Đề tài : Chữ Nhân trong luận thuyết Ngũ Thường của Khổng Tử
Trang 1MỞ ĐẦU
Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm nhất trên thế giới với hơn 4000 năm phát triển liên tục Có thể nói, văn minh Trung Hoa là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại Bên cạnh những phát minh, phát kiến về khoa học, văn minh Trung Hoa còn là nơi sản sinh ra nhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hưởng đến nền văn minh Châu Á cũng như toàn thế giới
Nét đặc trưng của triết học Trung Hoa là có xu hướng đi sâu giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội với nội dung bao trùm là vấn đề con người, xây dựng con người, xã hội lý tưởng và con đường trị nước Trong số các học thuyết triết học lớn đó phải kể đến trường phái triết học Nho giáo Nho giáo xuất hiện rất sớm, lúc đầu nó chỉ là những tư tưởng hoặc trí thức chuyên học văn chương và lục nghệ góp phần trị nước Đến thời Khổng tử đã hệ thống hoá những tư tưởng và tri thức trước đây thành học thuyết Nho giáo rất phát triển ở các nước châu Á là Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, và Việt Nam
Theo Nho giáo mọi thành viên trong xã hội đều bị trói buộc bởi Ngũ
Thường gồm Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín Ngũ Thường quy định hành vi ứng xử
của con người nó phản ánh hai mặt của cuộc sống hiện thực là quan hệ gia đình
và quan hệ xã hội Trong những phạm trù đạo đức ấy, chữ “nhân” (人 ) được Khổng Tử đề cập nhiều nhất và được coi là nguyên lý đạo đức cơ bản, quy định bản tính con người trong quan hệ giữa người và người từ gia tộc đến xã hội Để
hiểu hơn về chữ “nhân” của Khổng Tử, em thực hiện đề tài “Chữ Nhân trong
luận thuyết Ngũ Thường của Khổng Tử”
Trang 21 GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Sơ lược về Nho giáo
Nho giáo, còn được gọi là Khổng giáo, là một hệ thống đạo đức, triết lý và tôn giáo do Khổng Tử phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị Việc tìm hiểu
tư tưởng gốc của Khổng Tử rất khó khăn sau thời kỳ “đốt sách, chôn Nho” của nhà Tần, hai trăm năm sau khi Khổng Tử qua đời Tuy nhiên, cũng cái tên Nho giáo đó nhưng nội dung khác đã được đề cao Đó là hầu hết các đặc điểm trọng văn của văn hóa nông nghiệp trong Nho giáo nguyên thủy (tính “hài hòa”, tính
“dân chủ”, tính coi trọng văn hóa tinh thần) bị loại bỏ và bị thay thể bằng các đặc điểm trọng võ của văn hóa du mục (Tính “quốc tế”, tư tưởng “bá quyền”, Tính
“trọng sức mạnh” được thể hiện ở chữ “Dũng”, Tính “nguyên tắc” được thể hiện
ở học thuyết “chính danh”)
Đến đời Hán, Hán Vũ Đế đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tư tưởng Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ
tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm Nho giáo thời kỳ này được gọi là Hán Nho Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử
là con trời, dùng “lễ trị” để che đậy “pháp trị” Đến Hán nho, nhà Hán chủ trương “dương đức”, “âm pháp”, hay còn gọi là “ngoại Nho, nội pháp”, tức là chủ trương nhân trị chỉ còn là hình thức mà thực chất là pháp trị
Đến đời Tống, Nho giáo được gọi là Tống nho, với các tên tuổi như Chu
Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di (Ở Việt Nam, thế kỷ thứ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất giỏi Nho học nên được gọi là “Trạng Trình”) Chu Hi bắt đầu như một người theo học Phật giáo nhưng vì không thể chấp nhận ý tưởng
về vô ngã – không có bản ngã cố định – nên ông hướng tới truyền thống Nho
Trang 3giáo và rồi trở thành người trình giải chính của Tống Nho Điểm khác biệt của Tống nho với Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố “tâm linh” (lấy từ Phật giáo) và các yếu tố “siêu hình” (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị
Như vậy, Khổng giáo nguyên bản có thể bị coi là thất bại Trước khi chết, Khổng Tử rất u buồn bởi lẽ ông hiểu rằng, hút nhụy một phần từ văn minh nông nghiệp, Nho giáo mang tính nhân bản của ông chỉ thích hợp trong phạm vi làng
xã Còn để phục vụ trong phạm vi quốc gia thì cần phải có một triết lý có tính pháp luật cao hơn, và Hán nho đã hoàn thành xuất sắc điều này
1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của Khổng Tử
Khổng Tử nghĩa là vị thầy họ Khổng; còn gọi là Khổng Phu Tử, tước hiệu mà nho sinh dùng để tôn xưng vị thầy họ Khổng; ngoài
ra, còn được hậu thế vinh danh là “Vạn thế
sư biểu: vị thầy dạy vô số thế hệ” Trong
thập niên 70 của thế kỷ trước, một học giả
Mỹ đã xếp Khổng Tử ở ngôi vị thứ 5, chỉ sau chúa Giê-xu, Thính-ca-mâu-ni trong
số 100 nhân vật có ảnh hưởng trong lịch sử Đối với người Trung Quốc mà nói sự ảnh hưởng của Khổng Tử có thể phải xếp thứ nhất Mỗi con người ít nhiều đều chịu sự ảnh hưởng của học thuyết Khổng Tử
Thời đại của Khổng Tử là thời đại “vương đạo” suy vi, “bá đạo” nổi lên, chế độ
tông pháp nhà Chu đảo lộn, đạo lý suy đồi Vì thế, Khổng Tử muốn đem tài sức
Khổng Tử ( 孔子)(551 – 479)
Trang 4của mình ra giúp vua lập lại trật tự xã hội, nhưng không được vua nước Lỗ trọng dụng Sau đó, ông đem đạo của mình chu du qua 14 (16) nước, nhưng cũng không được ông vua nào nghe theo Về sau, ông trở về nước Lỗ mở trường dạy học và viết sách Trải qua bốn mươi năm “dạy người không mỏi”, Khổng Tử thu nhận trên dưới ba nghìn môn đệ Trong đó, có bảy mươi hai người được gọi là hiền, bao gồm cả những người được gọi là “triết”, hậu thế gọi là “Thất thập nhị hiền”
Ông san định “Kinh Thi”, “Kinh Thư”, “Kinh Dịch”, “Kinh Lễ” … soạn
“Kinh Xuân Thu” Môn đệ của ông chép lại lời thầy dạy thành bộ “Luận ngữ”,
“Trung dung”, “Đại học”
NGŨ THƯỜNG CỦA KHỔNG TỬ
2.1 Tư tưởng về đức nhân
Nhân là phạm trù "hạt nhân” trong học thuyết của Nho giáo, được xem là
tư tưởng xuyên suốt của trường phái này
Trong triết học Trung Hoa có hai chữ Nhân, nhân nghĩa là người, con
người và nhân nghĩa là nhân ái, nhân đức là bản tính của con người Cũng trong
triết học Trung Hoa nhân bao gồm chữ nhân đứng kết hợp với chữ nhị có nghĩa
là đạo làm người Như vậy, nhân theo nghĩa hẹp là một phẩm chất đạo đức cụ thể, cơ bản và nền tảng của con người Theo nghĩa rộng, nhân bao gồm mọi đức của con người như lễ, nghĩa, trí, tín, hiếu, trung , đây là những phẩm chất có ý nghĩa bao trùm lên mọi đức tính Nhân là đạo làm người, là cách cư xử của mình đối với người, là yêu người, là bác ái Nhân là quy phạm nguyên tắc đạo đức chủ
yếu nhất có tính phổ biến nhằm chi phối ràng buộc con người trong việc tu dưỡng hoàn thiện đạo đức của mình và ràng buộc mọi hành vi ứng xử trong các
Trang 5quan hệ xã hội giữa người với người, giữa người với mọi giai cấp, tầng lớp khác
trong xã hội Nhân còn là phạm trù đạo đức mang tính chất chính trị là công cụ
chính trị và nhằm mục đích chính trị
Nhân được biểu hiện qua những việc làm cụ thể của con người như cung
kính với bề trên, nhân nhượng với người dưới, trung thực với người, quan trọng hơn cả là lòng yêu thương con người Nếu làm trái với những điều đó thì đều là
làm trái với đức nhân Qua đó để khẳng định nhân là đạo đức của con người, là hành vi ứng xử, là cách đối nhân xử thế giữa người với người Nhân vừa bao la
vô cùng nhưng nhân cũng rất gần gũi với mọi người, nhân gắn liền với bản chất
tự nhiên của con người Nếu hiểu theo tinh thần của Nho giáo thì nó là tinh thần chính trị, của đạo đức con người, là tinh thần của "Lễ", "Nhạc" Cho nên sách
Nho định nghĩa: "Nhân là người và yêu người Yêu người bắt đầu từ mình đến
người gắn với mình cho đến quốc gia, xã hội, đây là tình, là hiếu, là trung, là nhân ái" Nếu nhân chỉ là yêu người thôi thì hoàn toàn chưa đủ, mà nhân còn là
yêu người một cách vô tư không gượng ép, đó là bản tính vốn có của con người
Từ nhân mới nảy sinh ra các đức khác, nhân là gốc để sinh ra hiếu, lễ, trí, tín Ngược lại các đức ấy lại hội tụ ở nhân Như vậy nhân là phạm trù bao quát và
toàn diện nhất
Trong lịch sử Nho học, phạm trù nhân không phải đến đời Khổng Tử mới
có mà quan niệm này đã có từ rất lâu Sách Kinh Dịch cho rằng: "lập đạo của
trời nói rằng âm và dương, lập đạo của đất nói về nhu và cương, lập đạo của người nói về Nhân và Nghĩa” Đến thời Khổng Tử quan niệm về nhân mang tính
chất mới mẻ hơn và sâu sắc hơn Trong suốt cuộc đời của mình, Khổng Tử luôn mang hoài bão đưa tư tưởng của mình, học thuyết của mình để hướng con người
đạt đến điều nhân, thực hiện đường lối trị nước bằng đạo đức (đức trị) để xây
Trang 6dựng một xã hội thái bình thịnh trị Trong luận ngữ có 105 chỗ nói đến nhân, nhưng không chỗ nào giống chỗ nào Vậy “nhân” là gì?
Phan Trì hỏi nhân là gì? Phu Tử nói "Yêu người" (Nhan Uyên).
Trọng Cung hỏi nhân là gì? Phu Tử nói "Cái gì mình không muốn
thì không làm cho người ta; ở trong nước không có điều oán, ở trong nhà không có điều oán" (Nhan Uyên) "Nhân là làm cái khó trước mà để cái được lại sau" (Ung dã) "Người quân tử bỏ cái nhân thì làm sao thành danh được? (Lý nhân)… Qua đó để ta thấy
với Khổng Tử đức nhân chẳng ở đâu xa mà ngay chính trong lòng, trong tâm của mỗi người Con người muốn đạt được điều nhân thì
dẹp bỏ tất cả tư dục mà làm theo điều Lễ
Chữ nhân của Khổng Tử có nội dung phức tạp Mặc dù vậy có thể hiểu
nhân là một khái niệm đạo đức chỉ phẩm chất cần có của người quân tử Phẩm chất đó được nhìn nhận từ hai mặt: đối với mình và đối với người Đối với mình phải trong sạch, không nghĩ và không làm điều xấu, điều ác, phải giữ đúng lễ và
vươn lên không ngừng Theo cách nói của các nhà nho là phải "tu thân" theo các tiêu chuẩn nhân, nghĩa, lễ, trí, tín để có thể "tề gia, trị quốc, bình thiên hạ" Đối với người, phải thương yêu người (Phàn Trù vấn nhân, Tử viết: "ái nhân" - Nhan Uyên); phải giúp người thành đạt như chính mình (Phù nhân giảm kỉ dục lập nhi
lập thân, kỉ dục đạt nhi đạt nhân - Ung dã) Đứng trên quan niệm triết lý, đạo
đức và tôn giáo của Khổng Tử thì nhân ở đây là “nhân trị” mà cốt lõi là cai trị
bằng tình người, là yêu người, coi người như bản thân mình phải tránh cho người
khác những điều chính mình cũng không muốn (Kỉ sở bất dục vật thi ư nhân
-Nhan Uyên) Mình muốn thì cũng giúp người khác thông đạt, đó là trung: mình
không muốn thì cũng tránh cho người khác, đó là thứ: "Trung thứ" chính là
Trang 7Tuy nhiên, không nên quá nhấn mạnh một chiều giá trị siêu việt của chữ
nhân như Phơ-bách đã làm khi mượn chữ nhân của Khổng Tử để minh họa cho
chủ nghĩa nhân đạo của giai cấp tư sản Chủ ngĩa nhân đạo của Phương Tây nghiêng về quyền lợi con người, chữ nhân phương Đông nghiêng về trách nhiệm
con người Nói đến chữ nhân, Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh đến sự an phận mà không oán trách, đặc biệt ở người dân (tại bang vô oán, tại gia vô oán - Nhan Uyên), phải chống lại sự hiếu thắng, khoe khoang, oán giận, ham muốn (khắc
phạt, oán, dục, bất hành yên, khả dĩ vi nhân hĩ - Hiến vấn) Ông nói đến chữ nhân là nhằm vào người quân tử; bên cạnh chữ nhân còn có chữ dân giành cho
người nô lệ "Người quân tử học đạo thì biết thương người, kẻ tiểu nhân học đạo
thì dễ sai khiến" (quân tử học đạo tất ái nhân, tiểu nhân học đạo tất dị sử
-Dương Hóa)
Khổng Tử còn ví người đức nhân như nước vậy "Nước chảy xuống
trủng, chảy quanh co như Nghĩa vậy Nước từ trên cao trăm trượng đổ xuống
mà không ngần ngại giống như Dũng vậy Nước ở lại chỗ cạn thì lưu hành, chỗ sâu thì không lường được giống như Trí vậy Yếu mờ nhỏ mà ở đâu cũng thấm được giống như sát vậy Cái gì không sạch vào nước thì cũng sạch, tinh khiết giống như thiên hóa Nước đứng động, bằng phẳng giống như Chính vậy, nước đầy thì không phải giữ giống như Độ vậy Nước khi khúc chiết chảy về biển Đông, giống như ý vậy" (Luận ngữ, Tử lộ) Như thế nhân cách theo Khổng Tử là
mỗi người phải tự trau dồi cho mình những đức tính tốt đẹp đủ để tỏa ra cho mọi người xung quanh giống như nước vậy
Như vậy ta thấy Nhân là yếu tố quan trọng, là cái gốc mở đầu của việc xây dựng đạo đức của một con người Ai đạt được bậc nhân thì làm gì cũng được
Trang 8lòng người, ích cho đời Bởi thế, "Người quân tử trong bữa cơm cũng không nên
trái điều nhân, vội vàng cũng phải theo nhân, loạn lạc cũng phải giữ nhân",
(Luận ngữ, Lễ nhân) Qua đó chúng ta thấy được quan niệm về nhân của Nho
giáo mang đậm tính nhân văn và có ý nghĩa thiết thực mà con người luôn hướng đến
2.2 Luận thuyết Ngũ Thường của Khổng Tử
Ngũ Thường là phần tư tưởng cuả Khổng Tử (551- 479 trước CN) đứng trên mặt Nhân Sinh Quan mà xét, ông đưa ra học thuyết Chính Danh nhằm ổn định trật tự vốn dĩ bất an trong thời Xuân Thu Chiến Quốc
Chính Danh theo Khổng Tử là sự vật được tồn tại phải dùng ngôn ngữ để biểu hiện một cách khách quan đó là danh, nhưng danh không thực chỉ có nội hàm và sự vật thì luôn luôn thay đổi nên nội hàm thay đổi theo, nhưng ngôn ngữ biểu hiện thì ổn định do đó danh bị tụt hậu hay lạc lối, nếu danh không thay đổi
để bắt kiệp với sự vật thực tại thì không còn chính danh, xã hội tất loạn
Do đó Khổng Tử đặt ra một loạt Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức mô hình chính danh cho con người theo đó để tu thân mà Ngũ
Thường-nhân, lễ, nghĩa, trí, tín là một hướng dẫn về phép ứng xử luân lí đạo đức tu thân
trong xã hội Nho giáo
Ngũ Thường ở đây không đơn giản trong lẽ đạo đức thường của 5 phép:
nhân, lễ, nghĩa, trí, tín mà còn thâm thúy nằm trong ngũ Thường luận về quân
thần, phụ tử, huynh đệ, phu phụ và bằng hữu Như vậy trong tư tưởng đạo đức
Trang 9của Khổng Tử Ngũ Thường chính là ngũ luân là căn bản cơ sở như một nhân tố, trong đó bốn điều sau vẫn còn có giá trị, trong khi quân thần đã mất đi phần ý nghĩa vì thời thế thay đổi, tuy nhiên nếu lồng vào quân thần bằng ý nghĩa thời đại suy rộng trong quan hệ liên đẳng cấp trên bình diện tương kính…thì vẫn có ý nghĩa áp dụng được
2.3 Chữ nhân trong luận thuyết Ngũ thường của Khổng Tử
“Nhất Nhân”, chữ nhân không phải tự nhiên được đứng đầu, các bậc hiền triết xưa có cái lý cả Nhân chính là kết tinh của Ngũ Thường, bởi nếu biết giữ chữ tín, cái nghĩa con người, biết giữ lễ với nhau thì hẳn chúng ta mới hoàn thiện được cái nhân, nếu mà một trong bốn đạo kia mà chưa giữ vẹn thì quả chữ nhân cũng khó mà hoàn thiện được Khổng Tử nói đến nhân là nói đến nhân phẩm cơ bản để có thể thực hành “lễ, nghĩa, trí, tín”.
Tạm dịch nhân có nghĩa chính là Nhân ái Nhân ái không dành riêng cho
bất kì tầng lớp nào, kể cả giàu sang hay nghèo hèn đều có thể thi hành Nhân ái Thật sự rằng, đã là con người thì bao giờ lòng Nhân ái cũng tìm ẩn trong trái tim,
Mạnh Tử đã nói : " Nhân chi sơ, tính bổn thiện " Con người vừa mới sinh ra, ai cũng hiền lương cả Nhưng nhân chỉ có thể xuất phát nếu tâm hồn ta trong sạch
chớ vướng vào bụi trần làm cho ô uế ra, ta cứ yêu thương đồng loại để mà bao dung, tha thứ và cho đi Và lịch sử loài người cũng đã ghi lại không ít câu chuyện những bậc cao nhân thi hành "Nhân ái" đáng cho ta phải học hỏi và nể phục Từ vua chúa đến các bậc hiền triết đã nhiều người đi dùng nhân nghĩa mà trị quốc cũng như dùng để đối nhân sử thế
Trong quan niệm của Khổng Tử, "nhân" không chỉ là "yêu người", "thương người", mà còn là đức hoàn thiện của con người, và do vậy, "nhân" chính là đạo
Trang 10làm người - sống với mình và sống với người, đức nhân là cái bền vững như núi sông Với ông, nếu thịnh đức của trời - đất là sinh thành, bắt nguồn từ đạo trung
hoà, trung dung thì cái gốc của đạo lý con người là "trung thứ" và đạo đức, luân
lý con người là "nhân", người có đạo nhân là bậc quân tử, nước có đạo nhân thì
bền vững như núi sông
Tuy nhiên, trong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc đã có nhiều học thuyết
phê phán chữ "nhân" (yêu người) của Khổng Tử Có người cho đó là giả dối, có
người cho đó là nói suông, có người lại cho đó là nguồn gốc của bất nhân, bất
nghĩa Thế nhưng không phải vì thế mà tư tưởng nhân của Khổng Tử không đi
vào lòng của nhiều người đương thời, gây cho họ biết bao sự xúc động và làm cơ
sở cho hành động nhân đạo của họ Thực tế cho chúng ta thấy, "Từ đời Hán trở
đi, suốt trên hai nghìn năm đạo Khổng được độc tôn, Vua Chúa đời nào cũng ráng áp dụng nó, mặc dầu không đúng Nó thực tế hơn đạo Mặc, đạo Lão, nhân bản hơn thuyết của Pháp gia" Cũng cần phải nói thêm rằng, trong Luận ngữ, tư
tưởng nhân của Khổng Tử còn bao gồm nhiều đức khác, như: Trực (ngay thẳng,
không giả dối), Kính (nghiêm trang, cẩn trọng, cẩn thận trong công việc), Nghĩa, Lễ
Ngoài ra, đức nhân trong Ngũ Thường của Nho giáo cũng là xuất phát điểm của học thuyết đạo đức, chính trị - xã hội Vì vậy, nhân có mối quan hệ chặt chẽ mật thiết với các đức khác Chẳng hạn nhân với nghĩa trong đó nhân thể hiện lòng thương người thì nghĩa là trách nhiệm thực hiện tình cảm đó Muốn thực hiện điều Nhân phải có ý chí sắt đá vì vậy đức nhân có quan hệ biện chứng với trí, tín, dũng Tuy nhiên đối với người cầm quyền, đức nhân như một thành
trì vững chắc để giữ gìn và bảo vệ những gì họ đạt được