Khái niệm về CTCP: Điều 77 Luật doanh nghiệp không đưa ra định nghĩa cụ thể về CTCP mà chỉ đưa ra những dấu hiệu để nhận biết CTCP: “1.Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó: a, Vốn đi
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN(CTCP) VÀ VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN 2
1 Khái niệm về CTCP 2
2 Khái niệm và đặc điểm về vốn của CTCP 3
3 Nội dung cơ bản về vốn của CTCP 3
4 Ảnh hưởng của vốn đối với hoạt động của CTCP 4
II VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2005 6
1 Chủ thể có quyền mua cổ phần 6
2 Vốn chủ sở hữu CTCP 6
a Cổ phần, cổ phiếu 6
b Phát hành cổ phiếu 7
c Chuyển nhượng cổ phần 9
d Mua lại cổ phần 10
3 Vốn tín dụng 10
a Trái phiếu 10
b Phát hành trái phiếu 11
4 Trả cổ tức 11
III THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM THỰC THI HIỆU QUẢ CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP 2005 VỀ VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 13
1 Thực trạng 13
2 Một số kiến nghị nhằm thực thi hiệu quả các quy định của Luật doanh nghiệp 2005 về vốn trong CTCP 14
KẾT LUẬN 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, công ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn và người sở hữu cổ phần chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu; do đó nó rất thu hút nhiều nhà đầu tư tham gia vào Tuy nhiên
để hiểu rõ hơn về loại hình công ty này, em xin đi tìm hiểu đề tài quy chế pháp lí về vốn trong công ty cổ phần
NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN(CTCP) VÀ VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN:
1 Khái niệm về CTCP:
Điều 77 Luật doanh nghiệp không đưa ra định nghĩa cụ thể về CTCP mà chỉ đưa ra những dấu hiệu để nhận biết CTCP:
“1.Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó:
a, Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
b, Cổ đông có thể là tổ chức, các nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa;
c, Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty;
d, Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 81 và Khoản 5 Điều 84 của Luật này.
2 Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng
kí kinh doanh.
3 Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn.”
Từ những quy định trên, ta có thể thấy CTCP có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, đặc điểm về thành viên của CTCP Thành viên của CTCP là cá nhân hoặc
tổ chức góp vốn vào công ty bằng cách mua cổ phần Căn cứ xác lập tư cách cổ đông là quyền sở hữu cổ phần Mặt khác, cổ phần có thể bán rộng rãi cho các đối tượng khác nhau nên cổ đông của CTCP thường rất lớn về số lượng và không quen biết nhau
Thứ hai, về vốn của công ty Vốn do các cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một
thời hạn nhất định, được ghi chú trong Điều lệ công ty tạo thành vốn điều lệ của công ty Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cổ phần được thể hiện dưới hình thức chứng khoán là cổ phiếu Đặc điểm về cơ cấu vốn của CTCP còn thể hiện ở khả năng huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán Công ty có thể phát hành cổ phiếu để tăng vốn chủ sở hữu hoặc phát hành trái phiếu để tăng vốn vay theo quy định của pháp luật
Thứ ba, CTCP là chủ thể kinh doanh có tư cách pháp nhân Công ty có tư cách pháp
nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh
Trang 3Thứ tư, CTCP chịu trách nhiệm một cách độc lập về các khoản nợ và các nghĩa vụ
tài sản khác của công ty trong phạm vi tài sản Điều đó cũng nghĩa là, tài sản cá nhân của các cổ đông được tách rời so với vốn của công ty
Thứ năm, về cơ cấu tổ chức bộ máy trong CTCP Theo quy định của pháp luật, cơ
cấu tổ chức bộ máy quản lí của CTCP gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị: Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, đối với CTCP có trên 11 cổ đông là cá nhận hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát ( Điều 95 Luật doanh nghiệp 2005)
2 Khái niệm và đặc điểm về vốn của CTCP:
Vốn của doanh nghiệp nói chung là giá trị được tính bằng tiền của những tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp của doanh nghiệp, được doanh nghiệp sử dụng trong kinh doanh Về mặt cơ cấu, vốn của doanh nghiệp là một chỉnh thể bao gồm các bộ phận cấu thành có mối quan hệ tác động qua lại với nhau
Ra đời như một sản phẩm tất yếu của nền kinh tế tự do cạnh tranh, CTCP có những
ưu thế về vốn hơn hẳn so với loại hình doanh nghiệp khác Vốn của CTCP có những đặc điểm:
_ Vốn của công ty được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau CTCP khẳng định sự
lí tưởng hơn trong mô hình kinh doanh của mình bằng quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn ( Khoản 3 Điều 77)
_ Trong cơ cấu vốn của CTCP, vốn điều lệ thể hiện những nét đặc trưng nhất Khác với vốn của công ty TNHH, vốn điều lệ của CTCP bắt buộc phải chia thành nhiều phần nhỏ nhất có giá trị bằng nhau gọi là cổ phần Cổ phần gồm rất nhiều loại khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho công ty trong việc thiết lập một cơ cấu vốn hợp lý
_ Phần vốn của các cổ đông trong CTCP có thể tự do chuyển nhượng thông qua việc chuyển quyền sở hữu cổ phần (trừ một số trường hợp do pháp luật quy định) mà biểu hiện về mặt hình thức là chuyển nhượng cổ phiếu
3 Nội dung cơ bản về vốn của CTCP:
a, Vốn chủ sở hữu của CTCP:
Vốn của chủ sở hữu là chỉ số phản ánh khả năng tài chính thực sự của CTCP Khi mới thành lập, vốn chủ sở hữu đồng thời là vốn điều lệ công ty Trong quá trình hoạt động, nguồn vốn chủ sở hữu được bổ sung bằng cách phát hành cổ phiếu Khi hoạt động kinh doanh hiệu quả, công ty còn thu được lợi nhuận Phần lợi nhuận sau thuế được phân chia do Đại hội đồng cổ đông quyết định, trong đó có phần lợi nhuận không chia, lợi nhuận lưu giữ để tái đầu tư
Bộ phận chủ yếu trong vốn chủ sở hữu là vốn điều lệ Phần vốn này trong cơ cấu vốn của CTCP cho phép các đối tác của nó biết độ tin cậy về tài sản và quy mô của công ty ở mức độ nào để trêc cơ sở đó xác định các giao kết
Trang 4Nguồn vốn chủ sở hữu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh của CTCP, nó tạo điều kiện thuận lợi cho công ty chủ động hoàn toàn trong sản xuất Công ty có cơ sở để kịp thời đưa ra quyết sách trong kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu của mình
b, Vốn tín dụng( vốn vay):
Vốn tín dụng là nguồn vốn mà CTCP huy động, khai thác trên cơ sở các chính sách, chế độ nhà nước hoặc các hợp đồng giữa CTCP với các tổ chức, cá nhân khác CTCP được quyền sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả Thực chất, vốn vay là vốn của CTCP và nó cũng tạo ra cơ sở vật chất cho hoạt động của công ty Vốn vay của công ty bao gồm: vốn vay từ các tổ chức tín dụng hoặc các trung gian tài chính như ngân hàng thương mại, công ty cho thuê tài chính; vay của các
tổ chức, cá nhân khác; vay thông qua kênh phát thanh trái phiếu
Vay vốn thông qua các tổ chức tín dụng là một hình thức huy động vốn phổ biến của các doanh nghiệp ở Việt Nam Thông qua hình thức này, CTCP có thể có được các khoản vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đáp ứng được yêu cầu của các hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong các hình thức vay thì phát hành trái phiếu là một hình thức khá hiệu quả bởi số vốn huy động được thường lớn và thời gian huy động khá dài Phát hành trái phiếu là cách thức vay vốn, theo đó người vay phát hành chứng chỉ thường là với lãi xuất xác định, đảm bảo thanh toán vào một thời gian xác định trong tương lai
Vốn vay có ý nghĩa rất lớn đối với CTCP, đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời vốn cho sản xuất kinh doanh Việc tranh thủ chiếm dụng các khoản nợ phải trả trong thời hạn cho phép cũng tạo điều kiện cho CTCP nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong kinh doanh
c, Sử dụng và bảo toàn vốn:
Do hình thức tự tạo vốn bằng nhiều cách, trong đó có cả hình thức huy động vốn trong dân cư đã đề cao trách nhiệm đối với người quản lí CTCP nói riêng, sự quan tâm của CTCP nói chung đối với việc sử dụng vốn Theo đó, việc sử dụng vốn phải đảm bảo tiết kiệm, có hiệu quả Điều đó cũng đồng nghĩa với việc bảo toàn nguồn vốn Mặt khác,
do sức ép của cổ đông trong việc chia lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp của công ty, muốn duy trì hoạt động, công ty phải nâng cao hiệu quả sử dụng tiền vốn
Bảo toàn vốn là bảo toàn giá trị thực của vốn hay nói cách khác là sau thời gian hoạt động, vốn của công ty phải tương đương với lượng tài sản ban đầu theo hiện giá Bảo toàn vốn được đặt ra đối với cả vốn cố định và vốn lưu động cũng như vốn chủ sở hữu
và vốn vay của công ty Một trong những biện pháp để bảo toàn và phát triển số vốn cố định là sử dụng hiệu quả vốn cố định Đối với vốn lưu động, để sử dụng có hiệu quả cần xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết để đảm bảo hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiến hành liên tục, tiết kiệm với hiệu quả kinh tế cao, tránh
Trang 5tình trạng ứ đọng vốn ; đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thường xuyên phân tích tình hình sử dụng vốn lưu động để có biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng
Vốn được sử dụng có hiệu quả sẽ đem lại lợi nhuận cho CTCP Phần lợi nhuận sau thuế được phân phối một cách hợp lí sẽ góp phần quan trọng vào việc bảo toàn và phát triển vốn của CTCP
d Trả cổ tức:
Trả cổ tức là khía cạnh quan trọng trong chiến lược sử dụng và bảo toàn vốn của CTCP, định hướng phân chia lợi tức cổ phần quyết định đến số lợi nhuận lưu giữ bởi cổ tức không phải là toàn bộ mà chỉ là một phần của lợi nhuận ròng của công ty, phần còn lại được giữ để tái đầu tư mở rộng hoặc vì những mục tiêu khác
Cổ tức luôn là mối quan tâm hàng đầu của người đầu tư, một phần vì đó là khoản thu nhập thường xuyên mà cổ phiếu đem lại cho họ, một phần quan trọng hơn, nó chỉ báo cho biết mức độ lành mạnh trong hoạt động của công ty
Trả cổ tức có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của công ty cổ phần Bởi vậy, pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật các nước trên thế giới đều có những quy định pháp lí cơ bản, tạo nền tảng cho các CTCP có thể vận dụng Nhìn chung, pháp luật không có quy định nào bắt buộc các CTCP phải trả cổ tức cho các cổ đông của mình Việc chi trả cổ tức, mức cổ tức cụ thể, thời hạn chi trả và hình thức chi trả cổ tức (bằng tiền mặt, bằng cổ phiếu hoặc tài sản khác) do các chủ sở hữu công ty quyết định thông qua cơ quan đại diện của mình là Đại hội đồng cổ đông
4 Ảnh hưởng của vốn đối với hoạt động của CTCP:
Tổ chức và hoạt động của CTCP dựa trên nguyên tắc đối vốn, do đó vốn có ảnh hưởng cơ bản đến việc phân chia lợi nhuận cũng như đến cơ cấu tổ chức bộ máy quản lí của công ty
*Ảnh hưởng của vốn đối với việc phân chia lợi nhuận:
Lợi nhuận còn lại của công ty sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác được dùng để trả cổ tức Số cổ tức chia cho mỗi cổ đông căn cứ vào phần vốn góp
Do đó, cổ đông nắm giữ lượng cổ phần càng lớn thì sẽ nhận được khoản thu nhập cao tương ứng từ việc trả cổ tức và ngược lại
*Ảnh hưởng của vốn đối với cơ cấu tổ chức bộ máy quản lí của CTCP:
Về tổ chức, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lí dựa trên sức mạnh kinh tế của các nhóm
sở hữu trong công ty Sự phân chia quyền lựctrong cơ cấu tổ chức quản lí phụ thuộc vào mức độ góp vốn của các cổ đông
CTCP được tổ chức quản lí tập trung thông qua cơ chế hội đồng Việc hình thành, cơ chế hoạt động của Đại hội đồng cổ đông phụ thuộc vào cổ phần Đại hội đồng cổ đông bao gồm các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của CTCP
Trang 6( khoản 1 Điều 96 Luật doanh nghiệp 2005) Cơ cấu vốn chi phối đến việc triệu tập đại hội đồng cổ đông, chi phối đến điều kiện tiến hành họp Đai hội đồng cổ đông và chi phối đến cả thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông
Luật doanh nghiệp 2005 quy định một trong những tiêu chuẩn để trở thành thành viên của Hôi đồng quản trị phải là cổ đông cá nhân sở hữu ít nhất 5% tổng số cổ phần phổ thông hoặc tiêu chuẩn, điều kiện khác quy định tại Điều lệ công ty ( điểm b Khoản 1 Điều 110); Hội đồng quản trị bổ nhiệm một người trong số họ hoặc thuê người khác làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; trường hợp được bổ nhiệm, Giám đốc ( Tổng giám đốc) phải là cá nhân sở hữu ít nhất 10% vốn điều lệ của công ty (khoản 2 Điều 116 và điểm b Khoản 1 Điều 57)
II VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2005:
1 Chủ thể có quyền mua cổ phần :
Việc góp vốn của CTCP được thể hiện dưới hình thức mua cổ phần
Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005, Điều 13, mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền mua cổ phần, trừ các trường hợp sau:
*Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhận dân Việt Nam sử dụng tài sản
nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình.
*Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật
về cán bộ, công chức.
Không phải tất cả cán bộ, công chức đều bị cấm góp vốn vào CTCP Theo điều 19 Pháp lệnh cán bộ, công chức đã được sửa đổi, bổ sung năm 2000, thì người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, vợ hoặc chồng của người đó không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành nghề mà người đó trực tiếp thực hiện quản lí nhà nước Như vậy, trong những trường hợp khác, cán bộ, công chức bằng nguồn tài chính của cá nhân vẫn có quyền mua cổ phần của CTCP
2 Vốn chủ sở hữu CTCP:
a, Cổ phần, cổ phiếu:
+ Cổ phần: Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 77 Luật doanh nghiệp 2005, cổ phần là
một đại lượng chuẩn nhận trong bản Điều lệ, đại lượng đó căn cứ vào số lượng cổ phần
và vốn góp của cổ đông Cổ đông góp vốn vào CTCP bằng cách mua cổ phần mà thực chất là mua quyền sở hữu của CTCP
Luật Doanh nghiệp Việt Nam quy định rõ ràng, cụ thể các loại cổ phần mà CTCP có thể phát hành, đó là: cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi; trong cổ phần ưu đãi chia ra thành cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại Sự đa dạng hóa các hình thức cổ phần xuất phát từ tính chất đa dạng của những mục tiêu mà các nhà đầu tư theo đuổi Có nhà đầu tư mua cổ phần nhằm tìm cách nắm quyền chi phối công ty Đối với những nhà đầu tư này thì lá phiếu biểu quyết là mục tiêu chính khi họ
Trang 7tham gia sở hữu công ty Phần lớn các nhà đầu tư khác thì quan tâm tới lợi tức cổ phần hơn là việc tham gia vào quản lí Việc bỏ phiếu như thế nào ở Đại hội đồng cổ đông là điều họ không quan tâm nhiều lắm Cũng không ít nhà đầu tư cẩn trọng mua cổ phần với mục đích hoàn lại vốn bất cứ lúc nào theo yêu cầu của mình
+ Cổ phiếu: Nếu như cổ phần là nội dung thì hình thức thể hiện của cổ phần là cổ
phiếu Khoản 1 Điều 85 Luật doanh nghiệp 2005 định nghĩa: “ Cổ phiếu là chứng chỉ do
CTCP phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó.”
Với định nghĩa này, pháp luật Việt Nam đã thừa nhận cả cổ phiếu dạng chứng chỉ vật chất và bút tích ghi sổ Cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không ghi tên Vì là hình thức của
cổ phần nên tương ứng với mỗi loại cổ phần là một loại cổ phiếu, do đó cổ phiếu cũng
có nhiều loại: cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi biểu quyết, cổ phiếu ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại
Luật doanh nghiệp quy định rất chi tiết nội dung chủ yếu của cổ phiếu gồm: tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty; số và ngày cấp Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh; số lượng cổ phần và loại cổ phần; mệnh giá mỗi cổ phần ghi trên cổ phiếu
b, Phát hành cổ phiếu:
Phát hành cổ phiếu là việc chào bán cổ phần của CTCP cho người đầu tư nhằm đáp ứng yêu cầu huy động về vốn của công ty Kết quả của việc chào bán cổ phần sẽ đảm bảo huy động đủ vốn điều lệ trong quá trình thành lập công ty hoặc sẽ làm tăng vốn điều
lệ của công ty trong trường hợp công ty đang hoạt động
Việc phát hành cổ phiếu có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông hiện có trong công ty hay có thể dẫn đến thay đổi vị thế của từng cổ đông Do vậy, việc quyết định loại cổ phần, tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán sẽ do Đại hội đồng cổ đông quyết định còn Hội đồng quản trị quyết định thời điểm, phương thức và giá chào bán cổ phần trong số cổ phần được quyền chào bán
Về giá chào bán cổ phần, Luật doanh nghiệp quy định giá bán không được thấp hơn giá thị trường tại thời điểm chào bán hoặc giá trị được ghi trong sổ sách của cổ phần tại thời điểm gần nhất và ngoại trừ các trường hợp:
_ Cổ phần chào bán lần đầu tiên cho những người không phải là cổ đông sáng lập _ Cổ đông chào bán cho tất cả các cổ đông theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ ở công ty
_ Cổ phần chào bán cho người môi giới hoặc người bảo lãnh Trong trường hợp này,
số chiết khấu hoặc tỷ lệ chiết khấu cụ thể phải được sự chấp thuận của số cổ đông đại diện cho ít nhất 75% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết;
Điều lệ công ty có thể quy định thêm các trường hợp khác và mức chiết khấu trong các trường hợp đó
Trang 8Người mua cổ phần trở thành cổ đông của công ty kể từ thời điểm cổ phần được thanh toán đủ và những thông tin về người mua được ghi đúng, ghi đủ vào sổ đăng kí cổ đông Sau khi cổ phần được bán, công ty phải phát hành và trao cổ phiếu cho người mua Pháp luật ràng buộc trách nhiệm của những người quản lí công ty khi có sai sót trong nội
dung và hình thức cổ phiếu nhằm bảo vệ tối đa lợi ích của người sở hữu cổ phiếu đó: “
Trường hợp có sai sót trong nội dung và hình thức cổ phiếu do công ty phát hành thì quyền và lợi ích của người sở hữu nó không bị ảnh hưởng Chủ tịch Hội đồng quản trị
và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty phải liên đới chịu trách nhiệm về thiệt hại do những sai sót đó gây ra đối với công ty” (Khoản 2 Điều 85).
Việc phát hành cổ phiếu có thể diễn ra nhiều lần Có thể chia thành các trường hợp: phát hành cổ phiếu lần đầu tiên để gọi vốn thành lập công ty và phát hành cổ phiếu trong quá trình hoạt động của công ty
*Phát hành cổ phiếu lần đầu tiên khi thành lập công ty:
Khi thành lập, CTCP phải huy động vốn góp của các cổ đông Pháp luật quy định các
cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng kí mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán Trong trường hợp các cổ đông sáng lập không đăng kí mua hết số
cổ phần được quyền chào bán thì số cổ phần còn lại phải được chào bán hết trong thời hạn 3 năm, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh Vì vậy, tối thiểu các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ 20% số cổ phiếu dự tính phát hành,
số cổ phiếu còn lại sẽ được phát hành để huy động vốn điều lệ Các cổ đông sáng lập phải thực hiện nguyên tắc nhất trí về số lượng cổ phần, loại cổ phần dự kiến chào bán Luật doanh nghiệp 2005 quy định rõ trách nhiệm của các cổ đông sáng lập về tính chính xác, trung thực đối với giá trị tài sản góp vốn được giới hạn trong phạm vi các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định
và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá Những người cam kết mua cổ phần còn lại phải thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn vòa công ty theo đúng quy định tại Điều 29 Luật doanh nghiệp 2005:
_ Đối với tài sản có đăng kí hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan có thẩm quyền
_ Đối với tài sản không đăng kí quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản
_ Cổ phần bằng tài sản không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty
*Phát hành cổ phiếu của CTCP trong quá trình hoạt động:
Trang 9Trong quá trình hoạt động, cổ phiếu cũng trở thành một trong những phương tiện để huy động vốn rất hiệu quả Việc phát hành thêm cổ phiếu sẽ làm tăng độ tín nhiệm cho công ty Cổ phần là lớp nệm bảo vệ cho các chủ nợ, nhờ vậy khả năng vay nợ được mở rộng Hơn nữa, vốn chủ sở hữu tăng tạo ra một lá chắn chống lại sự phá sản của công ty Thực chất, việc phát hành cổ phiếu trong trường hợp này là việc công ty chào bán cổ phần để huy động thêm vốn
+ Phát hành riêng lẻ: là hình thức phát hành trong đó cổ phiếu có thể được bán cho
phạm vi một số người nhất định với số lượng hạn chế, thông thường bán cho những người trong công ty
Luật doanh nghiệp 2005 lần đầu tiên đưa ra quy định về việc công ty phát hành thêm
cổ phần phổ thông và chào bán cổ phần đó cho tất cả các cổ đông theo tỷ cổ phần hiện
có của họ tại công ty( Điều 87) Khi phát hành thêm cổ phần trong trường hợp này, công
ty phải thông báo bằng văn bản đến các cổ đông theo phương thức bảo đảm đến được địa chỉ thường trú của họ Thông báo phải được đăng báo trong ba số liên tiếp trong thời hạn
15 ngày làm việc, kể từ ngày thông báo Trình tự thủ tục, điều kiện chào bán cổ phần riêng lẻ Luật doanh nghiệp 2005 không trực tiếp quy định mà Chính phủ sẽ có hướng dẫn cụ thể
+ Phát hành cổ phiếu ra công chúng: là phương thức phát hành trong đó cổ phiếu
được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn nhà đầu tư với khối lượng cổ phiếu phát hành đạt được một tỷ lệ quy định nhất định và phải dành một tỷ lệ nhất định cho các nhà đầu tư nhỏ
Theo khoản 6 Điều 87 Luật doanh nghiệp, điều kiện, phương thức và thủ tục chào bán cổ phần ra công chúng thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán Khi Luật doanh nghiệp 2005 phát sinh hiệu lực thì các quy định về phát hành cổ phiếu ra công chúng trong Nghị định 144/2003/NĐ - CP ngày 28/11/2003 về chứng khoán và thị trường chứng khoán vẫn được áp dụng để điều chỉnh
c, Chuyển nhượng cổ phần:
Với số vốn đã bỏ ra để mua cổ phần mà công ty chào bán, cổ đông không nhất thiết phải gắn bó lâu dài với công ty nếu họ không muốn
Quyền chuyển nhượng cổ phần bao gồm mua bán, tặng cho, để lại thừa kế Việc chuyển nhượng được thực hiện bằng văn bản hoặc bằng cách trao tay cổ phiếu
Tính tự do chuyển nhượng cổ phần cũng có ngoại lệ, đó là đối với cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập trong thời hạn 3 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh( Khoản 5 Điều 84)
* Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác; nghĩa là tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập không được chuyển nhượng cổ phần ưu đãi biểu quyết mà mình nắm giữ cho người khác Tuy
Trang 10nhiên, sau thời hạn 3 năm, cổ phần ưu đãi biểu quyết của tổ chức được Chính phủ ủy quyền thì Luật doanh nghiệp không có một quy định rõ ràng tương ứng
* Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập, tính tự do chuyển nhượng cổ phần vẫn được duy trì trong quan hệ chuyển nhượng giữa các cổ đông sáng lập với nhau Việc chuyển nhượng cổ phần phổ thông cho người không phải là cổ đông sáng lập chỉ được thực hiện nếu được sự chấp thuận của cơ quan có quyền lực cao nhất là Đại hội đồng cổ đông Hạn chế chuyển nhượng đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được bãi
bỏ sau thời hạn 3 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh Sở dĩ pháp luật quy định như vậy là nhằm ràng buộc đồng thời đề cao trách nhiệm của cổ đông sáng lập trong giai đoạn đầu thành lập
d, Mua lại cổ phần:
Ngoài việc chuyển nhượng phần vốn góp cho người cùng công ty hoặc người ngoài công ty, cổ đông chỉ có thể rút phần vốn đã đầu tư khi được công ty mua lại cổ phần Theo đoạn 2 khoản 1 Điều 80, cổ đông không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần Các công ty thường mua lại cổ phần khi có thay đổi quyền cổ đông có tác dụng ngược lại đối với một số cổ đông nhất định hoặc khi cần tái cấu trúc tài chính công ty
Luật doanh nghiệp quy định hai trường hợp mua lại cổ phần của công ty là mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông và mua lại cổ phần theo quyết định của công ty
Điều 90 Luật doanh nghiệp 2005 quy định: “ cổ đông biểu quyết phản đối quyết định
việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình” Với yêu cầu bằng văn bản,
trong thời hạn 90 ngày, cổ đông có thể lấy lại phần vốn đã góp vào công ty, bảo toàn quyền lợi của mình Luật doanh nghiệp 2005 tuân thủ sự bảo vệ triệt để quyền của chủ
sở hữu, cho phép cổ đông có quyền định đoạt: bán cổ phần cho người khác hoặc lựa chọn một trong ba tổ chức định giá chuyên nghiệp mà công ty giới thiệu để đứng ra định giá cổ phần
Việc mua lại cổ phần theo quyết định công ty cũng được pháp luật quy định cụ thể, trong đó quyền mua lại cổ phần phổ thông bị giới hạn mức tối đa không quá 30% tổng
số cổ phần phổ thông ưu đãi
Giá mua lại cổ phần phổ thông do Hội đồng quản trị quyết định Đối với cổ phần phổ thông, giá mua lại không được cao hơn giá thị trường tại thời điểm mua lại, trừ trường hợp công ty mua lại cổ phần của từng cổ đông tương ứng với tỷ lệ cổ phần của họ trong công ty
3 Vốn tín dụng:
a Trái phiếu: