Đề tài : Giá trị văn hóa, nghệ thuật chùa Yên Đông ( xã Yên Hải, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh )
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Quảng Ninh có truyền thống văn hóa lâu đời, là cái nôi của nền văn hóa
cổ Hạ Long, là nơi có thương cảng Vân Đồn, một thương cảng cổ nổi tiếngsầm uất của nước ta trong nhiều thế kỷ Quảng Ninh còn là vùng đất đã chứngkiến biết bao chiến công hiển hách chống giặc ngoại xâm mà nổi bật là chiếnthắng Bạch Đằng lịch sử, phá tan giặc Nguyên Mông thế kỷ XIII Truyềnthống ấy còn được lưu truyền và phát huy đến tận ngày nay, khi quân và dânvùng mỏ đứng lên chống lại chế độ thực dân Pháp và đế quốc Mỹ khi chúngsang xâm lược nước ta Cũng từ nơi đây, giai cấp công nhân Việt Nam đãđược hình thành và phát triển, góp phần vào công cuộc bảo vệ và xây dựngđất nước
Là một tỉnh tiếp giáp với vùng đồng bằng Bắc Bộ, nên Quảng Ninhcũng chịu ảnh hưởng của vùng văn hóa Bắc Bộ Rất nhiều các công trình kiếntrúc, đền đài, miếu mạo, chùa chiền được xây dựng trên mảnh đất này, đểphục vụ nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân, như: Khu di tích danhthắng chùa Yên Tử, nơi ra đời của thiền phái Trúc Lâm Việt Nam; đền CửaÔng thờ Đức Ông Trần Quốc Tảng, chùa Quỳnh Lâm, đình làng Trà Cổ, đìnhlàng Phong Cốc Hà Nam, đình làng Quan Lạn Bên cạnh đó, văn hóa QuảngNinh còn mang những sắc thái riêng, đặc trưng của vùng duyên hải Bắc Bộvới những làng chài ven biển, như làng chài Cửa Vạn, Ba Hang, Vông Viêng,Cặp La
Ngày nay, trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,Quảng Ninh với vai trò là một trong ba trung tâm kinh tế lớn của miền Bắc,
Trang 2đã từng bước xây dựng và phát triển trên các lĩnh vực Kinh tế- xã hội Vớimục tiêu: “ xây dựng Quảng Ninh trở thành một địa bàn động lực, một trongnhững cửa ngõ giao thông quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đốivới khu vực và quốc tế, một khu vực phát triển năng động của kinh tế venbiển và biển, có tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, có thế và lực ngày cànglớn thúc đẩy sự phát triển và khả năng cạnh tranh” và chiến lược “ phát triểntheo hướng công nghiệp hóa, kinh tế hướng mạnh vào xuất khẩu, nhanhchóng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp
và dịch vụ, đặc biệt là các ngành kinh tế giữ vai trò chủ đạo của tỉnh Coitrọng hàng đầu việc xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tíchcực chuẩn bị tốt tiền đề để phát triển nhanh và bền vững hơn sau năm 2010”.Trong quá trình đó, kinh tế giữ vai trò là nền tảng vật chất của xã hội, còn vănhóa là “ nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúcđẩy sự phát triển của xã hội” Bảo vệ và gìn giữ giá trị văn hóa của tỉnh là mộttrong những nhiệm vụ hết sức cấp bách, đòi hỏi sự phối hợp của các cơ quan,ban ngành và địa phương, nhằm góp phần xây dựng “ một nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” Đề tài: Giá trị văn hóa, nghệ thuật chùa Yên Đông ( xã Yên Hải, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh ) được
thực hiện với mục đích bảo tồn, giữ gìn và phát huy một trong những di sảnvăn hóa nghệ thuật đặc sắc của tỉnh Quảng Ninh và địa bàn huyện Yên Hưngtrong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước
2 Tình hình nghiên cứu:
Từ nhiều năm nay các công trình nghiên cứu về văn hóa dân tộc liêntục được xuất bản với cả hai mảng đề tài là văn hóa vật thể và phi vật thể Đặcbiệt các di tích lịch sử trong đó các ngôi chùa nổi tiếng được nhiều nhà khoahọc quan tâm khảo cứu.Các giá trị văn hóa nghệ thuật trong các ngôi chùa ởViệt Nam đã được đề cập tới trong các công trình nghiên cứu như:
Trang 3- “ Chùa Việt” của PGS- TS Trần Lâm Biền , nghiên cứu tính chất văn hóa,
nghệ thuật, kiểu kiến trúc và phong cách tượng Phật giáo tại các ngôi chùacủa người Việt từ thời Lý ( thế kỷ XI, XII) đến thế kỷ XIX Ngoài ra, trong
luận án Phó Tiến sỹ Khoa học lịch sử với đề tài: “ Những giá trị văn hóa nghệ
thuật của ngôi chùa truyền thống vùng đồng bằng sông Hồng” của tác giả
cũng đề cập sơ lược về ngôi chùa ở vùng đồng bằng sông Hồng, kết cấu củangôi chùa Việt, tượng thờ trong ngôi chùa Việt
- Cuốn:“ Sáng giá chùa xưa” của PGS Chu Quang Trứ nghiên cứu kiến trúc
các ngôi chùa ở Việt Nam với nền văn hóa dân tộc cổ truyền Trong đó, tácgiả giới thiệu về một số ngôi chùa và các di vật đặc sắc trong các ngôi chùa ởViệt Nam
- Cuốn “ Chùa Việt Nam” của GS Hà Văn Tấn nghiên cứu về toàn cảnh các
ngôi chùa Việt Nam trong lịch sử và trong đời sống văn hóa dân tộc cũng nhưnhững đặc điểm của Phật giáo và văn hóa tâm linh của dân tộc được thể hiện
ở các ngôi chùa Việt Nam Tác giả đi vào giới thiệu khái quát về 118 ngôichùa trên khắp mọi miền đất nước qua các thời kỳ
- Tác giả Trần Mạnh Thường trong cuốn “ Đình chùa, lăng tẩm nổi tiếng ở
Việt Nam” giới thiệu lịch sử, kiến trúc các thành lũy, đền tháp, đình chùa ở
Việt Nam từ xưa đến nay
- Tác giá Nguyễn Huy Quang trong luận văn tốt nghiệp Cao học với đề tài: “
Chùa Láng- những giá trị văn hóa nghệ thuật” đề cập đến chùa Láng, đi sâu
phân tích các giá trị văn hóa nghệ thuật của chùa Láng
Nằm ở ven biển phía Tây Nam của Quảng Ninh, Yên Hưng là huyện có
hệ thống các di tích lịch sử văn hóa đặc sắc với các công trình kiến trúc, đền
Trang 4chùa, miếu mạo tiêu biểu của một làng quê Việt Nam Có nhiều các côngtrình nghiên cứu về mảnh đất này, khi trước đây nó có tên là tỉnh Quảng Yên.
Về giá trị văn hóa, nghệ thuật trong các di tích lịch sử văn hóa của
huyện Yên Hưng, tác giả Đinh Kiều Sơn với đề tài tốt nghiệp Cao học“ Giá
trị văn hóa nghệ thuật đình Phong Cốc” đi sâu vào nghiên cứu các giá trị văn
hóa, nghệ thuật của một ngôi đình nổi tiếng ở huyện Yên Hưng
Chùa Yên Đông, nằm ở xã Yên Hải, cũng được đề cập đến trong một
số cuốn sách :
- Trong Địa chí Quảng Ninh ( tập 3), do Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh
xuất bản năm 2003 đã khái quát về lịch sử hình thành của ngôi chùa cũng như
hệ thống hiện vật còn lưu giữ được ở trong chùa
- Cuốn: “ Di tích và danh thắng Quảng Ninh” của Ban quản lý di tích thắng
cảnh Quảng Ninh liệt kê các di tích của tỉnh Quảng Ninh đã được xếp hạngcũng đề cập đến chùa Yên Đông với tư cách là một ngôi chùa cổ còn giữđược ở Huyện Yên Hưng
- Tác giả Lê Đồng Sơn trong cuốn “ Văn hóa Yên Hưng- Di tích, văn bia, câu
đối, đại tự, xuất bản năm 2008 Cuốn sách đã giới thiệu hệ thống văn bia và
câu đối còn lưu giữ được ở các di tích của huyện Yên Hưng cùng với việcphiên dịch hệ thống các văn bia, câu đối đó ra tiếng Việt
Bên cạnh đó có một số trang web đề cập đến chùa Yên Đông Trang
Web:http://quangninh.gov.vn/So-vhttdl/yenhung/001578.aspx chuyên mục
những di tích được xếp hạng cấp quốc gia, có thể thấy một số thông tin vềchùa Yên Đông ở góc độ miêu thuật, bao gồm: tên chùa, vị trí địa lý, niên đạingôi chùa, hệ thống hiện vật còn lưu giữ được cùng với việc công nhận chùa
là di tích nghệ thuật cấp quốc gia tại quyết định số 30/QĐ-BVHTT ngày
Trang 524/11/2000 của Bộ Văn hóa thông tin ( nay là Bộ Văn hóa- thể thao và dulịch).
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới chỉ giới thiệu những nétkhái quát nhất về chùa Yên Đông mà chưa đi sâu vào nghiên cứu những giátrị văn hóa nghệ thuật tiềm ẩn ở trong đó Dù vậy, đây là những nguồn tài liệuquý để tác giả tham khảo trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu các giá trị vănhóa, nghệ thuật chùa Yên Đông
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
*.Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ một số vấn đề:
- Những giá trị văn hóa, nghệ thuật tiêu biểu của chùa Yên Đông trongkiến trúc, điêu khắc, nghi lễ tôn giáo và một số di vật tiêu biểu
- Đề xuất những giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nghệthuật của chùa Yên Đông
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa các tư liệu liên quan đến chùa Yên Đông
- Phân tích vai trò của chùa Yên Đông trong đời sống văn hóa nhân dân
xã Yên Hải, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh
- Làm rõ các giá trị văn hóa, nghệ thuật được thể hiện qua kiến trúc vànghệ thuật điêu khắc, trang trí của chùa Yên Đông
- Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị chùa Yên Đông trongđời sống hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: chùa Yên Đông (xã Yên Hải, huyện YênHưng, Quảng Ninh)
Trang 6- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: chùa Yên Đông trong không gian xã Yên Hải
+ Về thời gian: từ khi xây dựng chùa Yên Đông đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu:
Vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử và tư tưởng Hồ Chí Minh để nghiên cứu giá trị di tích lịch sử, văn hóa.
Tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành Văn hóa học, mỹ thuật học, dântộc học Những phương pháp này giúp người viết có những tiếp cận, nghiêncứu và đánh giá về các hiện tượng , các vấn đề văn hóa một cách khoa học vàkhách quan
- Phương pháp điền dã điều tra xã hội học kết hợp khảo sát thực địa,chụp ảnh- ghi hình và phỏng vấn trực tiếp, nhằm kiểm tra, đánh giá chính xácdựa trên những thông tin đầy đủ mà người viết thu thập được
- Phương pháp phân tích- tổng hợp: dựa trên những thông tin đã có quađiều tra, khai thác thần tích, truyền thuyết, thư tịch và tìm hiểu, kết hợp vớinhững công trình đi trước để có một cái nhìn tổng thể về di tích, đồng thời đốichiếu so sánh và phân tích những kết quả đó mà đưa ra kết luận cuối cùng choluận văn
6 Những đóng góp của đề tài:
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu hệ thống toàn diện các giá trị vănhóa nghệ thuật của chùa Yên Đông, kết quả của nghiên cứu sẽ cung cấp mộtnguồn tư liệu phục vụ công tác nghiên cứu khoa học về chùa và di tích lịch sử
Trang 7văn hóa của huyện Yên Hưng và tỉnh Quảng Ninh, góp phần làm phong phúthêm các giá trị văn hóa nghệ thuật của di tích kiến trúc cổ của Việt Nam.
Đề xuất một số giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của ditích chùa Yên Đông trong giai đoạn hiện nay
Chương 2: Giá trị văn hóa, nghệ thuật trong kiến trúc, điêu khắc
và các nghi lễ của chùa Yên Đông
Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, nghệ thuật chùa Yên Đông.
Trang 8Chương 1
KHÔNG GIAN VĂN HÓA XÃ YÊN HẢI
VÀ DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ CHÙA YÊN ĐÔNG1.1.KHÔNG GIAN VĂN HÓA XÃ YÊN HẢI:
1.1.1 Lịch sử hình thành xã Yên Hải :
Xã Yên Hải có diện tích tự nhiên 15,2 km² Phía Bắc giáp xã Nam Hòa
và xã Cẩm La Phía Nam giáp xã Phong Cốc và xã Liên Vị Phía Đông giáp
xã Cẩm La và xã Phong Cốc Phía Tây giáp sông Bạch Đằng Số dân năm
2009 là 5.316 người, cư trú ở hai thôn Yên Đông và thôn Hải Yến gồm támxóm, từ xóm 1 đến xóm 8 Lịch sử hình thành xã Hải Yến gắn liền với sự hìnhthành của làng Yên Đông và xã Hải Yến
Yên Hưng là vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời Cách đây khoảng
3000 đến 3.500 năm, khu Hoàng Tân, Yên Hưng, đã có người Việt cổ sinhsống “ Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở Hoàng Tân rất nhiều công cụ sảnxuất, sinh hoạt bằng đá, như: rìu, bôn, búa, đục, bàn mài, mũi khoan, chàynghiền của nền văn hóa Hạ Long thời kỳ đá mới, tiếp đến là các đồ đồng củanền văn minh Đông Sơn triều đại các vua Hùng ở vùng của biển, lúc bấy giờđất Yên Hưng thuộc Bộ Dương Tuyền hay Hải Tuyền thời vua Hùng Đó làcác bình đồng, thạp đồng, vòng tay đồng, lưỡi cày đồng, tấm che ngực, daogăm, mũi tên đồng, rìu đồng và các hũ bình gốm có chất liệu và mang phongcách văn hóa gốm Phùng Nguyên, Hoa Lộc” [21,tr 8]
Dưới thời nghìn năm Bắc thuộc, dưới sức ép đồng hóa mạnh mẽ củangoại bang, người dân ở Yên Hưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa truyềnthống của người Việt Tiếp thu kỹ thuật làm gốm của người Hán để chế tác racác đồ gốm dân dụng và gạch nung để xây dựng hầm mộ, nhà cửa Ở Yên
Trang 9Hưng hiện còn hàng trăm ngôi mộ cổ mang phong cách mộ Hán và một khốilượng lớn các đồ gốm thời Đông Hán trong lòng đất, minh chứng vùng đấtYên Hưng là một trong những trung tâm chính trị cai trị nước Nam của nhàĐông Hán.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư bản khắc năm Chính Hòa 18 ( 1679)[7,tr
236]: đời Đinh, Lê, Yên Hưng thuộc trấn Triều Dương; đời Lý Thái Tổ nămThuận Thiên thứ 14 ( 1023) đổi trấn Triều Dương thành châu Vĩnh An; đờiTrần, vua Trần Thái Tông năm Thiên ứng Chính Bình thứ 11 (1242) gọi châuVĩnh An là lộ Hải Đông có tám huyện: Yên Bang, Chi Phong, Yên Lập, YênHưng, Tân An, Đại Độc, Vạn Ninh, Vân Đồn Nhà Lê, đầu đời Thuận Thiên(1428) gội là Yên Bang ( An Bang) thuộc Đông Đạo Năm Quang Thuận(1460-1469) đặt là An Bang Thừa Tuyên; từ năm Gia Thái đời vua Lê ThếTông ( 1573-1577) vì kiêng húy tên vua Lê Anh Tông, mới đổi An Bangthành Yên Quảng, huyện Yên Hưng thuộc Yên Quảng, trấn Yên Quảng cómột phủ ( Hải Đông), sáu huyện ( Chi Phong, Yên Hưng, Hoành Bồ, ThủyĐường, Kim Thành, An Dương) và ba châu ( Vạn Ninh, Vĩnh An, Vân Đồn).Năm 1802, vua Gia Long trả Kinh Môn Lệ vào trấn cũ Hải Dương; vẫn lấymột phủ Hải Đông làm trấn Yên Quảng; dời trấn lỵ từ xã Vu Thanh, huyệnKim Thanh phủ Kinh Môn đến gò Quỳnh Lâu huyện Yên Hưng làm trấn lỵtrấn Yên Quảng Trấn Yên Quảng còn một phủ ( Hải Đông) trong đó có bahuyện ( Yên Hưng, Hải Đông, Hoành Bồ) và ba châu ( Tiên Yên, Vạn Ninh,Vân Đồn), với 16 tổng, 123 phường, phố, vạn, xóm
Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) đổi trấn Quảng Yên thành tỉnh QuảngYên Tỉnh Quảng Yên thuộc loại nhỏ nên chung một quan tổng đốc với tỉnhHải Dương, gọi là tổng đốc Hải Yên, quân đội thuộc quân thứ Hải Yên NămMinh Mạng thứ 17, đặt thêm phủ Sơn Định, bớt châu Vân Đồn Châu VânĐồn chuyển thành tổng Vân Hải trong huyện Hoa Phong Tỉnh Quảng Yên có
Trang 10hai phủ là Hải Ninh, Sơn Định Phủ Hải Ninh có hai châu Tiên Yên và HảiNinh, châu Hải Ninh kiêm việc phủ; phủ Sơn Định có ba huyện: Hoành Bồ,Yên Hưng và Hoa Phong, huyện Hoành Bồ kiêm việc phủ.
Yên Hưng là vùng đất có truyền thống chống giặc ngoại xâm bảo vệquê hương đất nước Trong lịch sử dân tộc, người dân Yên Hưng đã ba lầntham gia đánh quân xâm lược phương Bắc trên dòng sông Bạch Đằng lịch sử.Trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược và đô hộ nước ta, Quảng Yên, YênHưng là nơi thực dân Pháp xây dựng trụ sở cho bộ máy cai trị của chúng ởtỉnh Quảng Yên Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Yên Hưng có 17.000thanh niên nhập ngũ Dân quân Yên Hưng đã cùng lực lượng bộ đội bắn rơi
37 máy bay Mỹ, trong đó dân quân tự vệ Yên Hưng bắn rơi 6 chiếc YênHưng là huyện bắn rơi nhiều máy bay nhất tỉnh Quảng Ninh, được chính phủtặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang
Cư dân Yên Hưng có truyền thống cần cù, năng động, sáng tạo tronglao động sản xuất Từ xa xưa tới nay, đa số cư dân Yên Hưng không thuầnnông, vừa làm ruộng, vừa đánh cá biển, nuôi thủy sản và làm các nghề thủcông, nghề sơn tràng, nghề vận tải, buôn đò dọc, chạy chợ Nghĩa là tùy thờigian nông nhàn trong năm, hoặc căn cứ nhu cầu sinh hoạt, chi tiêu của giađình mà phát sinh rất nhiều nghề khác ngoài cấy lúa trong mỗi gia đình ỞYên Hưng, nửa đầu thế kỷ XIX (1800-1850) là thời gian các làng xã xây dựngđình làng, chùa làng, trong khi đó nhiều nơi khác trong nước đất đai hoanghóa, dân cư phiêu tán Điều đặc biệt ở đây là tập quán sử dụng ruộng đất công– công điền được duy trì với số lượng lớn và tồn tại dai dẳng đến sát cuộc cảicách ruộng đất chính là kết quả của quá trình khai khẩn lấn biển của tập thểcác làng xã và thành quả đó được cộng đồng làng xã bảo vệ Đây cũng là mộttrong những đặc điểm quan trọng nhất của chế độ ruộng đất của Yên Hưngnói chung và của đảo Hà Nam nói riêng Đó là các tập quán:
Trang 11- Tập quán sử dụng ruộng công cho những công việc chung của làng xã: Cũng như các làng xã khác ở đồng bằng bắc bộ, ngoài bộ phận lớn ruộng
đất để chia cho dân đinh, nơi đây còn dành một phần diện tích ruộng công đểdùng vào những việc chung của làng xã: thờ cúng, khuyến học, trọng lão, sửasang tu bổ hay làm mới đình, chùa Bên cạnh đó, làng còn dành một bộ phậnđáng kể ruộng công cho việc thưởng biếu cho những người đỗ đạt, có côngvới làng, người cao tuổi hay chức dịch Lảng xã còn thưởng ruộng công chonhững người có công đòi ruộng trong các cuộc tranh chấp ruộng đất với cáclàng xã bên cạnh Ngoài ra, làng xã cũng thường đem bán ( có thời hạn) một
số diện tích ruộng công để lấy kinh phí chi cho các việc công
- Tục lệ phân chia ruộng công: lệ chia ruộng công tuân thủ chặt chẽ
một số nguyên tắc như thời điểm bặt phần ruộng và chính thức nhận ruộngphải đảm bảo không ảnh hưởng đến vấn đề thời vụ Nhìn chung, việc chia
ruộng ở đây đều kết hợp hai nguyên tắc: kính xỉ và kính ước Khẩu phần
ruộng được chia thì tùy theo diện tích ruộng công và số dân đinh trong xã Lệ
chia ruộng- “ đổ chương” cũng tùy từng xã mà có quy định khác nhau, có thể là 3,4 hoặc 6 năm thì “ đổ chương” một lần Ngoài số công điền được
chia cho dân đinh, làng còn cấp ruộng cho các họ làm ruộng họ và lo việc hội
hè, tế đám của làng Đối với trường hợp ngụ cư thì có lệ: người ngụ cư khimới nhập làng thì chưa được nhận ruộng khẩu phần Những người nào chaông đã ngụ cư từ trước mới được cấp ruộng Tuy nhiên, mỗi lần nhận ruộngngười ngụ cư nếu đã sống trong làng một đời nộp số tiền 1,5 đồng; hai đời:nộp 1 đồng; ba đời: nộp 0,5 đồng và số ruộng được nhận ít hơn tiêu chuẩn 1sào Nếu ngụ cư quá ba đời thì được bình đẳng với các thành viên khác trongviệc nhận ruộng khẩu phần
Qua những tư liệu về ruộng đất công nói đến ở trên cho thấy tính dânchủ ở đây rất cao, song lại cũng thấy được tính chất phúc tạp của các mối
Trang 12quan hệ xã hội xung quanh vấn đề ruộng đất Làng xã đã thực sự trở thànhđơn vị sở hữu, phân phối sử dụng ruộng đất trên cơ sở “ pháp nước lệ làng”.
Yên Hưng có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời Trong quá trìnhphát triển làng xã, người dân Yên Hưng phải vật lộn với gió bão, triều dâng,hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh cùng bệnh tật hại con người Do vậy, trong quá trình
mở đất, giữ đất và lao động sản xuất, nhiều tên đất, tên làng, tên núi, tên sôngđược đặt hết sức mộc mạc thân thương, gắn bó với những kỷ niệm của ngườidân các làng qua bao đời nay, và trở thành văn hóa truyền thống của làng quêYên Hưng Cư dân hiện nay ở Yên Hưng phần lớn có nguồn gốc từ đồng bằngsông Hồng, như: Thăng Long, Ninh Bình, Nam Định, Hải Dương, BắcNinh đến đây định cư lập làng từ thế kỷ XV, như các làng Phong Cốc, Cẩm
La, Yên Đông, Trung Bản, Lưu Khê, Vị Dương, Vị Khê, Quỳnh Biểu, HảiYến, Hương Học, Yên Hưng, Yên Trì, Quỳnh Lâu, Khê Chanh, La Khê, Bùi
Xá, Hoàng Tân, Động Linh, Khoái Lạc, Yên Lập Các xã mới thành lập gầnđây cũng do quai đê lấn biển lập làng và làm thủy lợi là một đặc thù của YênHưng Những kinh nghiệm xẻ đất, bó độn, cắm say để hạp long, đắp đê, đàomương và bảo vệ đê điều là những kinh nghiệm lao động quý báu Do vậy, ởYên Hưng hiện còn bảo lưu khá nguyên vẹn văn hóa truyền thống của ngườiViệt ở đồng bằng Bắc Bộ về tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, hội hè,đình đám Hiện nay ở Yên Hưng còn giữ được khoảng 230 di tích lịch sử vănhóa, gồm 11 đình làng, 23 chùa làng, 41 đền, miếu, 104 từ đường, 10 nhà thờThiên chúa, 33 di tích khảo cổ ( 1 di chỉ đá mới, 2 bãi cọ Bạch Đằng, 35 mộcổ), 1 thành cổ Trong 230 di tích lịch sử văn hóa, hiện còn lưu giữ hơn 9000hiện vật là các di tích quý như: 43 sắc phong, 12 chuông đồng, gần 400 tượngthờ, 142 bia đá, hơn 600 câu đối, đại tự và các gia phả, thần tích, các đồ thờ tựkhác có niên đại từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX Trong đó có 39 di tích đã đượcxếp hạng cấp quốc gia, 15 di tích xếp hạng cấp tỉnh, dự kiến sẽ có khoảng
Trang 1350% di tích ở Yên Hưng được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh Ngoài ba lễhội lớn trong vùng là Lễ hội Tiên công, Lễ hội Bạch Đằng, Lễ hội xuốngđồng, ở Yên Hưng còn hàng trăm hội hè khác gắn với các đình làng, chùalàng và từ đường, dòng họ.
Về tôn giáo- tín ngưỡng, cư dân Yên Hưng có tục thờ Tiên công vàcúng gia tiên ở gia đình và từ đường dòng họ; tục thờ thành hoàng của cáclàng xã ở đình, đền, nghè, miếu; tục thờ Mẫu Liễu Hạnh; tục thờ thần Biển vàmột số nhân thần, thần núi, thần sông khác Các vị thần được thờ ở các đình,đền, miếu của các làng xã ở Yên Hưng đa số là các nhân thần như: Đức thánhTrần Hưng Đạo Đại vương; Đức thánh Niệm ( Phạm Tử Nghi); các vị thầnkhác khi còn sống có công đánh giặc cứu nước phò vua giúp dân; các vị Tiêncông ( có công đầu tiên quai đê lấn biển lập làng) khi mất đều được suy tônlàm thần thờ ở đình làng, ở đền, miếu của làng xã, ở từ đường của các dònghọ Ở Yên Hưng mỗi làng có một chùa, ngày nay hiện còn 23 ngôi chùalàng Chùa làng được xây dựng từ khá sớm, đa số vào khoảng giữa thế kỷXVI Chùa làng ở Yên Hưng là đối trọng của đình làng, mỗi làng đều có mộtngôi đình thờ vọng Thành hoàng và ngày xưa dành cho nam giới tế lễ, ănkhao, hội họp Đối trọng với ngôi đình là ngôi chùa dành cho nữ giới sinhhoạt Theo thống kê năm 2009, Yên Hưng có 4.354 người theo đạo Phật, cácPhật tử đa số là nữ trung niên và cao tuổi
Bên cạnh tín ngưỡng thờ thần, thánh và một bộ phận theo Phật giáo,Công giáo, hầu hết cư dân ở Yên Hưng rất coi trọng tục thờ cúng tổ tiên dướicác hình thức thờ cúng ở từ đường ( nhà thờ dòng họ), thờ cúng ở nhà trưởngcủa mỗi chi và ở mỗi gia đình Hiện ở Yên Hưng có 104 từ đường, các từđường được xây dựng từ thế kỷ XVII tới XX, thờ thủy tổ tới các thế tổ và cácđời, đến nay đa số số các họ ccos từ 15 đến 25 đời Cho đến nay, các tập tục
Trang 14tang ma, cưới xin, hội hè, đình đám, phong tục tập quán của người Việt ởđồng bằng Bắc bộ cơ bản được bảo lưu khá nguyên vẹn ở Yên Hưng.
Căn cứ vào các tư liệu văn bia, như: Bia đình Trung Bản, Bia đìnhPhong Cốc, Bia đình Hải Yến, bia Miếu Tiên Công; Gia phả họ DươngQuang ( Cẩm La), họ Nguyễn ( Yên Đông), họ Nguyễn Phúc ( Phong Cốc),
họ Phạm ( Vị Khê), họ Vũ Song ( Yên Đông)[21,tr81] hiện còn được lưugiữ ở địa phương, có thể khái quát về sự hình thành của các làng xã khu vực
Hà Nam như sau:
Ngay từ thời Lý- Trần đã có một số vạn chài đến vùng đất này sinhsống Những người dân chài đã dựa vào các đượng đất cao trên triều để đãichài, phơi lưới Những đượng đất cao trên triều này, ngày nay chính là khuvực cư dân của các làng Hải Yến, Yên Đông, Phong Cốc, Cẩm La, TrungBản, Lưu Khê, Vị Dương, Quỳnh Biểu
Đến đầu thế kỷ XV, khu vực Hà Nam lần lượt được các nhóm dân cưđến quai đê, lấn biển, lập làng Mỗi nhóm do một người có uy tín trong việctập hợp dân đi khai hoang đứng đầu Có thể chia họ thành các nhóm sau:
Nhóm thứ nhất, do Hoàng Lung, Hoàng Linh chiêu tập nhân dân vùngTrà Lý ( Thái Bình ngày nay) quai đê lấn biển khai lập xã Phong Lưu Saunày ( cũng trong thời Lê Thánh Tông) Phong Lưu sát nhập làng Bồng Lưu, vàvẫn giữ tên cũ là Phong Lưu
Nhóm thứ hai do Hoàng Kim Bảng, Đồng Đức Hấn chiêu tập nhân dânquai đê lấn biển khai lập xã Vị Dương
Nhóm thứ 3, do Đỗ Độ, Đào Bá Lệ chiêu tập người quai đe lấn biển lập
xã Lương Quy Sau này, Lương Quy đổi thành Lưu Khê, gồm 2 thôn LưuKhê và Quỳnh Biểu
Trang 15Nhóm thứ tư, do Phạm Nhữ Lãm chiêu tập một số cư dân đánh bắt cávùng Quang Lang ( thuộc Nam Hà ngày nay), đến khai khẩn vùng đất bồiphía tây xã Phong Lưu, lập nên xã Hải Trà, sau đổi thành Hải Triền, và đếnđời Tự Đức thì đổi thành Hải Yến.
Nhóm thứ năm, do Phạm Thanh Lảnh, người xã Quang Lang ( Nam Hàngày nay) khai sáng làng Lái, sau đó làng Lái đổi tên thành Vị Khê và trởthành một thôn của xã Vị Dương
Nhóm thứ sáu, do một nhóm cư dân quê gốc ở phường Kim Liên, phủHoài Đức, thành Thăng Long, khai khẩn ở vùng Tây Bắc xã Phong Lưu (vùngđất cao nằm sát sông Chanh), lập làng Bồng Lưu Sau đó Bồng Lưu sát nhậpvới Phong Lưu thành làng mới với tên gọi Phong Lưu
Sau khi các làng xã kể trên được khai lập, một nhóm dân cư vùng TảQuan, Chí Linh đến khai khẩn vùng đất cao phía Tây Bắc xã Hải Triền, lậplên một làng mới gọi là làng Quan Sau đó, theo các bô lão trong làng chobiết, làng Quan thờ Thành hoàng là một vị sư tên gọi là Huyền Quang, quê ởHương Vạn Tải ( vùng Gia Lương, Hà Bắc ngày nay) nên làng đổi tên là làngHương Đến đầu đời Nguyễn, làng Hương đổi tên là Hưng Học
Đến đời nhà Mạc, một số cư dân sống bằng nghề chài lưới ở Hà An( Hà An cách Hà Nam bởi sông Rút), do bão lũ, giặc dã đã về phía ngoài đêlàng Lưu Khê khai khẩn lập làng Quỳnh Biểu Về sau Quỳnh Biểu trở thànhmột thôn của xã Lưu Khê
Như vậy, có thể thấy công cuộc khẩn hoang thành lập làng xã ở HàNam trong thế kỷ XV diễn ra dưới hình thức tự động tổ chức khẩn hoang củanhân dân- một trong những hình thức khai hoang chính ở Yên Hưng nói riêng
và đồng bằng Bắc bộ nói chung cho đến đầu thế kỷ XX
Trang 16Theo tương truyền vào đời Hậu Lê, vua Lê Thánh Tông ( 1460- 1497)khi đi tuần thú vùng biển Đông Bắc, qua vùng đảo Tuần Châu ( Vịnh HạLong- Quảng Ninh) thuyền ngự đang rong ruổi, chợt nghe văng vẳng tiếngmột người con gái hát rằng:
Tay cầm bán nguyệt xênh xang
Hàng trăm quân lính lai hàng chị đây
Nhà vua lấy làm lạ nơi đảo hoang sao lại có người hát hay đến thế, bènsai binh lính, cận thần đốc thuyền tìm theo tiếng hát Tới sườn núi, thấy một
cô gái vừa cắt cỏ vừa hát say mê, giữa lúc trời nắng nhưng trên đầu lại cóvầng mây hồng che phủ, Nhà vua hỏi:
- Này cô gái! Cô tên gì? Hãy cắt nghĩa ta nghe câu hát mà cô vừa hát?
Cô gái ngẩng lên lau mồ hôi, để lộ khuôn mặt sạm nắng
- Dạ thưa Đức vua! Con sinh ra ở vùng đảo này Cha mẹ làm nghề chàilưới, nên đặt tên con là Ngóe cho dễ nuôi Xin Đức vua đừng chê cười con gáilàng chài xấu xí
Và cô gái giải nghĩa câu hát: chiếc liềm con cầm đây tựa vầng trăngnon, cắt vào đám cỏ, làm cỏ lớn là tướng, cỏ bé là quân đều ngã rệp dưới tayliềm Từ đó con mới có chút đất, cuốc lên để gieo trồng
Nhà vua tỏ lòng cảm phục tài trí ứng đối thông minh của cô gái và đưa
cô lên thuyền về cung phong nhận làm công chúa Đức vua còn ban thưởnglụa là, châu báu Nhưng nàng Ngóe từ chối Nàng chỉ tâu xin vua cha cho mộtmảnh đất bằng cách thả một dải yếm xuống dòng sông Nếu dải yếm trôi vàdừng lại ở đâu thì dân làng của nàng được lập nghiệp ở đó làm nơi cày cấy,sinh sống Đức vua thuận ý Quả nhiên thuyền ngự về qua cửa sông BạchĐằng, nàng Ngóe thả dải yếm lên trời Nó bay nhẹ nhàng trong gió, rồi từ từ
Trang 17rơi xuống mặt sông, trôi một lúc và dạt vào mạn phía Tây đảo Hà Nam Nênđất của làng Hải Yến lúc bấy giờ rất rộng đến tận xã Bồng Lưu ( Trung Bản-Liên Hòa ngày nay) ( Bia đá tại đình làng Hải Yến có ghi một xứ đồng củalàng ở xứ Bản Động tức làng Trung Bản ngày nay).
Do đất rộng, người ít, lại phải đi xa nên người thợ cày thường phải thứcdậy nửa đêm gà gáy để đi làm Khi đi làm phải qua xã Phong Lưu ( PhongCốc) Từ đó nảy sinh ra mâu thuẫn, xô xát giữa người thợ cày với người dân
xã Phong Lưu Khi xô xát, người thợ cày tháo bắp cày để tự vệ Nên ở xãPhong Cốc vẫn còn lưu truyền “Hổ cày” cho đến ngày nay
Khi triều Lê suy vong, các xã lân cận đã chia lại ruộng đất của làng,nên đất của làng dần thu hẹp lại Song sự tích “ Bà Chúa Ngóe” vẫn còn đượcgìn giữ và lưu truyền trong dân gian Những ngày lễ hội ở đình làng Hải Yến,
ở dòng họ Đặng ( Trên) đều khấn cung thỉnh đến Bà chúa Lê triều để truy ơncông lao to lớn của Bà đối với dân làng Hải Yến
Sau cách mạng tháng Tám, chính quyền cách mạng chia tổng Hà Namthành ba xã: Nam Hòa, Phong Cốc, Trung Bản ( sau đổi thành ba xã: NamHòa, Hồng Thái, Liên Hòa) Xã Nam Hòa gồm năm thôn: thôn Tân Lập ( xãHưng Học), thôn Tân Tạo ( xóm Đông Cốc), thôn Tân Tiến ( xã Hải Yến),thôn Yên Thế ( xã Yên Đông), thôn Hùng Thắng ( xã Cẩm La)
Năm 1957, do yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý nhà nước, chínhphủ đã tách xã Nam Hòa thành ba xã: Cẩm La, Yên Hải và Nam Hòa Xã YênHải gồm hai thôn Yên Đông và thôn Hải Yến, tên gọi và địa giới giữ nguyêncho đến ngày nay
* Làng Yên Đông
Xóm: xóm Đông, xóm Chợ, xóm Nam, xóm Dưới, xóm Giọn
Trang 18Xứ đồng: Cửa Chợ, Cửa Lũy, đồng Họ, đồng Bún, Đường Dâu, MảGai, Trang Lưu, Cái Đôi, Dầu Dầu, Cây Mít, Quyển Bồng, Hồ Lấp, Cái Hăm,Nam Bản, Đồng Chuông, Cái Hải, Thổ Cống, Nhà Thờ, Trên Đồng, BìaĐông.
Sông ngòi: Cửa Chợ, Vòng Bơi, Kênh Gà, Cầu Cá, Bến Bị, Cầu Miếu,Cầu Mới, Thổ Cống, Cái Nôi, Ván
Bến: bến Bị, bến Đầm, Chợ Đông, Cầu Cá
Hồ: hồ Mạch, hồ Quán, hồ Tam Quan
Đìa: đìa Đông
Cống: cống Đá, Sau Chùa, Đá Bia, Đá Chợ Đông, Quán Gion
Cầu: cầu Đường Họ, cầu Cá, cầu Mới
Đượng: Nghè La, đượng Năng, Giữa Đồng Trên, Giữa Đồng Dưới,Ngã Tư, Cây Bún, Cây Me, đượng Năm, Trung Lưu, Dầu Dầu, Cây Mít, BàGiọn, Bà Cáy, Cờ, Chiêng, đượng Trống, đượng Ngựa
* Làng Hải Yến
Xóm: xóm Đông, xóm Tây, xóm Nam, xóm Bắc
Xứ đồng: cửa Chùa, Cái Nghiên, Cái Bút, Mả Cả, Mả Gừa, Hồ Đồng,
Gồ Trên, Gồ Dưới, đượng Cồn, xứ Cửa Cái, xứ Đồng Mới, xứ Đồng Giá
Sông, nong: sông Đình, nong Đượng Dẹt, Cửa Chùa, Cửa Cái
Hồ: hồ Đình, hồ Cử Đình
Bến : bến Đình
Cống: Cừ Tây, Cừ Ván
Trang 19Đượng: Mả Cả, Mả Gừa, Cái Nghiên, Cái Bút, đượng Xem, đượngDứa.
1.1.2 Không gian văn hóa xã Yên Hải:
Cũng giống như các làng quê trên xã đảo Hà Nam, bên cạnh việc tônsùng đạo phật thì người dân xã Yên Hải cũng rất chú trọng tín ngưỡng thờthành Hoàng làng
Mặc dù là một xã nhỏ, nhưng vì được hợp nhất từ hai thôn Yên Đông vàthôn Hải Yến, nên hiện nay, ở xã Yên Hải còn tồn tại cả hai ngôi đình làng,
đó là đình Yên Đông và đình Hải Yến
Đình Yên Đông được xây dựng ngay bên phải chùa Yên Đông, là một
ngôi đình lớn và có giá trị vào bậc nhất tỉnh Quảng Ninh Rất tiếc rằng năm
1972 đình đã bị cháy và sập đổ hoàn toàn Tượng phật và một số đồ thờ tựđược chuyển về thờ tạm phía sau chùa (nhà tổ) Từ cuối thế kỷ XV làng YênĐông đã có ngôi đình được dựng bằng tranh tre, vách nứa, là nơi thờ thầnNông và nơi hội họp của làng xã Thời Lê Trung Hưng, đình được xây dựngvới quy mô nhỏ để thờ vị Thành hoàng của làng và thần Nông Năm 1841,đình được xây dựng lại với quy mô lớn nhất vùng Tương truyền làng YênĐông định mua một ngôi đình ở nơi khác về dựng ở làng, nhưng các cụ làngCốc đã đến trước và mua ngôi đình đó Các cụ làng Yên Đông bèn đi mua gỗlim và thuê thợ về dựng đình làng Các cột đình Yên Đông phải to hơn cộtđình Cốc, quy mô của đình cũng phải lớn hơn đình Cốc như bát úp lên nhau.Đình Yên Đông thờ Thành Hoàng làng là ông Nguyễn Văn Minh, quê ở BắcNinh, đỗ tiến sĩ ở triều Lê nhưng không ra làm quan mà theo vua QuangTrung đi đánh giặc Ông được giao trọng trách trấn ải và lập được nhiều cônglớn ở vùng Hải Đông Theo thần tích , thần phả và sắc phong của thành hoànglàng Yên Đông thuộc xã Phong Lưu xưa, nay thuộc xã Yên Hải, Hà Nam,
Trang 20thành hoàng tên thật là Nguyễn Đăng Minh, được các triều vua sắc phong là
Uy Minh đại vương Ngài là người xã Hoài Bão, huyện Tiên Du, tỉnh BắcNinh ( nay là thôn Hoài Thượng, xã Hoài Bão, huyện Tiên Du, tỉnh BắcNinh) Năm 24 tuổi, ngài đỗ đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân, khoa ĐinhMùi, niên hiệu Phúc Thái thứ tư ( 1646) đời Lê Chân Tông Ngài đã từng làmQuốc tử giám tế tửu, tước nam Ông thọ 74 tuổi Khi chết ông được thờ ở BắcNinh nhưng nhân dân An Đông thấy ông có công lớn ở vùng Hải Đông và lạirất linh ứng ở vùng này nên đã xin chân nhang về thờ và tôn ông làm ThànhHoàng làng.Ông đã được các vua Gia Long, Tự Đức, Duy Tân sắc phong “Thông Đạt Đại Vương”, gia tặng “ Phụ Cảm chính trực Hiệp tương đônngưng chi thần” Đình nằm phía sau chùa chính một khoảng sân 11m, quayhướng Tây, phía trước có hai trụ đèn lồng lớn, trên bức hoành trấn môn có haichữ “ hạ mã”, mọi người dân đi qua đình đều phải xuống ngựa dắt qua Đình
có bốn mái, lợp ngói mũi hài, bờ nóc có lưỡng câu chầu mặt trời và đầu kìm,các đao đình uốn cong hình đầu rồng Kiến trúc kiểu chữ đinh (J), gồm 5 giantiền đường dài 9,5m rộng 4,5m, hai gian hậu cung dài 5,4m rộng 4,5m Hệthống vì kèo cột gỗ kiểu giá chiêng chồng rường bụng lợn đơn giản, có 3 cửachính, 2 gian 2 bên xây kín có cửa sổ nhỏ, 2 đầu hồi bít đốc, tường xây gạch
đỏ, mái lợp ngói tây, cửa giữa chấn song gió lùa, 2 cửa 2 bên ván ghép
Đình Hải Yến có tên chữ là “Hải Yến đình” thuộc xóm Tây (xóm Hai)
thôn Hải Yến, xã Yên Hải, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh Làng Hải Yếntrước đây có tên là Hải Triền Làng Hải Triền được lập vào thời Lê do một số
cư dân ở Tuần Châu và Hải Dương đến quai đê lấn biển lập nên Đầu thế kỷXIX, Hải Triền được đổi thành Hải Yến
Theo tài liệu Hán Nôm còn lại đình Hải Yến được xây dựng thời Hậu
Lê, do nhân dân trong làng cùng nhau đóng góp tiền của và công sức xây
Trang 21dựng Đình đã qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa đặc biệt năm 1815 niên hiệuGia Long và năm 1963 đã tổ chức trùng tu với quy mô lớn Căn cứ vào sắcphong của các vua triều Nguyễn phong tặng cho đình Hải Yến thì thànhhoàng của đình là 3 vị thần: Diệu Cảm Mặc Phu, Chương Hiển Đôn Ngưng,Dực Bảo Trung Hưng, linh phù đương cảnh thành hoàng Linh Ứng chi thần;Dực bảo trung hưng linh phù đương cảnh thành hoàng Uy Minh chi thần; Dựcbảo trung hưng linh phù bản thổ thành hoàng Đại Hải Phạm chi thần Nhưnghiện nay chỉ còn lại thần tích của một vị thần là “Đại Hải Phạm chi thần” ĐạiHải Phạm chi thần chính là Phạm Tử Nghi Ông là một võ tướng thời Mạc,tên húy là Phạm Thành, tên chữ là Tử Nghi Ông là một vị tướng tài Sau khiông qua đời các triều đại phong kiến đều phong ông làm thần Nhân dân làngHải Triền (Hải Yến ngày nay) thì tôn ông làm Thành hoàng và thờ ở đìnhlàng
Đình Hải Yến là một ngôi đình làng bề thế, tọa lạc giữa làng mạc trùphú, dân cư đông đúc Đình có kiến trúc độc đáo, kết cấu bằng gỗ, mái lợpngói vẩy, bốn mái đao cong vút như những mũi thuyền đang rẽ sóng lướt tới,các vì kèo liên kết với nhau chắc chắn, những bức chạm trổ công phu, khéoléo với các hình rồng, tản mây, hoa lá, tứ linh tạo thành bức tranh sinh động,hấp dẫn Đây là một công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc mang nét đặctrưng của thời Hậu Lê giai đoạn đầu thế kỉ XVIII Tuy đã trải qua 300 năm kể
từ khi khởi dựng, nhưng được sự đầu tư trùng tu, tôn tạo qua các thời, ngôiđình vẫn giữ được tương đối nguyên vẹn nét kiến trúc cổ truyền Hiện nay,đình thường tổ chức hội trong 3 ngày, từ mùng 9 đến ngày 11 tháng giêng âmlịch
Miếu Chợ: Thờ thần Bản Chấn Đông Đô, tên thật là Nguyễn Đông Đô,
người lang Yên Đông Ngài là người học hành đỗ đạt và được bổ nhiệm làm
Trang 22quan Tham Trấn trấn Chanh ( quan trấn thủ trấn Chanh tức tỉnh Quảng Yên).Thời gian ngài làm quan, kinh tế trong vùng phát triển thịnh vượng, dân cưđông đúc Ngài đã đứng ra mở chọ phiên ở xã Phong Lưu tại làng Yên Đôngvào các ngày mungf3 và mùng 8 âm lịch để phát triển kinh tế địa phương.Chợ Yên Đông đã trở thành nơi giao lưu buôn bán hàng hóa của đảo Hà Namvới các miền lân cận như Thủy Nguyên, Cát Hải, Hà Bắc, Thái Bình
Bên cạnh đó, để tưởng nhớ công lao của các vị Tiên Công đã có côngkhai phá vùng đất, dựng làng lập ấp, trên địa bàn xã Yên Hải còn có hệ thống
di tích thuộc nhà thờ ( từ đường ) các dòng họ, mà thủy tổ là các cụ đã cócông đầu trong việc khai hoang lấn biển Bao gồm:
- Từ đường họ Bùi (Bùi Huy Ngoạn), tên thường gọi là Từ đường họ
Bùi, tên chữ là Bùi tộc từ Đây là nơi thờ cụ thuỷ tổ của dòng họ là cụ BùiHuy Ngoạn Từ đường họ Bùi thuộc xóm Nam Cầu, xã Yên Hải, huyện YênHưng, tỉnh Quảng Ninh
Cụ Bùi Huy Ngoạn là người vùng Kinh thành Thăng Long, từng làHiệu sinh của Quốc tử giám Dưới triều vua Lê Thái Tông (Thế kỉ XV) cóchủ trương mở rộng kinh thành, khuyến khích nhân dân đi khai hoang, tìmquê hương mới Cụ Bùi Huy Ngoạn đã cùng 16 cụ khác ở phường Kim Liên,phủ Hoài Đức, huyện Thọ Xương, thành Thăng Long đã xuôi thuyền theodòng sông Hồng vừa chài lưới kiếm ăn, vừa đi tìm cùng đất định cư mới Họtới vùng đất hạ lưu sông Bạch Đằng thấy nơi đây có nhiều điều kiện thuận lợinên đã ở lại khai hoang, trải qua bao khó khăn, đã biến vùng bãi bồi ở cửasông Bạch Đằng trở thành một vùng trù phú, bờ xôi ruộng mật Nhớ ơn củacác cụ, nhân dân đã lập miếu thờ, tôn các cụ là các bậc tiên công
Trang 23Đến đời thứ 6, con cháu dòng họ Bùi xây dựng từ đường riêng để thờ
cụ thuỷ Bùi Huy Ngoạn Trải qua thời gian, công trình đã được trùng tu nhiềulần nhưng vẫn giữ được dáng các phần kiến trúc cũ Từ đường kiến trúc theokiểu chữ Môn, chính giữa là nhà thờ, 2 bên tả hữu có nhà tả vu, hữu vu Nhàthờ chính theo kiểu chữ Nhị (=), gồm bái đường và hậu cung Kết cấu bộ vìđơn giản, nhưng chắc chắn và mang đậm phong cách Việt cổ Hiện từ đườngvẫn còn lưu giữ được một số hiện vật là đồ thờ tự có giá trị lịch sử, mỹ thuật.Gian trung tâm bái đường treo 1 bức đại tự lớn sơn son cẩn 8 chữ vàng “Dựcbản trung hưng linh phù tôn thần”, khắc tên tuổi của cấc thuỷ tổ, thế tổ củadòng họ Bùi Huy Các cột cái, cột quân đều treo câu đối với những lời văn tándương công đức tổ tiên hoặc phương châm dạy con cháu tiếp nối truyền thốngcủa cha ông Lễ hội ở từ đường họ Nguyễn gắn liền với lễ hội ở miếu Tiêncông tại xã Cẩm La Lễ hội này được tổ chức vào dịp đầu năm âm lịch, thểhiện nét đẹp truyền thống văn hoá lâu đời của cư dân vùng đảo Hà Nam.Ngoài những thủ tục về phần lễ và phần hội, ở đây còn có tục mừng các cụthượng thọ 80, 90, 100 tuổi Sau khi tổ chức khao thọ tại nhà, các cụ thượngđược con cháu rước lên miếu tiên công làm lễ tổ Ngoài ra, ngày 11/10 âmlịch ở từ đường họ Bùi Huy còn tổ chức ngày giỗ cụ thuỷ tổ, ngày lễ khao tổvào mùng 4 tết và ngày lễ khai quang mộc dục vào dịp cuối năm Đây lànhững dịp để con cháu xa gần tụ hội, cùng nhau gắn kết lại, phát huy truyềnthống của dòng họ
- Từ đường họ Vũ (thờ Vũ Giai), tên thường gọi là nhà thờ họ Vũ
Thượng (để phân biệt với Nhà thờ họ Vũ thờ Vũ Tam Tỉnh cũng nằm trongmột khu) tên chữ là Vũ tộc từ đường Trước kia thuộc xóm Tây, làng YênĐông, xã Phong Lưu, tổng Hà Nam, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh, naythuộc xóm 3, thôn Yên Đông, xã Yên Hải, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng
Trang 24Ninh Khi đó, cụ Vũ Giai vốn là Quốc tử giám giám sinh đã cùng các cụ khác
từ phường Kim Hoa, phủ Hoài Đức, kinh thành Thăng Long xuôi theo dòngsông Hồng tới ven sông Bạch Đằng, đến địa phận đồn Chấn sông Chanh quai
đê lấn biển, thau chua rửa mặn lập nên khu đảo Hà Nam
Từ đường họ Vũ (thờ Vũ Giai) từ đời thứ 6 về trước được thờ ở gia đình tộctrưởng Đến thế kỉ XVIII, con cháu trong dòng tộc đã xây dựng công trìnhkiên cố hơn để thờ cụ thuỷ tổ Vũ Giai và các cụ tổ khác của dòng họ Từđường họ Vũ (thờ Vũ Giai) được xây dựng năm 1755, đã trải qua nhiều lầntrùng tu Từ đường được xây theo kiểu chữ Nhất (−) Cổng xây theo kiểu tamquan, lối ra vào là 2 cửa phụ 2 bên, cổng chính bịt kín dùng làm nơi hoá vàng,làm theo kiểu chồng diêm 8 mái, lợp ngói vẩy rồng, đầu dao mềm mại Côngtrình chính gồm 3 gian, mái lợp ngói vẩy rồng, kết cấu theo kiểu hồi văn cánhbảng, nửa dưới xây bằng dá, nửa dưới bằng gạch Vì kèo được làm bằng gỗlim, chạm khắc hoa lá cách điệu Những nét chạm kênh bong ở bức cốn sắcnét, mềm mại thể hiện sự khéo léo, tinh xảo của nghệ nhân Trong nhà thờhiện còn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị nghệ thuật cao, có niên đại thờiNguyễn như: hoành phi, câu đối, đồ tế khí, sắc phong, trướng thờ v.v Cáchiện vật này được sơn son thếp vàng, chạm khắc cầu kì, nội dung hàm súc, ýnghĩa Đề tài trang trí là tứ linh, hoa văn cách điệu Ngoài ra còn có một cuốngia phả (Vũ thượng tộc gia phả bạ) được soạn năm Khải Định thứ 9 Đây lànguồn tư liệu, hiện vật quý phản ánh rõ nét sự phát triển của văn hoá bản địa,phục vụ công tác nghiên cứu lịch sử, mỹ thuật, văn hoá, nhu cầu tham quan,
du lịch của địa phương Nhà thờ họ Vũ (thờ Vũ Giai) cũng giống như các nhàthờ dòng họ khác ở Hà Nam có hình thức sinh hoạt văn hoá riêng biệt là lễ tế
tổ tiên đầu năm và ngày lễ tạ cuối năm âm lịch Dịp đầu năm âm lịch, gia đìnhnào vinh dự có cụ thọ 80, 90, 100 tuổi trở lên đều có 1 lễ mang lên từ đường
họ để cáo yết tổ tiên và gia đình nào có điều kiện thì tổ chức làm lễ thượng
Trang 25thọ tại nhà Con cháu trong dòng họ, làng xã đến làm lễ sống hoặc nói lờichúc thọ các cụ Sau đó, các cụ thượng được rước đến Từ đường để làm lễcáo yết tổ tiên vào ngày 7 tháng giêng Ngày 02/12 âm lịch, là ngày chạp tổcủa dòng họ cũng như cả vùng Hà Nam Con cháu xa gần sửa soạn sắm lễdâng cúng tổ tiên, báo cáo những việc đã làm được trong năm vừa qua Ngoàinhững ngày lễ trên, từ đường họ Vũ còn có ngày giỗ cụ thuỷ tổ vào ngày11/10 âm lịch, ngày lễ khao tổ vào mùng 4 tết Nguyên đán, và ngày lễ Khaiquang mộc dục vào cuối năm.
- Từ đường họ Vũ (Vũ Tam Tỉnh) còn có tên gọi là từ đường họ Vũ
Tam, tên chữ là “Chỉ đường qua”, đây là lối chơi triết tự, chữ “Chỉ” và chũ
“Qua” ghép lại với nhau thành chữ “Vũ”, Vũ đường có nghĩa là từ đường họ
Vũ Từ đường họ Vũ trước kia thuộc thôn An Đông (Yên Đông), xã PhongLưu, nay là thôn Yên Đông, xã Yên Hải, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh
Cụ Vũ Tam Tỉnh được vua triều Nguyễn phong sắc là: “Dực bảo trung
hưng linh phù tôn thần Quốc Tử Giám, giám sinh Vũ Tam Tỉnh khai canh tiên công” Từ đường họ Vũ (Vũ Tam Tỉnh) được xây dựng từ đời thứ 6 của dòng
họ (khoảng năm 1630) Từ đó đến nay công trình đã trải qua nhiều lần trùng
tu, sửa chữa Kiến trúc hiện nay của từ đường theo kiểu chữ Nhị (=), gồm 5gian từ đường, 5 gian hậu cung Hệ thống vì kèo bằng gỗ, vững chắc đượcchạm trổ công phu Đáng chú ý là nghệ thuật chạm khắc của 2 bức cốn ở hậucung Đây thực sự là những tác phẩm điêu khắc gỗ có giá trị, được nghệ nhânchạm lộng, kênh bong, soi một cách tài tình, chau chuốt, tỉ mỉ đến từng chitiết tạo thành bức tranh khắc gỗ sống động mang đậm nét điêu khắc thờiNguyễn Bức cốn bên trái thể hiện hình tượng 9 con rồng cùng đao mác vânxoắn uốn lượn một cách mềm mại, mỗi con lại mang dáng vẻ riêng nhưng đầuchúng đều hướng về phía trong hậu cung như một sự nhắc nhở con cháu phải
Trang 26luôn nhớ về cội nguồn Bức cốn bên phải cũng thể hiện hiện hình ảnh 5 con rồng ở 5 kiểu dáng khác nhau nhưng đi vào miêu tả chi tiết hơn Hiện naytrong từ đường còn lưu giữ được các hiện vật đồ thờ như long ngai, khám,hoành phi, câu đối có niên đại từ triều Nguyễn Đây thực sự là những tácphẩm điêu khắc có giá trị nghiên cứu về lịch sử và mỹ thuật
- Từ đường họ Nguyễn (Nguyễn Thực, Nguyễn Nghệ) tên thường gọi
là từ đường họ Nguyễn Đại, tên chữ là Nguyễn đại tộc Từ đường họ Nguyễnđại thờ Nguyễn Thục, Nguyễn Nghệ 2 vị thuỷ tổ của dòng họ Nguyễn Đại,những người có công trong việc quai đê lấn biển lập nên khu đảo Hà Nam
Từ đường thuộc xóm 3, thôn Yên Đông, xã Yên Hải, huyện Yên Hưng, tỉnhQuảng Ninh
Theo lời kể của con cháu dòng họ Nguyễn Đại thì từ đường họ Nguyễn(Nguyễn Thực, Nguyễn Nghệ) có từ thời Lê sơ Đến khoảng thế ký XVIII,con cháu đóng góp xây dựng từ đường bằng gạch Từ đó đến nay công trình
đã trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa nhưng vẫn giữ được phong cách cũ
Bố cục công trình theo kiểu chữ Nhị (=), gồm bái đường và hậu cung Kiếntrúc đơn giản, chắc chắn Hiện nay trong từ đường còn lưu giữ được các hiệnvật đồ thờ như long ngai, khám, hoành phi, câu đối được sơn son thếp vàng,chạm trổ khéo léo Đặc biệt phải kể đến bức đại tự treo chính diện bái đường
đề 4 chữ “Vạn đại trường tồn” (Muôn đời tồn tại) Bức đại tự bằng gỗ, viềnkhung tạo gờ chỉ, chạm nổi hoa văn gấm, chạm phù điêu 8 con chim phượngtrong các tư thế rất sinh động, hoa văn hoa sen, hoa mai, cúc dây Đây thực sự
là những tác phẩm điêu khắc có giá trị nghiên cứu về lịch sử và mỹ thuật
- Từ đường họ Bùi (thờ cụ Bùi Bách Niên), tên chữ là Bùi Tiên công
từ Trước kia thuộc xóm Đông, thôn Yên Đông, xã Phong Lưu, nay thuộc
Trang 27xóm 3, thôn Yên Đông, xã Yên Hải, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh Từđường họ Bùi (Bùi Bách Niên) trải qua những biến chuyển của thời gian vẫngiữ được gần như nguyên vẹn cả về kiến trúc và điêu khắc Từ đường đượcxây theo kiểu chữ Nhị (=), gồm bái đường và hậu cung, mang phong cáchkiến trúc thời Nguyễn Phía trước có sân và tam quan Tam quan được xâydựng từ thời Nguyễn Trong tam quan là sân thờ là nơi con cháu chuẩn bị sắp
lễ vào nhà thờ Bái đường có 3 gian 2 chái, mái lợp ngói mũi hài, bờ nóc đắp
gờ nổi, chính giữa mái đắp nổi hoa văn hình cuốn thư, giữa có chữ Hán “Bùitiên công từ” (Từ đường họ Bùi, tiên công) Vì kèo kiểu giá chiêng, kết cấuđơn giản Hậu cung gồm 3 gian 2 chái, vì kèo kiểu giá chiêng, được chạm nổihình hổ phù, hoa văn vân xoắn Phía trong có 3 bệ thờ cụ thuỷ tổ và các thế tổkhác trong họ Bùi Trong nhà thờ hiện còn lưu giữ được nhiều hiện vật có giátrị nghệ thuật cao, có niên đại thời Nguyễn như: hoành phi, câu đối, đồ tế khí,sắc phong, trướng thờ v.v Các hiện vật này được sơn son thếp vàng, chạmkhắc cầu kì, nội dung hàm súc, ý nghĩa Đề tài trang trí là tứ linh, hoa văncách điệu Ngoài ra còn có 1 bia đá khắc năm Minh Mệnh tam niên (1822),ghi họ tên, ngày giỗ của các cụ thủy tổ, thứ tổ trong dòng họ Bùi, 1 cuốn giaphả soạn vào triều Lê Cảnh Hưng (1776), 1 bài trường ca sáng nghiệp và 1sắc sao Đây là nguồn tư liệu, hiện vật quý phục vụ công tác nghiên cứu lịch
sử, mỹ thuật, văn hoá, nhu cầu tham quan, du lịch của địa phương
- Nhà thờ họ Phạm thờ cụ thuỷ tổ của dòng họ là cụ Phạm Nhữ Lãm, tên
gọi khác là nhà thờ họ Phạm Nhữ, nằm ở thôn Hải Yến, xã Yên Hải, huyệnYên Hưng, tỉnh Quảng Ninh Nhà thờ họ Phạm (thờ Phạm Nhữ Lãm) đượcxây dựng từ đời thứ 6 của dòng họ (khoảng năm 1630) trên nền móng bâygiờ Đến nay công trình đã trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa Kiến trúchiện nay gồm sân, bái đường và hậu cung Kiến trúc theo kiểu chữ Đinh (J)
Trang 28gồm 3 gian bái đường và 1 gian hậu cung 4 bộ vì kèo theo kiểu giá chiêngvẫn giữ được dấu ấn tiêu biểu của thời Nguyễn Cấu kiện bằng gỗ khá chắcchắn, được chạm khắc hình vân mây cuộn, lá lật uốn luợn, hoa cúc mãnkhai Trong từ đường hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị lịch sử, mỹthuật như khám trướng, long ngai, bài vị thờ thuỷ tổ, cửa võng, đại tự, hoành phi câu đối ca ngợi công đức của tổ tiên được nghệ nhân chạm trổ công phu,
tỉ mỉ tạo thành những bức tranh nghệ thuật mang dấu ấn thời đại
Đây là những không gian thiêng liêng luôn gắn bó với con cháu trongdòng tộc bằng cả quyền lợi và nghĩa vụ, bằng cả phong tục tập quán và dưluận để tạo thành văn hóa làng, văn hóa vùng và phát triển thành văn hóa dântộc Nhà thờ dòng họ là một công trình văn hóa tìn ngưỡng thể hiện truyềnthống uống nước nhớ nguồn, có ý nghĩa lịch sử to lớn, minh chứng cho lịch
sử hình thành khu đảo Hà Nam với phương thức khai canh của các vị TiênCông và con cháu của họ Nhà thờ họ Tiên Công ở xã Yên Hải nói riêng vàcủa đảo Hà Nam nói chung không chỉ là các di tích lưu niệm các danh nhândựng nước mà ở đó còn lưu giữ nhiều tác phẩm điêu khắc có giá trị như cácmảng chạm khắc của vì kèo, đầu dư, đầu bẩy, cửa võng, án gian Các tácphẩm này được các nghệ nhân chạm trổ công phu, tỉ mỉ, sắc nét tạo thànhnhững bức tranh sống động hình tùng, cúc,trúc, mai, long, ly, quy,phượng uốn lượn mềm mại đạt đến đỉnh cao nghệ thuật Ngoài ra ở nhữngnơi này còn có các gia phả, sắc phong và nhiều khám, trướng, long ngai, bài
vị ghi tên thờ các vị thủy tổ, các hoành phi, đại tự, câu đối ca ngợi công đứccủa tổ tiên được dòng họ giữ gìn bảo quản qua nhiều thế hệ và sắp xếp bài tríđúng ngôi thứ càng làm tăng thêm vẻ trang nghiêm và có ý nghĩa giáo dục sâusắc
Trang 29* Đời sống văn hóa:
- Sinh hoạt văn hóa tinh thần:
+ Các lễ tiết trong năm: Cũng như các làng quê khác, lễ tiết truyền thống như
tết Nguyên đán, tết Hàn thực, tết Thanh minh, tết Đoan ngọ, tết Trungnguyên, tết trung thu đều hiện diện như một phần thiết yếu trong đời sốngtinh thần của người dân nơi đây Vào ngày tết Nguyên đán, những người con
dù có đi buôn bán, làm ăn ở nơi đâu cũng đều trở về quê ăn tết và sum họpcùng gia đình Ngày tết Hàn thực, hầu như gia đình nào cũng làm bánh trôi,bánh chay để cúng tổ tiên, ông bà, một số gia đình còn đem ra chùa cúngPhật, đem ra đình cúng Thành hoàng Ngày tết Trung thu, ở cả xã đều quantâm tổ chức cho các cháu vui chơi và phát quà cho các cháu
+ Phong tục tập quán: Các phong tục tập quán ở đây mang đạm dấu ấn củađịa phương, trong đó đáng chú ý là “ Lễ hội xuống đồng” Lễ hội xuống đồng
là tên gọi xuất phát từ tục làm lễ Hạ điền và Thượng điền Ngày xưa vùng HàNam chỉ có một vụ mùa chính cấy lúa Tám Đồng, vụ mùa thường bắt đầu từmồng 2 đến ngày mồng 6 tháng 6 âm lịch Trước khi toàn dân vào dịp cấymùa , tại đình Hải Yến làm lễ tế Thần nông và nghi lễ cấy xứng đồng ( cấyđầu tiên) gọi lễ Hạ điền ( Lễ xuống đồng) Khi toàn dân trong vùng cấy xong
vụ lúa mùa, tại đình Hải Yến làm lễ tế thần Nông và Thành hoàng, chứnggiám mùa màng đã cấy xong, gọi là lễ Thượng điền ( lễ Lên đồng), cầu mangthần Nông và thần hoàng phù hộ cho mùa màng tốt tươi Trong hai nghi lễ thìnghi lễ Hạ điền tổ chức lớn, có cả hội thi bơi thuyền chải nên gọi là lễ hộiXuống đồng Vào dịp lễ hội, làm lễ cáo yết Thần Hoàng và Thần Nông ởđình, có trống chiêng, cờ ngũ hành Làng chọn ra một lão nông cao tuổi làm
Trang 30chủ tế Chủ tế phải là cụ ông cao tuổi, có đức độ, có uy tín với làng xã, vợchồng xong toàn, con cái phương trưởng, có nếp có tẻ ( có nam có nữ), giađình không có tang trở và biết việc tế Thường người chủ tế là người cấy xứngđồng, trừ khi người cấy xứng đồng không thông thạo việc tế Vị chủ tế mặc áothe, khăn xếp, lưng thắt đai đỏ, cắm một cây nêu trên buộc tua đỏ và các hìnhcon tôm, con cá , con lợn, con gà, cây lúa để xua đuổi tà ma, quỷ dữ, sâubệnh hại lúa và con người để bảo vệ mùa màng, đồng thời cầu mong cho conngười mạnh khỏe, gia súc gia cầm sinh sôi nảy nở Cây nêu được cắm giưamột thửa ruộng đã cày bừa sẵn Sau đó vị chủ tế khấn Thần Nông cầu xin chomùa màng bội thu, mưa thuận gió hòa Lễ xong ông tháo bó mạ cấy làm phép,rồi cấy những cây lúa đầu tiên của vụ mùa xung quanh cây nêu Người lớn,trẻ nhỏ đứng trên bờ hò reo, té nước tới tấp Sau nghi lễ này, toàn xã mớiđược xuống đồng cấy vụ lúa mùa Không ai được cấy trước hội, nếu ai cấytrước thì mùa màng bị hạn, úng , sâu bệnh mất mùa, làng sẽ bắt vạ Tiếp theo
là phần hội với cuộc thi bơi thuyền chải giữa các xóm của làng Yên Hải xưa.Sau hội thi bơi các làng, thôn kéo chải về làm lễ tạ thần hoàng, ăn mừng vui
vẻ , rồi xuống đồng cấy vụ mùa, hẹn năm sau lại về dự hội
Phong tục ma chay, cưới xin ở xã Yên Hải xưa kia cũng giống như ởnhững làng quê khác vùng đồng bằng Bắc bộ, hôn nhân là do cha mẹ quyếtđịnh Nét đặc biệt trong tập tục cưới hỏi ở xã Yên Hải nói riêng và của cảvùng xã đảo Hà Nam nói chung đó là anh em, họ hàng trong dòng họ của mộtTiên Công không được phép lấy nhau, dù có cách xa đến 4 đời
- Sinh hoạt tín ngưỡng- tôn giáo:
Đạo Phật ở Yên Hải theo dòng Tịnh Độ tông của phái Đại thừa; cácPhật tử chủ yếu tu theo hình thức đến chùa làng niệm Phật, dâng lễ vật vào
Trang 31các ngày tuần, rằm, lễ, tiết, ngày Phật đản, đặc biệt là ngày mở hội của chùa
làng vào ngày mùng năm tháng Giêng Trước phật điện, các phật tử mượn
khói đèn hương để gửi lời cầu nguyện đến đấng cao siêu Đồ lễ thường là hoaquả hương đăng, trầu cau, chuối oản
Các làng trong xã đều có đình, thờ Thành hoàng, bao gồm: Đình YênĐông thờ Thành Hoàng làng là ông Nguyễn Văn Minh, quê ở Bắc Giang, đã
có công trấn ải xứ Hải Đông xưa Lễ hội được tổ chức vào ngày 17 thánggiêng hàng năm Đình Hải Yến thờ Thành hoàng là Đại Hải Phạm chi thầnPhạm Tử Nghi Ông là một võ tướng thời Mạc, tên húy là Phạm Thành, tênchữ là Tử Nghi Ông là một vị tướng tài Sau khi ông qua đời các triều đạiphong kiến đều phong ông làm thần Nhân dân làng Hải Triền (Hải Yến ngàynay) thì tôn ông làm Thành hoàng và thờ ở đình làng Lễ hội đình làng HảiYến được tổ chức vào ngày 7 tháng giêng hàng năm
Ngoài tục thờ Thành hoàng và tổ chức các lễ hội ở đình làng, thì ở từđường các dòng họ trong xã còn có lễ tế tổ vào đầu năm ( ngày mùng 4 thánggiêng) và lễ tạ cuối năm ( ngày mùng 2 tháng chạp) Đây là dịp con cháu tỏlòng thành hiếu thảo đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ, kính trọng tuổi già vàgiáo dục con cháu nhớ về cội nguồn của gia tộc mình
1.2 DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ CHÙA YÊN ĐÔNG:
“Tương truyền chùa được dựng từ thời Sĩ Nhiếp, hay ít ra từ thời Cao
Biền, song bằng vào dấu tích để lại thì sớm nhất mới có từ thời nhà Lý” [35,tr148] Đương thời, nhà Lý chia chùa trong nước làm ba loại là đại danh lam,trung danh lam và tiểu danh lam Như vậy thì tất cả chùa, dù là nhỏ nhất cũng
là những công trình kiến trúc Phật giáo nổi tiếng Dựa vào thực địa và thư tịch
có thể chia chùa thời Lý thành bốn loại có bố cục khác nhau: Trước hết là
Trang 32kiểu dựng trên một cây cột, phát triến theo kiến trúc tháp, tiêu biểu là chùaMột Cột ( Diên Hựu tự), tuy của hoàng gia nhưng đã đi lên từ kiến trúc dângian truyền thống mà ngày nay còn thấy trong nhân dân là cây hương đặt trênđầu cọc hay trên trụ gạch, toàn thể là hình bông sen khổng lồ Loại chùa thứhai là vừa thờ Phật, vừa là hành cung, thường được vua đến thăm và để lại dibút ( như chùa Phật Tích), có quy mô lớn, ngoài tháp còn có những kiến trúcvật bề thế, hầu hết gắn với núi, chia thành nhiều lớp nền trườn dần lên cao, ở
đó có những hình chạm trang trí phổ biến là rồng rắn Loại chùa thứ ba khôngkiêm hành cung nhưng thường gắn với các bà hoàng, không có tháp, khôngchạm rồng, hay chạm “ ông Sấm” ( sư tử) với tính cầu mưa, quy mô khá lớn,phát triển theo chiều sâu và nâng cao dần, khu điện thờ bố cục gần giống mặtcủa tháp- cũng hình vuông, như chùa Bà Tấm ( Hà Nội ) Loại chùa thứ tư,nhỏ hơn cả, gợi lại những thảo am nhưng đã được mở mang, như chùa KimHoàng ( Hà Tây) Các loại chùa trên đều có dấu tích điện Phật với chiếc bệ đáthích hợp cho việc đặt một pho tượng ở trên, Phật tử có thể đi xung qunh hành
lễ Còn nếu căn cứ trên thư tịch ( chủ yếu là văn bia) thì trong chùa thời Lý đã
có rất nhiều loại tượng, rất gần với điện Phật thời Lê và thời Nguyễn mà ngàynay chúng ta còn thấy
Chùa thời Trần vẫn được xây dựng rất nhiều, bên cạnh chùa được xâydựng bằng sự tài trợ của quý tộc đã có nhiều chùa làng, làng lớn có đến hơnmười chùa, làng nhỏ cũng có chừng năm, sau ngôi chùa, song đến khi quânMinh xâm chiếm nước ta thì chùa bị phá chẳng còn là bao Tuy vậy, ngàynay, bên một số chùa chỉ còn một ít di vật bằng đá, chúng ta còn giữ được tòaThượng điện của chùa Dâu ( Bắc Ninh), chùa Bối Khê ( Hà Tây)
Sang thời Lê sơ chùa không được phát triển mà còn bị hạn chế, ngàynay chưa tìm được ngôi chùa nào có dấu ấn kiến trúc của thời đại, có chăngmới chỉ là một ít bia đá
Trang 33Đến thời Mạc, kiến trúc công cộng ở làng xã được đẩy mạnh Một sốđình làng được xây dựng hoàn chỉnh và tồn tại đến tận ngày nay Chùa làngđược phục hưng, vừa sửa chữa chùa cũ vừa xây dựng chùa mới Cả nhân dân
và quý tộc Mạc đều tham gia hưng công nhiều ngôi chùa ở các làng quê.Ngày nay chúng ta đã tìm được khá nhiều chùa làng có dấu vết kiến trúc vàtrang trí chạm khắc thời Mạc, cũng tìm thấy không ít tượng thời Mạc trongcác chùa
Theo một số tài liệu thư tịch thì ngôi chùa thời Mạc là một tổng thểkiến trúc gồm cả Thượng điện, Thiêu hương, Tiền đường và hành lang haibên, như vậy đã phối hợp tạo mặt bằng kiểu “ nội Công ngoại Quốc” Trongtam bảo thời Mạc, do cách thờ theo lối “ Thế gian trụ trì Phật pháp” đòi hỏi cóhình Phật cụ thể để thờ, nên một số tượng ngày nay còn thấy có từ Tam Thếđến Thích Ca sơ sinh, đặc biệt có nhiều tượng Quan Âm Nam Hải, cũngkhông ít tượng Hậu; nhất là Vua và các bà hoàng thời Mạc
Vào thời Lê Trung hưng, với sự thâm nhập của các phái Thiền TàoĐộng và Lâm Tế từ Trung Quốc tràn sang, với tình hình chiến tranh TrịnhNguyễn kéo dài khiến nhiều quý tộc tìm đến cửa Phật cầu cứu, tất cả đã dẫnđến việc xây dựng hoặc làm mới lại được hàng loạt chùa
Những chùa dựng ở thế kỷ XVII hầu hết có quy mô rất lớn, cái mặtbằng “ nội Công ngoại Quốc” còn được bỏ sung thêm một số tòa nhà nữa ởbên trong và cả bên ngoài khuôn viên
Sang thế kỷ XVIII thì cấu trúc các vì chuyển sang chồng rường, hiếmthấy hình người được chạm trang trí Tên gọi các bộ phận như các chùa thờiTrần Ở các nhà phụ, kiến trúc có phần đơn giản hơn Điều mới từ thế kỷXVII là các câu đầu được xập mộng mang cá, đuôi én ở đỉnh cột để chui đầuvào đầu cột, giằng rất chắc
Trang 34Ở các chùa thế kỷ XVII, Gác chuông là công trình kiến trúc rất đượcquan tâm Nó là kiến trúc hai, ba tầng, mỗi tầng đều có đủ bốn mái với bốnđầu đao, do đó hệ thống mái và đầu đao được nhân lên rất phong phú, toàn thểcàng gợi ra bông hoa nở nhiều cành sinh động Mỗi tầng gác chuông đượcngăn cách với nhau bằng lớp trần ( đối với tầng dưới) sàn ( đối với tầng trên)bằng gỗ, tạo ra những không gian riêng Gác chuông cao hai hay ba tầng thìbồn cột cái vẫn kéo dài từ tầng dưới lên tầng trên nên rất cao, và xung quanhthường bỏ ngỏ hay có vách, cánh cửa đóng mở thông thoáng.
Vào cuối thế kỷ XVIII, với nhà Tây Sơn được thành lập trên cơ sở cuộckhởi nghĩa nông dân Tây Sơn từ Đàng Trong lan ra Đàng Ngoài, và khi đờisống nhân dân được cải thiện rõ rệt thì một số chùa cũng được xây dựng với
sự sáng tạo mới độc đáo, như chùa Nghi Tàm ( Kim Liên tự- Hà Nội), chùaTây Phương ( Hà Tây)
Nhà Nguyễn thực sự quản lý đất nước chỉ có bốn vua đầu, thì Gia Long
và Tự Đức đều có ý muốn hạn chế Phật giáo nhưng không gay gắt, còn MinhMạng, Thiệu trị lại có ý nâng đỡ Trong tình hình ấy, ở miền Bắc hầu nhưkhông xây dựng thêm chùa mới, nhưng hầu hết chùa cũ đều được sửa chữa
mở rộng quy mô
Những ngôi chùa được dựng ở thế kỷ XX, số đông vẫn giữ phong cách
cổ truyền, song một số chùa ( đặc biệt là các chùa ở miền Nam) được dựngtheo thiết kế của các kiến trúc sư Tây học với vật liệu mới là xi măng và sắtthep, nơi còn phỏng theo phong cách dân tộc, nơi thì hội nhập đủ các yếu tốphương Bắc, phương Tây tạo nên một phong cách mới gắn với thời kỳ thôngtin bùng nổ vào giao lưu văn hóa rộng rãi
Trang 351.2.1 Sự hình thành chùa Yên Đông:
Ở Yên Hưng hiện còn 23 chùa làng Đa số các chùa làng được xâydựng vào cuối thế kỷ XVI Chùa làng ở Yên Hưng theo dòng Tịnh Độ Tông,các Phật tử chủ yếu niệm Phật A Di Đà và đọc kinh A Di Đà, các ngày Phậtđản, tuần, rằm, các già thường tụng kinh niệm Phật tại chùa của làng mình,các ngày khác tụng kinh niệm Phật tại gia
Xuất phát từ thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo quốc lộ 18A vềhướng Tây đến ngã ba cây số 11 khoảng 30km, rẽ trái theo quốc lộ 10 về thịtrấn Quảng Yên (huyện Yên Hưng) khoảng 11km Từ Quảng Yên qua cầuChanh đi thẳng theo đường liên xã đến UBND xã Yên Hải khoảng 3km TừUBND xã đi tiếp khoảng 1km là đến Chùa Yên Đông nằm ngay bên trái sátđường thuộc thôn Yên Đông, xã Yên Hải, huyện Yên Hưng
Từ trước năm 1980 chùa thuộc An Đông, xã Phong Lưu; từ sau 1980 đếnnay là thôn Yên Đông, xã Yên Hải
Tên của chùa xuất phát từ tên gọi của Làng Làng An Đông hay Yên
Đông có nghĩa là yên ổn, đông vui, đông đúc Chùa còn có tên chữ là " Pháp
Âm Tự" (Phật pháp âm đức).
Chùa Yên Đông là một trong số ít những ngôi chùa cổ nhất ở Hà NamYên Hưng còn lại đến nay Theo văn bia để lại thì chùa được dựng khoảng từnăm 1470 đến 1500 bằng tranh tre lá nứa để thờ Phật và đáp ứng sinh hoạtvăn hóa tín ngưỡng của nhân dân Đến năm 1587 thì được xây dựng lại khang
trang Chùa Yên Đông được tọa lạc trên khu đất mà như tấm bia "An Đông tự
bi ký" khắc năm 1590 có đoạn viết: "Chùa An Đông là nơi có địa thế hùng tráng, được tứ khí chung đúc, sông, núi, gò đồng bốn phía đủ cả thanh long, bạch hổ, huyền vũ, chu tước Là nơi đệ nhất danh thắng xứ Hải Đông Từ triều trước chùa đã được dựng khá đẹp, tượng Phật uy nghiêm, sau đó, theo
Trang 36thời gian cùa bị hỏng, các bậc đại sĩ cùng thiện sãi, vãi trong xã đã góp tiền công đức khởi công xây dựng lại Ngày 21 tháng 8 năm Đinh Hợi niên hiệu Đoan Thái ( 1587), dựng một tòa thượng điện, ngày 4 tháng 2 năm Mậu Tý ( 1588), tô tạo 8 pho tượng Phật, ngày 23 tháng 6, bài trí tượng Phật làm lễ khánh thành chư tăng đông đủ, hoa cây phô sắc, người vật tưng bừng bồng sơn sắc đẹp Những người hảo tâm công đức, lòng thành được chư Phật chứng minh, phúc lộc theo núi sông mà đến, con cháu đời đời thừa hưởng phúc, lộc, thọ, khang, ninh Sau khi hoàn tất việc xây dựng, nơi đây càng trở nên chốn bông lai tiên giới Thời đó phong tục thuần hậu, lúa tốt, dân đông, nhân tài thịnh, danh thơm lưu truyền ngàn năm ’’[21,tr126].
Sau khi xây dựng lại khang trang đã làm 1 bài minh ca ngợi như sau:
" Ngắm nơi danh thắng
Chùa là Yên Đông Truy nguyên cổ tích
Tu sửa Phạn Cung Nền móng rộng rãi
Xà cột vút cong Quy mô to rộng Vẹn tròn đức công Nhân tài nở rộ Ngô lúa đầy đồng Thợ thuyền khoe khéo Buôn bán lưu thông Dân cư lạc nghiệp
Trang 37Thiên hạ hòa đồng Bàn thạch thêm vững Cột rễ hưng long
Cơ đồ muôn thuở Phúc nước khôn cùng”
Tiếng lành đồn xa, sau khi chùa Yên Đông được hoàn thành thì nơi đâycàng trở nên đông đúc, nhộn nhịp, linh thiêng Phật tử quy y, tăng ni trụ trì, tất cảđều hướng thiện vào cõi phật, góp công, góp của mong quả phúc đời cho concháu
1.2.2 Quá trình trùng tu chùa Yên Đông trong lịch sử :
Tồn tại gần 500 năm, chùa Yên Đông trải qua bao lần trùng tu, thay đổi,được bia đá ghi lại :
Năm Đoan Thái thứ 2 (1587) trùng tu tái tạo khang trang
Năm Đoan Thái thứ 3 (1588) tạo tác tượng Phật
Năm Hưng Thịnh thứ 4 (1590), sãi vãi là mọi người trong xã PhongLưu, huyện Hưng xứ Hải Đông góp tiền của công sức mong quả phúc
Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) sư trụ trì cùng các sắc mục trong thônhợp lực hưng công đúc chuông lớn
Năm Tự Đức thứ 14 (1861) bản thôn sửa lại chùa, mua thêm đá chi phítốn kém, một số vị tuổi già mở lòng tâm đi quyên góp tiền và ruộng tiến cúngcho chùa mong được thờ phối hưởng
Năm Tự Đức thứ 25 (1872) nhân bản thôn tu sửa 2 tòa hành lang tả hữuchi phí tốn kém, các tín lão trong thôn mở lòng hằng tâm cúng tiến và ruộngcho chùa mong được thờ phối hưởng
Trang 38Năm Tự Đức thứ 32 (1897) ghi lại việc bà Đoàn Thị Sinh ở An Đông làngười trông nom chùa Pháp Âm mong quả phúc.
Năm Khải Định thứ 6 (1921) nhân việc sửa chữa thượng điện, tiềnđường chi phí tốn kém, bà Vũ Thị Nga đã bỏ ra 15 đồng cung tiến chùa mongđược thờ phối hưởng
Năm Khải Định thứ 8 (1923) nhân xã tu sửa chùa cần chi phí nhiều, có
bà Lê Thị Vượng người bản xã đã bỏ ra 30 đồng cung tiến cho chùa mongđược thờ phối hưởng
Năm Bảo Đại thứ 6 (1931) bản xã tu sửa chù tốn kém nhiều, các tín lãobản chùa đã phát hằng tâm công đức 40 đồng, 2 sào ruộng tư cho chùa
Năm Bảo Đại thứ 6 (1931) nhân bản xã tu sửa chùa tốn kém bà HoàngThị Thanh hiệu Diệu Kim người bản xã cung tiến công đức 15 đồng để tôtượng Mẫu, 60 đồng tô tượng Cửu Long, 1 cây gỗ trị giá 15 đồng, ngói trị giá
15 đồng để lợp lại tù vũ, 1 bát hương ở tam bảo trị giá 15 đồng, cúng 23 đồng
để tu sửa chữa đồ thờ ở chùa để mong được quả phúc
Năm 1954, nhân trung tu bái đường, hậu cung tốn kém nhiều, bàNguyễn Thị Tiêm, Vũ Thị Diện, Phạm Thị Năm đã bỏ ra 1000 đồng cung tiếncho nhà chùa mong quả phúc
Những năm gần đây, các phật tử gần xa và chính quyền địa phương đãtín tâm công đức tu sửa, tôn tạo, tô lại tượng phật, đồ thờ, hoành phi câu đốikhang trang sáng sủa
Cho đến nay, mặc dù thời gian đã làm cho cảnh cũ chùa ngày xưa thayđổi nhiều, nhưng chùa Yên Đông vẫn giữ được nét cổ kính của ngôi chùa cổ
và còn lưu giữ được nguyên vẹn hệ thống tượng Phật, đồ thờ tự vô cùng quýgiá được bài trí đúng ngôi vị càng làm tăng thêm vẻ linh thiêng thần bí cho
Trang 39chùa Tượng Phật và đồ thờ tự ở đây được các nghệ nhân chạm trổ công phu
tỉ mỉ, tạc lên những pho tượng mang đầy đủ các hình dáng khác nhau, thểhiện nội tâm khác nhau Những nét mềm mại nhưng khỏe khắn và dứt khoátcộng với hoa văn trang trí trên từng pho tượng thể hiện qua các thời kỳ đềumang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc văn hóa góp phần làm phong phúthêm kho tàng tài sản hiện vật quý giá của vùng đất Hà Nam nói riêng, củatỉnh Quảng Ninh nói chung
Chùa Yên Đông được xây dựng không những ngoài việc sinh hoạt vănhóa tôn giaó tín ngưỡng của nhân dân mà chùa còn góp phần quan trọng trongquá trình đấu tranh cách mạng để giải phóng đất nước
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chùa là cơ sở hoạt động của ViệtMinh Sư Lộc là một trong những nhà sư yêu nước, hoạt động tích cực đãnuôi dấu cán bộ cách mạng rất an toàn Năm 1947, 1948, làng Hải Yếu bịđịch khủng bố, chùa Yên Đông là nơi tập hợp thanh niên trong làng lên làngHải Yến để mít tinh biểu tình chống lại nhưng đã bị quan hai Pháp đi tuầncùng lính bang bắt giữ một số thanh niên
Trong kháng chiến chống Mỹ, chùa là nơi huấn luyện quân sự tự vệ của
xã chắc tay súng vững tay cày luôn đảm bảo hậu phương vững mạnh sẵn sàngchi viện xức người sức của cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ
Với những giá trị văn hóa tiêu biểu, đặc sắc về lịch sử, nghệ thuật, ngày
24 tháng 11 năm 2000, chùa Yên Đông đã được Bộ văn hóa- thông tin cấpbằng công nhận là di tích văn hóa nghệ thuật theo quyết định số 30QĐ/BVHTT Quyết định này một lần nữa khẳng định được các giá trị củachùa Yên Đông, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa của dân tộc
Trang 40* Vai trò của chùa Yên Đông trong đời sống văn hóa xã Yên Hải:
- Vai trò tín ngưỡng – tâm linh:
Với đa số người dân Việt Nam, ngôi chùa chính là nơi tìm đến, nơi trở
về mỗi khi có việc hệ trọng trong cuộc đời như việc hiếu, hỷ, xây cất nhà cửa,sinh con , hoặc vào những dịp thường lệ theo phong tục, tập quán như đi lễđầu xuân, lễ rằm, mùng một Người dân đến chùa, thỉnh sư để tìm một chỗdựa, để cầu bình an, tài lộc Vai trò tín ngưỡng, tâm linh được thể hiện thôngqua các hoạt động điển hình:
- Rước vong lên chùa
- Cầu siêu, giải oan
- Cầu an
- Bán khoán trẻ
- Các khóa lễ vía Phật, Bồ tát, Thánh Tăng
- Lễ hội chùa, giỗ Tổ
Ngoài ra, tại một số chùa còn kết hợp một số hình thức tín ngưỡng dângian, tín ngưỡng truyền thống như dâng sao giải hạn, hầu đồng, xem ngày, giờtốt, phong thủy, tử vi, tướng số
Cũng như vậy, chùa Yên Đông là một công trình kiến trúc Phật giáophục vụ nhu cầu tâm linh của người dân xã Yên Hải nói riêng Nó góp phầnlàm phong phú hơn thế giới tâm linh của con người, đồng thời nó còn làm chocon người ta thư thái về mặt tâm hồn Đến đây, người dân có thể cầu phúc chogia đình, con cháu, cầu cho việc làm ăn buôn bán được thuận lợi, mùa màng