Khai thác nội dung lịch sử trong các tác phẩm của Hò Chí Minh phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945- 1954
Trang 1KHAI THÁC NỘI DUNG LỊCH SỬ TRONG CÁC TÁC
PHẨM CỦA HỒ CHÍ MINH PHỤC VỤ DẠY HỌC
LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 – 1954
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 4
NHẬN XÉT CỦA GVHD 5
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN 6
MỞ ĐẦU 7
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 7
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 9
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 11
5 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI 11
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN … 13
1.1 BỘ MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHÔNG THÔNG……… 13
1.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHÔ THÔNG 14
1.2.1 Phương pháp trình bày miệng 14
1.2.2 Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan 15
1.2.3 Phương pháp sử dụng sách giáo khoa 16
1.2.4 Phương pháp sử dụng tài liệu lịch sử 17
1.2.5 Phương pháp sử dụng tài liệu văn học 18
1.3 THỰC TRẠNG DẠY HỌC LỊCH SỬ VÀ VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PTTH HIỆN NAY 20
1.3.1.Thực trạng dạy và học lịch sử hiện nay ở trường phổ thông 20
1.3.2 Vấn đề đổi mới nội dung, phương pháp dạy học lịch sử ở trường PTTH hiện nay 24
1.4 HƯỚNG DẪN HỌC SINH KHAI THÁC TƯ LIỆU LỊCH SỬ QUA CÁC TÁC PHẨM CỦA HỒ CHÍ MINH GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỘ MÔN 25
1.4.1 Đặc điểm nhận thức của học sinh đối với việc khai thác
tư liệu lịch sử qua các tác phẩm của Hồ Chí Minh sử dụng trong
Trang 3dạy học lịch sử 25
1.4.2 Hướng dẫn học sinh khai thác tư liệu lịch sử qua các
tác phẩm của Hồ Chí Minh 27
CHƯƠNG 2 TIẾP CẬN NGUỒN TƯ LIỆU LỊCH SỬ TRONG CÁC
TÁC PHẨM CỦA HỒ CHÍ MINH PHỤC VỤ DẠY HỌC LỊCH SỬ
VIỆT NAM LỚP 12 GIAI ĐOẠN 1954- 1954 31
2.1 HỒ CHÍ MINH – CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP 31
2.2 MỘT SỐ TÁC PHẨM SỬ HỌC TIÊU BIỂU CỦA
Hồ CHÍ MINH………… …… 38
2.3 MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC SỬ DỤNG TƯ LIỆU LỊCH SỬ
TRONG CÁC TÁC PHẨM CỦA HỒ CHÍ MINH PHỤC VỤ
DẠY HỌC LỊCH SỬ… ……… …… 44
2.3.1 Cũng cố và nâng cao kiến thức lịch sử 44
2.3.2 Giáo dục tư tưởng đạo đức cho học sinh 46
2.3.3 Góp phần hình thành cho học sinh phương pháp học tập
khoa học khi học tập lịch sử……… …… 47
2.4 KHAI THÁC NỘI DUNG LỊCH SỬ TRONG CÁC TÁC PHẨM
CỦA HỒ CHÍ MINH PHỤC VỤ VIỆC DẠY HỌC LỊCH SỬ
VIỆT NAM LỚP 12 GIAI ĐOẠN 1945- 1954 …… 49
2.4.1 Những tác phẩm của Hồ Chí Minh được sử dụng để
khai thác phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945- 1954 …… 49
2.4.2 Khai thác nội dung lịch sử trong các tác phẩm của
Hồ Chí Minh phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 52
CHƯƠNG 3 VẬN DỤNG KHAI THÁC NỘI DUNG LỊCH SỬ
TRONG CÁC TÁC PHẨM CỦA HỒ CHÍ MINH VÀO MỘT
BÀI HỌC CỤ THỂ TRONG CHƯƠNG TRÌNH LỊCH SỬ
VIỆT NAM LỚP 12 GIAI ĐOẠN 1945 – 1954 …… 64
3.1 LÝ DO CHỌN BÀI 17: “NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ
CỘNG HOÀ TỪ SAU NGÀY 2-9-1945 ĐẾN TRƯỚC
NGÀY 19-12-1946” (LỚP 12 BAN CƠ BẢN) …… 64
3.2 GIÁO ÁN GIẢNG DẠY BÀI 17 …… 65
Trang 43.3.HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TƯ LIỆU LỊCH SỬ TRONG CÁC
TÁC PHẨM CỦA HỒ CHÍ MINH ĐỂ GIẢNG DẠY BÀI
“NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ TỪ SAU NGÀY 2-9-1945
ĐẾN TRƯỚC NGÀY 19-12-1946” (LỚP 12 BAN CƠ BẢN) ……81
KẾT LUẬN………… .……86
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……89
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Th.S Nhữ Thị Phương
Lan, người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành đề tài này
Em xin gửi lời cảm ơn đến thầy Nguyễn Mạnh Tiến giáo viên trường
PTTH Nguyễn Du đã tạo điều kiện cho em thực nghiệm tại trường
SV: Lê Thị Thủy
Trang 6NHẬN XÉT CỦA GVHD
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 7NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 8MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đại hội đảng lần thứ VII (1991) nhất trí thông qua nghị quyết lấy “ chủ
nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành
động” Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả sự vận dụng sáng tạo của chủ nghĩa
Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta
Thực hiện nghị quyết của đảng, việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh cho
thanh niên – học sinh trở thành một nội dung quan trọng trong nhà trường, nơi
đào tạo những lớp người có sứ mệnh xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Muốn thế giáo dục phải nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân
cách cho thế hệ trẻ, trong đó thanh niên phải được quan tâm giáo dục về nhân
cách, bản lĩnh và lý tưởng theo phương châm sống, học tập theo gương Bác Hồ
vĩ đại
Một trong những con đường thực hiện mục tiêu trên trong dạy học lịch sử ở
trường PTTH là tổ chức cho học sinh được học tập, nghiên cứu tác phẩm của
Hồ Chí Minh Qua tác phẩm học sinh hiểu rõ thêm những diễn biến lịch sử,
nhất là lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay; hiểu vai trò và sự nghiệp
của Người Trên cơ sở ấy, sẽ tiến hành giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng
cao hiệu quả của việc dạy học lịch sử Đồng thời giúp học sinh biết sử dụng
sách giáo khoa và tài liệu tham khảo để thu nhận kiến thức hoàn thiện vốn hiểu
biết lịch sử của mình
Để nâng cao hiệu quả bài dạy lý luận dạy học hiện đại cho rằng cần đa dạng
hoá nguồn thông tin bằng nhiều phương tiện dạy học Tài liệu tham khảo là một
nguồn thông tin không thể thiếu được, thông qua việc sử dụng tài liệu sẽ hình
thành và rèn luyện cho học sinh tính tư duy logic các vấn đề lịch sử
Tác phẩm của Hồ Chí Minh là tài liệu tham khảo quan trọng trong quá trình
dạy – học lịch sử Trong những tác phẩm của người có rất nhiều nội dung lịch
sử, để dạy học lịch sử đạt hiệu quả cao nhất là dạy học khoá trình lịch sử Việt
Nam lớp 12 giáo viên cần khai thác nội dung lịch sử trong tác phẩm của Hồ
Chí Minh để phục vụ cho việc dạy học nhằm giúp học sinh hiểu rõ và nhận
thức đúng về lịch sử dân tộc từ đó nâng cao hiệu quả của môn học
Trang 9Sử dụng tư liệu lịch sử trong các tác phẩm của Hồ Chí Minh trong dạy học
lịch sử nói chung và trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 12 nói riêng là một
việc làm thiết thực, cụ thể, góp phần nâng cao chất lượng của việc dạy và học
lịch sử
Thực trạng dạy và học sử hiện nay đang là một vấn đề lo ngại, đăt ra yêu
cầu đối với các nhà quản lý giáo dục, đội ngũ nhà giáo, đó là phải làm sao nâng
cao chất lượng bộ môn Chất lượng tuyển sinh đại học trong những năm qua,
đặc biệt là bộ môn lịch sử đã làm bàng hoàng không chỉ các thầy cô giáo, các
em học sinh mà cả xã hội Theo thống kê, kết quả tuyển sinh đại học trong kì
thi tuyển sinh đại học cao đẳng năm 2005 là rất thấp:
Đại học sư phạm Hà Nội : 5399 thí sinh dự thi có 4038 thí sinh đạt từ điểm 3
trở xuống
Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh: 9008 thí sinh dự thi, có 7269 thí sinh 2
điểm trở xuống, trong đó có khoảng 29% bài bị điểm 0
Đại học sư phạm Đà Lạt : 7807 thí sinh dự thi, có 4650 thí sinh 1 điểm trở
Trước thực trạng học sử như vậy, vai trò của người giáo viên càng khó
khăn, nặng nề hơn Người giáo viên cần phải làm cho học sinh yêu thích lịch
sử, có hứng thú khi học tập lịch sử, từ đó những kiến thức lịch sử mới khắc sâu
trong tâm trí học sinh Có như vậy mới nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử
Để nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử, giáo viên ở các trường phổ thông đã
từng bước tiến hành đổi mới phương pháp dạy học, kết hợp nhiều phương pháp
dạy học, đồng thời các quan niệm dạy học hiện đại như lấy học sinh làm trung
1
Nguyễn Thị Kim Dung- Cao Thị Lan Chi(tháng 11-2005), Một vài ý kiến về thực trạng dạy học, kiểm
tra, đánh giá và vị trí của môn lịch sử ở bậc phổ thông trung học hiện nay, Kỷ yếu hội thảo khoa học “
Thực trạng – giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử trong trường phổ thông theo hướng
Trang 10tâm, dạy học nêu vấn đề, dạy học liên môn…đã và đang được vận dụng vào
giảng dạy bộ môn
Thực hiện đổi mới phương pháp trong dạy học lịch sử, đề tài khoá luận của
tôi hướng đến việc sử dụng phương pháp khai thác tư liệu lịch sử trong dạy học
lịch sử Qua thực tế dạy học ở trường phổ thông hiện nay tôi thấy phương pháp
sử dụng tư liệu trong dạy học lịch sử, đặc biệt tư liệu của Hồ Chí Minh chưa
được giáo viên sử dụng nhiều Là một giáo viên tương lai tôi thấy những tư liệu
lịch sử trong các tác phẩm của Hồ Chi Minh có thể sử dụng vào dạy học lịch sử
với tư cách là một nguồn tài liệu tham khảo Sử dụng nguồn tư liệu này kết hợp
với những phương pháp dạy học khác sẽ nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở
trường phổ thông
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Việc nghiên cứu phương pháp sử dụng tác phẩm của Hồ Chí Minh được
đặt ra lần đầu tiên trong Quyển “Phương pháp dạy học lịch sử” - Phan Ngọc
Liên – Trần văn Trị Các tác giả đã đánh giá cao vị trí, ý nghĩa tác phẩm của
Hồ Chí Minh trong dạy học lịch sử khi cho rằng “ có thể nói hầu hết tài liệu của
Hồ Chủ Tịch đều có thể trích dẫn và sử dụng trong việc học tập các khoá trình
lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới”2 Tuy nhiên trong khuôn khổ một giáo trình,
phương pháp sử dụng nguồn tài liệu này cũng chỉ được xem xét trong mối quan
hệ với các loại tài liệu tham khảo khác, mà chưa trình bày cụ thể cách sử dụng
Trong tác phẩm “Hồ Chí Minh bàn về lịch sử” do Phan Ngọc Liên chủ biên,
NXB Hà Nội 1995 các tác giả đã sưu tầm trích dẫn trong các tác phẩm của Hồ
Chí Minh (toàn tập 10 tập ) những đoạn có liên quan đến tài liệu sự kiện, khái
quát – lý luận lịch sử, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu sử học, để
giúp người đọc nhận thức đúng và sâu sắc hơn lịch sử quá khứ của dân tộc và
trên thế giới Trên cơ sở ấy nắm được quy luật phát triển của lịch sử trong hiện
tại và tương lai, tin tưởng vào tiền đồ cách mạng của chúng ta Các tác giả đã
coi việc sử dụng tác phẩm của người là một biện pháp tích cực nhằm nâng cao
hiệu quả việc dạy học bộ môn
2
Phan Ngọc Liên- Trần Văn Trị(2004), Phương pháp dạy học lịch sử, NXB giáo dục, tr 152
Trang 11Tuy nhiên các tác giả chỉ mới trích dẫn ra những tư liệu lịch sử trong tác
phẩm của Hồ Chí Minh, nhưng chưa đưa ra được phương pháp sử dụng vào
từng bài học cụ thể
Giáo sư Phan Ngọc Liên có bài “ Tài liệu Hồ Chí Minh trong dạy học lịch
sử ở trường phổ thông” trong tác phẩm “ Bách khoa thư Hồ Chí Minh tập 1”
Tác giả đã viết trong tác phẩm của Hồ Chí Minh chúng ta có thể rút ra nhiều tài
liệu lịch sử, dùng để dạy học, nghiên cứu lịch sử Tuy nhiên trong khuôn khổ
của một bài nghiên cứu tác giả chưa làm rõ được việc sử dụng tác phẩm của Hồ
Chí Minh vào giảng dạy như thế nào cho từng bài học cụ thể
Cũng trong “ Bách khoa thư Hồ Chí Minh tập 1”, Trần Vĩnh Trường –
Đặng Văn Hồ có bài viết “Sử dụng tài liệu Hồ Chí Minh để tạo biểu tượng
trong dạy học lịch sử ở trường THPT” Tác giả đả chỉ ra trong tài liệu của Hồ
Chí Minh có thể tạo biểu tượng cho học sinh về những nhân vật lịch sử Tác giả
cho rằng tài liệu của Hồ Chí Minh được sử dụng trong mọi khâu của hoạt động
ngoại khoá, chủ yếu việc tạo biểu tượng hình thành khái niệm, kiểm tra đánh
giá Sử dụng tác phẩm của Hồ Chí Minh để tạo biểu tượng cho học sinh góp
phần phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập lịch sử, nâng cao chất
lượng môn học Tuy nhiên hai tác giả chưa đi sâu vào việc hướng dẫn tạo biểu
tượng về nhân vật ở từng bài học cụ thể mà chỉ mới chỉ ra chung chung
Như vậy sự dụng tác phẩm của Hồ Chí Minh vào dạy học lịch sử đã được
nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên các công trình nghiên cứu chưa
chỉ ra được cách sử dụng tác phẩm của Hồ Chí Minh vào một giai đoạn lịch sử
cụ thể để phục vụ việc giảng dạy lịch sử ở trường THPT theo chương trình
SGK mới Trong khoá luận của mình người viết đã kế thừa những công trình
nghiên cứu trên để thực hiện đề tài “ Khai thác nội dung lịch sử trong các tác
phẩm phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam lớp 12 ban cơ bản” Với đề tài này
người viết tiến hành khai thác những tư liệu lịch sử trong các tác phẩm của Hồ
Chí Minh sử dụng vào dạy học lịch sử Việt Nam 1945- 1954 lớp 12 ban cơ
bản
Trang 12
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong khoá luận người viết vận dụng phương pháp logic và phương pháp
lịch sử, nghiên cứu tác phẩm của Hồ Chí Minh để rút ra từ những tác phẩm đó
những nội dung liên quan đến lịch sử phục vụ cho việc dạy học lịch sử Việt
Nam giai đoạn 1945- 1954
Đồng thời người viết cũng tiến hành dạy thực nghiệm ở trường PTTH
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong khoá luận của mình người viết chỉ nghiên cứu việc sử dụng tác phẩm
của Hồ Chí Minh phục vụ cho việc dạy học lịch sử Việt Nam lớp 12 giai đoạn
1945 – 1954 (ban cơ bản)
5 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI
Chương 1 : Cở sở lý luận
1.1 Bộ môn lịch sử ở trường phổ thông
1.2 Các phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông
1.3 Thực trạng dạy học lịch sử và vấn đề đổi mới nội dung, phương
pháp dạy học lịch sử ở trường PTTH hiện nay
1.4 Hướng dẫn học sinh khai thác tư liệu lịch sử qua các tác phẩm của
Hồ Chí Minh góp phần nâng cao chất lượng bộ môn
Chương 2 Tiếp cận nguồn tư liệu lịch sử trong các tác phẩm của Hồ Chí
Minh phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam lớp 12 giai đoạn 1954- 1954
2.1 Hồ Chí Minh – con người và sự nghiệp
2.2 Một số tác phẩm sử học tiêu biểu của Hồ Chí Minh
2.3 Mục đích của việc sử dụng tư liệu lịch sử trong các tác phẩm của Hồ Chí
Minh phục vụ dạy học lịch sử
2.4 Khai thác nội dung lịch sử trong các tác phẩm của Hồ Chí Minh phục vụ
việc dạy học lịch sử Việt Nam lớp 12 giai đoạn 1945- 1954
Chương 3 Vận dụng khai thác nội dung lịch sử trong các tác phẩm của Hồ Chí
Minh vào những bài học cụ thể trong chương trình lịch sử Việt Nam lớp 12 giai
đoạn 1945 – 1954
3.1 Lý do chọn bài 17: Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà từ sau ngày
2-9-1945 đến trước ngày 19-12-1946( lớp 12 ban cơ bản)
Trang 133.2 Giáo án giảng dạy bài 17
3.3.Hướng dẫn sử dụng tư liệu lịch sử trong các tác phẩm của Hồ Chí Minh để
giảng dạy bài “Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà từ sau ngày 2-9-1945 đến
trước ngày 19-12-1946” (SGK lịch sử Việt Nam lớp 12 ban cơ bản)
Kết luận
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 BỘ MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Lịch sử là những gì đã xẩy ra theo thời gian trong toàn bộ quá trình
phát sinh, phát triển của con người và xã hội loài người, là bản thân đời sống xã
hội qua các giai đoạn tiến triển khác nhau và cả giới tự nhiên trong phạm vi
những gì có liên quan đến con người Lịch sử cũng là nhận thức của con người
về quá khứ của mình
Cùng với việc hình thành lịch sử xã hội loài người khi con người xuất
hiện, việc giáo dục lịch sử cũng bắt đầu Việc giáo dục lịch sử trong một thời
gian dài được thực hiện bằng việc cung cấp cho mọi người, đặc biệt cho thế hệ
trẻ những hiểu biết về quê hương, tổ tiên, về những sự kiện vẻ vang của nhân
dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Qua đó, giáo dục lòng yêu quê hương
đất nước, kính yêu những người có công lao, tự hào về những thành tích đạt
được, rút ra những bài học quá khứ, xác định trách nhiệm của mỗi người đối
với hiện tại và tương lai Khi lịch sử trở thành một khoa học, một môn học ở
nhà trường thì việc giáo dục được tiến hành theo những nguyên tắc sư phạm,
thể hiện mục tiêu chương trình đào tạo
Việt Nam có lịch sử lâu đời, nhân dân có nhiều kinh nghiệm trong giáo dục
truyền thống dân tộc cho thế hệ trẻ và khi nhà trường được thành lập thì kiến
thức lịch sử cũng được giảng dạy cho học sinh, tuy lúc đầu lịch sử chưa phải là
một môn học độc lập
Ông cha ta rất coi trọng việc truyền thụ kiến thức cho thế hệ trẻ bởi vì mỗi
thế hệ đi vào cuộc sống phải được trang bị những hiểu biết của quá khứ để
hướng tới sự phát triển trong tương lai Ngay trong thời kì phong kiến, rồi dưới
ách đô hộ của Pháp, Mỹ và sau đó là thời kì độc lập, hoạt động dạy học lịch sử
luôn diễn ra.Tuy nhiên do tình hình xã hội ở mỗi thời kì khác nhau nên việc
dạy học lịch sử cũng chịu tác động của tình hình xã hội Bộ môn lịch sử mới
được xác định trong nhà trường phổ thông hơn một thế kỷ nhưng đã phát triển
nhanh chóng, mặc dù đã có một thời gian dài thực dân Pháp đã biến môn sử
thành công cụ thống trị của chúng Từ sau cách mạng tháng Tám đến nay, việc
Trang 15dạy học lịch sử đã có nhiều tiến bộ song vẫn tiếp tục được đổi mới để đáp ứng
yêu cầu giáo dục hiện nay và phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
Bằng những nội dung được chọn lọc và cấu tạo theo yêu cầu của từng cấp
học, bộ môn lịch sử khôi phục lại cho học sinh bức tranh lịch sử gần đúng như
nó đã từng tồn tại trong quá khứ Tính khoa học của bộ môn đòi hỏi kiến thức
lịch sử không chỉ cung cấp cho việc miêu tả vẻ bề ngoài của sự kiện mà còn
phải giải thích chúng, chỉ ra bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử Trên cơ
sở những kiến thức cụ thể, bộ môn lịch sử khái quát sự thật lịch sử để hình
thành cho học sinh các khái niệm lịch sử Khái niệm lịch sử giúp học sinh nắm
được lịch sử một cách chính xác, đồng thời hệ thống hoá được kiến thức giúp
họ phân biệt được các sự kiện cùng loại, các sự kiện khác loại, cái chung, cái
riêng …trong quá trình phát triển của xã hội loài người Trên cơ sở những khái
niệm lịch sử, bộ môn lịch sử giúp học sinh hiểu được quy luật phát triển của xã
hội loài người, những quy luật chung và đặc thù của lịch sử phát triển xã hội
nước ta, hiểu được những bài học kinh nghiệm quý báu của lịch sử
Bộ môn lịch sử ngoài việc giáo dục nhận thức còn rèn luyện cho học sinh
phương pháp phân tích một cách khoa học các sự vật, hiện tượng của đời sống
xã hội, giúp các em đi sâu vào bản chất của các sự vật, hiện tượng, nắm vững
quy luật phát triển của nó, cũng như cách nhìn biện chứng về các vấn đề lịch
sử
1.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PTTH
1.2.1 Phương pháp trình bày miệng
Giáo viên sử dụng ngôn ngữ dẫn dắt học sinh trở về với quá khứ lịch
sử, tạo được biểu tượng cụ thể rõ ràng về một sự vật, một biến cố lịch sử …
giúp học sinh biết suy nghĩ tìm tòi, rút ra kết luận, hình thành khái niệm, nhằm
tìm hiểu bản chất sự vật, quy luật của quá trình phát triển lịch sử
Trong dạy học lịch sử có nhiều cách trình bày miệng khác nhau Đó là tường
thuật, miêu tả, nêu đặc điểm và giải thích
Tường thuật là một cách trình bày miệng quan trọng, nhằm tái hiện ở học
sinh biến cố lịch sử quan trọng với đầy đủ tính cụ thể và gợi cảm của nó
Trang 16Miêu tả là trình bày những đặc trưng cơ bản của một sự vật, một sự kiện
lịch sử để nêu lên những nét bản chất chủ yếu, cấu tạo bên trong cũng như hình
dáng bên ngoài của chúng
Nêu đặc điểm về sự kiện, nhân vật lịch sử nhằm làm sáng tỏ những nét bản
chất, những đặc trưng trong mối liên hệ bên trong của các hiện tượng lịch sử
Giải thích được sử dụng trong việc tìm hiểu bản chất, ý nghĩa của những
hiện tượng phức tạp, những khái niệm, các quy luật, nhằm làm cho học sinh có
quan điểm khoa học về sự phát triển của xã hội loài người, về những mối liên
hệ nhân quả giữa chúng
Phương pháp trình bày miệng là phương pháp chủ yếu giáo viên sử dụng
trong dạy học lịch sử Tuy nhiên sử dụng ngôn ngữ trong dạy học lịch sử, về
phía giáo viên cần lưu ý: phải đảm bảo nguyên tắc tính vừa sức tức là giáo viên
giảng giúp cho đa số học sinh hiểu, đồng thời nâng dần độ khó của bài giảng,
lời giảng phải có ý nghĩa giáo dục, có tác dụng phát triển năng lực nhận thức
cho học sinh Ngôn ngữ đảm bảo tính chính xác về nội dung từ ngữ, về chính
tả.Trong diễn đạt phải có hình thức phù hợp với nội dung bài giảng, biết kết
hợp lời giảng với các phương tiện dạy học khác
Đối với học sinh : thầy tạo điều kiện để học sinh tập trình bày các nội dung
lịch sử, qua đó học sinh tự rèn luyện về mặt ngôn ngữ và tư duy, đồng thời giúp
học sinh hiểu bài và nhớ bài nhanh hơn
1.2.2 Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan
Trong dạy học lịch sử phương pháp trực quan góp phần quan trọng trong
tạo biểu tượng cho học sinh, cụ thể hoá các sự kiện và khắc phục tình trạng
hiện đại hoá lịch sử của học sinh
Đồ dùng trực quan là chổ dựa để hiểu sâu sắc các sự kiện lịch sử, là
phương tiện rất có hiệu lực để hình thành các khái niệm lịch sử, giúp cho học
sinh nắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội
Đồ dùng trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp học sinh nhớ kĩ, hiểu
sâu các hình ảnh, những kiến thức lịch sử Phát triển khả năng quan sát, tưởng
tượng , tư duy và ngôn ngữ của học sinh
Trong dạy học lịch sử có các nhóm đồ dùng trực quan:
Trang 17Nhóm thứ nhất: đồ dùng trực quan hiện vật bao gồm những di tích lịch sử và
cách mạng, những di vật khảo cổ và các di vật thuộc các thời đại lịch sử
Nhóm thứ hai: đồ dùng trực quan tạo hình bao gồm các loại phục chế, mô
hình, sa bàn, tranh ảnh lịch sử…nó có khả năng khôi phục lại hình ảnh của
những con người, đồ vật, biến cố, sự kiện lịch sử một cách cụ thể, sinh động và
xác thực
Nhóm thứ ba: đồ dùng trực quan quy ước, bao gồm các loại : bản đồ lịch sử,
đồ thị, sơ đồ, niên biểu…loại đồ dùng trực quan này tạo cho học sinh những
hình ảnh tượng trưng, khi phản ánh những mặt chất lượng và số lượng của quá
trình lịch sử, đặc trưng khuynh hướng phát triển của hiện tượng kinh tế, chính
trị - xã hội của đời sống
Đồ dùng trực quan góp phần to lớn nâng cao chất lượng dạy học lịch sử,
gây hứng thú học tập cho học sinh Nó là chiếc cầu nối giữa quá khứ với hiện
tại
Để góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, các phương tiện kĩ thuật đã được
đưa vào sử dụng trong dạy học lịch sử Đó là máy chiếu hổ trợ giáo viên giảng
dạy bằng giáo án điện tử
1.2.3 Phương pháp sử dụng sách giáo khoa
Sách giáo khoa là tài liệu viết cho học sinh theo theo cấp và lớp học, đây
là tài liệu học tập cơ bản được biên soạn theo chương trình của từng lớp, từng
cấp học, sách giáo khoa bao gồm kiến thức cơ bản, hiện đại, hệ thống, đồng
thời giúp học sinh về phương pháp học tập, tạo cho họ khả năng tự học, giúp
học sinh ôn tập và làm bài
Sách giáo khoa cũng là tài liệu giúp giáo viên soạn bài sử dụng trên lớp,
soạn các đề kiểm tra
Phương pháp sử dụng sách giáo khoa, trên lớp giáo viên hướng dẫn học sinh
theo dõi sách giáo khoa để tạo ra mối quan hệ giữa thầy và trò và sử dụng sách
giáo khoa giúp giáo viên phải xử lý mối quan hệ này một cách hợp lý nhằm
giúp học sinh nắm kiến thức, phương pháp nhận thức và rèn luyện kĩ năng thực
hành Cách xử lý có thể là kết hợp lời giảng của giáo viên với việc học sinh đọc
một số đoạn trong sách giáo khoa Ở nhà giáo viên hướng dẫn học sinh đọc
Trang 18sách giáo khoa ở nhà trước khi lên lớp học Kết hợp với bài giảng học sinh đọc
sách giáo khoa sẽ nắm chắc hơn nội dung bài học
Sử dụng sách giáo khoa là khâu quan trọng trong hoạt động dạy học Phát
huy vai trò của sách giáo khoa là một trong những con đường để nâng cao hiệu
quả dạy học
1.2.4 Phương pháp sử dụng tài liệu lịch sử
Tài liệu lịch sử thành văn gồm nhiều loại :
Tài liệu lịch sử gốc bao gồm các văn kiện, tài liệu có liên quan trực tiếp đến
sự kiện, ra đời vào thời điểm xảy ra sự kiện như các văn tự cổ, các hiệp ước,
tuyên ngôn…Loại tài liệu này dùng để dẫn chứng, minh hoạ cho các sự kiện
đang trình bày
Một số tài liệu lịch sử trích trong các tác phẩm của các tác giả kinh điển chủ
nghĩa Mác Lênin, các tác phẩm của chủ tịch Hồ Chí Minh, của các đồng chí
lãnh đạo Đảng và nhà nước có thể sử dụng vào trong dạy học lịch sử, nâng cao
chất lượng bộ môn
Sử dụng tài liệu lịch sử được tiến hành trong các trường hợp sau:
Thứ nhất dùng để cụ thể hoá các hiện tượng, sự kiện lịch sử đang học, nhằm
tạo cho học sinh có biểu tượng rõ ràng, cụ thể, có hình ảnh, tăng thêm tính chất
sinh động gợi cảm của bài giảng và gây hứng thú cho học sinh Tài liệu được
sử dụng là những đoạn trích ngắn, có nội dung súc tích, đơn giản, giàu hình
tượng, học sinh có thể tiếp thu một cách dễ dàng không cần giải thích gì thêm
Ví dụ khi trình bày về việc “Mĩ can thiệp sâu vào chiến tranh” giáo viên trích
đoạn tư liệu “ Năm 1952, đế quốc Mĩ chi cho chiến trường Đông Dương mới
314 triệu đô la, năm 1953 đã tăng lên 1000 triệu, năm 1954 thì lên đến 1113
triệu…Tính đến cuối năm 1953 đã có gần 400 chuyến tàu chở vũ khí Mĩ sang
Đông Dương”3. Đoạn trích dẫn cho học sinh hình ảnh cụ thể về việc Mĩ can
thiệp vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương
Thứ hai giáo viên sử dụng tài liệu để giải thích một sự kiện lịch sử , học sinh
hiểu được bản chất của nó, thêm hứng thú Ví như khi trình bày về ý nghĩa của
3
Hồ Chí Minh toàn tâp, tập 7(1987), NXB sự thật, trang 91
Trang 19việc Nguyễn Ái Quốc đọc “ Luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và
thuộc địa”, giáo viên trích dẫn một đoạn “ Luận cương của Lênin làm cho tôi
rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao ! Tôi vui mừng đến phát
khóc lên Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước
quần chúng đông đảo : “ Hỡi đồng bào bị đoạ đày đau khổ ! Đây là cái cần
thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta Từ đó, tôi hoàn toàn
tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”4.
Trên cơ sở ấy, giáo viên giải thích để học sinh hiểu rõ Luận cương của
Lênin đã nâng cao những hiểu biết thực tế của Nguyễn Ái Quốc về công cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc, làm sáng tỏ con đường cứu nước đúng đắn
Thứ ba, tài liệu lịch sử dùng trong bài học làm cơ sở chứng minh cho một luận
điểm khoa học để hiểu đúng một sự kiện một khoá trình lịch sử
Tuy nhiên khi sử dụng tài liệu lịch sử trong dạy học, giáo viên cần chọn
những tài liệu phù hợp với nội dung bài học và khả năng nhận thức của học
sinh Có thể sử dụng toàn bộ tác phẩm văn trích phù hợp với yêu cầu học tập
Cần hướng dẫn học sinh thực hiện theo các bước sau:
-Giới thiệu hoàn cảnh ra đời của tài liệu, tác phẩm, nhằm giúp học sinh hiểu giá
trị, tác dụng, mối liên hệ của nó với hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ
-Nội dung chủ yếu của tài liệu, giải thích các thuật ngữ, khái niệm
-Những luận điểm được thể hiện trong tác phẩm có liên quan tới kiến thức của
bài, làm sáng tỏ hơn sự kiện cơ bản của bài
-Tác dụng và ý nghĩa của tài liệu
Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc tài liệu ở nhà nắm nội dung của tài liệu, tìm
trong tài liệu những nội dung liên quan tới bài học để hiểu sâu sắc nội dung
sách giáo khoa
1.2.5 Phương pháp sử dụng tài liệu văn học
Các tác phẩm văn học, có vai trò to lớn đối với việc dạy học lịch sử ở
trường phổ thông Các tác phẩm văn học, bằng những hình tượng cụ thể, có tác
động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm người đọc, trình bày những nét đặc trưng
điển hình của các hiện tượng kinh tế, chính trị, những quy luật của đời sống xã
Trang 20
hội Giữa văn học và khoa học nói chung, sử học nói riêng có mối liên hệ
khăng khít Trong khi sáng tác một tiểu thuyết nhà văn phải nghiên cứu các tư
liệu lịch sử Có nhiều tác phẩm văn học, tự nó là tư liệu lịch sử như “ Hịch
tướng sĩ”, “ Bình ngô đại cáo”, “ Tuyên ngôn độc lập” Do đó giáo viên có thể
khai thác những nội dung lịch sử trong các tác phẩm văn học sử trong dạy học
lịch sử
Trong việc giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông, giáo viên có thể sử dụng
các tài liệu văn học chủ yếu sau: Văn học dân gian; Tác phẩm văn học ra đời
vào thời gian xảy ra sự kiện lịch sử; Tiểu thuyết lịch sử…
Để sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử giáo viên có thể sử dụng
những cách sau:
Thứ nhất, đưa vào bài giảng một đoạn thơ, văn ngắn nhằm minh hoạ các sự
kiện đang học, làm cho nội dung bài học phong phú, giờ học sinh động
Thứ hai, dùng một đoạn trích để cụ thể hoá sự kiện, nêu ra một kết luận khái
quát giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn một thời kì, một sự kiện lịch sử
Thứ ba, tài liệu văn học được sử dụng để tổ chức những buổi sinh hoạt ngoại
khoá
Ngoài những phương pháp trên trong dạy học lịch sử thường sử dụng một
số nguyên tắc dạy học như : Dạy học liên môn, dạy học nêu vấn đề, trao đổi
đàm thoại
Hiện nay dạy học lịch sử ở trường phổ thông phương pháp giáo viên sử
dụng chủ yếu là phương pháp trình bày miệng và sử dụng sách giáo khoa và sử
dụng đồ dùng trực quan Phương pháp khai thác sử liệu và sử dụng các nguyên
tắc dạy học chưa được giáo viên sử dụng nhiều Chúng ta biết rằng không có
một phương pháp dạy học nào là vạn năng, do đó để nâng cao chất lượng dạy
học giáo viên cần phải biết kết hợp nhiều phương pháp một cách hợp lý
Phương pháp sử dụng tài liệu lịch sử có tác dụng nâng cao chất lượng dạy
học bộ môn, tuy nhiên giáo viên phổ thông chưa chú ý nhiều đến phương pháp
dạy học này Trong khoá luận người viết tiến hành khai thác tư liệu lịch sử qua
các tác phẩm của Hồ Chí Minh góp phần nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử
Trang 211.3 THỰC TRẠNG DẠY HỌC LỊCH SỬ VÀ VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI NỘI
DUNG, PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PTTH HIỆN
NAY
1.3.1.Thực trạng dạy và học lịch sử hiện nay ở trường phổ thông
Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991) đã khẳng
định và phát triển đường lối đổi mới kinh tế xã hội với luận điểm : con người
vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội Giáo dục đào
tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu
Quan điểm chỉ đạo đó đã được đưa vào hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam Điều 35 Hiến pháp 1992 ghi rõ : giáo dục và đào tạo là quốc
sách hàng đầu Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Với những tư tưởng đổi mới về cả nhận thức và hành động , Đảng ta đã
giành cả một hội nghị - Hội nghị BCH TƯ lần II (12/1996) để thảo luận và đưa
ra nghị quyết 02 xác định đường lối, chủ trương về phát triển giáo dục và đào
tạo
Dưới ánh sáng của nghị quyết TƯ II, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta
đã có những bước phát triển mới và thu được những thành tựu to lớn Sự
nghiệp giáo dục đào tạo đã đạt được những chuyển biến về mặt quy mô, chất
lượng hiệu quả, góp phần không nhỏ thực hiện những mục tiêu về dân trí, nhân
lực, nhân tài
Đội ngũ giáo viên đã được quan tâm để khắc phục khó khăn, đáp ứng được
với yêu cầu đổi mới trong việc nâng cao trình độ và tu dưỡng phẩm chất, nhân
cách của người thầy giáo Nhiều chính sách mới của nhà nước đã được ban
hành nhằm khuyến khích vế tinh thần, đãi ngộ về vật chất đối với ngưới thầy
như phong tặng nhà giáo ưu tú, nhà giáo nhân dân, huy chương vì sự nghiệp
giáo dục, phụ cấp đứng lớp, miễn học phí cho sinh viên sư phạm, thành lập hai
trường sư phạm trọng điểm và đầu tư cho hệ thống các trường sư phạm
Tuy nhiên do những hạn chế về nguồn lực kinh tế, về khả năng quản lý, chế
độ chính sách chưa đầy đủ và hợp lý nên đội ngũ giáo viên còn gặp nhiều khó
khăn trong đời sống Điều kiện làm việc và đời sống còn thiếu thốn đã làm ảnh
Trang 22hưởng đến sự yên tâm về nghề nghiệp và chất lượng dạy học Giáo viên vừa
thiếu vừa yếu, nhất là giáo viên công tác ở vùng sâu vùng xa Tâm tư nguyện
vọng của giáo viên, những vấn đề bức xúc của họ chưa được tập hợp nghiên
cứu, đề bạt lên các cập có thẩm quyền để giải quyết Tình trạng quan liêu hoá
trong đào tạo giáo viên ở các trường đại học sư phạm cũng đang diễn ra như
không quan tâm điều tra nắm vững đội ngũ giáo viên do mình đào tạo đang
hành nghề và phát triển nghề nghiệp như thế nào sau khi ra trường Đây cũng là
một nguyên nhân đưa đến hạn chế nói trên Bộ môn lịch sử luôn giữ một vai trò
quan trọng trong chương trình đào tạo học sinh phổ thông trung học vì bộ môn
lịch sử rất có ưu thế trong việc giáo dục thế hệ trẻ Do nhận thức chưa đầy đủ
về vai trò, ý nghĩa, chức năng của bộ môn lịch sử, nhiều người, thậm chí cả
những nhà quản lí giáo dục đã tỏ thái độ coi thường, không đối xử với bộ môn
này bình đẳng như với các bộ môn khác Nhiều nhà quản lí cho rằng, trong thời
kỳ mà khoa học và công nghệ phát triển nhanh chóng, sử học cũng như các
môn khoa học xã hội khác không thể có vai trò ngang với khoa học tự nhiên và
kỹ thuật
Do quan niệm không đúng về vị trí và vai trò của bộ môn lịch trong trường
phổ thông và trong việc giáo dục thế hệ trẻ, do tác động của cơ chế thị trường
nên một thời gian dài rất ít học sinh khá giỏi thi vào khoa sử các trường đại học
sư phạm
Trong khi đó thì việc đào tạo tại các khoa sử của các trường đại học sư
phạm ít gắn với thực tế giảng dạy tại các trường phổ thông Chưa có những
cuộc điều tra cơ bản để xem sinh viên được đào tạo phát huy năng lực ở trường
phổ thông như thế nào, cái gì cần tiếp tục phát huy cái gì cần điều chỉnh
Ở các trường phổ thông môn sử được coi là môn phụ, không được các nhà
quản lý trường phổ thông quan tâm chú ý Thậm chí nhiều trường bố trí giáo
viên không được đào tạo chuyên nghành để dạy môn lịch sử Việc bố trí giảng
dạy trái nghành càng làm cho chất lượng giảng dạy học môn lịch sử ngày càng
suy giảm và môn sử sẽ bị coi thường
Trang 23Cơ chế thị trường tác động tới việc dạy thêm học thêm làm cho giáo viên
lịch sử cảm thấy thua thiệt đồng nghiệp về kinh tế dẫn đến không an tâm trau
dồi chuyên môn nghiệp vụ
việc cải cách đổi mới phương pháp dạy học lịch sử chưa được coi trọng trong
các trường phổ thông Nhà trường chưa chú ý nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên, trong khi đó việc dạy học lịch sử cần phải có
một trình độ uyên thâm liên quan tới nhiều bộ môn mới có thể đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao của việc dạy học lịch sử
Trên thực tế hiện nay còn không ít giáo viên giảng dạy lịch sử chạy theo
chương trình và sách giáo khoa nặng nề, lo đối phó với thi cử, thi đua Giáo
viên không có khả năng hoặc những điều kiện cần thiết để tổ chức hoạt động
ngoại khoá, hướng dẫn học sinh thực hành và tham gia các hoạt động xã hội
Do những quan niệm chưa đúng về việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông
đã dẫn đến chất lượng môn sử ngày càng đi xuống “ Trong các môn thi tốt
nghiệp PTTH và tuyển sinh ĐH- CĐ, có lẽ môn lịch sử gây nên sự quan tâm
chú ý nhất của dư luận và lập được nhiều kỷ lục trong thi cử của nước ta : là
môn thi có điểm bình quân thấp nhất trong các môn thi tốt nghiệp PTTH nhiều
năm gần đây, là môn thi có điểm bình quân thấp nhất của khối C nói riêng và
tất cả các môn thi tuyển sinh đại học nói chung, là môn thi mà số học sinh đạt
điểm dưới trung bình nhiều nhất, bị điểm 0 và 0,5 với tỷ lệ cao nhất
Liên tiếp trong 4 năm vừa qua , từ 2004 – 2008 môn sử được chọn là 1 trong
6 môn thi tốt nghiệp THPT Dù rằng môn sử luôn cầm đèn đỏ trong xếp hạng
theo điểm bình quân các môn thi tốt nghiệp THPT Điểm bình quân cả nước
của môn sử thi tốt nghiệp THPT năm 2006 là 6,37, năm 2007 là 6,19 Tuy
nhiên thống kê môn sử trong kì thi tuyển sinh ĐH – CĐ thật sự làm cho các
nhà giáo dục giật mình, lo lắng lẫn thất vọng Điểm bình quân môn sử trong
trong kì thi đại học năm 2006 là 1,90, năm 2007 là 2,09, năm 2008 có khá hơn
nhưng cũng chỉ 2,39 Trong số 107000 bài thi khối C trong kì thi tuyển sinh
Trang 24ĐH – CĐ năm 2007 được thống kê chỉ có 9,23 % bài thi có điểm 5 trở lên,
trong khi đó có đến 21,3% bài thi bị điểm 0 hoặc 0.5 điểm”5
Trong những kì thi đại học, thí sinh thi môn lịch sử tức là học ban khoa học
xã hội, tuy nhiên những bài làm của các thí sinh trong các kì thi tuyển sinh đại
học đã làm cho cả xã hội phải lo ngại trước tình trạng học sử của học sinh hiên
nay Xin dẫn ra một ví dụ về kết quả tuyển sinh ở trường đại học sư phạm
thành phố Hồ Chí Minh – trường đại học trọng điểm ở phía Nam
Kỳ thi(năm) Tổng số bài
thi
Đạt yêu cầu (từ 5 đến 10 điểm)
Không đạt yêu cầu (từ
Nguồn Lê Vinh Quốc (2008) các yếu tố cơ bản trong quá trình giáo dục hiện
đại và vấn đề đổi mới dạy học ở Việt Nam Trang 181
Trong năm 2007 kết quả tuyển sinh ở trường đại học sư phạm thành phổ Hồ
Chí Minh đạt rất thấp, có 9.008 thí sinh dự thi khối C nhưng môn lịch sử chỉ có
5 học sinh đạt điểm 8 trở lên, 5 điểm trở lên thì có 308 thí sinh, 4.5 điểm trở lên
có 426 thí sinh
Không chỉ riêng trường đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh mà các
trường đại học trên toàn quốc cũng có kết quả tương tự
Từ kết quả thi tuyển sinh đại học cho thấy chất lượng bộ môn lịch sử ở các
trường phổ thông ngày càng giảm sút Vậy làm sao để nâng cao chất lượng dạy
học bộ môn lịch sử trong trường phổ thông Việc đầu tiên cần làm ở đấy là đổi
mới phương pháp dạy học lịch sử, nhằm phát huy tính tích cực của học sinh
5
Theo báo tuổi trẻ ra ngày 2/12/2008
Trang 25đồng thời buộc giáo viên phải trau dồi trình độ chuyên môn để có thể áp dụng
được những phương pháp dạy học mới, nâng cao chất lượng dạy học môn lịch
sử ở trường phổ thông
1.3.2 Vấn đề đổi mới nội dung, phương pháp dạy học lịch sử ở trường
PTTH hiện nay
Nhân loại đã bước vào thập niên đầu của thế kỷ XXI với những bước
chuyển vô cùng to lớn Những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công
nghệ, nền kinh tế tri thức đang có vai trò quan trọng trong sản xuất vật chất
Con người đang sống trong xã hội mà khoảng cách không gian được rút ngắn
nhờ những phương tiện thông tin hiện đại Xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra
mạnh mẽ, buộc con người phải thay đổi nhịp sống của mình mới nắm bắt kịp
những thay đổi nhanh chóng của nhân loại, mới thích ứng và phát triển
Sự phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã đặt
nền giáo dục thế giới trước hai sức ép lớn của việc truyền thụ và tiếp thu kiến
thức : khối lượng kiến thức ngày càng nhiều, thời gian và điều kiện tiếp thu lại
có hạn mà yêu cầu về chất lượng đào tạo phải ngày càng cao, do đó đổi mới nội
dung và phương pháp dạy học có tầm quan trọng đặc biệt
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, vấn đề hợp tác và hợp tác quốc tế đã
trở thành một nhu cầu phát triển với tất cả các nước Quá trình hội nhập đòi hỏi
phải có những con người đáp ứng được những năng lực phẩm chất nhất định
Những con người này ngoài những phẩm chất chính trị như lòng yêu nước,
yêu chủ nghĩa xã hội, lòng nhân ái, có ý thức trách nhiệm và còn phải đủ năng
lực để hội nhập Đó là sự thích ứng trong quá trình giao lưu tiếp xúc quốc tế, có
bản lĩnh và năng lực chuyên môn trong lao động sản xuất, hợp tác quốc tế trong
kinh tế Những con người này không thể là những con người thụ động mà phải
có tư duy nhạy bén, vừa là con người dân tộc vừa là con người quốc tế, hoàn
thành nhiệm vụ của mình trong lao động và hợp tác quốc tế
Trong quá trình giao lưu hội nhập quốc tế, vấn đề giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hoá dân tộc trở thành một yêu cầu cấp thiết, đặc biệt là đối với các môn
khoa học xã hội và nhân văn
Trang 26Ngoài những lý do trên, chúng ta thấy hiện nay sách giáo khoa thí điểm đã
được triển khai đại trà trong năm học 2006-2007 Sách giáo khoa mới có nhiều
đổi mới trong quan điểm biên soạn, hình thức trình bày, cách thể hiện nguồn
kiến thức trong mối quan hệ giữa kênh hình và kênh chữ Tuy nhiên sách giáo
khoa mới nội dung mỗi bài học khá dài nếu như giáo viên giảng theo cách
truyền thống thì sẽ không đủ thời gian Sách đặt ra yêu cầu người giáo viên cần
phải đổi mới phương pháp dạy học Có thể nói khi sử dụng sách giáo khoa mới
giáo viên cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học
Luật giáo dục của nước ta được quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua năm 1998, trong chương I những quy định chung đã nhấn
mạnh yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục nói chung và phương pháp dạy
học nói riêng là “ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của
người học; bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê môn học và ý chí vươn
lên”6
Như vậy đổi mới dạy học lịch sử ở trường phổ thông đã trở thành một yêu
cầu cấp thiết, không chỉ đáp ứng mục tiêu và nhiệm vụ của bộ môn lịch sử ở
trường phổ thông mà còn góp phần làm thay đổi nhận thức của xã hội về vị trí,
tầm quan trọng của bộ môn lịch sử đối với việc giáo dục thế hệ trẻ
Có nhiều phương pháp khác nhau để nâng cao chất lượng bộ môn lịch sử ở
trường phổ thông, sử dụng tư liệu lịch sử là một phương pháp góp phần nâng
cao chất lượng bộ môn
1.4 HƯỚNG DẪN HỌC SINH KHAI THÁC TƯ LIỆU LỊCH SỬ
QUA CÁC TÁC PHẨM CỦA HỒ CHÍ MINH GÓP PHẦN NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG BỘ MÔN
1.4.1 Đặc điểm nhận thức của học sinh đối với việc khai thác tư
liệu lịch sử qua các tác phẩm của Hồ Chí Minh sử dụng trong dạy học lịch
sử
Học sinh PTTH vào độ tuổi 15 – 18, đã trưởng thành về mặt nhận thức, các
em hoàn toàn có khả năng tư duy lý luận và tư duy trừu tượng một cách độc
lập, sáng tạo trong những đối tượng quen biết đã được học ở trường Đây là cơ
6
Luật giáo dục (1998), NXB chính trị quốc gia, trang 9
Trang 27sở quan trọng để sử dụng phương pháp dạy học mang tính chất nghiên cứu theo
đặc trưng môn học.Với những đặc điểm tâm lý đó, những phương pháp dạy học
dưới dạng trình bày tóm tắt, thông báo nội dung sách giáo khoa một cách máy
móc đơn điệu, không còn phù hợp với yêu cầu học tập và khả năng nhận thức
của học sinh
Đồng thời quá trình nhận thức trong học tập lịch sử của học sinh trải qua hai
giai đoạn Trước hết học sinh nhận thức được các sự kiện, quá trình cụ thể của
lịch sử Sự tiếp xúc của học sinh với những tri thức này mang tính chất dán
tiếp( thông qua giáo viên, tài liệu…)sẽ tạo thành những tri giác và biểu tượng
lịch sử Đó là giai đoạn nhận thức cảm tính trong học tập lịch sử Ở giai đoạn
tiếp theo, bằng sức mạnh của tư duy trừu tượng, học sinh sẽ tự hình thành trong
đầu óc những tri thức trừu tượng, khái quát Đây là giai đoạn nhận thức lý tính
trong học tập lịch sử
Từ đặc đểm nhân thức trong học tập lịch sử trên, để học sinh có thể hình
thành được tri thức khái quát thông qua giai đoạn nhận thức lý tính, trong giai
đoạn nhận thức cảm tính giáo viên phải hình thành cho học sinh những biểu
tượng lịch sử Để hình thành biểu tượng lịch sử cho học sinh giáo viên cần phải
sử dụng thêm những tài liệu tham khảo ngoài sách giáo khoa, giúp cho học sinh
hiểu các sự kiện lịch sử một cách toàn diện, có biểu tượng về các sự kiện được
học
Vì thế khai thác nội dung lịch sử thông qua các tác phẩm của Hồ Chí Minh
sử dụng trong dạy học lịch sử là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng giúp học
sinh hiểu đúng các sự kiện, hiện tượng, giúp các em nắm vững hơn nội dung
lịch sử Được tiếp xúc một cách thường xuyên học sinh sẽ có hứng thú và thói
quen làm việc với tài liệu tham khảo, phát triển năng lực tư duy
Dựa vào sách giáo khoa và tài liệu tham khảo, giáo viên tạo cho học sinh
biểu tượng chân thực về quá khứ, làm cho tri thức chuyển thành niềm tin ở các
em Những hành vi đạo đức được phản ánh qua tài liệu có thể trở thành mẫu
mực cho các em làm theo trong những hoàn cảnh đòi hỏi cách ứng xử tương tự
Khai thác tư liệu lịch sử thông qua các tác phẩm của Hồ Chí Minh sử dụng
trong dạy học lịch sử vừa phù hợp với đặc điểm nhận thức của lứa tuổi học
Trang 28sinh, vừa phù hợp với đặc trưng môn học – thông qua tài liệu lịch sử để hiểu
lịch sử và giáo dục học sinh Qua đó tri thức được học sinh tiếp thu một cách tự
giác, sâu sắc, vững chắc có hệ thống
1.4.2 Hướng dẫn học sinh khai thác tư liệu lịch sử qua các tác
phẩm của Hồ Chí Minh
Các tác phẩm của chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa lớn trong dạy học
lịch sử Có thể nói hầu hết các tài liệu của chủ tịch Hồ Chí Minh đều có thể
trích dẫn và sử dụng trong việc học tập các khoá trình lịch sử dân tộc và lịch sử
thế giới Do đó trong quá trình giảng dạy bộ môn lịch sử ở các trường phổ
thông, giáo viên nên cho học sinh tiếp xúc với những tư liệu lịch sử trong các
tác phẩm của Người giúp học sinh nhận thức sâu sắc hơn về lịch sử dân tộc
cũng như lịch sử thế giới
Các tư liệu lịch sử trong các tác phẩm của Hồ Chí Minh sử dụng trong dạy
học với tư cách là tài liệu tham khảo, do đó giáo viên phải biết chọn những
đoạn tư liệu phù hợp với nội dung bài học, tuỳ vào từng đối tượng học sinh để
việc sử dụng tư liệu đạt hiệu quả cao
Để hướng dẫn học sinh khai thác tư liệu đạt hiệu quả, thì trước hết giáo
viên phải là người biết sử dụng tư liệu Đối với giáo viên việc sử dụng tư liệu
trong dạy học được tiến hành trong các trường hợp sau:
Thứ nhất : Dùng để cụ thể hoá các hiện tượng, sự kiện lịch sử đang học,
nhằm tạo cho học sinh có biểu tượng rõ ràng, cụ thể có hình ảnh tăng thêm tính
chất sinh đông, gợi cảm của bài giảng và gây hứng thú cho việc học tập của các
em Tài liệu được sử dụng là những đoạn trích ngắn, có nội dung súc tích, đơn
giản, giàu hình tượng, học sinh có thể tiếp thu dễ dàng không cần phải giải
thích gì thêm.Ví như khi dạy về việc thực dân Pháp dùng rượu và thuốc phiện
đầu độc nhân dân ta giáo viên có thể sử dụng đoạn trích “ Lúc ấy cứ 1000 làng
thì có 1500 đại lý bán lẻ rượu và thuốc phiện Nhưng cũng trong 1000 làng đó
Trang 29Thứ hai: Giáo viên sử dụng tài liệu để giải thích một sự kiện lịch sử, học
sinh hiểu được bản chất của nó thêm hứng thú Ví như khi trình bày về ý nghĩa
của việc Nguyễn Ái Quốc đọc “ Luận cương của Lênin vế các vấn đề dân tộc
và thuộc địa”, giáo viên trích dẫn một đoạn “ Luận cương của Lênin làm cho
tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao ! Tôi vui mừng đến
phát khóc lên Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước
quần chúng đông đảo : “ Hỡi đồng bào bị đoạ đày đau khổ ! Đây là cái cần thiết
cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta Từ đó, tôi hoàn toàn tin
theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”8
Trên cơ sở ấy, giáo viên giải thích để học sinh hiểu rõ Luận cương của
Lênin đã nâng cao những hiểu biết thực tế của Nguyễn Ái Quốc về công cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc, làm sáng tỏ con đường cứu nước đúng đắn
Là người trực tiếp hướng dẫn học sinh, giáo viên cần phải có năng lực thẩm
định nguồn tư liệu, để cho học sinh tiếp xúc với nguồn tư liệu chính xác, có tác
dụng đối với từng bài học
Khai thác nội dung lịch sử trong các tác phẩm của Hồ Chí Minh, có thể sử
dụng vào bài học nội khoá và bài học ngoại khoá Đối với bài học nội khoá
trong quá trình giảng dạy giáo viên cung cấp cho học sinh những đoạn tư liệu
lịch sử, bổ sung vào nội dung bài học Đối với bài học ngoại khoá giáo viên
hướng dẫn học sinh về nhà đọc tài liệu, trong các giờ ngoại khoá cho học sinh
thảo luận về những nội dung mà giáo viên đã cho học sinh đọc trước ở nhà
Đối với học sinh: Giáo viên lựa chọn tài liệu và cho các em tiếp xúc với tài
liệu có liên quan đến bài học Hướng dẫn học sinh tìm trong tài liệu những sự
kiện cơ bản, những chi tiết quan trọng bổ sung vào nội dung bài học Để làm
được điều này trong quá trình soạn đề cương môn học cho học sinh, giáo viên
cần đưa vào phần tài liệu tham khảo cho từng bài học cụ thể, như thế học sinh
có thời gian tiếp xúc với tài liệu tham khảo trước khi học bài trên lớp Trong
những tiết học trên lớp giáo viên từ những tài liệu đã cung cấp cho học sinh,
đặt những câu hỏi để học sinh khai thác nội dung tư liệu lịch sử bổ sung vào
nội dung bài học.Ví như khi học về xây dựng chính quyền sau cách mạng tháng
Trang 30
Tám giáo viên sử dụng đoạn trích trong bài “ Ý nghĩa của tổng tuyển cử”
“Tổng tuyển cử là một dịp cho quốc dân tự do lựa chọn những người có tài , có
đức để gánh vác công việc nước nhà
Trong cuộc tổng tuyển cử, hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra
ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử Không chia trai gái, giàu
nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam đều
có hai quyền đó”
Vì lẽ đó, cho nên tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn
kết” 9Cho học sinh tham khảo và đặt câu hỏi về ý nghĩa của cuộc tổng tuyển
cử
Hay khi giảng về phong trào cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao xô viết
Nghệ - Tĩnh, giáo viên cho học sinh tham khảo đoạn trích trong bài “ Nghệ tĩnh
đỏ” để học sinh có thể hiểu vì sao phong trào cách mạng 1930-1931 lại đạt tới
đỉnh cao ở hai tĩnh Nghệ An và Hà Tĩnh
- Về vị trí địa lý, hai tĩnh Nghệ An và Hà Tĩnh ở cách 363km về phía Bắc thành
phố Huế - kinh đô nước Việt Nam, cách thành phố Hà Nội 326 km về phía
Nam thủ phủ xứ Đông Dương Cho nên, nó có ý nghĩa chiến lược quan trọng
- Về kinh tế, Hà Tĩnh không có công nghiệp, nhưng Vinh – thành phố chính
của Nghệ An có một nhà ga xe lửa lớn, một nhà máy điện nước, một nhà máy
diêm, 5 nhà máy cưa, 2 xưởng sửa chữa ô tô…Tất cả có tới 4000 công nhân Là
một trong những địa phương tập trung đông người Ngoài số công nhân đó;
nhân dân hai tĩnh đều là bần và trung nông Hơn 1 triệu người sống rất cơ cực,
do địa thế hai tĩnh có nhiều rừng núi, đất đai cằn cỗi, thường xuyên xảy ra lụt
lội Họ còn bị sưu thuế nặng nề và nạn áp bức chính trị làm cho cảnh ngộ của
họ càng cơ cực hơn
- Về truyền thống đấu tranh, nhân dân nghệ tĩnh nổi tiếng về truyền thống yêu
nước thể hiện trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược trước đó, cũng như
trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trong 20 năm đầu thế kỷ XX
Sau khi đảng thành lập, lực lượng của Đảng ở hai tĩnh này phát triển rất mạnh
có 1042 đảng viên, 119 chi bộ và hàng vạn hội viên các tổ chức quần chúng
9
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4(1984), NXB sự thật, trang 72
Trang 31Với đoạn trích trên học sinh có thể hiểu được Nghệ Tĩnh có cao trào xô viết
vì có vị trí chiến lược, có đội ngũ công nhân đông đảo và nông dân có truyền
thống yêu nước, có tổ chức Đảng vững mạnh
Tài liệu lịch sử làm sáng tỏ các sự kiện lịch sử trong bài học Tuy nhiên để
tài liệu phục vụ tốt nội dung bài học, trong quá trình hướng dẫn học sinh khai
thác tài liệu giáo viên cần lưu ý: việc sử dụng tài liệu lịch sử trong giờ học
không biến việc học tập lịch sử thành việc nghiên cứu tài liệu, không làm loãng
nội dung bài giảng Tài liệu lịch sử sử dụng phải có tác dụng minh hoạ, cụ thể
hoá các sự kiện đang học, chứng minh dẫn chứng các lập luận, hướng dẫn sự
suy nghĩ đúng đắn, tư duy của học sinh
Trang 32
CHƯƠNG 2 TIẾP CẬN NGUỒN TƯ LIỆU LỊCH SỬ TRONG CÁC TÁC PHẨM CỦA
HỒ CHÍ MINH PHỤC VỤ DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 12
GIAI ĐOẠN 1954- 1954 2.1 Hồ Chí Minh – con người và sự nghiệp
Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học là
Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn
Ái Quốc và nhiều bí danh, bút danh khác) sinh ngày 19/5/1890 ở xã Kim Liên,
huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, mất ngày 2/9/1969 tại Hà Nội
Cha của Người là Nguyễn Sinh Sắc (1863- 1929) đỗ phó bảng, bị ép ra
làm quan, sau bị cách chức, chuyển sang làm nghề thầy thuốc Mẹ của Người là
Hoàng Thị Loan (1868- 1900), một phụ nữ có học, đảm đang, chăm lo chồng
con hết mực
Người sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, lớn lên ở một địa
phương có truyền thống yêu nước, anh dũng chống giặc ngoại xâm Sống trong
hoàn cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thời niên thiếu và
thanh niên của Người đã chứng kiến nỗi khổ cực của đồng bào và những phong
trào đấu tranh chống thực dân, Người sớm có chí đuổi thực dân, giành độc lập
cho đất nước, đem lại tự do,hạnh phúc cho đồng bào
Với tình cảm yêu nước thương dân vô hạn, năm 1911 Người đã rời Tổ quốc
đi sang phương Tây để tìm con đường giải phóng dân tộc
Từ năm 1912 - 1917, Nguyễn Tất Thành đến nhiều nước ở châu Á, châu
Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hoà mình với nhân dân lao động, Người thông
cảm sâu sắc cuộc sống khổ cực của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa
cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ Người sớm nhận thức được cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc
đấu tranh chung của nhân dân thế giới Người đã hoạt động tích cực nhằm đoàn
kết nhân dân các dân tộc giành tự do, độc lập
Cuối cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, khoảng cuối năm 1917, Người từ
Anh trở lại Pháp Tại đây hoạt động đầu tiên của Người là đấu tranh đòi cho
binh lính và thợ thuyền Việt Nam được sớm hồi hương trở về với gia đình
Trang 33Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp, một đảng tiến bộ chủ trương
chống lại các chính sách áp bức bóc lột của thực dân Pháp ở các nước thuộc
địa Tháng 6 năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những
người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Vécxây (Versailles) bản
yêu sách của nhân dân Việt Nam để tố cáo chính sách thực dân của Pháp và đòi
chính phủ Pháp phải thực hiện các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng
của dân tộc Việt Nam
Bản yêu sách gồm 8 điểm:
1 Tổng ân xá tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị
2 Cải cách nền pháp lí Đông Dương bằng cách để người bản xứ cũng được
quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu Xoá bỏ
hoàn toàn các toà án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận
trung thực nhất trong nhân dân An Nam
3 Tự do báo chí và tự do ngôn luận
4 Tự do lập hội và hội họp
5 Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương
6 Tự do học tập, thành lập các trường kĩ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các
tỉnh cho người bản xứ
7 Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật
8 Có đại biểu thường trực của người bản xứ do người bản xứ bầu ra ở bên cạnh
nghị viện Pháp để trình bầy nguyện vọng của người bản xứ.10
Vào giữa năm 1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc sơ thảo lần thứ nhất những
luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin đăng trên báo nhân đạo
Người cảm thấy vô cùng phấn khởi, tin tưởng và muốn nói to lên như đang nói
trước quần chúng đông đảo: “ Hỡi đồng bào bị đoạ đày đau khổ ! Đây là cái
cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”11
Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước – con đường cách mạng vô sản, cũng từ
đây Người tin theo Lênin, tin theo quốc tế thứ ba
Trang 34Dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Luận
cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, tháng 12 năm 1920 Nguyễn
Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và bỏ phiếu tán
thành Đảng gia nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản), trở thành một trong
những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp Từ một người yêu nước trở thành
một người cộng sản, Người khẳng định: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc,
không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản
Năm 1921, cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp,
Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa Để tiến hành tuyên truyền
đường lối và các hoạt động của hội Tháng 4-1922, Hội xuất bản báo “Người
cùng khổ” (Le Paria) nhằm đoàn kết, tổ chức và hướng dẫn phong trào đấu
tranh giải phóng dân tộc ở các thuộc địa Nhiều bài báo của Người đã được đưa
vào tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, xuất bản năm 1925 Đây là một
công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ
nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng
Tháng 6-1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, Người làm việc
trong Quốc tế Cộng sản Tháng 10 năm 1923, tại Hội nghị Quốc tế Nông dân
lần thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân
Người là đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa được cử vào Đoàn Chủ tịch
của Hội đồng Người tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản Thanh niên lần thứ
IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ Đặc biệt Người đã tham dự Đai hội Quốc tế
Cộng sản lần thứ V Tại đại hội này, Người trình bày một bản báo cáo rất quan
trọng về vấn đề dân tộc và thuộc địa Bằng nhiều số liệu và tư liệu cụ thể, bản
báo cáo đã làm sáng tỏ và phát triển một số luận điểm của Lênin về bản chất
của chủ nghĩa thực dân, về nhiệm vụ của các Đảng cộng sản trên thế giới trong
cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột và giải phóng các dân tộc thuộc địa Tháng 11 năm 1924 với tư cách là Uỷ viên Ban Phương Đông Quốc tế Cộng
sản và Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, Nguyễn Ái Quốc về Quảng
Châu (Trung Quốc) Tại Quảng Châu Nguyễn Ái Quốc vừa làm việc trong
đoàn cố vấn Bôrôđin của Chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ Tôn Dật
Tiên; vừa tìm hiểu và tiếp xúc với những người Việt Nam đang hoạt động tại
Trang 35đây Nguyễn Ái Quốc đã chọn một số thanh niên Việt Nam yêu nước, trực tiếp
mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cách mạng Các bài giảng của Người được
tập hợp in thành cuốn sách “Đường Kách mệnh” - một văn kiện lý luận quan
trọng đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt Nam
Năm 1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, ra tuần
báo “ Thanh niên ”, tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá
chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam, chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam
Tháng 5 năm 1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Mátxcơva (Liên
Xô), sau đó đi Béclin (Đức), đi Brúcxen (Bỉ), tham dự phiên họp mở rộng của
Đại hội đồng Liên đoàn chống chiến tranh đế quốc, sau đó đi Ý và từ đây về
châu Á
Từ tháng 7 năm 1928 đến tháng 11 năm 1929, Người hoạt động trong
phong trào Việt kiều yêu nước ở Xiêm (Thái Lan), tiếp tục chuẩn bị cho sự ra
đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
Mùa xuân năm 1930, Người chủ trì Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu
Long, thuộc Hồng Kông Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách
lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam (Hội nghị của Đảng
tháng 10 năm 1930 đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương), đội tiên phong
của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam Ngay sau khi ra đời,
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo Cao trào Cách mạng 1930 - 1931, đỉnh
cao là Xô viết - Nghệ Tĩnh, cuộc tổng diễn tập đầu tiên của Cách mạng Tháng
Tám năm 1945
Tháng 6 năm 1931, Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Anh bắt giam tại
Hồng Kông Mùa xuân năm 1933, Người được trả tự do
Từ 1934 đến 1938, Người nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân
tộc thuộc địa tại Mátxcơva Kiên trì con đường đã xác định cho cách mạng Việt
Nam, Người tiếp tục theo dõi chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước
Tháng 10 năm 1938 Người rời Liên Xô về Trung Quốc, bắt liên lạc với tổ
chức Đảng chuẩn bị về nước Ngày 28 tháng 1 năm 1941, Người về nước sau
hơn 30 năm xa Tổ quốc
Trang 36Tháng 5-1941, Người triệu tập Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung
ương Đảng, quyết định đường lối cứu nước trong thời kỳ mới, thành lập Việt
Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng,
xây dựng căn cứ địa cách mạng
Tháng 8-1942, lấy tên Hồ Chí Minh, Người đại diện cho Mặt trận Việt
Minh và Phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội Quốc tế chống xâm lược sang
Trung Quốc tìm sự liên minh quốc tế, cùng phối hợp hành động chống phát xít
trên chiến trường Thái Bình Dương Người bị chính quyền địa phương của
Tưởng Giới Thạch bắt giam trong các nhà lao của tỉnh Quảng Tây Trong thời
gian một năm 14 ngày bị tù, Người đã viết tập thơ “Nhật ký trong tù” với 133
bài thơ chữ Hán Tháng 9-1943, Người được trả tự do
Tháng 9-1944, Người trở về căn cứ Cao Bằng Tháng 12-1944, Người chỉ
thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân
đội nhân dân Việt Nam
Cuộc chiến tranh thế giới thứ II bước vào giai đoạn cuối với những thắng
lợi của Liên Xô và các nước Đồng minh Tháng 5-1945, Hồ Chí Minh rời Cao
Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang) Tại đây theo đề nghị của Người, Hội nghị
toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân đã họp quyết định Tổng khởi nghĩa
Đại hội Quốc dân đã bầu ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính
phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch
Tháng 8-1945, Người lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền
trong cả nước Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Người đọc
“Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà,
Người trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập
Ngay sau đó, thực dân Pháp gây chiến tranh, âm mưu xâm chiếm Việt
Nam một lần nữa Trước nạn ngoại xâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi cả
nước đứng lên bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc với tinh thần: “Chúng ta thà
hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm
nô lệ”12 Người đã khởi xướng phong trào thi đua yêu nước, cùng Trung ương
12
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4(1984) NXB sự thật, trang 202
Trang 37Đảng lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn
diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, từng bước giành thắng lợi
Tháng 2-1951 Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ II của Đảng nhằm đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi Tại Đại hội
Người được bầu làm Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam Dưới sự lãnh đạo của
Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến thần thánh của
nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đã giành thắng lợi to lớn,
kết thúc vẻ vang bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954), giải phóng
hoàn toàn miền Bắc
Từ năm 1954, Người cùng Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo
nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền
Nam, thống nhất Tổ quốc
Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III, họp vào tháng 9 năm 1960,
Người khẳng định: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc và đấu tranh hoà bình, thống nhất nước nhà”13 Tại Đại hội Người
được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm 1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân
đánh phá miền Bắc Việt Nam Người động viên toàn thể nhân dân Việt Nam
vượt mọi khó khăn gian khổ, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược Người
nói: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa Hà
Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân
dân Việt Nam quyết không sợ ! Không có gì quí hơn độc lập, tự do Đến ngày
thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp
hơn!”14
Từ năm 1965 đến tháng 9-1969, cùng với Trung ương Đảng, Người tiếp
tục lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện sự nghiệp cách mạng trong điều kiện
cả nước có chiến tranh, xây dựng và bảo vệ miền Bắc, đấu tranh giải phóng
miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước
13
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10(2000) NXB chính trị quốc gia, trang 198
Trang 38Trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho nhân dân Việt Nam
bản Di chúc lịch sử, căn dặn những việc nhân dân Việt Nam phải làm để xây
dựng đất nước sau chiến tranh Người viết: “Điều mong muốn cuối cùng của
tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam
hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng
vào sự nghiệp cách mạng thế giới”15
Thực hiện Di chúc của Người, toàn dân Việt Nam đã đoàn kết một lòng
đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ, buộc
Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Pari ngày 27-1-1973, chấm dứt chiến tranh
xâm lược, rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam Mùa
xuân năm 1975, với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân Việt Nam đã
hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thực hiện
được mong ước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam Người đã vận
dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của
Việt Nam, sáng lập Đảng Mác - Lênin ở Việt Nam, sáng lập Mặt trận dân tộc
thống nhất Việt Nam, sáng lập lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng
lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt
Nam) Người luôn luôn gắn cách mạng Việt Nam với cuộc đấu tranh chung của
nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Người
là tấm gương đạo đức cao cả, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, khiêm tốn,
giản dị
Năm 1987, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc
(UNESCO) đã tôn vinh Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc Việt
Nam, nhà văn hoá kiệt xuất
Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, hội nhập với thế giới, tư
tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc Việt Nam,
mãi mãi soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Trang 392 2.MỘT SỐ TÁC PHẨM SỬ HỌC TIÊU BIỂU CỦA HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh là nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam, một chiến sỹ
quốc lỗi lạc Cống hiến của Người cho đất nước và nhân loại vô cùng to lớn
Trong quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh cũng đóng góp cho
sự hình thành và phát triển nhiều ngành khoa học xã hội, nhân văn, nhiều lĩnh
vực văn học nghệ thuật Song trước hết và chủ yếu Hồ Chí Minh là nhà cách
mạng, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và
nhân dân thế giới Người là một nhân vật lịch sử, một chiến sỹ đấu tranh đánh
đổ chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc, xây dựng xã hội tự chủ ấm no
hạnh phúc, tiến bộ và văn minh Qua cuộc đời và hoạt động của Người chúng
ta hiểu được lịch sử dân tộc và thế giới
Hồ Chí Minh đồng thời là một nhà nghiên cứu lịch sử không chuyên vì Hồ
Chí Minh nhận thức và biên soạn lịch sử để làm phương tiện và vũ khí đấu
tranh, song qua tài liệu sử học hoặc mang tính chất sử học của Người chúng ta
rút ra nhiều bài học quý báu cho nghiên cứu và dạy học lịch sử
Tác phẩm “ Bản án chế độ thực dân Pháp” là một tác phẩm sử học, được
Hồ Chí Minh viết bằng tiếng Pháp trong khoảng những năm 1921- 1925 và
được xuất bản đầu tiên vào năm 1925 tại Pa ri
Bản án chế độ thực dân Pháp là một bản cáo trạng, nó tố cáo tội ác của bọn
thực dân Pháp không phải chỉ ở riêng Đông Dương mà còn ở các nước thuộc
địa khác Bằng lý lẽ đanh thép, tác phẩm đã bóc trần bản chất bóc lột, tàn ác, dã
man, phản động của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân:
Đó là việc vũ trang xâm lược, bình định đất nước ta, đàn áp đẫm máu phong
trào yêu nước của ta để đặt và cũng cố ách thống trị bóc lột của chúng đối với
nhân dân ta
Là bóc lột bằng “thuế máu” – đày đoạ những con người gọi là dân bản xứ
trên các chiến trường châu Âu trong chiến tranh thế giới thứ nhất
Là việc đầu độc dân bản xứ bằng rượu cồn; Giáng vào người bản xứ sưu
cao thuế nặng
Trang 40Là chính sách ngu dân ; Là những luật lệ đặt ra vô tội vạ, hết sức khắc
nghiệt cho phép các nhà cầm quyền hễ ngứa tay thì phạt vạ, tống tù và kèm
theo thảm sát đẫm máu
“Bản án chế độ thực dân Pháp”chỉ mặt gọi tên những kẻ đại diện cho nước
mẹ, cho tự do, công lý, cho sự nghiệp khai hoá và truyền bá văn minh, đang ra
tay hoành hành ở khắp các thuộc địa Tất cả bọn chúng, toàn quyền, thống đốc,
khâm sứ…cho đến bọn đội lốt tôn giáo trong các giáo hội và bọn tay sai mạt
hạng của chúng, đều là lũ phản động vô liêm sĩ, bóc lột tàn ác
Giữa những năm màn đêm còn bao phủ khắp các thuộc địa, bọn thực dân
Pháp cùng bè lũ cơ hội, đang ra sức tuyên truyền những luận điệu thực dân
phản động, bênh vực chủ nghĩa đế quốc, thì “Bản án chế độ thực dân Pháp” đã
giáng vào đầu bọn chúng một đòn tấn công ác liệt, luận tội bọn chúng, và đứng
vào hàng ngũ những người vô sản tiên tiến bênh vực cho quần chúng lao khổ
và các dân tộc bị áp bức Đồng thời bản án chế độ thực dân Pháp còn vạch rõ
kẻ thù của quần chúng nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức Đó là chủ
nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc Từ trong đêm tối của cuộc đời lầm than đau
khổ, tác phẩm đã mở ra cho quần chúng thấy cảnh tương lai tươi sáng Tương
lai đó là hiện thực trên đất nước Nga Xô-viết sau cách mạng tháng Mười Tác
phẩm khẳng định cho quần chúng một lòng tin sắt son vào cái tương lai ấy,
đang được chuẩn bị ở trường đại học phương Đông, ngay trên đất nước Nga
xô-viết Hướng tới tương lai đó, với khí thế tấn công cách mạng sôi nổi, tác
phẩm đã vạch ra đường lối chiến lược và sách lược cho quần chúng đấu tranh
quật ngã kẻ thù Tác phẩm khẳng định đã là người mất nước thì ai cũng sống
kiếp nô lệ, dù là người Việt Nam, An-giê-ri, Đa-hô-mây, Xi-ri, Tây Phi, hay
Xê-nê-gan Tất cả những người vô sản và nhân dân lao động kể cả ở nước
Pháp, đều có chung một mối thù không đội trời chung với chủ nghĩa đế quốc
quốc tế Vì vậy, tất cả thực hiện lời hiệu triệu của Các Mác, vô sản các nước
đoàn kết lại Hãy đi theo con đường của cách mạng tháng Mười, đoàn kết đấu
tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, giành độc lập, tự do cho tổ
quốc, cơm áo, danh dự cho con người Tác phẩm vạch rõ, bản chất của chủ
nghĩa tư bản là con đỉa có hai vòi Muốn diệt trừ nó, phải đồng thời chặt đứt cả