Bài tiểu luận tổng kết tình hình thực hiện gói kích cầu thứ nhất.Đánh giá các tác động của gói kích cầu thứ nhất và nhận diện 10 vấn đề của gói kích cầuthứ nhất.. Từ đó, đưa ra các bài h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
LỚP T09
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
KÍCH CẦU NĂM 2009 NỘI DUNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
NHÓM : 01
TP Hồ Chí Minh, 10/2012
Trang 2MỤC LỤC
1.MỞ ĐẦU 3
2.NỘI DUNG KÍCH CẦU 2009 3
2.1 Tổng quan về kích cầu, học thuyết Keynes 3
2.2 Nội dung gói kích cầu 2009 6
2.2.1 Hoàn cảnh của gói kích cầu 6
2.2.2 Phân tích gói kích cầu 10
2.2.3 Đánh giá về gói kích cầu 17
3 KẾT LUẬN 20
Trang 31.MỞ ĐẦU
Kích cầu là một biện pháp kích thích sự gia tăng của tổng cầu và qua đó, kích thích tăngtrưởng kinh tế Năm 2009, đứng trước nguy cơ suy thoái kinh tế thế giới,có khả ngăn tácđộng tới kinh tế Việt Nam, chính phủ đã tung ra gói kích cầu thứ nhất trị giá 160 nghìn tỷđồng, tương đương 9 tỷ USD Việc nghiên cứu và đánh giá tác động của gói kích cầu làmột yêu cầu cấp thiết Bài tiểu luận tổng kết tình hình thực hiện gói kích cầu thứ nhất.Đánh giá các tác động của gói kích cầu thứ nhất và nhận diện 10 vấn đề của gói kích cầuthứ nhất Từ đó, đưa ra các bài học kinh nghiệm về việc thực hiện chính sách kích cầucho Việt Nam như cần có định hướng và sự chuẩn bị cần thiết khi đưa ra gói kích cầu, chỉnên duy trì kích cầu trong ngắn hạn, giám sát chặt chẽ vốn kích cầu Ngoài ra bài viết cònnêu nhận định có nên hay không thực hiện gói kích cầu lần thứ hai
đó, là hai kiểu Nhà nước, tạm gọi là “Nhà nước yếu” (còn gọi là “Nhà nước tối thiểu”)
và “Nhà nước mạnh” (còn gọi là “Nhà nước phúc lợi”)
Phái “Nhà nước yếu” chủ trương không can thiệpvào kinh tế mà để cho “bàn tay vô hình” của thịtrường điều tiết Phái này là đồ đệ của AdamSmith, tiếp đó là Friedrich Hayek (1899-1992) vàMilton Friedman (1912-2006)
Phái “Nhà nước mạnh” chủ trương Nhà nước canthiệp vào kinh tế Phái này áp dụng mô hình kinh
tế của John Maynard Keynes (1883-1946) vànhững người kế tục
Friedrich Hayek (1899-1992)
Trang 4Sau Đại khủng hoảng năm 1929, người ta cãi vả ôm sồm về nguyên nhân của nó, đa
số đổ tội cho thuyết “bàn tay vô hình” và bảo rằng thị trường tự do không đem lại lờigiải cho khủng hoảng Adam Smith bị rơi vào quên lãng Nước Mỹ dưới thời Tổngthống Franklin D Roosevelt đã thông qua một loạt các đạo luật cho phép Chính phủcan thiệp mạnh vào nền kinh tế
Sau Đại chiến 2, học thuyết Keynes được áp dụng hầu như trên toàn thế giới tư bản.Việc Liên Xô, với nền kinh tế kế hoạch, trở thành một siêu cường chỉ sau mấy thập
kỷ, khiến cho các kinh tế gia và chính trị gia phương tây lúng túng Họ không hiểuthực chất bên kia bức tường Berlin diễn ra những gì Do đó, “Nhà nước phúc lợi”,
“Nhà nước mạnh” còn được coi là mô hình bảo đảm “công bằng xã hội”, làm đốitrọng cạnh tranh với hệ thống xã hội chủ nghĩa
Dưới thời Kenedy và Johnson, trong vòng 5 năm, nước Mỹ đã tạo thêm 7 triệu việclàm, lợi nhuận tăng gấp đôi, GDP tăng 1/3 Các nhà nước phúc lợi Bắc Âu đem lại chodân chúng một cuộc sống sung túc với hệ thống “an sinh xã hội” được bảo đảm ở mứcgần như lý tưởng Vì vậy mà người ta gọi những năm 1960 là thời hoàng kim của chủnghĩa can thiệp Và khoảng thời gian 30 năm từ năm 1945 đến năm 1972 gọi là “30năm vinh quang của học thuyết Keynes”
Năm 1973, cuộc khủng hoảng dầu lửa, kéo theo đó là tình trạng suy thoái kinh tế trầmtrọng ở Mỹ và châu Âu, hệ thống kinh tế của chủ nghĩa can thiệp được dịp bộc lộ sựyếu kém và xơ cứng Mô hình của Keynes bắt đầu bị chỉ trích Tại Mỹ, lệnh cấm vậndầu lửa từ các nước Ả rập vào năm 1973 đã khiến nền kinh tế Mỹ rơi vào cuộc suythoái tồi tệ nhất kể từ năm 1930 Vụ Watergate và chiến tranh Việt Nam làm tăngthêm màu ảm đạm của bức tranh kinh tế Năm 1974 lạm phát lên mức 2 chữ số, cảnước Mỹ có đến 5 triệu người thất nghiệp Mặc dù thi hành rất ráo riết học thuyếtKeynes nhưng lạ thay là kinh tế vẫn không thể hồi phục và tăng trưởng trong giaiđoạn này Nhân loại bối rối không hiểu vì sao
Bất ngờ, Hayek được tặng giải Nobel kinh tế năm 1974 Phái “Nhà nước yếu” - chủtrương không can thiệp vào kinh tế - bắt đầu trỗi dậy mạnh mẽ
Ở Anh, Hayek trở thành nguồn cảm hứng của Margaret Thatcher Năm 1981, lên cầmquyền ở nước Anh, “bà đầm thép” này thực hiện một cuộc cách mạng tẩy bỏ hệ thốngquản lý Keynesian Giữa lúc kinh tế đình trệ, một loạt các ngành công nghiệp thua lỗ,thất nghiệp gia tăng, bà Thatcher thẳng tay giảm chi tiêu của Chính phủ, cắt bỏ trợ cấpdoanh nghiệp, trả nền kinh tế lại cho thị trường Đình công nổ ra dữ dội, nhất là côngnhân ngành than, công đoàn yêu cầu chính phủ trợ cấp để tạo công ăn việc làm nhưngngười đàn bà thép này dứt khoát không khoan nhượng Một loạt các công ty quốcdoanh được “cổ phần hóa”, cả đối với những ngành then chốt như điện, viễn thông,hàng không, xe lửa… Bà thực hiện thị trường tự do quyết liệt đến mức tư nhân hóa cả
… nhà tù Nền kinh tế được kích hoạt, nước Anh hồi sinh
Cùng năm đó, Rolnald Reagan lên làm tổng thống, ông tuyên bố : “Mục tiêu đầu tiên
và chính yếu của tôi là cải thiện thành tích của nền kinh tế bằng cách giảm đi nhiềuchiều kích của vai trò của chính phủ liên bang” Cùng với Thatcher, Reagan áp dụngthành công mô hình kinh tế thị trường tự do của Hayek-Friedman, làm hồi sinh nềnkinh tế Mỹ
John Maynard Keynes (1883-1946)
Trang 5(theo “Nhà nước mạnh, nhà nước yếu” của tác giả Hoàng Hải Vân)
“Nhà nước mạnh” (đại diện là Keynes) nhường bước cho “Nhà nước yếu” (đại diện làHayek) Thế giới vẫn tranh cãi nảy lửa suốt hàng trăm năm nay cũng chỉ vì 2 họcthuyết cơ bản này Không có học thuyết nào hoàn toàn đúng và cũng không có họcthuyết nào hoàn toàn sai lầm Chúng thường xuyên bổ trợ cho nhau và khi học thuyếtnày suy tàn cũng là lúc học thuyết kia “hưng thịnh”
Đến những năm gần đây, lại chính do việc thả nổi thị trường tự do nhà đất Mỹ màcuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lại bùng nổ (2007 đến nay), và chính phủ Mỹbuộc phải quay trở lại với “Nhà nước mạnh” Bằng chứng rõ ràng nhất là thông quagói kích cầu đầu tiên là 700 tỷ USD cuối thời Tổng thống Bush, và 787 USD tỷ khởiđầu thời Obama Sau đó các nước khác bắt đầu thực hiện các gói kích cầu khác nhautùy vào đặc trưng mỗi nước Bài viết này chỉ so sánh sơ lược các gói kích cầu của Mỹ,Trung Quốc và Việt Nam
2.1.2 Kích cầu là gì?
Trước đây, mỗi khi có khủng hoảng kinh tế, các nhà kinh tế cho rằng giá cả và tiền công
sẽ giảm đi; các nhà sản xuất sẽ có động lực đẩy mạnh thuê mướn lao động và mở rộngsản xuất, nhờ đó nền kinh tế sẽ phục hồi Nhưng Keynes lại quan sát cuộc Đại khủnghoảng (1929-1933) và thấy: tiền công không hề giảm, việc làm cũng không tăng, và sảnxuất mãi không hồi phục nổi Từ đó, Keynes cho rằng thị trường không hoàn hảo như cácnhà kinh tế học cổ điển nghĩ
Theo Keynes, sở dĩ có khủng hoảng và thất nghiệp là do thiếu sự can thiệp của Nhà nướcvào nền kinh tế Học thuyết Keynes nhấn mạnh tới tổng cầu của nền kinh tế vì ông chorằng sự giảm sút của tổng cầu là nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng Vì vậy, cần phảinâng cao tổng cầu để kích thích kinh tế Các công cụ kinh tế chủ yếu để điều tiết nhằmnâng cao tổng cầu là chính sách khuyến khích đầu tư, công cụ tài chính và chính sách tàikhoá, công cụ tiền tệ và chính sách tiền tệ.Vì vậy, theo Keynes khi xảy ra khủng hoảngkinh tế cần thực hiện gói kích cầu
Kích cầu là biện pháp đẩy mạnh chi tiêu ròng của chính phủ (hay còn gọi tiêu dùng công
cộng) để làm tăng tổng cầu, kích thích tăng trưởng kinh tế
Biện pháp kích cầu cụ thể có thể là giảm thuế hoặc tăng chi tiêu hoặc cả hai Kích cầu
thường chỉ được dùng khi nền kinh tế lâm vào trì trệ hay suy thoái, đang cần vực dậy.Kích cầu đặc biệt hay được sử dụng khi nền kinh tế rơi vào trạng thái bẫy thanh khoản, làkhi mà chính sách tiền tệ trở nên mất hiệu lực vì lãi suất đã quá thấp
Theo nhà kinh tế Lawrence Summers, để biện pháp kích cầu có hiệu quả thì việc thực
hiện nó phải đảm bảo: đúng lúc, trúng đích và vừa đủ.
Đúng lúc tức là phải thực hiện kích cầu ngay khi các doanh nghiệp chưa thu hẹp sản xuất
và các hộ gia đình chưa thu hẹp tiêu dùng Nếu thực hiện sớm quá, kích cầu có thể làmcho nền kinh tế trở nên nóng và tăng áp lực lạm phát Nhưng nếu thực hiện chậm quá, thìhiệu quả của kích cầu sẽ giảm Việc thực hiện kích cầu đúng lúc càng phải được chú ýnếu các quá trình chính trị và hành chính để cho một gói kích cầu được phê duyệt và triểnkhai là phức tạp Thường thì chính phủ phải đệ trình quốc hội kế hoạch kích cầu và phải
Trang 6được cơ quan lập pháp tối cao này thông qua Và, không phải lúc nào công việc này cũngsuôn sẻ.
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất đối với việc thực hiện kích cầu đúng lúc chính là sự thiếuchính xác trong xác định thời điểm chuyên pha của chu kỳ kinh tế Có trường hợp kinh tế
đã chuyển hẳn sang pha suy thoái một thời gian rồi mà công tác thu thập và phân tích sốliệu thống kê không đủ khả năng phán đoán ra
Trúng đích tức là hướng tới những chủ thể kinh tế nào tiêu dùng nhanh hơn khoản tài
chính được hưởng nhờ kích cầu và do đó sớm gây ra tác động lan tỏa tới tổng cầu hơn;đồng thời hướng tới những chủ thể kinh tế nào bị tác động bất lợi hơn cả bởi suy thoáikinh tế Thường thì đó là những chủ thể kinh tế có thu nhập thấp hơn Người có thu nhậpcao thường ít giảm tiêu dùng hơn so với người có thu nhập thấp trong thời kỳ kinh tếquốc dân khó khăn Việc hỗ trợ các gia đình có thu nhập thấp để họ không phải giảm tiêudùng hay thậm chí còn tăng tiêu dùng sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa, kích thích doanh nghiệp
mở rộng sản xuất và thuê mướn thêm lao động
Để kích cầu trúng đich, các nhà hoạch định chính sách thường dựa vào các mô hình kinh
tế lượng để mô phỏng hiệu quả của gói kích cầu qua các kịch bản khác nhau tương ướngvới các mục tiêu khác nhau, từ đó tìm ra mục tiêu hợp lý nhất
Vừa đủ tức là gói kích cầu sẽ hết hiệu lực khi nền kinh tế đã trở nên tốt hơn Nếu gói
kích cầu quá bé thì kích thích sẽ bị hụt hơi và tổng cầu có thể không bị kích thích nữa,khiến cho gói kích cầu trở thành lãng phí Ngược lại gói kích cầu lớn qua tạo ra tác độngkéo dài khiến cho nền kinh tế đã hồi phục mà vẫn trong trạng thái tiếp tục được kích thíchthì sẽ dẫn tới kinh tế mở rộng quá mức, lạm phát tăng lên Điều này càng được chú ý nếungân sách nhà nước và dự trữ ngoại hối nhà nước không dư dật
2.2 Nội dung gói kích cầu 2009
2.2.1 Hoàn cảnh của gói kích cầu
a) Kinh tế thế giới
Năm 2008, cuộc suy thoái của nền kinh tế thế giới và cuộc khủng hoảng tài chính toàncầu bắt đầu bùng nổ Nguyên nhân sâu xa của cơn địa chấn tài chính bắt nguồn từ khủnghoảng tín dụng và nhà đất tại Mỹ Bong bóng bất động sản càng lúc càng phình to đã đặtthị trường nhà đất và tiếp đó là tín dụng tại Mỹ cũng như nhiều quốc gia châu Âu vào thếnguy hiểm
Cho vay dưới chuẩn tăng mạnh là khởi điểm cho quả bong bóng tại thị trường nhà đất.Các ngân hàng cho vay cầm cố bất động sản mà không quan tâm tới khả năng chi trả củakhách Dư nợ trong mảng này nhảy từ 160 tỷ USD của năm 2001 lên 540 tỷ vào năm
2004 và bùng nổ thành 1.300 tỷ vào năm 2007 Theo ước tính vào cuối quý III năm 2008,hơn một nửa giá trị thị trường nhà đất Mỹ là tiền đi vay với một phần ba các khoản này là
nợ khó đòi Trước đó, để đối phó với lạm phát, FED đã liên tiếp tăng lãi suất từ 1% vàogiữa năm 2004 lên 5,25% vào giữa năm 2006 khiến lãi vay phải trả trở thành áp lực quálớn với người mua nhà Thị trường bất động sản thời điểm này bắt đầu có dấu hiệu đóngbăng và sụt giảm
Trang 7Những bất ổn từ hoạt động cho vay dưới chuẩn khiến giá nhà sụt giảm mạnh, thị trườngnhà đất đóng băng Cuộc khủng hoảng từ đó lan từ thị trường bất động sản sang thịtrường tín dụng và cuối cùng dẫn đến khủng hoảng tài chính tại Mỹ và tràn sang nhiềunước châu Âu, khiến nhiều công ty lớn phá sản.
Tình trạng đóng băng của hệ thống tài chính tiếp tục dẫn đến sự giảm sút trong các hoạtđộng sản xuất của doanh nghiệp cũng như chi tiêu của người dân Hệ quả của tình trạng
Biểu đồ thể hiện giá nhà đất Mỹ giai đoạn 2000-2012 (Lấy mốc giá nhà đất năm 2000 là 100%) Sau khi liên tục tăng và đạt đỉnh vào năm 2007 thì “bong bóng bất động sản” vỡ và giá nhà đất sụt giảm mạnh vào năm 2008, 2009.
Trang 8trên là nhiều doanh nghiệp phá sản và đẩy tỷ lệ thất nghiệp tại nhiều quốc gia tăng cao,chi tiêu và chỉ số lòng tin của người tiêu dùng rơi xuống mức thấp nhất trong nhiều năm.Trong ba tháng, tính tới cuối tháng 9, đã có hơn 30.000 doanh nghiệp Mỹ phá sản Theo
đó, tỷ lệ thất nghiệp tại quốc gia này tính tới 6/12 đã lên tới 6,7%, mức cao nhất trongvòng 15 năm qua Ngoài ra, một số kỷ lục buồn tồn tại hàng chục năm về số người mớithất nghiệp theo tuần và tháng cũng đã bị phá trong quý IV
Chưa dừng lại ở đó, mọi chuyện còn có thể tồi tệ hơn nữa nếu ba nhà sản xuất xe hơihàng đầu là Ford, General Motors (GM), và Chrysler phá sản Ngành công nghiệp xe hơicủa Mỹ đã bị khủng hoảng tài chính "quật" cho tơi tả
Theo ước tính của các nhà kinh tế, nếu các công ty được coi là biểu tưởng của nền côngnghiệp xe hơi Mỹ phá sản, sẽ có thêm khoảng 2,5 triệu lao động mất việc làm Tỷ lệ thấtnghiệp tại Mỹ từ đó cũng sẽ leo thang với tốc độ chóng mặt
b) Kinh tế Việt Nam
Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớn trong năm 2008 đã đẩykinh tế thế giới, trong đó có Việt nam vào tình trạng suy thoái, làm hẹp đáng kể thịtrường xuất khẩu, thị trường vốn, thị trường lao động và tác động tiêu cực tới nhiều lĩnhvực kinh tế - xã hội khác Chính phủ đã dồn đã dồn dập triển khai các biện pháp và cáccông trình để đạt các mục tiêu(tăng trưởng GDP 9%, vượt ngưỡng mức có thu nhập trungbình ngay năm 2008) một cách nhanh chóng thiếu thẩm định các chuyên gia dẫn đến lạmphát cao, nhập siêu vượt quá mức an toàn,thị trường chứng khoán giảm kỷ lục
Trong khi đó, thách thức lớn nhất với kinh tế Việt Nam năm 2009 là đối mặt với những
tình huống tiềm ẩn khó lường của cơn bão khủng khoảng tài chính thế giới, các dư chấncủa nó tiếp tục gây ra các tác động xấu đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam :Thương mại, tài chính ngân hàng, đầu tư nước ngoài
+ Về thương mại, thị trường xuất khẩu sẽ bị thu hẹp, các thị trường quan trọng như
Mỹ, Nhật bản, Châu Âu sức mua không còn như những năm trước Hàng hoáViệt Nam phải cạnh tranh khốc liệt hơn với hàng hoá cùng loại của các nước châu á.Thuận lợi về giá sẽ không còn, khả năng thanh toán của các đối tác cũng không thuận lợinhư những năm trước Nhiều mặt hàng xuất khẩu truyền thống, có thế mạnh của ta như:
Tình hình phá sản ở Mỹ giai đoạn 2003-2010
Năm 2009 có tới 12.5 triệu người đang thất nghiệp ở Hoa Kỳ (Trong bảng là dòng người biểu tình với khẩu hiệu :”Tôi cần việc làm”)
Trang 9may mặc, giày da, cao su, gạo, cà phê, cá, tôm, hàng thủ công mỹ nghệ chắc chắn sẽgiảm lượng xuất khẩu.
+ Thị trường tài chính, ngân hàng sẽ có nhiều biến động khó lường về tỷ giá và lãi suấtngoại tệ trong đó đáng lưu ý là tỷ giá và lãi suất USD Thị trường chứng khoán sẽ còngặp khó khăn, luồng tiền đầu tư gián tiếp qua thị trường chứng khoán có khả năng suygiảm
+ Việc huy động các nguồn vốn cho nền kinh tế không còn thuận lợi như trước Đầu tưtrực tiếp nước ngoài (FDI) và viện trợ phát triển chính thức (ODA) sẽ chững lại, dòngkiều hối sẽ không dồi dào như những năm trước
Do những tác động trực tiếp và gián tiếp nêu trên, khủng khoảng kinh tế thế giới đã, đang
và sẽ ảnh hưởng tới mục tiêu phát triển bền vững của nền kinh tế nước ta, trừ ngànhthông tin liên lạc có thể trụ vững còn hầu hết các ngành kinh tế khác ít có khả năng pháttriển, tăng trưởng cao hơn các năm trước Nhiều doanh nghiệp thuộc khu vực côngnghiệp, dịch vụ, thương mại và cả khu vực nông thôn sẽ thu hẹp sản xuất và kinh doanh,thậm chí phá sản, khiến cho người lao động mất việc làm, đời sống khó khăn Do cácnước gặp khó khăn về kinh tế nên khả năng tiếp thu lao động xuất khẩu của ta cũng sẽgiảm Do thiếu vốn các công trình trọng điểm, đặc biệt là các công trình cơ sở hạ tầngphục vụ các nhu cầu phát triển trước mắt và lâu dài rất dễ lâm vào tình trạng thi côngdang dở, chậm đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả Mưa lớn ở miền Trung và rét đậmrét hại ở miền Bắc đã gây tổn thất lớn cho nông nghiệp Điều này cho thấy nông nghiệpnăm nay sẽ còn điêu đứng Thị trường hàng hoá nội địa sẽ xuất hiện nhiều yếu tố bất lợikhi hàng hoá nước ngoài tiếp tục tràn vào nước ta
Biểu đồ thể hiện chỉ số chứng khoán VN-Index đầu năm 2006 đến 8/2008 Năm 2007 đạt đỉnh gần 1200 điểm Nhưng qua năm 2008 lại tụt dốc thê thảm chỉ còn 400 điểm, sau đó vẫn chưa thể phục hồi được
Trang 10Việc huy động các tiềm năng vào phát triển kinh tế những năm qua, không có một chiếnlược ổn định và thống nhất, mặt khác lại thiếu sự lựa chọn sáng suốt trong khai thác vàquản lý, đến nay khi nền kinh tế gặp khó khăn, nó đã bộc lộ những khiếm khuyết, bất lợicho nền kinh tế.
Kinh tế phát triển chậm, tăng trưởng thiếu bền vững, các nguồn lực lại chưa được chú ýtrong sử dụng khai thác, dẫn đến nhiều vấn đề xã hội càng khó khăn thêm Sản xuất đìnhtrệ, người lao động ở các khu vực nông thôn và thành thị, công nghiệp, dịch vụ thươngmaị, du lịch và nông nghiệp đều không đủ việc làm khiến cho họ không có thu nhập, đờisống hàng ngày đã khó khăn càng khó khăn thêm Công cuộc xoá đói giảm nghèo càngtrở nên cấp bách Khả năng ứng phó với các tình huống do thiên tai của người dân càngkhó khăn hơn Tất cả những khó khăn trong đời sống xã hội đó sẽ gây sức ép với nềnkinh tế, đổ dồn gánh nặng lên ngân sách quốc gia
Chính do những sức ép trên đã buộc nhà nước ta phải có biện pháp mạnh để ổn định vàvực dậy nền kinh tế, không thể “khoanh tay đứng nhìn”
2.2.2 Phân tích gói kích cầu
Quy mô gói kích cầu đến nay ước khoảng 143 nghìn tỷ đồng, tương đương với khoảng 8
tỷ USD bao gồm nhiều khoản được sử dụng cho năm 2009 và một số khoản chi trongnăm tới
Thứ nhất, hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng: Khoảng 17.000 tỷ đồng
Tại Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 23/01/2009, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép hỗ trợ lãi suất 4% cho các tổ chức, cá nhân vay vốn lưu động để sản xuất, kinh doanh, thời hạn vay được hỗ trợ lãi suất với thời gian tối đa là 08 tháng đối với các khoản vay theo hợp đồng tín dụng được ký kết và giải ngân trong khoảng thời gian từ ngày 01/02 đến ngày 31/12/2009
Đồng thời, để góp phần thúc đẩy nhanh quá trình phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng sau suy
Biểu đồ thể hiện thâm hụt ngân sách và so với tổng GDP giai đoạn 2005-2011