ tăng thêm 2,5 tỷ ngời vào năm 2020, trong đó riêngChâu Á là 1,5 tỷ ngời Điều này sẽ làm tăng đáng kể khối lợng nhu cầu tiêudùng các sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là các sản phẩm lơng thực, thực