1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bài thu hoach đề tài Nghề thẩm phán – Sinh viên Luật và cơ hội trở thành thẩm phán

21 3,7K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 128,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 quy định chế độ bầu thẩmphán thay cho chế độ bổ nhiệm trước đó; thẩm phán toà án nhân dân địa phươngdo hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra; các tò

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Nghề thẩm phán là một nghề cao quý, thẩm phán mang tư cách nhân danhpháp luật của nhà nước để xét xử, ra bản án kết tội hoặc các quyết định cần thiếtkhác trong quá trình xét xử, thẩm phán được xem là nghề rất danh dự Thẩmphán giữ vị trí quan trọng trong việc xét xử - giai đoạn trung tâm của hoạt động

tố tụng, vì vậy bên cạnh số lượng, chất lượng của đội ngũ thẩm phán cũng nhưcách thức tổ chức, cơ chế vận hành và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ Thẩmphán là yếu tố mang tính quyết định đến chất lượng xét xử Tính đến nay cảnước có 4557 Thẩm phán, một con số không phải là nhiều so với các sinh viên

có bằng cử nhân luật tốt nghiệp ra trường, trình độ và năng lực của các Thẩmphán hiện nay 100% có trình độ Đại học luật hoặc tương đương Theo đánh giáhàng năm thì số Thẩm phán hoàn thành nhiệm vụ chiếm trên 90% Mặc dù sốlượng và chất lượng Thẩm phán được nâng lên một bước cơ bản so với trướcđây, nhưng với số lượng và chất lượng như hiện nay thì gần như đội ngũ thẩmphán của nước ta chưa đáp ứng được những đòi hỏi cơ bản, đặc biệt là trong thời

kì hội nhập kinh tế quốc tế

Là một sinh viên luật đang ngồi trên nghế nhà trường thì bản thân tác giảcũng nhận thức được ý nghĩa của việc học ngành luật cũng như những ngànhnghề có thể làm khi có bằng tốt nghiệp để từ đó định hướng được nghề nghiệpcho chính bản thân mình sau khi tốt nghiệp Một trong những ngành nghề mà tácgiả đặc biệt quan tâm đó là nghề Thẩm phán Qua đề tài “Nghề thẩm phán –

Sinh viên Luật và cơ hội trở thành thẩm phán” tác giả muốn giúp cho người

đọc có thể nhận thức một cách đầy đủ hơn về nghề thẩm phán cũng như nhữngđiều kiện và cơ hội để trở thành thẩm phán

Trang 2

B NỘI DUNG

I Khái quát về thẩm phán

1 Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống Tòa án Việt Nam

Cách đây 65 năm, Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, đã mở ra kỷnguyên mới đối với đất nước ta – Kỷ nguyên độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xãhội, Cách mạng tháng 8 thành công xóa bỏ chính quyền thực dân phong kiến,lập ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Nhà nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam) là Nhà nước của dân, do dân và vì dân

Để xây dựng và củng cố bộ máy Nhà nước, ban hành pháp luật bảo vệthành quả cách mạng, ngày 13/9/1945 Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã ký và ban hànhSắc lệnh số 33/SL thiết lập các Tòa án quân sự Bằng sắc lệnh này, trên toànlãnh thổ Việt Nam, ở cả ba miền: Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ lúc đó đều thiết lập

các Tòa án quân sự với nhiệm vụ “xét xử tất cả những người nào phạm vào một việc gì có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”.Việc ra đời của các Tòa án này đã góp phần trấn áp bọn phản cách mạng

cấu kết với thực dân Pháp nhằm xâm lược đất nước ta Đó là mốc son đánh dấu

sự ra đời của ngành Tòa án Việt Nam

Nhằm nâng cao hiệu lực của Tòa án, Ngày 24/01/1946 Chủ Tịch Hồ ChíMinh đã ký ban hành Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức các tòa án và các ngạchThẩm phán Ngày 22/5/1950, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã ký và ban hành Sắclệnh số 85/SL về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng Theo sắc lệnh này, thì

tổ chức hệ thống Tòa án có Tòa án sơ cấp, Tòa án đệ nhị cấp, Hội đồng phúc án

và Phụ thẩm nhân dân Bên cạnh sự phát triển của hệ thống Tòa án Việt Nam thìcác đạo luật về tổ chức hệ thống Tòa án qua các thời kỳ cũng được ban hànhnhư: Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960, Luật tổ chức Tòa án nhân dânnăm 1981, Luật tổ chức Tòa án năm 1992, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm

2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) Đây chính là những mốc lịch sử quan trọng,đánh dấu sự trưởng thành của ngành Tòa án Việt Nam Và cho đến nay, NgànhTòa án Việt Nam bao gồm hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức từ trung

Trang 3

ương đến cấp huyện, hệ thống Tòa án quân sự, từ Tòa án quân sự trung ươngđến các Tòa án khu vực

2 Lịch sử hình thành và phát triển của nghề Thẩm phán gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của hệ thống Tòa án Việt Nam

Như chúng ta đã biết thẩm phán là những người làm việc tại tòa án chonên lịch sử hình thành và phát triển của nghề thẩm phán gắn liền với quá trìnhhình thành và phát triển của hệ thống tòa án ở Việt Nam Sự điều chỉnh của phápluật dẫn đến sự thay đổi cơ cấu tổ chức và hoạt động của tòa án cũng tác độngđến sự thay đổi đối với nghề thẩm phán

Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 của chủ tịch Chính phủ về tổ chức cáctòa án và các ngạch Thẩm phán thì có quy định về ngạch thẩm phán:

Pháp luật quy định có hai ngạch thẩm phán, đó là ngạch sơ cấp và ngạch

đệ nhị cấp Thẩm phán sơ cấp làm việc tại tòa sơ cấp Thẩm phán đệ nhị cấp làmviệc ở tòa đệ nhị cấp và tòa thượng thẩm

Các thẩm phán chia thành hai loại: Thẩm phán buộc tội và thẩm phán xử

án Thẩm phán của tòa đệ nhị cấp và tòa thượng thẩm do Chủ tịch nước bổnhiệm Thẩm phán của tòa sơ cấp do Bộ trưởng Bộ tư pháp bổ nhiệm Các phụthẩm nhân dân khi tham gia xét xử tiểu hình chỉ có quyền đóng góp ý kiến chứkhông có quyền quyết định, còn khi tham gia xét xử đại hình thì có quyền quyếtđịnh cùng thẩm phán

Sau đó Hiến Pháp năm 1946 ra đời thì cùng với Sắc lệnh số 13/SL quyđịnh về tổ chức các tòa án và các ngạch Thẩm phán trong đó thì Thẩm phán đều

do Chính phủ bổ nhiệm

Ngày 22/5/1950, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã ký và ban hành Sắc lệnh số85/SL về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng Theo sắc lệnh này thì có quyđịnh một số vấn đề khác liên quan đến thẩm phán như khi xét xử thì hội thẩmnhân dân ngang quyền với thẩm phán, khi xét xử hoặc bào chữa thẩm phán vàluật sư không mặc áo chùng đen nữa…

Trang 4

Tại Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 quy định chế độ bầu thẩmphán thay cho chế độ bổ nhiệm trước đó; thẩm phán toà án nhân dân địa phương

do hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra; các tòa án nhân dân được tổ chức theođơn vị hành chính – lãnh thổ; việc quản lí về tổ chức của các tòa án nhân dân địaphương được giao cho Tòa án nhân dân tối cao

Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1981 vẫn giữ nguyên chế độ bầu thẩmphán như Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 Chỉ đến khi Luật tổ chức tòa

án nhân dân năm 1992 ra đời thì chế độ bổ nhiệm thẩm phán được thay thế chochế độ bầu thẩm phán trước đó Tất cả các thẩm phán của tòa án nhân dân cáccấp đều do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức

Để thực hiện các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của đảng về xây dựng, hoànthiện bộ máy nhà nước cũng như những yêu cầu cụ thể đổi mới hoạt động cảicách tư pháp đã được đề ra trong Văn kiện của đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

IX của Đảng cộng sản Việt Nam, trong nghị quyết số 08 – NQ/TW nhày02/01/2002 của Bộ chính trị về “một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháptrong thời gian tới” và cụ thể hóa Hiến pháp năm 1992 đã được sử đổi, bổ sungnăm 2001 về tổ chức và hoạt độnng của tòa án nhân dân, Quốc Hội khóa X, kìhọp thứ 11 đã thông qua Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2002

So với Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1992 thì Luật tổ chức tòa ánnhân dân năm 2002 có những quy định mới về Thẩm phán như: Luật tổ chức tòa

án nhân dân năm 2002 vẫn quy định chế độ bổ nhiêm thẩm phán nhưng kháctrước đây là Chủ tịch nước chỉ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các thẩm phántòa án nhân dân tối cao còn thẩm phán các tòa án nhân dân địa phương, thẩmphán tòa án quân sự quân khu và tương đương, các tòa án quân sự khu vực doChánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đềnghị của các hội đồng tuyển chọn thẩm phán; Quy định tiêu chuẩn hóa đội ngũthẩm phán ngoài những tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức,sức khỏe, các thẩm phán còn phải có trình độ cử nhân luật và đã được đào tạo vềnghiệp vụ xét xử, có thời gian công tác thực tiễn theo quy định của pháp luật;

Trang 5

thẩm phán và hội thẩm nhân dân khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình

mà gây thiệt hại thì phải có trách nhiệm bồi hoàn thiệt hại theo quy định củapháp luật…

=> Tóm lại, sự hình thành và phát triển của nghề thẩm phán luôn gắn liềnvới sự hinh thành và phát triển của tòa án nhân dân nói chung và quá trình hìnhthành và phát triển của bộ máy nhà nước nói riêng Cùng với các chức danhkhác thi Thẩm phán đã và đang góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

3 Định nghĩa về thẩm phán

Theo khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số02/2002/PL-UBTVQH ngày 4 tháng 10 năm 2002 về Thẩm phán và hội thẩmtòa án nhân dân thì :

“Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làmnhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyềncủa Toà án”

Như vậy có thể thấy một số đặc điểm của thẩm phán, đó là:

Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật

Thẩm phán có nhiệm vụ xét xử vụ án và giải quyết những việc khác thuộcthẩm quyền của tòa án

Thẩm phán là một chức danh tư pháp quan trọng không thể thiếu trong tổchức Tòa án nói riêng và trong bộ máy nhà nước nói chung Ở nước ta, từ năm

2002, pháp lệnh Thẩm phán và hội thẩm tòa án nhân dân đã ghi nhận thẩm phán

là một chức danh tư pháp mà trước đó thẩm phán chỉ được coi là một chức vụ.Quy định này đánh dấu một bước ngoặt về nhận thức để xây dựng đội ngũ thẩmphán chuyên nghiệp, đáp ứng các yêu cầu của hoạt động xét xử Chỉ khi nào coithẩm phán là một nghề, có vị trí, chức danh nhất định trong xã hội thì họ mới có

cơ sở và điều kiện pháp lý để làm việc và cống hiến, phấn đấu cho sự nghiệp củamình Hoạt động xét xử của thẩm phán là chuyên nghiệp, do đó thẩm phán phảiđược tuyển chọn một cách kĩ lưỡng, cẩn thận để tìm được người đủ năng lực,

Trang 6

trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức có thể đảm đương tốt vaitrò của thẩm phán Pháp luật Việt Nam đã lựa chọn cách thức bổ nhiệm để tuyểnchọn thẩm phán và cũng đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể trong việc tuyển chọn thẩmphán Về cơ bản những qui định này bước đầu đã tạo ra những cơ sở pháp lý đểhình thành đội ngũ thẩm phán chuyên nghiệp cho hoạt động xét xử Tuy nhiên,pháp luật cũng cần quy địng rõ ràng, cụ thể hơn nữa về tính chuyên nghiệp củathẩm phán trên tất cả các lĩnh vực như: cơ chế bảo đảm, năng lực chuyên môn,đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng xét xử… để có thể xây dựng đội ngũ thẩm phánchuyên nghiệp.

II Thẩm phán theo quy định của pháp luật nước ta

1 Tiêu chuẩn của thẩm phán

a Tiêu chuẩn chung của thẩm phán tòa án các cấp

Điều 37 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 và khoản 1 điều 5 pháplệnh Thẩm phán và hội thẩm tòa án nhân dân năm 2002 quy định:

“Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có trình độ cử nhân luật và đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử, có thời gian công tác thực tiễn, có năng lực làm công tác xét xử theo quy định của Pháp lệnh này, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán”.

Đội ngũ thẩm phán là lực lượng chủ yếu của tòa án cùng với hội thẩmthực hiện chức năng xét xử của tòa án Vì vậy, thẩm phán phải hội tụ đủ nhữngtiêu chuẩn cần thiết Thẩm phán phải trung thành với Tổ quốc và Hiến phápnước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trung thành với lí tưởng xã hội chủnghĩa Vì công tác xét xử của tòa án cũng là một công tác chính trị, phục vụnhiệm vụ chính trị của Đảng và của Nhà nước, bảo vệ lợi ích của công nhân vànhân dân lao động Thẩm phán không chỉ có hiểu biết về chuyên môn nghềnghiệp cao mà phải có phẩm chất chính trị, đạo đức, phải là người bảo vệ lẽ phải

Trang 7

và công lí, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Trong công tác xét

xử không để lọt tội phạm và làm oan người vô tội Thẩm phán phải có đủ trình

độ nghiệp vụ chuyên môn thành thạo và năng lực xét xử các vụ án và giải quyếtnhững việc khác thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân thì mới có những phánquyết thấu tình đạt lí, đúng pháp luật Ngoài kiến thức về khoa hoc pháp lí, thẩmphán còn phải là người có ý thức pháp luật và văn hóa pháp lí, đồng thời phải amhiểu các lĩnh vực khoa học xã hội khác như: tâm lí học, xã hội học, đạo đức học…

Theo quy định tại thông tư liên tịch Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Quốcphòng - Bộ nội vụ - Ủy ban trung ương mặt trận tổ quốc Việt Nam số01/2003/TTLT-TANDTC-BQP-UBTWMTTQVN hướng dẫn một số quy địnhcủa pháp lệnh thẩm phán và hội thẩm tòa án nhân dân đã có những quy định hếtsức cụ thể ngoài những tiêu chí cứng quy định ở phần đầu của Điều 37 Luật tổchức Tòa án nhân dân và Điều 5 Pháp lệnh Thẩm phán Tòa án nhân dân thìThẩm phán bắt buộc phải những tiêu chí sau:

- Có trình độ cử nhân Luật: được hiểu là phải có bằng tốt nghiệp đại học

về chuyên ngành luật do các trường địa học trong nước có chức năng đào tạo đạihọc về chuyên ngành luật theo quy định Nếu văn bằng đại học chuyên ngànhluật do nước ngoài cấp, thì văn bằng đó phải được công nhận ở Việt Nam

- Đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử: nghĩa là phải có chứng chỉ đào tạo

nghiệp vụ xét xử do cơ quan có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp cấp;nếu là chứng chỉ do các cơ sở đào tạo của nước ngoài cấp thì phải được cơ quanNhà nước có thẩm quyền ở Việt Nam công nhận

- Có năng lực làm công tác xét xử: được hiểu là có khả năng hoàn thành

tốt công tác xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyềncủa Tòa án

- Có sức khỏe hoàn thành nhiệm vụ được giao: được hiểu là có năng lực

hành vi dân sự đầy đủ, ngoài thể lực cần thiết, còn bao gồm yếu tố ngoại hình đó

là không có dị tật, dị hình ảnh hưởng trực tiếp đến tư thế hoặc việc thực hiệnnhiệm vụ của người Thẩm phán

Trang 8

- Có thời gian công tác pháp luật: được hiểu là thời gian công tác kể từ

khi được xếp vào một ngạch công chức bao gồm Thư ký Tòa án, Thẩm traviên… Chính những quy định chặt chẽ như vậy, nên đội ngũ Thẩm phán được

bổ nhiệm hiện nay đã bảo đảm được đầy đủ về năng lực chuyên môn, nắm vữngđược nghiệp vụ kỹ năng xét xử các vụ án góp phần vào việc hoàn thành tốtnhiệm vụ của ngành Tòa án mà Đảng và Nhà nước giao phó

b Tiêu chuẩn của thẩm phán tòa án nhân dân các cấp

Căn cứ vào nhiệm vụ quyền hạn cụ thể của từng cấp tòa án, trên cơ sở tiêuchuẩn chung của thẩm phán, pháp lệnh Thẩm phán và hội thẩm tòa án nhân dânnăm 2002 và pháp lệnh số 12/2011/UBTVQH12 sửa đổi, bổ sung một số điềucủa pháp lệnh thẩm phán và hội thẩm của tòa án nhân quy định tiêu chuẩn cụ thểcủa thẩm phán tòa án nhân dân các cấp như sau:

* Thẩm phán tòa án nhân dân cấp huyện:

Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 điều 5 pháp lệnh Thẩm phán

và hội thẩm tòa án nhân dân năm 2002, có thời gian làm công tác pháp luật từbốn năm trở lên, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khácthuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện, Toà án quân sự khu vực, thì

có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Toà án nhân dân cấphuyện; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và

bổ nhiệm làm Thẩm phán Toà án quân sự khu vực

* Thẩm phán tòa án nhân dân cấp tỉnh:

Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 của Pháp lệnh Thẩmphán và hội thẩm tòa án nhân dân năm 2002 và đã là Thẩm phán sơ cấp ít nhất lànăm năm, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộcthẩm quyền của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng, thì có thể đượctuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán trung cấp thuộc Tòa án nhân dân; nếungười đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làmThẩm phán trung cấp thuộc Tòa án quân sự

Trang 9

Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ của ngành Tòa án nhân dân, người có

đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 của Pháp lệnh này và đã có thời gianlàm công tác pháp luật từ mười năm trở lên, có năng lực xét xử những vụ án vàgiải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định củapháp luật tố tụng, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán trungcấp thuộc Tòa án nhân dân; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thểđược tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán trung cấp thuộc Tòa án quân sự

* Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao:

Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 của Pháp lệnh Thẩmphán và hội thẩm tòa án nhân dân năm 2002 và đã là Thẩm phán trung cấp ítnhất là năm năm, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khácthuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung ương, thì

có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệmlàm Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương

Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ của ngành Tòa án nhân dân, người

có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 của Pháp lệnh này và đã có thờigian làm công tác pháp luật từ mười lăm năm trở lên, có năng lực xét xử những

vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tốicao, Tòa án quân sự trung ương, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làmThẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì

có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương

 Như vậy, khác với Pháp lệnh Thẩm phán và hội thẩm tòa án nhân dânnăm 1993, Pháp lệnh Thẩm phán và hội thẩm tòa án nhân dân năm 2002 đã quyđịnh việc tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ thẩm phán Trong nhiều tiêu chuẩn củathẩm phán thì có hai tiêu chuẩn hoàn mới đáng lưu ý là:

- Thứ nhất, thẩm phán phải là người có trình độ cử nhân luật và đã đượcđào tạo về nghiệp vụ xét xử

Trang 10

- Thứ hai, thảm phán tòa án nhân dân cấp trên được tuyển chon và bổnhiệm chủ yếu từ nhũng người là thẩm phán tòa án nhân dân cấp đưới trực tiếp.Những quy định trên đòi hỏi thẩm phán phải có trình độ nghiệp vụ chuyênmôn, kinh nghiệm xét xử cũng như kinh nghiệm sống phong phú nhằm nâng caohiệu quả trong công tác xét xử.

2 Hội đồng tuyển chọn thẩm phán

* Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân gồm có:

Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Tòa án nhân dân gồm có:

- Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phánTòa án quân sự trung ương;

- Các Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp thuộcTòa án nhân dân;

- Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp thuộc Tòa

án quân sự

Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán làm việc theo chế độ tập thể Quyết địnhcủa Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán phải được quá nửa tổng số thành viên biểuquyết tán thành

* Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phánToà án quân sự trung ương

Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà

án quân sự trung ương gồm có Chánh án Toà án nhân dân tối cao làm Chủ tịch,đại diện lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổquốc Việt Nam, Ban chấp hành trung ương Hội luật gia Việt Nam là uỷ viên.Danh sách uỷ viên Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân tốicao, Thẩm phán Toà án quân sự trung ương do Uỷ ban thường vụ Quốc hộiquyết định theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao

Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà

án quân sự trung ương có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

Ngày đăng: 27/06/2015, 10:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w