CÔNG TRÌNH NÚT GIAO THÔNG KHÁC MỨC NGÃ BA HUẾ - TP ĐÀ NẴNG ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN THIẾT KẾ TƯỜNG CHẮN & NỀN ĐƯỜNG ĐẦU CẦU ĐOẠN SAU MỐ M2, PHÍA ĐƯỜNG ĐIỆN BIÊN PHỦ PHƯƠNG ÁN ĐẮP NỀN ĐƯỜNG BẰ
Trang 1CÔNG TRÌNH NÚT GIAO THÔNG KHÁC MỨC NGÃ BA HUẾ - TP ĐÀ NẴNG
ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN THIẾT KẾ TƯỜNG CHẮN & NỀN ĐƯỜNG ĐẦU CẦU
(ĐOẠN SAU MỐ M2, PHÍA ĐƯỜNG ĐIỆN BIÊN PHỦ)
PHƯƠNG ÁN ĐẮP NỀN ĐƯỜNG BẰNG BÊ TÔNG NHẸ
(Hoàn thiện theo Thông báo số 1404/TB-SGTVT ngày 7/5/2014 của Sở GTVT)
I GIỚI THIỆU CHUNG
Dự án nút giao thông khác mức tại Ngã ba Huế là dự án có quy mô lớn, có tầm quan trọng và đối với hệ thống giao thông đô thị và kiến trúc cảnh quan của thành phố Đà Nẵng Hiện nay, dự án đang được triển khai rất khẩn trương để đáp ứng tiến độ dự kiến hoàn thành vào ngày 29/3/2015
Theo kết quả khảo sát địa chất đã được thực hiện, địa tầng bên dưới đoạn nền đường đầu cầu sau mố M2 tồn tại lớp đất yếu có tính nén lún lớn cần phải nghiên cứu biện pháp xử lý để vừa đảm bảo tính kinh tế - kỹ thuật vừa đáp ứng tiến độ rất cấp bách của dự án
Với sự tiến bộ của công nghệ về vật liệu xây dựng, các phương án xử lý đất yếu cũng ngày càng phong phú Ngoài các giải pháp tác động trực tiếp để cải thiện sức chịu tải của nền đất và tăng nhanh cố kết như bấc thấm, giếng cát, cọc xi măng đất là các phương án đã được sử dụng tương đối phổ biến, còn
có các giải pháp giảm tải trọng nền đắp bằng các kết cấu nhẹ hoặc tải trọng nhẹ
Trên cơ sở đó, Công ty Cổ phần Tư vấn & Đầu tư xây dựng ECC (BK-ECC) đưa
ra đề xuất xử lý lún nền đường đầu cầu sau mố M2 bằng bê tông nhẹ, với mong muốn đóng góp thêm một phương án hợp lý về kinh tế - kỹ thuật để Chủ đầu tư và cơ quan có thẩm quyền xem xét
Tại cuộc họp báo cáo ngày 7/5/2014, sau khi nghe các đơn vị tư vấn báo cáo phương án xử lý, Lãnh đạo Sở GTVT đã quyết định phương án xử lý lún nền đường đầu cầu sau mố M2 bằng bê tông nhẹ là một trong hai phương án được chọn để tiếp tục nghiên cứu, làm rõ về giá thành, tiến độ thực hiện, khả năng huy động vật liệu, vật tư, thiết bị để thực hiện, tiêu chuẩn áp dụng, chỉ dẫn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ làm cơ sở lựa chọn phương án hợp lý nhất
Trang 2II CĂN CỨ LẬP BÁO CÁO
- Thư mời số 1075/SGTVT-GĐ&QLCL của Sở GTVT thành phố Đà Nẵng ngày 11/4/2014 v/v mời tham gia báo cáo phương án thiết kế tường chắn và nền đường đầu cầu, công trình nút giao thông khác mức Ngã ba Huế
- Các số liệu khảo sát địa hình, địa chất và tiêu chuẩn kỹ thuật dự án cùng một
số thông tin liên quan do Sở GTVT cung cấp
- Kết quả cuộc họp báo cáo phương án xử lý đường đầu cầu sau mố M2 theo Thông báo số 1404/TB-SGTVT ngày 7/5/2014
III TỔNG HỢP SỐ LIỆU & PHÂN TÍCH
3.1 TỔNG HỢP CÁC CÔNG TÁC KHOAN VÀ THÍ NGHIỆM ĐỐI VỚI NỀN ĐẤT YẾU
Trong phạm vi khu vực nền đường đắp sau các mố M2, M2A và M2A’ đã tiến hành 3 đợt khảo sát địa chất:
- Đợt 1 (thực hiện tháng 10~11/2013) :
o Do TEDI thực hiện: Gồm các lỗ khoan trụ mố trụ cầu vượt và 1 lỗ khoan tường chắn (tổng cộng 06 lỗ khoan), có kết hợp thí nghiệm nén cố kết cho lớp đất yếu
o Do TRICC thực hiện : Gồm các lỗ khoan mố trụ cầu dẫn tầng 1 và 2
lỗ khoan nền đường đầu cầu
- Đợt 2 (thực hiện tháng 12/2013) gồm 02 lỗ khoan bổ sung để khảo sát địa chất nền đường đất yếu, ngoài thí nghiệm cố kết cho lớp đất yếu còn bổ sung các thí nghiệm nén 3 trục theo các sơ đồ UU, CU và thí nghiệm cắt cánh hiện trường
- Đợt 3 (thực hiện tháng 3/2014) gồm 01 lỗ khoan bổ sung để khảo sát địa chất nền đường đất yếu tại vị trí sau mố M2 (LKBS5)
STT Tên lỗ khoan Độ sâu (m)
Mẫu thí nghiệm (mẫu) TN Cắt cánh
Nguyên dạng Không nguyên dạng Nén cố kết
Thí nghiệm UU,CU Điểm
9 LKBS5 14.45
10 LKC21
11 LKC22
Trang 3Hình 1: Bình đồ bố trí các lỗ khoan và sơ họa khoanh vùng phân bố lớp đất yếu
Hình 2: Phân bố của lớp đất yếu bên dưới nền đường đầu cầu sau các mố M2, M2A và M2A’
(Sau khi cập nhật LKBS5)
Hình 3: Mặt cắt dọc địa chất dưới nền đắp sau mố M2 (Sau khi cập nhật LKBS5)
Lớp đất yếu
Đường ống cấp nước D600mm
Lớp đất yếu
Khu vực có
đất yếu
LKBS5
Trang 43.2 TÓM TẮT VỀ ĐIỀU KIỆN ĐỊA CHẤT
Khái quát
Nút giao đường sắt & đường bộ Ngã Ba Huế thuộc Km 793+460 tuyến đường sắt
Hà Nội-Tp Hồ Chí Minh Đây là một trong những cửa ngõ quan trọng nối liền giao thông Bắc – Nam (Đường Tôn Đức Thắng và đường Trường Chinh) vào trung tâm TP Đà Nẵng (Đường Điện Biên Phủ) Nút giao thuộc địa phận quận Thanh Khê, quận Liên Chiểu và quận Cẩm Lệ – TP.Đà Nẵng Với địa hình bằng phẳng, xung quanh khu vực dự án nhà cửa tập trung nhiều Cấu tạo địa chất bao gồm các lớp đất có nguồn gốc trầm tích sông biển và tàn tích từ đá phiến như : Cát, cát pha, sét pha…
Đặc điểm lớp đất yếu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng thường có chiều dày không lớn, ít khi phân bố trên bề mặt mà thường nằm bên dưới lớp cát từ vừa đến dày Bên dưới lớp đất yếu, nếu có, thường phân bố lớp đất có sức chịu tải tương đối tốt như lớp cát chặt vừa hay lớp sét, sét pha nửa cứng
Lịch sử xây dựng của tuyến đường tại khu vực có nền đất yếu
- Đoạn xuất hiện đất yếu trên đường Điện Biên Phủ thuộc về một khu vực cục
bộ mà trước đây là ao hồ vào lòng sông suối cũ Quá trình đô thị hóa dần dần
đã tạo thành các ao hồ (tiếng địa phương gọi là “bàu”) nối thông với nhau
- Địa hình khu vực có hai khu vực cao rõ rệt so với các khu vực lân cận là ngã
tư Điện Biên Phủ - Huỳnh Ngọc Huệ và ngã ba Huế Đoạn nối hai khu vực này phải băng qua khu vực thấp trũng của Bàu Trảng và cắt bàu này thành hai phần Có thể thấy rõ qua việc so sánh các ảnh vệ tinh giữa năm 2002 và 2014:
Hình 4a - Ảnh chụp vệ tinh năm 2002
Trang 5Hình 4b - Ảnh chụp vệ tinh năm 2013
Địa tầng
Theo hồ sơ khảo sát bước TKKT do TEDI và TRICC thực hiện, địa tầng đoạn
xử lý đất yếu gồm các lớp đất chính như sau:
a/ Lớp Đất đắp: Sét pha cát lẫn dăm sạn, kết cấu nền đường BTN cũ Lớp đất đắp này được hình thành do quá trình thi công bồn hoa và nền mặt đường cũ
Bề dày lớp thay đổi từ 3.50m đến 5.0m
Tại một số vị trí (như các lỗ khoan LKBS3 và LKBS4), lớp này bao gồm 2 tầng nền mặt đường cũ Từ trên xuống gồm có : BTN dày 15-20cm, cấp phối đá dăm dày 65-70cm, BTN cũ dày 12cm và xấp xỉ 2m bên dưới là nền móng đường nguyên thủy (trước khi mở rộng đường Điện Biên Phủ lên mặt cắt 48m vào năm 2005)
b/ Lớp đất sét rất dẻo (CH), lẫn ít sò hến, màu xám xanh, trạng thái dẻo chảy – dẻo mềm Tên lớp này là 1b (TEDI) hay lớp 2 (TRICC) Lớp này có bề dày thay đổi từ 1.80m đến 7.0m Cao độ đáy lớp thay đổi từ -7.16m đến -3.06m Kết quả thí nghiệm SPT cho giá trị N30 của lớp thay đổi từ 2-4 Trong lớp đã thí nghiệm nhiều mẫu nén cố kết và 01 mẫu thí nghiệm UU,CU cùng một số điểm cắt cánh hiện trường với các chỉ tiêu đặc trưng của lớp như sau:
Bảng 1: Một số chỉ tiêu cơ lý đặc trưng lớp đất yếu (trung bình)
Đơn vị
khảo
sát
Chỉ tiêu cơ lý
tn
(T/m3) e0 B (kN/m2) Su Cc Cr OCR (deg) (kG/cm2) C
TEDI 1.638 1.608 30 0.582 0.109 1 4d51’ 0.046
TRICC 1.65 1.596 34 0.576 0.143 1 5d47’ 0.05
Trang 6c/ Lớp Đất cát lẫn bụi (SM) xen kẹp các lớp sét mỏng (d=10cm-15cm), màu xám xanh, xám trắng, trạng thái bão hoà, kết cấu rất rời rạc – chặt vừa Tên lớp là 2a (TEDI) hay lớp 3b (TRICC) Lớp này có bề dày thay đổi từ 3.40m đến 6.50m Cao độ đáy lớp thay đổi từ -8.12m đến -9.56m Kết quả thí nghiệm SPT cho giá trị N30 của lớp thay đổi từ 4 – 20
d/ Đất sét ít dẻo (CL) màu xám trắng, xám xanh Trạng thái nửa cứng Tên lớp là 5a (TEDI) hay 4e (TRICC) Bề dày lớp 2 - 9m và phân bố bên dưới lớp cát Kết quả thí nghiệm SPT cho giá trị N30 của lớp thay đổi từ 15 – 26
e/ Đất sét ít dẻo (CL) màu xám trắng, xám xanh Trạng thái cứng Tên lớp là 5b (TEDI) hay 4f (TRICC) Bề dày lớp thay đổi từ 1.80m đến 4.20m Cao độ đáy lớp thay đổi từ -17.96m đến -13.76m Kết quả thí nghiệm SPT cho giá trị N30 của lớp thay đổi từ 43-134
Bên dưới các lớp đất kể trên là tầng đá phiến sericit phong hóa có bề dày rất lớn
Khu vực khảo sát có địa hình bằng phẳng, cao độ địa hình tương đối cao so với mực nước biển nên không bị ngập nước về mùa mưa lũ Trong quá trình khảo sát cho thấy nước ngầm tại các lỗ khoan nằm tương đối nông và thay đổi từ 1.30m đến 1.50m
Nhận xét về kết quả khảo sát và điều kiện địa chất
- Xem xét các lỗ khoan đã thực hiện cho đoạn sau mố M2, có một số nhận xét sau:
o Các lỗ khoan LKBS3 và LKBS5 bố trí trong phạm vi đường đầu cầu, rất sát đuôi mố và tạo thành một mặt cắt ngang ĐCCT nên là các lỗ khoan phù hợp nhất để sử dụng tính toán xử lý đất yếu cho đoạn sát mố M2
o Vị trí lỗ khoan LKM2 trùng vào vị trí mố M2, nằm sát ngoài phạm vi nền đường đầu cầu Địa tầng tại lỗ khoan LKM2 có lớp đất yếu dày đột biến so với các lỗ lân cận (7m so với ≤4,8m)
- Căn cứ các chỉ tiêu cơ lý và cố kết của lớp đất yếu (1b) thì lớp này tương tự các lớp đất yếu được gặp phổ biến trên các công trình xây dựng trong địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Sự tồn tại của lớp đất đắp dày 3,5~5m trên bề mặt sẽ làm tăng độ ổn định của nền đường và giảm một phần độ lún Do đó các biện pháp xử lý lún cũng phải cân nhắc ưu tiên tận dụng lớp đất tốt này để giảm giá thành xây dựng
và rút ngắn thời gian thi công
- Việc tính toán phục vụ lựa chọn giải pháp thiết kế về cơ bản có thể sử dụng các lỗ khoan trong phạm vi nền đường đầu cầu (không dùng lỗ khoan LKM2)
Trang 73.2 GIẢI PHÁP THIẾT KẾ CHUNG VÀ YÊU CẦU VỀ ĐỘ LÚN DƯ
Mô tả khái quát về đoạn nền đường đầu cầu cần xử lý lún
- Đường đầu cầu vượt tầng 2 sau mố M2 phục vụ cho các luồng xe đi thẳng theo hướng Điện Biên Phủ - Tôn Đức Thắng, được thiết kế với tốc độ Vtk=60km/h Bề rộng nền đường B=17m Do yêu cầu về cảnh quan và hạn chế giải phóng mặt bằng, nền đường được thiết kế tường chắn bằng đất có cốt (tường MSE) ở cả hai bên ta luy Chiều cao tường chắn 1,8~4,3m (tính đến bề mặt hiện trạng); chiều dài tường chắn L=58,58m mỗi bên Theo các kết quả tính toán, nền đường đầu cầu đảm bảo ổn định tổng thể, tuy nhiên
độ lún của nền đường vượt quá yêu cầu của các tiêu chuẩn hiện hành
- Bên dưới đường đầu cầu sau mố M2 có đường ống cấp nước D600 bằng gang chạy dọc theo tuyến Việc xử lý lún cần đảm bảo an toàn khai thác đường ống cấp nước này
Lựa chọn các yêu cầu kỹ thuật về độ lún của nền đắp đường đầu cầu
- Đoạn nền đường đắp sau mố cầu trước tiên cần đảm bảo các tiêu chuẩn về
độ lún cố kết còn dư sau 15 năm được quy định trong các tiêu chuẩn 22TCN 262-2000 và 22TCN 211-06 Theo đó, tiêu chuẩn tối đa về độ lún dư cho phép: 20cm cho đoạn gần mố cầu và 30cm cho đoạn tiếp theo (do có đường ống cấp nước nên áp dụng như đoạn có cống)
- Độ lún của nền đường đầu cầu còn phải đảm bảo không làm phát sinh thêm nhiều chuyển vị của đường ống cấp nước Theo những thông tin ban đầu mà chúng tôi thu thập được từ đơn vị quản lý cấp nước, đường ống D600 trong khu vực này gồm các ống gang dài L=6m, nối tiếp nhau bằng mặt bích Chuyển vị góc xoay tối đa cho phép giữa 2 đoạn ống liên tiếp để đường ống làm việc bình thường là 3 độ Tạm tính độ chênh chuyển vị giữa 2 đầu 1 đoạn ống tối đa là Δv≤L*tang(3°)=600*tang(3°)=31,4cm Như vậy, trường hợp khống chế được độ chênh lún trên chiều dài 6m dưới 31cm thì sẽ đảm bảo an toàn của đường ống nước
Tổng hợp quy định về độ lún nền đắp sau mố cầu:
trong 15 năm (cm)
Ghi chú
A 22TCN 262-2000 và 22TCN 211-06
1 - Sau bệ móng mố 3x6,4m=19,2m (sau
lưng mố 19,2+2=21,2m) 20 Vtk=60km/h
2 - Đoạn còn lại 30 Vtk=60km/h, có công
trình ngầm
B Theo điều kiện chuyển vị của đường ống
TỔNG HỢP ĐỀ XUẤT ÁP DỤNG 20 Cho phạm vi từ sau lưng mố đến hết phạm
vi tường chắn đầu cầu
Trang 83.3 TÍNH TOÁN ĐỘ LÚN CỐ KẾT
Trường hợp không xử lý
- Việc tính toán dựa trên số liệu khảo sát địa chất đã cập nhật lỗ khoan bổ sung
và thiết kế trắc dọc, trắc ngang đường đầu cầu, thiết kế kích thước mố M2 đã được đệ trình Chiều cao nền đường đắp được tính lại từ bề mặt hiện trạng (không đào bóc kết cấu nền mặt đường cũ)
- Cao độ mực nước ngầm lấy theo kết quả khảo sát
- Thời gian lưu tải trước khi hoàn thành kết cấu áo đường tạm tính 1 tháng (do tiến độ rất gấp rút), do đó tổng thời gian cố kết tính toán cuối cùng gồm 15 năm sau khi hoàn thành áo đường và 0,083 năm lưu tải là 15,083 năm
- Kết quả tính toán độ lún tại tim đường trường hợp không xử lý như sau (Độ lún tại mép đường theo tính toán bằng 50-60% của độ lún tại tim đường nên không cần đề cập):
Mặt
cắt
Tính
toán
Khoảng cách đến lưng
mố
H đắp (m)
đắp (T/m3) h đất đắp
cũ (m)
h đất yếu (m)
Lún tức thời
Si (cm)
Lún
cố kết
Sc (cm)
S dư trong
15 năm (cm)
[Sdư] (cm)
- Nhận xét:
o Đoạn từ MC1÷MC3 có độ lún dư trong 15 năm kể từ khi xây dựng xong mặt đường không thỏa mãn yêu cầu, cần có biện pháp xử lý
o Từ sau mặt cắt MC3 trở đi độ lún cố kết còn dư là đạt yêu cầu và không cần xử lý Tuy nhiên để dự phòng cho điều kiện địa chất thay đổi phức tạp và đảm bảo sự đồng đều về độ lún của đoạn sát mố cầu, đề xuất kéo dài phạm vi xử lý thêm 1m qua khỏi mặt cắt MC4 (25m tính từ lưng mố hoặc 23m tính từ sau bệ mố)
IV CÁC TIÊU CHÍ XỬ LÝ LÚN ĐƯỜNG ĐẦU CẦU SAU MỐ M2
- Khống chế được độ lún dư trong thời gian khai thác công trình theo quy định
- Khống chế được độ lún tổng không ảnh hưởng an toàn đường ống cấp nước
- Biện pháp thi công an toàn và không phức tạp
- Đáp ứng tiến độ dự án
- Chi phí xây dựng hợp lý
- Hạn chế tối đa ảnh hưởng môi trường (bụi, chấn động, tiếng ồn…) trong quá trình xây dựng
- Đảm bảo mỹ quan công trình
Trang 9V NGUYÊN LÝ XỬ LÝ LÚN CỦA CÔNG TRÌNH ĐẮP TRÊN ĐẤT YẾU BẰNG VẬT
LIỆU NHẸ & CÁC PHƯƠNG ÁN VẬT LIỆU NHẸ
Nguyên tắc xử lý
- Đối với công trình nền đường, áp lực chủ yếu tác động lên nền đất tự nhiên là tải trọng bản thân nền đắp Tải trọng càng lớn và diện càng rộng thì chiều sâu và mức độ ảnh hưởng của tải trọng cũng càng tăng
- Với diện phân bố của tải trọng về cơ bản là phụ thuộc vào kích thước công trình nên khó thay đổi, thì biện pháp cơ bản nhất để giảm chiều sâu ảnh hưởng và cường độ áp lực do tải trọng gây ra là giảm tải trọng bản thân nền đắp Do chiều cao nền đắp là khống chế nên giải pháp phổ biến nhất là giảm khối lượng thể tích của vật liệu đắp nền, qua đó giảm tải trọng bản thân nền đắp
- Biện pháp giảm trọng lượng nền đắp thuần túy thường được áp dụng khi độ lún cố kết dự báo vượt tiêu chuẩn cho phép khoảng 30~400% Trường hợp
độ lún cố kết dự báo lớn hơn thì cần phối hợp với các biện pháp khác
Các phương án thông thường giảm khối lượng thể tích của vật liệu đắp nền
- Giảm khối lượng thể tích của vật liệu: Đắp bằng đá, đắp bằng vật liệu nhẹ
- Chèn các kết cấu có độ rỗng lớn vào nền đắp (dùng cống tròn, cống hộp) Bảng so sánh khối lượng thể tích nền đắp theo các phương án:
STT Phương án kết cấu nền đắp Khối lượng thể tích (T/m3)
I Phương án đắp đất thông thường
II Các phương án dùng vật liệu nhẹ
4 Bê tông nhẹ đổ toàn khối (Foam Concrete) 0,5~1,8
5 EPS (Expanded Polystyren) (Geo foam) 0,02~0,06
III Các phương án dùng kết cấu rỗng
6 Chèn cống tròn trong nền đắp 1,15~1,4
7 Chèn cống hộp trong nền đắp 0,85~1,2
Ghi chú: Các thông số trên là tương đối do còn phụ thuộc vào bố trí kết cấu cụ thể Nhận xét:
Loại vật liệu có khối lượng thể tích thấp đặc biệt là Geo foam (EPS), với khối lượng thể tích có thể đạt được là 1~2% so với đất đắp thông thường Tuy nhiên cường độ chịu nén của vật liệu này rất thấp (15~128 kPa) và giá thành đắt (khoảng 3,5 triệu đồng/m3) nên việc ứng dụng vào nền đường chỉ mới mang tính thử nghiệm, ở nước ta vật liệu này chủ yếu mới sử dụng làm vật liệu cách nhiệt, cách âm
Các phương án dùng vật liệu nhẹ đơn giản như đắp cát, đắp đá hộc thực tế không giảm được khối lượng nền đắp đáng kể (tối đa khoảng 15%) nên thực
tế không được xem như là một biện pháp để xử lý lún mà chủ yếu được sử dụng như vật liệu có tính thoát nước tốt, góc nội ma sát cao để đắp sau mố, sau lưng tường chắn…
Trang 10Phương án chèn cống tròn trong nền đắp tuy cũng giảm được đáng kể khối lượng thể tích nền đắp, nhưng thi công phức tạp, và khó xử lý độ cứng nền đường không đồng đều phía trên bề mặt, khó xử lý tường chắn bên ngoài Phương án nền đường trên cống hộp BTCT có giá thành rất cao, chỉ đạt được hiệu quả trong trường hợp nền đất rất yếu và lớp đất yếu phân bố trên bề mặt (phối hợp với móng cọc) Mặt khác, do tải trọng nền đắp chỉ giảm được tối đa khoảng 60% thì phương án này chỉ thích hợp khi độ lún dư khi không
xử lý là không quá lớn (≤200% độ lún dư cho phép) Với độ lún dư lớn hơn phải sử dụng cống hộp trên móng cọc Ngoài ra, xử lý kiến trúc bề mặt công trình cũng tương đối khó khăn
Phương án dùng bê tông bọt (Foam Concrete) đổ toàn khối với ưu điểm đặc biệt là có dải biến thiên trọng lượng thể tích vật liệu rất rộng, nên có thể điều chỉnh để tạo ra các loại nền đắp có khối lượng thể tích khác nhau tùy theo nhu cầu xử lý
Giới thiệu vật liệu bê tông bọt đổ toàn khối
- Bê tông nhẹ là loại bê tông kỹ thuật hiện nay đã được sử dụng rộng rãi trong các công trình xây dựng, sử dụng xi măng Portland, các loại phụ gia và chất tạo bọt làm thành phần chính, với cấu trúc bao gồm vô số các lỗ rỗng li ti, hình cầu, được phân bố một cách đồng đều Ở thể rắn, có thể xem bê tông nhẹ như là bê tông có cốt liệu khí
- Hiện nay, trên thế giới phổ biến hai loại công nghệ bê tông nhẹ, đó là: Bê tông khí chưng áp (Autoclaved Aerated Concrete – AAC) và bê tông bọt khí (Cellular Lightweight Concrete – CLC) Cả hai công nghệ này đều dựa trên nguyên lí đưa bọt khí vào hỗn hợp vữa xi măng nhằm làm giảm trọng lượng đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm
- Tuy nhiên, đối với kết cấu bê tông toàn khối đổ tại hiện trường thì chỉ áp dụng được công nghệ bê tông bọt khí (CLC)
- Một số chỉ tiêu cơ lý của vật liệu bê tông nhẹ:
o Bê tông nhẹ không dùng cát:
TT Khối lượng thể
tích khô, kg/m 3 Cường độ
nén, kg/cm 2 Mô đun đàn
hồi, kg/cm 2
o Bê tông nhẹ sử dụng cát: