Những kiến nghị giải quyết những hạn chế của vốn FDI ở các quốc gia đang phát triển
Trang 1I Tổng quan về FDI và các nước đang phát triển:
1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI):
a) Khái quát FDI:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) là hìnhthức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khácbằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nướcngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này
b) Các hình thức FDI:
i Phân theo bản chất đầu tư
Đầu tư phương tiện hoạt động: Đầu tư phương
tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua sắm vàthiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư Hình thứcnày làm tăng khối lượng đầu tư vào
Mua lại và sáp nhập: Mua lại và sáp nhập là
hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạtđộng sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể đang hoạtđộng ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp cóvốn FDI ở nước nhận đầu tư Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăngkhối lượng đầu tư vào
ii Phân theo tính chất dòng vốn
• Vốn chứng khoán: Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp do một công ty trong nước phát hành ở
một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý củacông ty
Trang 2• Vốn tái đầu tư: Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận
thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm
• Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ: Giữa các chi nhánh hay
công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay đểđầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau
iii Phân theo động cơ của nhà đầu tư
Vốn tìm kiếm tài nguyên: Đây là các dòng vốn nhằm khai thác
nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và rồi rào ở nước tiếp nhận, khaithác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặckhai thác nguồn lao động kỹ năng rồi rào Nguồn vốn loại nàycòn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ởnước tiếp nhận (như các điểm du lịch nổi tiếng) Nó cũng cònnhằm khai thác các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận Ngoài ra,hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyênchiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh
Vốn tìm kiếm hiệu quả: Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá
thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyênliệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện nước,chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuấtkinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, v.v
Vốn tìm kiếm thị trường: Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng
thị trường hoặc giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh giànhmất Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệpđịnh hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vựckhác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thịtrường khu vực và toàn cầu
Trang 32 Các nước đang phát triển:
a) Định nghĩa:
Các nước đang phát triển là các nước thuộc thế giới thứ ba – các nước cónền nông nghiệp lạc hậu, hoặc các nước nông – công nghiệp đang từ sảnxuất nhỏ tiến lên con đường công nghiệp hóa Những nước này được chialàm ba loại: những nước có mức thu nhập trung bình, đạt mứcGDP/người trên 2000 USD, những nước có mức thu nhập thấp đạt mứctrên 600 USD/người và những nước mức thu nhập rất thấp đạt dưới 600USD/người
- Các nước đang phát triển phải đối đầu với một thách thức là năng suấtlao động thấp Do không có cơ hội được học hành đầy đủ, tỷ lệ biết chữ ởmức rất thấp nên lao động ở các nước đang phát triển thường có tay nghềkhông cao, chủ yếu là lao động phổ thông Hơn thế nữa, do thiếu vốn vàcông nghệ, các nước đang phát triển càng gặp khó khăn trong việc nângcao năng suất lao động Đây luôn là vấn đề gây đau đầu cho các nhàhoạch định chính sách ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
Trang 4- Tốc độ gia tăng dân số, vấn đề người ăn theo, gánh nặng phụ thuộc lànhững khó khăn đã đeo đẳng các nước đang phát triển từ rất lâu Nó như
là một trở lực kìm hãm sự phát triển đi lên của những nước này Dân sốnhững nước này vốn đã đông, sự bùng nổ về dân số ở những quốc gianàyđã tạo ra một hạn chế lớn cho phát triển kinh tế Tỷ lệ gia tăng dân sốthường ở mức cao hơn tỷ lệ tăng trưởng kinh tế đã làm cho mức sống củanhân dân ngày càng giảm Thu nhập giảm tất yếu dẫn đến giảm sức mua
và tỷ lệ tiết kiệm, sự mất cân đối giữa tích lũy và đầu tư đã làm kìm hãmsản xuất, trong khi dân số tiếp tục gia tăng, tạo áp lực về việc làm và làmcho năng suất lao động không tăng lên được
- Do áp lực tăng dân số, quy mô kinh tế không được mở rộng, làm chonhiều lao động không kiếm được việc làm Do họ thường không có taynghề, chỉ là lao động thủ công, chưa qua đào tạo cho nên ở nhưng nướcnày xảy ra tình trạng thừa lao động giản đơn và thiếu lao động có trình độcao Để giải quyết vấn đề này, đòi hỏi rất nhiều thời gian cũng như chiphí để đào tạo lao động, điều này thì rất khó với các nước đang phát triển
do họ thiếu thốn về kinh nghiệm cũng như tài chính để thực hiện dự ánnày hiệu quả Trong một nền kinh tế tri thức như hiện nay, muốn pháttriển nhanh và bền vững thì chỉ có con đường là giáo dục đào tạo thì mới
có thể đưa đất nước tiến nhanh về kinh tế
- Nền kinh tế phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu sảnphẩm thô có trình độ kỹ thuật sản xuất thấp Lịch sử phát triển kinh tế đãchứng minh rằng nền kinh tế không thể chuyển động đi lên nếu không cócông nghiệp phát triển Sự ra đời của các phương thức sản xuất mới luôn
đi đôi với cách mạng công nghiệp Các nên kinh tế đạt được tốc độ tăngtrưởng kinh tế cao đều có nguồn gốc từ tốc độ tăng của ngành côngnghiệp Các nước đang phát triển đã bị các nước phát triển bỏ xa về trình
độ công nghệ từ 3 - 6 thập kỷ, khoảng cách công nghệ quá lớn làm cho
Trang 5các nước đang phát triển khó tận dụng được lợi thế của các nước đi sau
do quá trình phân công lao động quốc tế mới đưa lại
Các quốc gia đang phát triển phần lớn có xuất phát điểm thấp, nền kinh
tế còn lạc hậu với đầu tầu phát triển chính là nông nghiệp Vì thế nhu cầu
về vốn, về khoa học kỹ thuật ở các nước này vô cùng lớn.Nguồn vốntrong nước không thể đáp ứng nhu cầu phát triển nên vốn đầu tư nướcngoài được xem là cứu cánh giúp các nước này phát triển kinh tế, cũngnhư trước đây nguồn vốn này đã giúp Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore trởthành các con rồng châu Á
Theo số liệu của Ngân hàng Thế Giới thì vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài (FDI) chiếm phần lớn nhất trong tổng nguồn vốn đầu tư nước ngoàicủa toàn thế giới(khoảng gần 50%, năm 2006 đạt mức 1.306 tỷ USD –
Trang 6mức cao thứ 2 từ trước đến nay) Vậy sự thật thì tình hình đầu tư FDI ởcác nước đang phát triển đang diễn ra như thế nào?
Source: UNCTAD (percent)Như vậy, tính đến năm 2005 thì nguồn vốn đổ vào các quốc gia đangphát triển chiếm khoảng 35.9% ( tăng khá so với 20.3% năm 1980 ) và có
xu hướng ngày một tăng lên ( trong khi nguồn FDI đầu tư vào các quốcgia phát triển có xu hướng giảm đi về mặt tỷ trọng trong tổng FDI toàncầu)
Trang 7Vậy những nguồn vốn khổng lồ này xuất phát từ đâu? Theo các nghiêncứu gần đây của UNCTAD thì các tập đoàn đa quốc gia(TNCs ) đang lànguồn cung cấp chủ yếu FDI cho toàn cầu Và mục tiêu của các tập đoànnày là các quốc gia đang phát triển ( đặc biệt là các nước Đông Á, Nam Á
và Đông Nam Á- 2/3 số vốn FDI đầu tư cho các nước đang phát triển tậptrung ở đây) Nguyên nhân là do các nước này có các chính sách thu hútvốn đặc biệt hấp dẫn, đem lại nguồn lợi nhuận khổng lồ cho các nhà đầu
tư – điều mà họ không thể tìm được ở nước mình
Sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á 1997( nguyên nhânđược cho là do sự đổ vào ồ ạt và rút ra quá nhanh của vốn đầu tư nướcngoài), các nước đang phát triển đều có thái độ e ngại khi tiếp nhận vốnđầu tư nước ngoài Nhưng hiện nay tình hình đã hoàn toàn khác, để giảiquyết những khó khăn về vốn, hầu hết các nước đang phát triển đều cóthái độ hồ hởi đối với các nhà đầu tư nước ngoài Các nước này đều cốgắng tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà đầu tư như giảm thuế, đưa ranhững chính sách giảm bớt phiền hà cho các nhà đầu tư nước ngoài Do
Trang 8thế mà nguồn vốn FDI đổ vào các quốc gia có chính sách mở ngày mộttăng.
2 Ảnh hưởng tiêu cực của FDI:
FDI thực sự phát huy được vai trò chiến lược của nó từ sau chiến tranhthế giới thứ II, khi Mỹ đổ tiền ào ạt vào châu Âu theo kế hoạch Marshall
để vực dậy lục địa bị chiến tranh tàn phá này Sau đó là sự đầu tư lẫnnhau của các nước châu Âu thực hiện liên minh tư bản, tăng cường khảnăng kinh tế chống lại độc quyền của nhà đầu tư Mỹ Cho đến ngày nay,FDI trở thành tất yếu kinh tế trong điều kiện quốc tế hóa sản xuất và lưuthông Sẽ không có một quốc gia nào không cần đến nguồn lực đầu tưtrực tiếp nước ngoài và coi đó là nguồn lực quan trọng để từng bước hòanhập với cộng đồng
Ở thời kỳ đầu mới phát triển, trình độ kinh tế của các nước thế giới thứ
3 thấp, do đó khả năng tích lũy trong nội bộ nền kinh tế gặp hạn chế.Trong khi đó nhu cầu về vốn để phát triển nhằm rút ngắn khoảng cách vớinhóm các nước công nghiệp phát triển lại lớn Vòng luẩn quẩn của đóinghèo sẽ không bị phá vỡ nếu không có cú huých từ ngoài tác động vào
Và Fdi trở thành một cú huých có lực tác động mạnh nhất Dòng vốn đổvào nền kinh tế của các quốc gia nghèo đói, giống như nước đối với mộtngười khát vậy Những khu chế xuất, khu công nghiệp, những nhà máymọc lên mỗi ngày Cùng với nó, lượng lao động được giải quyết việc làmtăng theo cấp số nhân, kinh tế từng bước được chuyển dịch hợp lý hơn,tích cực hơn Nền sản xuất trong nước được tiếp cận với những côngnghệ mới, tư duy kinh tế mới, và đi cùng với nó, năng lực cạnh tranh củacác quốc gia trên thị trường thế giới được cải thiện Hoạt động FDI còngóp phần làm phong phú, đa dạng và sâu sắc quan hệ đối ngoại của cácnước đang phát triển Kinh tế trong nước dần tham gia sâu rộng hơn vào
Trang 9nền kinh tế khu vực và thế giới, tạo điều kiện để các nước tham gia cáchiệp định hợp tác song phương và đa phương.
Nhưng cái gì cũng có tính 2 mặt của nó Và việc thu hút FDI cũngkhông nằm ngoài quy luật này Trên thực tế những nhà nghiên cứu cũngnhư các chuyên gia đã sớm nhận thấy những hạn chế của FDI và đưa ranhững cảnh báo tới các nước đang phát triển, như I Wanter - một nhàhoạt động môi trường của Mỹ từng nói về một trong những hạn chế đó: “Việc xuất khẩu chất bẩn gián tiếp thông qua đầu tư tư bản là quốc sáchcủa các nước công nghiệp phát triển, và người thực hiện là các TNCs”.Nhìn chung lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài thường có những tác độngtiêu cực sau:
• Nếu phía nước ngoài nắm quá nhiều quyền sở hữu thì nguy cơ
“giảm vốn” có thể xảy ra: Tức là các công ty nước ngoài khi làm ăn có lãithì bắt đầu chuyển vốn về nước chủ đầu tư tức là đồng nội tệ sẽ được đổi
ra đồng tiền của nước chủ đầu tư, chuyển ra nước ngoài khiến vốn sẽ bịchuyển ra khỏi nước nhận đầu tư
• Doanh nghiệp FDI trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp hoặc tiềmtàng của các doanh nghiệp trong nước: FDI là công cụ thâm nhập thịtrường có sức mạnh như “ phát đại bác xuyên thủng hàng rào nội địa”, cókhả năng bóp chết những doanh nghiệp nội địa nhờ tính khoa học và hiệuquả vượt trội của mình
• Nguy cơ trở thành bãi rác công nghệ:
• Ô nhiễm môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên:
• Lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị bị ảnh hưởng
Trang 10Trong đó 3 hạn chế thường được nhắc đến và đang ngày càng bộc lộ rõ
đó là: (1) Nguy cơ trở thành bãi rác công nghệ,(2) Ô nhiễm môi trường,cạn kiệt tài nguyên,(3) Lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị bị ảnh hưởng.Những hạn chế này không phải chỉ tập trung trong một vài nhóm nước
mà đang trở thành nguy cơ phổ biến, nhỡn tiền ở hầu hết các nước nhậnđầu tư Vì thế việc tìm ra biểu hiện, nghiên cứu nguyên nhân và tìm ragiải pháp đang là những ưu tiên hàng đầu cho các nước này
a ) Nguy cơ trở thành bãi rác công nghệ:
Độc quyền về công nghệ là sức mạnh, là con át chủ bài của các công ty
đa quốc gia Như một nguyên tắc các TNCs không bao giờ chuyển giaonhững công nghệ tiên tiến nhất của mình cho các chi nhánh ở các nướcđang phát triển Không phải lúc nào việc chuyển giao công nghệ cũngmang ý nghĩa tốt đẹp Mục đích của các tập đoàn đa quốc gia là tiết kiệm
tư bản, tiếp tục kéo dài chu kỳ sống của công nghệ đã trở nên lạc hậu tạinước họ, mang nó đến những nước đang khát vốn và nghèo về công nghệ
Điều này đã được đề cập đến trong Lý thuyết “ Vòng đời quốc tế củasản phẩm” ( International product life cycle- IPLC) của RaymondVernon Theo đó sau khi đã sử dụng hết khấu hao dây chuyền công nghệ,khi nhu cầu về sản phẩm trong nước giảm, trong khi nhu cầu ở nướcngoài lại tăng thì sản xuất được mở rộng thông qua FDI, những nhà máy
ở nước ngoài bắt đầu được xây dựng Và nước xuất khẩu thì đang nghiêncứu để áp dụng công nghệ vượt trội hơn, hiệu quả hơn, còn nước nhậpkhẩu thì xây dựng vòng đời mới cho những kỹ thuật bị bỏ đi
Các TNCs đã nhận ra tính hai mặt của việc đầu tư công nghệ tại cácnước đang phát triển Họ cho rằng một mặt, khi chia sẻ bí mật bản quyềntrí tuệ với các chi nhánh tại các nước nhận đầu tư rất dễ dẫn đến việc rò rỉcác thông tin về bí mật công nghệ, về bản quyền trí tuệ Mặt khác, nếu
Trang 11các công ty liên doanh ở bản địa có tham vọng thì họ rất có thể tận dụngnhững kinh nghiệm, những kỹ thuật họ đã được tiếp cận để phát triểnthương hiệu riêng của mình Khi điều này xảy ra, các TNCs phải đối mặtvới những đối thủ đầy nguy hiểm, hiểu rõ về mình ( http://hnew.org.vn/ Detail.aspx?IDCat=175&ID=323)
Vì thế chuyển giao những công nghệ đã qua sử dụng, những công đã lạchậu, gây hao mòn ở chính quốc cho các nước nhận đầu tư là một cách đểsản phẩm sản xuất ra tại các nước đang phát triển không đủ sức cạnhtranh cũng như đánh bại sản phẩm của công ty mẹ trên thị trường quốc tế
và chính quốc Có thể nói xu hướng của các nhà đầu tư là không muốnphổ biến công nghệ của mình, đặc biệt dưới hình thức liên doanh Một ví
dụ điển hình là các nhà đầu tư Nhật Bản rút từ đầu tư nước ngoài về đẩu
tư trong nước trong thời gian gần đây với khối lượng lớn nhằm bảo toàn
công nghệ (Nguồn:http://www.moi.gov.vn/BForum) Hay hiện nay, trong
quá trình điều chỉnh cơ cấu ngành nghề và thay đổi phương thức tổ chứcsản xuất trên phạm vi toàn cầu của các công ty xuyên quốc gia, các ngànhchế tạo của thế giới đang không ngừng chuyển đến Trung Quốc Các nhàđầu tư nước ngoài không chỉ sản xuất các sản phẩm lớn, trình độ kỹ thuậtthấp tại Trung Quốc mà cũng sản xuất cả những sản phẩm cỡ vừa, trình
độ kỹ thuật cao Năm 2004, Trung Quốc xuất khẩu 165,5 tỷ USD sảnphẩm công nghệ cao, trong đó có 87% là của doanh nghiệp có vốn nướcngoài, 65% là của doanh nghiệp do nước ngoài đầu tư 100% (đầu tư100% có lợi cho việc nhà đầu tư nước ngoài kiểm soát bí mật kỹ thuật cơbản, độc chiếm lợi nhuận cao) và nắm quyền xuất khẩu sản phẩm côngnghệ cao, mang lại lợi nhuận lớn Trong điều kiện cạnh tranh ngày càngquyết liệt, nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã tăng cường việc kiểm soát
bí quyết công nghệ, kỹ thuật độc đáo như căn cứ vào số tiền bán hàng thuđược để tính tiền sử dụng li-xăng, sử dụng kỹ thuật độc đáo, tận dụng ưu
Trang 12thế kỹ thuật nắm được để thu lợi nhuận cao, khiến cho mức bội chi trongtài khoản sử dụng li-xăng tăng lên tương đối nhanh Mức bội chi trong tàikhoản sử dụng li-xăng tăng lên chứng tỏ việc sử dụng li-xăng của nướcngoài tăng tương đối nhanh còn kỹ thuật độc đáo, thương hiệu bản xứtương đối ít Nó cũng chứng tỏ trong quá trình đầu tư tại Trung Quốc, cáccông ty nước ngoài ít chuyển giao công nghệ cho Trung Quốc Đó là điềutrái với mong muốn ban đầu của Trung Quốc khi thu hút đầu tư trực tiếpcủa nước ngoài.
Như vậy, vô hình chung các nước đang phát triển trở thành nơi tập kếtcủa những công nghệ lạc hậu, đã hết khấu hao ở các nước tư bản pháttriển Chẳng bao lâu sau khi các nhà đầu tư kết thúc công việc của mình,khi chuyển giao công nghệ được tiến hành, nước đang phát triển sẽ đượcchuyển giao những gì? Họ sẽ tiếp tục sản xuất với công nghệ đã quá lạchậu Chi phí họ bỏ ra để khắc phục những hậu quả từ công nghệ lỗi thờiấy: ô nhiễm môi trường, vấn đề an toàn lao động, năng suất thấp so vớinăng suất trung bình của thế giới là rất lớn Rồi khi những công nghệ ấy
đã quá xa so với công nghệ của thế giới thì họ sẽ giải quyết nó thế nào?Chưa có ai có được câu trả lời và cũng chưa có một giải pháp nào đượcđưa ra
Với chiêu bài xuất khẩu công nghệ, các nước phát triển thông qua cáccông ty đa quốc gia đã giải quyết được những công nghệ bỏ đi, khôngphù hợp với nền sản xuất của họ Còn các nước đang phát triển tưởng nhưđược mở rộng, được tiếp cận với quy trình kỹ thuật tiên tiến của thế giới.Nhưng chẳng bao lâu họ sẽ nhận ra rằng họ đang bị khống chế về côngnghệ, khoảng cách của họ với các nước công nghiệp phát triển đang ngàycàng xa dần, rằng họ đang trở thành sân sau, thành “ bãi rác công nghệ”,nơi tập trung những dây chuyền lạc hậu, nơi tồn đọng những công nghệkhông còn được sủng ái nữa
Trang 13b) Ảnh hưởng đến môi trường và làm khánh kiệt tài nguyên thiên nhiên
Một trong những phê phán phổ biến nhất về FDI là các công ty đa
quốc gia thường cố để chuyển các nhà máy ô nhiễm của họ đến nhữngnơi luật môi trường ít chặt chẽ nhất, phần lớn là các nước đang phát triển,vốn có ít quy định về môi trường hơn, và ít khả năng để thực thi nhữngluật này hơn các nước phát triển Trong khi những chi phí lớn của doanhnghiệp là phí bảo toàn môi trường và luật lệ của các quốc gia phát triểnrất nghiêm ngặt về vấn đề này, thì ở các nước nghèo, việc buông lỏngquản lí và những kẽ hở trong luật định về môi trường lại được coi là mộttrong những yếu tố giúp thu hút đầu tư Họ lo sợ rằng việc nâng cao tiêuchuẩn môi trường sẽ đánh mất lợi thế cạnh tranh so với các quốc giakhác, và điều này, tất nhiên, lại khiến môi trường của nước chủ nhà bịkhai thác kiệt quệ
Thor Chemical (Công ty dược phẩm Anh) sau khi bị uỷ ban sứckhoẻ và an toàn chỉ trích vì để công nhân của họ bị nhiễm độ thuỷngân, đã di chuyển nhà máy đến Nam Phi, tiến hành sản xuất trongtình trạng như cũ mà không hề bị kiểm tra
Mexico là nước chủ nhà của 1800 nhà máy lắp ráp sản phẩm củaTNCs Mỹ Các nhà máy này đều nằm gần biên giới của 2 nước.Nhằm tránh những quy định chặt chẽ của Mỹ, lợi dụng kẽ hở trongluật môi trường của Mĩ
Mối liên hệ giữa FDI và phát triển cân bằng đã được Joseph Stiglitz,
trưởng ban cố vấn của World Bank nêu ra trong nhận định: “It is not hard for a country rich in natural resources to find investors abroad willing to exploit those resources, especially if the price is right Far more difficult, however, is creating an industrial or service based economy In 1994, foreign investment in manufacturing was a mere 7 per cent, compared
Trang 14with 57 percent in natural resources By 1997, non-natural resource investment dropped to a mere 3 percent” (Không khó cho một nước giàu
tài nguyên tìm được nhà đầu tư nước ngoài sẵn lòng khai thác nguồn lợinày, nhất là với một giá cả phải chăng Nhưng điều khó hơn là tạo ra mộtnền kinh tế dựa trên công nghiệp hoặc dịch vụ Năm 1994, đầu tư nướcngoài vào lĩnh vực sản xuất chỉ có 7%, so với 57% đầu tư vào tài nguyên.Tuy nhiên, đến 1997, tỉ lệ đầu tư vào lĩnh vực phi tài nguyên đã giảmxuống còn 3%) Khi FDI chỉ tập trung vào các nguồn lợi tự nhiên màkhông hướng vào sản xuất, thì nền kinh tế nước tiếp nhận sẽ ngày một tụthậu cũng với nguồn tài nguyên cạn kiệt
(nguồn: http://csdngo.igc.org/finance/fin_WTO_FDI_mabey.htm )
Papua New Guinea là một ví dụ Khi tập đoàn Thép BHP Billiton(Anh- Australia: tập đoàn khai thác khoáng sản lớn nhất thế giớihiện nay) đầu tư khai thác mỏ vàng và đồng Ok Tedi năm 1984,GDP của nước này tăng vọt nhờ sản lượng quặng khai thác được.Nhưng hầu như toàn bộ thu nhập từ mỏ đều vào túi các ông chủnước ngoài Còn dân địa phương thì nhận được ô nhiễm Các nhàkhai mỏ đã đổ khoảng 90 triệu tấn phế phẩm xuống hệ thống sôngngòi ở địa phương, đầu độc nguồn nước của khoảng 40.000 ngườitrong 120 thôn làng phía hạ lưu Những chủ đất bản địa đã khởikiện; BHP phải bồi thường hàng triệu đô la song gánh nặng khôiphục môi trường sống lại đè lên vai đất nước nhỏ bé này
Hiện nay hai trong số ba mỏ dầu lớn nhất thế giới được xác định là
đã vượt “cao điểm dầu”: mỏ Cantarell Field tại Mexico (3/2006) và
mỏ Burgan Field tại Kuwait (11/2005) Matthew Simmons (2005)cho rằng mỏ lớn nhất thế giới còn lại là Ghawar Field tại Saudi
Arabia cũng đã có dấu hiệu đạt “cao điểm dầu” (“peak oil”: ám chỉ
Trang 15lúc mà một nửa các trữ lượng dầu đã bị khai thác và từ đó sảnlượng sẽ giảm dần cho đến lúc khô kiệt)
Hiện tượng FDI làm khánh kiệt tài nguyên thiên nhiên là một thực
tế có thể xảy ra nhất là đối với các loại FDI nhắm vào tài nguyên
và lao động rẻ tiền Điều này có thể thấy được qua thực trạngngành công nghiệp tanin ở Brazil, sản xuất phốt phát ở Bắc Phi,thăm dò dầu khí ở Amazon và Nigerial, xây dựng đường ống dẫngas tự nhiên ở Burma, khai thác gỗ ở Đông Nam Á, khai thác vàng
ở Indonesia…
Nhìn chung, FDI từ các quốc gia phát triển thuộc nhóm Tổ Chức vì Hợptác và Phát triển Kinh Tế-OEDC (Organisation for Economic Co-operation and Development) thường tôn trọng rất tốt các luật lệ về môitrường nhưng cũng không ít trường hợp vi phạm của FDI từ các quốc giakhông thuộc OECD như Hong Kong, Singapore, Đài Loan( nguồn:http://www.thehindubusinessline.com/ 2300120900.htm)
c) Tác động tiêu cực tới đời sống kinh tế- xã hội
i)Tác động tới kinh tế : Nếu phía nước ngoài nắm quá nhiều quyền sở
hữu thì “giảm vốn” (decapitalization) có thể xảy ra Khi các công ty nướcngoài bắt đầu đã thích nghi và có lãi, họ bắt đầu chuyển lợi nhuận vềnước họ Làm như vậy đồng nội tệ sẽ bị đổi sang ngoại tệ của nước đầu
tư và vốn sẽ bị rút ra khỏi nước chủ nhà Nếu công ty nước ngoài này đủlớn thì nước chủ nhà sẽ phải đối mặt với khả năng kiệt quệ về vốn trầmtrọng Đây là một mối lo ngại lớn nếu trong thời gian khủng hoảng màcông ty nước ngoài lại đột nhiên chuyển toàn bộ lãi không chia về nước.Việc này sẽ gây nên một tác động tương tự như khi chủ nợ nước ngoài từchối không cho đáo hạn các khoản nợ ngắn hạn, nước này sẽ bị đói vốn
và tình hình kinh kế suy sụp có thể trở nên trầm trọng hơn nữa Đôi lúc
Trang 16yếu tố này được coi là một trong những rủi ro lớn nhất nếu như một nướcquá phụ thuộc vào FDI.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, trong quá trình tăng thêm đầu tư và sửdụng một phần lợi nhuận để tái đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ thuđược lợi nhuận lớn, số tiền lợi nhuận đó ngày càng nhiều, cộng với tiềnbán li-xăng sẽ được liên tục chuyển ra khỏi nước chủ nhà, khiến cho mứcbội thu trong tài khoản vãng lai của nước chủ nhà bị thu hẹp, thậm chíchuyển thành bội chi, do đó làm cho cán cân thanh toán quốc tế của nướcchủ nhà xấu đi, dẫn đến khủng hoảng tài chính Tỷ suất lợi nhuận đầu tưcao hơn tỷ suất lợi nhuận đầu tư ở các nước đang phát triển là 16%-18%,
ở các nước nghèo của châu Phi là 24%-30% Khi số lợi nhuận này đượcchuyển ra khỏi nước chủ nhà đến một mức độ nào đó sẽ mang lại rủi rocho cán cân tài khoản vãng lai, thậm chí là cho cán cân thanh toán quốc tếcủa nước chủ nhà
Ở Mêhicô, từ năm 1991-1994, số tiền bội chi trong tài khoản vãnglai không ngừng tăng lên Điều đó không chỉ là do nhập siêuthương mại tăng mà còn có một nguyên nhân quan trọng khác làlợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài tăng
Ở Malaixia, từ năm 1990-1997, số tiền lợi nhuận đầu tư chuyển ra nước ngoài liên tục tăng, trong đó có 4 năm, mức bội chi của tài khoản thu nhập đã vượt quá mức bội chi trong tài khoản vãng lai và chiếm hơn 50% số tiền đầu tư thu hút được Từ năm 1990-1997, tài khoản thu nhập và tài khoản vãng lai luôn bội chi; hơn nữa số bội chi của tài khoản thu nhập chiếm tỷ trọng hết sức cao trong số bội chi của tài khoản vãng lai, trong đó năm 1994 là 80%, năm 1997
là 90% Nghiêm trọng hơn nữa là trong các năm 1990, 1992, 1993, 1996, mức bội chi của tài khoản thu nhập đã cao hơn mức bội chi của tài khoản vãng lai.
Tình hình thu chi quốc tế của Mêhicô từ năm 1991-1994 (Đơn vị:
tỷ USD)