1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp ứng dụng sơ đồ tư duy trong giảng dạy phần văn học sử ở THPT

22 786 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 583 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÍ LUẬN Trong báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI của Đảng đã nêu: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá; đổi mới

Trang 1

đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người Môn Văn có mối quan hệvới rất nhiều môn học khác trong nhà trường phổ thông Học tốt môn Văn sẽ tác

động tích cực tới các môn học khác, tới sự phát triển của xã hội: “Tính nhân văn trong dạy văn ở nhà trường sút kém thì xã hội cũng sút kém theo”- Lời một chính

khách Nga Vì vậy trong môn Văn khó nhất là việc đổi mới phương pháp, dạyhọc Là một giáo viên giảng dạy bộ môn Văn, để nhằm nâng cao chất lượng giáodục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phù hợp với thực tiễn và truyền thống ViệtNam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và

trên thế giới Ở năm học này tôi mạnh dạn đề xuất đề tài: “Kinh nghiệm sử dụng

sơ đồ tư duy trong dạy học phần văn học sử ở trường THPT.”

Trang 2

B - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1 CƠ SỞ LÍ LUẬN

Trong báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI của Đảng đã

nêu: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy học; đổi mới

cơ chế quản lí giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí giáo đào tạo; tập trung nâng cao chất lượng giáo dục- đào tạo; coi trọng giáo dục đạo đức lối sống, năng lực sáng tạo kỹ năng thực hành” Một đòi hỏi bức thiết

dục-mà báo cáo nêu ra là phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam.Trong đó tập trung đổi mới nội dung, phương pháp và kĩ thuật dạy học, theohướng coi trọng việc dạy năng lực tự học của học sinh, lấy học sinh làm trungtâm, người học năng động, sáng tạo dưới sự dẫn dắt của giáo viên, coi trọng rènluyện kỹ năng thực hành (…) nhằm biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo tránh

Trang 3

lối truyền thụ một chiều, nhồi nhét kiến thức (Đổi mới căn bản và toàn diện nềngiáo dục- Phan Sĩ Anh).

Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số16/2006/QĐ - BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo đã

nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện

kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh” Như vậy, một trong những

trọng tâm của đổi mới giáo dục là tập trung vào đổi mới phương pháp dạy học

2 CƠ SỞ THỰC TIỄN:

Nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết của việc nâng cao chất lượng dạy học.Chương trình mới của môn Ngữ văn THPT được chính thức áp dụng từ năm học2006-2007, thì đến năm học 2011-2012 Bộ giáo dục và đào tạo lại tiếp tục đổi mớiphương pháp và kĩ thuật dạy học Một trong những phương pháp, kĩ thuật dạy họctích cực hiện đại nhất được đưa vào chương trình đổi mới lần này là sơ đồ tư duy-đây là kĩ thuật dạy học mới đang được rất nhiều nước, nhiều môn học áp dụng đểphát huy khả năng tư duy của học sinh, tạo cho các em hứng thú khi học tập bộmôn, làm cho các em không còn tâm lý ngại học, đặc biệt là bộ môn Văn

II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ

Trang 4

Thực trạng đáng lo ngại của việc dạy học môn Ngữ văn trong nhà trườngphổ thông hiện nay là khoảng cách ngày càng rộng giữa văn hoá ngoài xã hội vàvăn học trong nhà trường, giữa nội dung giảng dạy và tâm lý học tập của họcsinh ngày nay Xã hội ngày càng biến động thì khoảng cách đó càng xa, nhiềukhi học sinh không cảm nhận được hay cảm nhận một cách mơ hồ đã dẫn đếntình trạng vô thức trong văn hoá giáo dục đem đến những hậu quả nghiêm trọngkhôn lường.

Trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên thị trường thứ văn họcvàng, văn học đen, văn học nhảm nhí, hay gọi chung là “văn học giả” lâu nay đãtác động đến thanh thiếu niên, đến học sinh Việc nhà trường, giáo viên vớinhững giờ giảng văn ít ỏi và hiệu lực thường rất hạn chế liệu có gieo được vàotâm trí các em bao nhiêu ấn tượng sâu sắc cần thiết để tạo cho học sinh chúng ta

có được chút bản lĩnh, để tự mình ứng xử trước những cơn bão táp thông tin vănhoá nghệ thuật ngoài xã hội

Một thực trạng đáng báo động là tâm lý học tập của học sinh ngày càngdiễn ra dữ dội, mãnh liệt và quyết liệt hơn Họ sòng phẳng hơn, thẳng thắn hơnnhững thế hệ trước, ở thế hệ học sinh trước đây không dám bày tỏ thái độ khôngđồng tình với lời giảng của thầy Học sinh ngày nay dám biểu thị thái độ ấy mộtcách thẳng thắn trực tiếp Các nhà giáo dục cho rằng: “Học trò ngày nay không

còn là chiếc bình chứa để thầy cô rót kiến thức vào nữa, các em là ngọn lửa mà việc dạy của thầy phải làm sao tiếp cho ngọn lửa bùng cháy lên niềm khát vọng

Trang 5

chiếm lĩnh kiến thức, phải kiến tạo cho học trò một con đường” để các em đam

mê học tất cả các môn học Ngày nay, phu huynh và học sinh cho rằng chỉ cầnhọc các môn khối A là đủ và xem nhẹ các bộ môn khoa học xã hội, mặc dù kiếnthức của các môn học này là vô cùng quan trọng Vì vậy đã dẫn đến tình trạngtâm lý chán học, ngại học, thờ ơ với bộ môn văn

Về phía giáo viên đa số thầy cô đều có lòng yêu nghề, mến trẻ, tận tìnhvới công tác chuyên môn, quan tâm đến việc học của học sinh Nhưng trong quatrình giảng dạy còn bộc lộ một số hạn chế về phương pháp, kĩ thuật dạy học, dẫnđến chất lượng giảng dạy chưa cao

Trong hoàn cảnh xã hội xuống cấp về nhiều mặt, điều kiện học tập chưacao, nội dung giảng dạy còn nhiều chỗ bất cập, phương pháp trì trệ, đặc biệt làảnh hưởng từ bên ngoài xã hội đã tác động tới nhà trường khá dữ dội, đã làmảnh hưởng đến chất lượng dạy học môn Văn trong nhà trường càng sa sút Trướchết, là sự giảm sút về chất lượng nhân văn, được biểu hiện ở thái độ thờ ơ, lạnhlùng của học sinh trước những đau buồn của con người trong cuộc đời, cũng nhưtrong văn chương đã khiến cho nhiều người làm công tác giáo dục và giảng dạykhông thể không quan tâm

Tiếp đến là cách dạy khuôn sáo đã đẻ ra những kiểu học văn, làm văn giảdối, thi cử, kiểm tra thì quay cóp Có một số bộ phân học sinh sống ích kỷ vớingay cả người thân của mình nhưng khi làm văn thì huênh hoang sáo rỗng vớibiết bao ngôn từ hoa mĩ, giáo điều về đạo lý Ngoài ra phải kể đến sự non yếu về

Trang 6

năng lực cảm thụ văn, kĩ năng diễn đạt khi làm văn là điều mà người giáo viêndạy bộ môn Văn nào cũng nhận thấy qua bài viết của học sinh, ở nhiều năm nay

sự phân cực càng mạnh chuyện ngồi nhầm lớp càng nhiều Tình trạng bỏ họcngày càng tăng thì sự sút kém về kiến thức và kĩ năng hành văn của học sinhthời nay là điều không đáng ngạc nhiên

Muốn khôi phục được sự quan tâm của toàn xã hội, của các cấp, cácnghành đối với các bộ môn khoa học xã hội, đặc biệt là môn Văn Chúng takhông thể đưa ra những lời kêu gọi, những điều giáo huấn sáo rỗng mà phải tíchcực đổi mới phương pháp, kĩ thuật dạy học để khơi gợi lại hứng thú học văn ởhọc sinh, để đạt được chất lượng giáo dục toàn diện

III CÁC GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1 Khái niệm:

* Kĩ thuật dạy học : là những tác động, cách thức hành động của giáo

viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ, cụ thể nhằm thực hiện vàđiều khiển quá trình dạy học

* Sơ đồ tư duy : là một hình thức ghi chép có thể sử dụng màu sắc và hình

ảnh, để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Nhờ sự kết nối giữa các nhánh Các ýtưởng được liên kết với nhau khiến sơ đồ tư duy có thể bao quát được các ýtưởng trên một phạm vi sâu rộng tính hấp dẫn của hình ảnh, âm thanh gây ranhững kích thích rất mạnh lên hệ thống rìa của não giúp cho việc ghi nhớ được

Trang 7

lâu bền và tạo những điều kiện thuận lợi để vỏ não phân tích xử lý rút ra kết luậnhoặc xây dựng mô hình về đối tượng cần nghiên cứu.

2 Bản chất phương pháp dạy học bằng sơ đồ tư duy:

Bản chất của sơ đồ tư duy là kĩ thuật dạy học tổ chức và phát triển tư duygiúp người học chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộnão, đồng thời là một phương tiện ghi chép sáng tạo và rất hiệu quả theo đúngnghĩa của nó: “Sắp xếp” ý nghĩ

a Sơ đồ tư duy tận dụng được các nguyên tắc của trí nhớ siêu đẳng:

* Sự hình dung: sơ đồ tư duy có rất nhiều hình ảnh để bạn hình dung về kiến thức cần nhớ Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của trí nhớ siêu đẳng Đối với não bộ, sơ đồ tư duy giống như một bức tranh lớn đầy

hình ảnh màu sắc phong phú hơn là một bài học khô khan, nhàm chán

* Sự liên tưởng, tưởng tượng: sơ đồ tư duy hiển thị sự liên kết giữa các ý

tưởng một cách rất rõ ràng Đặc biệt là khả năng khái quát và hệ thống hóa kiến thức

* Làm nổi bật sự việc: Thay cho những từ ngữ tẻ nhạt đơn điệu, sơ đồ tư

duy cho phép giáo viên và học sinh làm nổi bật các ý tưởng trọng tâm bằng việc

sử dụng những màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng Hơn nữa, việc sơ đồ tư duydùng rất nhiều màu sắc khiến giáo viên và học sinh phải vận dụng trí tưởngtượng sáng tạo đầy phong phú của mình Nhưng đây không chỉ là một bức tranh

Trang 8

đầy màu sắc sặc sỡ thông thường, sơ đồ tư duy giúp tạo ra một bức tranh mangtính lý luận, liên kết chặt chẽ về những gì được học.

b Sơ đồ tư duy sử dụng cả hai bán cầu não cùng một lúc:

Sơ đồ tư duy thật sự giúp bạn tận dụng các chức năng của não trái lẫn nãophải khi học Đây chính là công cụ học tập vận dụng được sức mạnh của cả bộnão Nếu vận dụng đúng cách, nó sẽ hoàn toàn giải phóng những năng lực tiềm

ẩn trong bạn, đưa bạn lên một đẳng cấp mới, đẳng cấp của một tài năng thực thụhay thậm chí của một thiên tài

3 Ứng dụng sơ đồ tư duy trong quá trình dạy phần văn học sử ở lớp 12

a Dùng sơ đồ tư duy để dạy bài mới: giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu kiến

thức của bài mới, rồi yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ tư duy bằng cách đặt câu hỏi gợi

ý, để các em tìm ra các tự liên quan đến từ khoá đó và hoàn thiện sơ đồ tư duy.Qua đó học sinh sẽ nắm được kiến thức bài học một cách dễ dàng

Ví dụ: khi dạy bài Tác gia Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sau phần giới

thiệu bài, giáo viên có thể vẽ sơ đồ tư duy lên bảng gồm 4 nhánh chính, ở mỗinhánh có thể phân thành nhiều nhánh nhỏ tùy thuộc vào nội dung, kiến thức củabài học

Để có thể hoàn thiện sơ đồ tư duy của bài học, giáo viên sử dụng hệ thốngcâu hỏi định hướng, gợi mở để khai thác kiến thức:

Trang 9

+ Bố cục của văn bản: học sinh sẽ dựa vào văn bản để xác định các ýchính (tiểu sử, quan điểm, sự nghiệp văn học, phong cách nghệ thuật).

+ Tiếp tục hoàn thành các nhánh nhỏ của sơ đồ tư duy bằng hệ thống câuhỏi nhỏ có tính gợi mở, từ đó rút ra nội dung của bài học

Sơ đồ minh họa:

Trang 10

b Dùng bản đồ tư duy để củng cố kiến thức sau mỗi tiết học và hệ thống kiến thức sau mỗi chương, phần… Sau mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi

ý để học sinh tự hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học

Trang 11

bằng cách vẽ sơ đồ tư duy Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiếnthức bài học một cách dễ dàng nhanh chóng

Ví dụ 1: khi dạy bài Khái quát văn học Việt Nam từ cách mạng tháng

8-1945 đến hết thế kỷ XX, học sinh có thể dễ dàng tổng hợp kiến thức về một thời

kì văn học bằng sơ đồ tư duy Đặc trưng của bài học này là khái quát kiến thức,

vì vậy sơ đồ tư duy sẽ giúp các em có cái nhìn tổng quát hơn về văn học từ CMTháng 8/1945 đến hết thế kỷ XX Với kiểu bài này giáo viên nên tạo ra cácnhóm học tập thực hiện việc vẽ sơ đồ tư duy cho từng giai đoạn văn học, sau đóđại diện các nhóm lên trình bày, các nhóm khác nhận xét, góp ý bổ sung Cuốicùng giáo viên chốt lại kiến thức

Sơ đồ minh họa:

Trang 12

Ví dụ 2: Khi học xong bài Việt Bắc- phần tác giả, giáo viên chia nhóm và

yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ tư duy bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các em, saukhi các nhóm vẽ xong, cho đại diện của nhóm lên trình bày trước lớp để các họcsinh khác nhận xét, góp ý, bổ sung Cuối cùng giáo viên kết luận chung Việclàm đó đã giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách tự nhiên nhưng rất hiệuquả đồng thời kích thích quá trình hoạt động tập thể và tạo hứng thú học tập chohọc sinh

Trang 13

Sơ đồ minh họa:

4 Dùng sơ đồ tư duy để hỗ trợ phát triển tư duy cho học sinh:

Học sinh tự có thể sử dụng sơ đồ tư duy để hỗ trợ việc tự học ở nhà Tìmhiểu trước bài mới, củng cố ôn tập kiến thức bằng cách vẽ sơ đồ tư duy trên giấy

Trang 14

để tư duy một vấn đề mới Qua đó mà phát triển khả năng tư duy của chính bảnthân, nhằm khắc sâu thêm kiến thức.

5 Một số biện pháp ứng dụng sơ đồ tư duy trong đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn THPT:

+ Sử dụng sơ đồ tư duy giúp học sinh học được phương pháp học: việc

rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh là nhằm nâng cao chất lượng giáodục Thực tế cho thấy một số học sinh rất chăm học nhưng kết quả học tập vẫnthấp, các em thường học bài nào biết bài nấy, thậm chí vừa học xong đã quênngay, không biết tích hợp kiến thức giữa các phân môn với nhau Vì sao lại có

sự nghịch lí như vậy? Vì phần lớn những học sinh này khi đọc sách hay nghethầy cô giảng bài trên lớp đã không biết cách ghi chép để lưu giữ thông tin, kiếnthức trong tâm trí của mình Việc sử dụng thành thạo sơ đồ tư duy trong dạy học

sẽ giúp học sinh có phương pháp học, tăng tính độc lập, tự chủ, sáng tạo và pháttriển tư duy của học sinh

+ Sử dụng sơ đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực:

Những thành tựu nghiên cứu gần đây cho thấy, bộ não của con ngườikhông tư duy theo dạng tuyến tính mà bằng cách tạo ra những kết nối, nhữngnhánh thần kinh Việc ghi chép tuần tự theo lối truyền thống với bút và giấy códòng kẻ đã khiến cho con người cảm thấy nhàm chán Vì vậy việc sử dụng sơ đồ

tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng củanão bộ

Trang 15

+ Sử dụng sơ đồ tư duy giúp học sinh phát huy tính sáng tạo:

Trong sơ đồ tư duy, học sinh được tự do phát triển các ý tưởng, xây dựng

mô hình và thiết kế mô hình vật chất hay tinh thần để giải quyết những vấn đềthực tiễn Từ đó cùng với việc hình thành được kiến thức, các kĩ năng tư duyđồng thời tạo cho học sinh phát huy tính sáng tạo của bản thân

IV KẾT QUẢ

Việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học sẽ giúp giáo viên đổi mới đượcphương pháp dạy, giúp học sinh học tập tích cực điều đó đã góp phần nhằmnâng cao chất lượng giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay

Sau một thời gian ứng dụng sơ đồ tư duy trong đổi mới phương pháp dạyhọc nói chung, và đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng ởtrường THPT, tôi thấy bước đầu đã có những kết quả rất khả quan Bản thân làmột giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy môn Ngữ văn, tôi đã nhận thức đượcvai trò tích cực của việc ứng dụng sơ đồ tư duy trong hỗ trợ đổi mới phươngpháp dạy học Tôi đã biết sử dụng sơ đồ tư duy để dạy bài mới, củng cố kiếnthức bài học, tổng hợp kiến thức Học sinh hiểu bài hứng thú học tập hơn đối với

bộ môn và đem lại kết quả cao hơn Phần lớn các em học sinh đã biết sử dụng sơ

đồ tư duy để tự học, tự tổng hợp kiến thức môn học

- Kết quả cụ thể của môn Ngữ văn khối 12 năm học 2012- 2013:

Trang 16

+ Học sinh giỏi cấp tỉnh: chất lượng giải vẫn đảm bảo, số lượng giải tăng lên:

Năm học 2011-2012 chỉ có 5 học sinh đạt giải.

Năm học 2012-2013 đã có tới 8 học sinh đạt giải.

+ Chất lượng giảng dạy: của bộ môn văn trong năm học 2012- 2013 đã có

nhiều chuyển biến theo chiều hướng tốt

Loại giỏi: 19 học sinh, chiếm 3,96 %

Loại khá: 240 học sinh, chiếm 50 %

Loại trung bình: 215 học sinh, chiếm 44,79 %

C KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

I KẾT LUẬN.

Dạy học luôn là một quá trình sáng tạo, mục tiêu và nội dung chương trìnhcùa sách giáo khoa Ngữ văn 12 hiện nay được xây dựng trên cơ sở tích hợp.Điều đó đã tạo điều kiện cho học sinh dễ dàng mở rộng và nâng cao kĩ năng kiến

Ngày đăng: 27/06/2015, 09:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ minh họa: - Một số biện pháp ứng dụng sơ đồ tư duy trong giảng dạy phần văn học sử ở  THPT
Sơ đồ minh họa: (Trang 13)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w