Tìm hiểu kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỷ XI _ XVIII
Trang 1LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
TRONG CÁC THẾ KỈ XI-XVIII
Giảng viên hướng dẫn: TS.TRẦN THỊ THANH THANH Sinh viên thực hiện : ĐÀO THỊ PHƯƠNG HUYỀN Khóa 31 (2005-2009)
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
6-2009
Trang 2SVTH: Đào Thị Phương Huyền 1
Em xin trân trọng cảm ơn các Thầy Cô đã
nhiệt tình giảng dạy, đã truyền đạt kiến thức khoa
học và thực tiễn trong suốt bốn năm qua để hôm
nay em được trở thành một cô giáo dạy lịch sử
Em xin chân thành cảm ơn cô Trần Thị Thanh
Thanh đã tận tình hướng dẫn em ngay từ những
buổi đầu khi em bắt đầu suy nghĩ về đề tài cho đến
khi em hoàn thành luận văn này
Em cũng xin chân thành cảm ơn sự động viên,
giúp đỡ từ gia đình và bạn bè, để em có thể hoàn
thành công việc nghiên cứu rất thú vị nhưng cũng
đầy khó khăn này
Hôm nay luận văn được hoàn thành, em xin
kính trình Quý Thầy Cô trong Hội đồng chấm khóa
luận tốt nghiệp Do trình độ nghiên cứu và thời gian
có hạn, luận văn chắc chắc còn nhiều thiếu sót Em
rất mong nhận được sự chỉ dẫn của Thầy Cô Em
xin trân trọng cảm ơn
Học trò
Đào Thị Phương Huyền
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
II Lịch sử vấn đề và nguồn sử liệu
III Phương pháp nghiên cứu
Chương I: NHỮNG ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ-KINH TẾ CỦA NGOẠI
THƯƠNG VIỆT NAM TRONG CÁC THẾ KỈ XI-XVIII I Điều kiện lịch sử - địa lý
II Những điều kiện kinh tế- xã hội làm tiền đề cho hoạt động ngoại thương
1 Chính sách trọng nông của các triều đại phong kiến
2 Tầng lớp thương nhân
3 Về sự hình thành của nền kinh tế hàng hóa và thị trường dân tộc thống nhất
Chương II : TÌNH HÌNH NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TRONG CÁC THẾ KỈ XI-XVIII
A Khái niệm ngoại thương
B Tình hình ngoại thương dưới các triều đại phong kiến dân tộc
I Thời Lý-Trần ( Thế kỉ XI-XIV)
II Thời Lê ( Thế kỉ XV)
III Thời Nam-Bắc phân tranh và thời Tây Sơn (Thế kỉ XVI-XVIII)
Chương III: VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VIỆT NAM TRONG CÁC THẾ KỈ XI-XVIII I Đánh giá vai trò của ngoại thương trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc từ thế kỉ XI-XVIII
II Vai trò tác dụng của ngoại thương đối với xã hội Việt Nam:
1 Đối với chính quyền phong kiến
2 Đối với nhân dân
KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài:
Trong chế độ phong kiến trung ương tập quyền ở nước ta, cơ sở vật chất của
xã hội dựa vào kinh tế nông nghiệp, ruộng đất là nguồn tư liệu sản xuất chính, địa
tô phong kiến là nguồn sống, nguồn bóc lột chủ yếu của nhà nước phong kiến Vì vậy, các triều đại phong kiến khi nắm quyền luôn phải có chính sách “trọng nông”,
“khuyến nông”, tu sửa đê điều, mở mang thủy lợi, phát triển khai hoang…Đặc biệt, theo quan niệm “dĩ nông vi bản, dĩ thương vi mạt”, hiện tượng bỏ “nghề gốc” (nghề nông) theo “nghề ngọn”(nghề buôn) sẽ làm ảnh hưởng đến nguồn tô thuế từ ruộng đất, sự lớn mạnh của tầng lớp thương nhân sẽ có thể đe dọa ngai vàng Nghề buôn, người đi buôn…do vậy thường bị xem thường, bị khinh miệt
Nhưng kinh tế ngoại thương lại là một nội dung quan trọng của chế độ phong kiến Ngoại thương phản ánh tình hình kinh tế nói chung và có thể phản ánh cả những nét đặc sắc hay tính chất của chế độ xã hội đương thời Cơ sở kinh tế xã hội của một giai đoạn quyết định chủ trương của nhà nước và tính chất của ngoại thương trong giai đoạn đó Nền ngoại thương luôn gắn liền với hệ thống các yếu tố tác động đến hàng hóa Đó là việc tổ chức giao dịch, các cơ quan giao dịch, các sản phẩm mua bán, thể lệ mua bán, hệ thống giao thông, hệ thống đo lường, chế độ thuế khóa, quan hệ giữa lái buôn và người sản xuất, các phương tiện vận tải… Ngoại thương hoạt động tăng cường hay giảm sút đều tác động trở lại đến nền kinh
tế của quốc gia nói chung Nhu cầu về các loại hàng hóa trao đổi với nước ngoài có thể tác động đến việc tổ chức sản xuất trong nước đối với các sản phẩm trở thành hàng hóa đó
Ngoại thương là quá trình nền kinh tế hàng hóa được mở rộng khỏi thị trường trong nước Vì vậy, có thể coi ngoại thương là một động lực kinh tế thúc đẩy xã hội phong kiến phát triển đến mức cao, đồng thời ngoại thương cũng là nơi biểu hiện của những mầm mống dẫn đến sự tan rã của chế độ phong kiến Việc nghiên cứu kinh tế ngoại thương thời phong kiến ở nước ta có thể góp phần làm rõ vai trò và
sự thăng trầm của các triều đại, góp phần làm rõ những bài học lịch sử cho ngày nay, khi nước ta đang trong giai đoạn kinh tế thị trường, hội nhập và phát triển Với ý nghĩa đó, em chọn vấn đề “Tìm hiểu kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-XVIII” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp Trong khuôn khổ một luận văn tốt nghiệp và trình độ nghiên cứu còn hạn chế, em chưa thể đưa ra những kiến giải khoa học mới mà chỉ hy vọng qua việc sưu tầm, tổng hợp, hệ thống hóa, phân tích, đánh giá khách quan các sử liệu mà phục dựng được phần nào diện mạo lịch sử của ngoại thương Việt Nam thời phong kiến, trải qua các triều đại từ nhà Lý đến nhà Tây Sơn, góp phần làm phong phú thêm nhận thức của bản thân về một vấn đề, một giai đoạn của lịch sử Việt Nam Đồng thời, em cũng hy vọng đề tài nghiên cứu này sẽ góp phần giúp các bạn sinh viên Khoa Lịch sử và những người yêu thích lịch sử có thêm một phần tư liệu phục vụ cho quá trình học tập, tìm hiểu và nghiên cứu.Việc thực hiện
đề tài này còn là một dịp tập dượt nghiên cứu khoa học và giúp ích cho em trong nghề nghiệp sau này
Trang 5II Lịch sử vấn đề và nguồn sử liệu:
Do những nhận thức hạn chế của thời phong kiến đối với vai trò của kinh tế ngoại thương nên sử liệu trong thư tịch cổ còn ít và gián đoạn Về sử liệu gốc có thể kể đến một số tác phẩm sau:
- Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên, ghi chép về các sự kiện giao thương
của nước ta với các nước trong khu vực từ thời dựng nước đến thời Lê Trung Hưng (thế kỉ XVI) Tuy nhiên do lối chép sử biên niên, các sự kiện giao thương không được ghi chép có hệ thống mà được lồng vào các sự kiện chính trị, ngoại giao… theo thứ tự thời gian từng triều đại Sách do Phan Huy Giu dịch, Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1967-1968
- Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục, Quốc sử quán triều Nguyễn, bản
dịch, Nxb Giáo dục, 1998, cũng với lối chép sử biên niên, các sự kiện giao thương được ghi chép lồng vào các sự kiện chính trị, ngoại giao… từ thời dựng nước đến hết thời Lê Trung Hưng, đầu thời Tây Sơn
- Phủ biên tạp lục của Lê Qúy Đôn chương IV và VI ghi chép về lệ thuế đầu
nguồn, tuần ty, đầm hồ, chợ đò, thuế vàng, bạc, đồng, lệ vận tải , sản vật và một số hoạt động buôn bán trao đổi hàng hóa ở hai tỉnh Quảng Nam và Thuận Hóa vào thế
kỉ XVII-XVIII dưới sự quản lý của chính quyền chúa Nguyễn (Đàng Trong) Sách
do Nxb Văn hóa thông tin dịch và xuất bản năm 1971
- Đại Nam thực lục tiền biên và chính biên do Quốc Sử Quán triều Nguyễn biên
soạn, có nhiều ghi chép về một số sự kiện giao thương với nước ngoài thời các chúa Nguyễn và các vua đầu triều Nguyễn Cũng do lối chép sử biên niên, các sự kiện giao thương cũng không được ghi chép tập trung mà lồng vào các sự kiện chính trị ngoại giao… theo thứ tự thời gian từng triều đại Sách do Viện Sử Học dịch và nhà xuất bản Sử Học, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội Hà Nội xuất bản từ năm 1963 đến năm 1974
- Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một công trình có qui mô thuộc loại đồ sộ nhất trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam Sách do Nội các
triều Nguyễn biên soạn, gồm 262 quyển, trong đó từ quyển 48 đến quyển 50 ghi chép cách thức đánh thuế ngoại thương ở cửa bể, cửa tuần, bến tuần và từ quyển 64 đến quyển 67 ghi chép về công việc thu mua của nhà Nguyễn đối với các mặt hàng nước ngoài như tơ lụa Tàu, tơ lụa nước ngoài, các vị thuốc, các thứ trà, các thứ quả, đồ dùng, tạp liệu… Những ghi chép này tương đối có hệ thống nhưng chỉ cung cấp được một phần tư liệu đầu thế kỉ XIX Sách do Viện Sử học và Uỷ Ban Khoa học xã hội Việt Nam dịch, Nhà xuất bản Thuận Hóa sản xuất năm 1993, gồm
15 tập
- Kiến văn tiểu lục quyển V ghi chép về núi sông, thành quách, sản vật, thuế khóa, đường
sá…ở các trấn Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang dưới thời Trịnh- Nguyễn Bản dịch do
Nxb Sử học, Hà Nội, xuất bản năm 1962
- Đại Việt thông sử (còn gọi là Lê triều thông sử), của Lê Qúy Đôn, bản dịch do
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội xuất bản năm 1978 Nội dung sách có nhiều ghi chép
về các sự kiện giao thương, được trình bày theo dạng kỷ truyện, bắt đầu từ thời Lê
sơ đến triều Mạc Tuy nhiên các sự kiện giao thương được đề cập chỉ sơ lược đầu triều Lê dưới thời Lê Thái Tổ còn về sau chủ yếu đề cập đến các nhân vật lịch sử dưới các triều đại trên
Trang 6Bên cạnh sử liệu gốc còn có một số sách thông sử và chuyên khảo, còn gọi là các công trình nghiên cứu, cũng đề cập đến vấn đề ngoại thương trong giai đoạn này Có thể kể một số công trình tiêu biểu sau:
- Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỉ XVII, XVIII và đầu thế kỉ XIX của tác giả Thành
Thế Vỹ Đây là công trình duy nhất đặt vấn đề một cách có hệ thống trong suốt chiều dài thời gian gần ba thế kỉ và chỉ giới hạn trong vấn đề ngoại thương Sách gồm hai phần chính Phần thứ nhất đề cập đến: hoàn cảnh trong nước, thế giới trong giai đoạn này ảnh hưởng và tác động của nó đến sự phát triển của nền ngoại thương nước nhà Phần thứ hai đi vào nội dung chính, dựng lại bức tranh ngoại thương Việt Nam trong giai đoạn hồi thế kỉ XVII, XVIII và đầu XIX với các mục nghiên cứu về quá trình phát triển và suy tàn của ngoại thương trong những thế kỉ XVII, XVIII và đầu XIX, tính chất ngoại thương, các mặt hàng, thể lệ, thủ tục, bộ máy, thuế khóa, cách thức mua bán, phương tiện vị trí địa lý, màu buôn bán… Sách
do Nxb Sử học, Hà Nội xuất bản năm 1961
- Kinh tế xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn, của tác giả Nguyễn Thế Anh,
Nxb Lửa Thiêng, năm 1971 Tác giả dành chương V gồm 53 trang nói về hoạt động thương nghiệp, nêu ra các yếu tố giao thông vận tải, trung tâm buôn bán, hoạt động thương mại và chính sách thuế khoá Đặc biệt tác giả chú ý đến vai trò của nhà nước trong tổ chức hoạt động ngoại thương và địa vị của thương gia Hoa kiều trong nền ngoại thương Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX
- Tác giả Đỗ Bang với Kinh tế thương nghiệpViệt Nam dưới triều Nguyễn, tác
phẩm ngoài phần mở đầu gồm có bốn chương trong đó tác giả dành riêng chương
IV để nói về tình hình ngoại thương dưới triều Nguyễn và hai chương đầu nói về điều kiến giao lưu hàng hóa và chính sách của triều Nguyễn đối với thương nghiệp Sách do Nhà xuất bản Thuận Hóa xuất bản năm 1997
- Li Tana, Xứ Đàng Trong - lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam thế kỉ XVII-XVIII
Trong tác phẩm này tác giả đã dành trọn hai chương 3 và 4 viết về thành phần thương gia và tiền tệ, thương mại ở đất Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn Sách do Nguyễn Nghị dịch, Nhà xuất bản Trẻ, năm 1991
- Nguyễn Thị Phương Chi, Nguyễn Tiến Dũng với bài Về các mối giao thương của quốc gia Đại Việt thời Lý – Trần (thế kỉ XI-XIV), trong bài viết này các tác giả
đã dành khoảng hơn 10 trang để dựng lại bức tranh giao thương của quốc gia Đại Việt thời Lý – Trần về các mặt ngoại giao và ngoại thương với Trung Quốc, Champa, Ja-va và các nước khác trong khu vực Bài viết được đăng tải trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 7 năm 2007
- Tác giả Phạm Văn Kính với bài Bộ mặt thương nghiệp Việt Nam thời Lý- Trần, đăng trên T/C Nghiên cứu lịch sử số 6, năm 1979, đã dành khoảng 8 trang để
miêu tả về tình hình phát triển của nội thương và ngoại thương Việt Nam trong đó tác giả đã đi sâu lý giải những yếu tố đưa đến sự phát triển của hoạt động giao thương thời kỳ này như điều kiện đất nước độc lập tự chủ sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, sự mở mang của hệ thống giao thông nội địa và trên biển, sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hóa, sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp…Và những mặt còn hạn chế của nền ngoại thương nước nhà như nền kinh tế tự nhiên vẫn còn chiếm ưu thế, giao thông đi lại khó khăn, khan hiếm phương tiện vận tải và tầng lớp thương nhân vẫn chưa đủ lớn mạnh để có thể đảm nhận vai trò chính trong hoạt động ngoại thương
Trang 7- Vài nét về tình hình công thương nghiệp Việt Nam thời Tây Sơn của tác giả
Phạm Ái Phương đăng trên tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 1, năm 1989 Trong bài viết này tác giả đã đề cập đến vài nét về tình hình phát triển công thương nghiệp ở Đàng Trong và Đàng Ngoài trước khi nhà Tây Sơn lên nắm quyền; Những chủ trương chính sách của triều Tây Sơn đối với công thương nghiệp và một vài nét về tình hình công thương nghiệp thời Tây Sơn
- Chính sách giao thương của chúa Nguyễn ở Đàng Trong - cơ sở hội nhập và phát triển của Đại Việt thế kỉ XVII-XVIII Tác giả bài viết đã đề cập đến những
nguyên nhân khiến chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong thay đổi quan niệm truyền thống “trọng nông ức thương” sang thực hiện chính sách “trọng thương” tạo điều kiện cho thương nghiệp, đặc biệt là ngoại thương thế kỉ XVII – XVIII lần đầu tiên đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế - xã hội ở Đàng Trong: Nhu cầu phát triển nhanh chóng vùng đất mới để đối đầu với chúa Trịnh, đảm bảo sự tồn tại của họ Nguyễn; Điều kiện tự nhiên – xã hội của vùng đất mới cơ sở “thiên tạo” cho việc thực hiện chính sách giao thương; Sự năng động, tư tưởng tự do của
“người đi mở cõi”; bối cảnh thuận lợi của thương mại Quốc tế lúc bấy giờ Và những chủ trương, biện pháp chủ yếu thể hiện chính sách giao thương của chúa Nguyễn: Chú trọng sản xuất giao thương nội địa làm cơ sở để giao thương với nước ngoài; chủ động mời gọi thương nhân nước ngoài đến buôn bán với Đàng Trong… Đặc biệt, ở phần cuối bài viết tác giả đã rút ra những bài học hữu ích từ chính sách giao thương này đối với quá trình hội nhập và phát triển của đất nước ta
hiện nay Bài viết của tác giả Lê Huỳnh Hoa, được đăng trong cuốn “Tuyển tập báo
cáo khoa học”, của Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba, tại Hà Nội từ ngày
4 đến ngày 7 tháng 12 năm 2008, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội và Viện KHXH Việt Nam
- Tác giả Vũ Duy Mền với bài: Ngoại thương Việt Nam thế kỉ XVII-XVIII đã
dành phần mở đầu đề cập đến bối cảnh lịch sử đã tạo nên sự hưng khởi của ngoại thương trong giai đoạn này đó là cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn và ba mục chính
để nói về quan hệ buôn bán với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước phương Tây Trong đó mục cuối tác giả đưa ra một số nhận xét về tình hình ngoại thương trong giai đoạn này Bài viết được đăng trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 292, tháng 9 năm 2002
- Chính sách ngoại thương Đàng Trong thế kỷ XVI-XVII, của tác giả Vũ Duy
Mền đăng trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 274, tháng 3 năm 2001 Đề cập đến những yếu tố thúc đẩy ngoại thương Đàng Trong phát triển như tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, có vị trí trọng yếu hàng đầu trong công cuộc nam tiến cũng như công cuộc kiến quốc và cứu nước của dân tộc, có một nền kinh tế hàng hóa phát triển, chính sách của chúa Nguyễn thúc đẩy buôn bán với nước ngoài Phần hai đi vào nội dung chính là đề cập đến những chính sách ngoại thương của chúa Nguyễn và tác động của ngoại thương đến sự phát triển kinh tế - xã hội Đàng Trong thế kỉ XVI – XVIII Và phần cuối đề cập đến sự trì trệ của ngoại thương thế
kỉ XVIII và sự tàn lụi của phố Hội An
- Thành Thế Vỹ với bài Một số tài liệu về ngoại thương ở Đường Ngoài đầu thế
kỉ XVII của tác giả Thành ThếVỹ, đề cập đến các nội dung các nước buôn bán với
Đường Ngoài hồi thế kỉ XVII, tiến hành giao dịch như thế nào với tàu buôn nước ngoài và các mặt hàng trao đổi, cách thức thanh toán
Trang 8- Bài viết Bước đầu tìm hiểu về chính sách thương nghiệp của nhà nước phong kiến Việt Nam của tác giả Trương Thị Yến được đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch
sử số 4 năm 1979 Đề cập đến những mặt tích cực và tiêu cực trong chính sách thương nghiệp của nhà nước phong kiến thế kỉ XVII, XVIII
- Nguyễn Thừa Hỷ với bài Phải chăng ngoại thương tư nhân Việt Nam đã phát triển từ thế kỉ XVII? Tác giả đã phản biện lại quan điểm của nhà du hành người
Pháp gốc Bỉ thế kỉ XVIII Jean Baptiste Tavernier trong cuốn “Du kí mới và kì thú
về Vương quốc Đàng Ngoài” cho rằng ngoại thương tư nhân của Việt Nam đã phát triển từ thế kỉ XVII
- Trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 219 tháng 8, năm 1996 có giới thiệu bài:
Chính sách ngoại thương của triều Nguyễn – thực trạng và hậu quả của tác giả Đỗ
Bang đề cập đến chính sách bế quan tỏa cảng của triều Nguyễn và những chính sách của triều đại này đối với tàu thuyền và thương nhân nước ngoài
- Trên tạp chí nghiên cứu lịch sử số 6 năm 1993 có giới thiệu bài: Vài nét về thương nghiệp Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX của tác giả Trương Thị Yến Tác giả
đã dành riêng hơn 3 trang đề cập đến tình hình ngoại thương Việt Nam ở nửa đầu thế kỉ XIX, các hoạt động buôn bán với các nước láng giềng phương Đông và các nước tư bản phương Tây.’
- Chu Thiên với bài Vài nét về công thương nghiệp triều Nguyễn, được đăng
trên Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 33 năm 1961, đã dành hơn một trang để miêu tả
sự sa sút của thương nghiệp Việt Nam dưới các vị vua đầu triều Nguyễn
- Lê Văn Năm với Sản xuất hàng hóa và thương nghiệp Nam Bộ thế kỉ nửa đầu thế kỉ XIX , qua các bài viết được đăng tải liên tiếp trên các số 3,4,5,6 năm
XVII-1988 của Tạp chí nghiên cứu lịch sử tác giả đã nêu khá đầy đủ những hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hóa và sự hình thành các trung tâm buôn bán ở vùng đất Nam Bộ vào thời kì nói trên
- Tạp chí nghiên cứu Kinh tế số 9 năm 1999 có bài Kinh tế thương nghiệp Phú Xuân- Thanh Hà thế kỉ XVII-XVIII của tác giả Đỗ Bang Bài viết nêu lên những
điều kiện của hoạt động thương nghiệp như tiên tệ, giá cả… và mối quan hệ buôn bán của Phú Xuân- Thanh Hà với bên ngoài trong hai thế kỉ phát triển của vùng đất này
Vấn đề ngoại thương còn được đề cập đến ở một số tài liệu khác như :
-Tràng An, bài “Sông nước, bến chợ Sài Gòn xưa”- trong cuốn “Sài Gòn xưa
và nay” (Nhiều tác giả), Nxb T rẻ Thành phố.HCM Tạp chí Xưa và nay, năm 1998
- Đào Duy Anh, Lịch sử cổ đại Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội, 2005
- Lê Minh Đức, Từ điển kinh doanh Anh- Việt, Nxb Trẻ,TP.HCM, 1994
- Phạm Văn Chiến, Lịch sử kinh tế Việt Nam, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội,
2003
- Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, Nxb Sông Nhị, ,Hà Nội, 1949
- Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, Nhà sách Khai Trí,1998
- Văn Tạo, Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam,Viện sử học, Đô thị cổ Việt Nam,
Hà Nội, 1989
- Nguyễn Đức Tuấn - Địa lý kinh tế học - Nxb Thống kê, Hà Nội, năm 2002
- Phan Lạc Tuyên, Lịch sử bang giao Việt Nam- Đông Nam Á (Trước công
nguyên- Thế kỉ XIX),Bộ Gíao Dục và Đào Tạo, Viện Đào Tạo Mở Rộng, Khoa Đông Nam Á
Trang 9- Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1996
- Nguyễn Khắc Thuần, Đại cương lịch sử Việt Nam cổ trung đại, Nxb Giáo dục,
- Trương Hữu Quýnh, Đại cương lịch sử Việt Nam (tập 1), Nxb Giáo dục, 2005
- Sơn Nam, bài “Sài Gòn” trong cuốn “Sài Gòn xưa và nay” (Nhiều tác giả), Nxb Trẻ Thành phố.HCM Tạp chí Xưa và nay, năm 1998
- Đỗ Văn Ninh, Tiền cổ Việt Nam, Nxb Khoa học Xã Hội, Hà Nội, 1992
- PTS Nguyễn Quang Ngọc- Cơ cấu xã hội trong quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam- Nxb Hà Nội, 1995
- Lê Nguyễn, Xã hội Đại Việt qua bút kí người nước ngoài, NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2004
- Hội đồng khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh, Lịch sử Việt Nam (tập 3), Nxb Trẻ, năm 2006
- Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý- Trần, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981 Nguyễn Công Thống, Lịch sử kinh tế thế giới và Việt Nam, NXB thành phố Hồ Chí Minh, 2004
- Trương Hoàng Châu, Một số nhận thức về đặc điểm của xã hội trung thế ở Việt Nam, T/C Nghiên cứu Lịch sử, số 47, 1963
-Văn Kim, Nam Bộ Việt Nam môi trường kinh tế biển và mối quan hệ với các quốc gia khu vực thế kỉ XVII-XVIII, T/C Nghiên cứu lịch sử, số 1, 2006
- Nguyễn Văn Kim, Hệ thống buôn bán ở biển Đông thế kỉ XVI-XVII và vị trí của một số thương cảng Việt Nam (một cái nhìn từ điều kiện địa lý – nhân văn), Nghiên cứu lịch sử,số 1, năm 2002
-Nguyễn Thanh Lợi, Con đường thiên lý, T/C Nghiên cứu lịch sử,số 10, năm
Trang 10- Hồng Thái, Vài nét về mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á trong lịch sử, T/C Nghiên cứu kinh tế, số 3,1986
- Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình
thành của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/ C Nghiên cứu
Lịch sử, số 9, năm 1960
- Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình
thành của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/ C Nghiên cứu
Lịch sử, số 10,năm 1960
- Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình
thành của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/ C Nghiên cứu
Lịch sử, số 11, năm 1960
- Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình
thành của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/ C Nghiên cứu
Lịch sử, số 12, năm 1960
- Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình
thành của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/ C Nghiên cứu
Lịch sử, số 13,năm 1960
Vấn đề ngoại thương trong lịch sử Việt Nam đã được giới nghiên cứu quan tâm và được đề cập trong nhiều tác phẩm, công trình, và nhìn chung thường được trình bày trong tình hình phát triển công thương nghiệp, trong một giai đoạn lịch sử cụ thể, dưới một triều đại cụ thể…Vì vậy, một công trình nghiên cứu có hệ thống và tập trung về kinh tế ngoại thương trong suốt 8 thế kỷ dưới các triều đại phong kiến dân tộc có thể vẫn là một mối quan tâm của người yêu thích và học tập lịch sử Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu nghiêm túc, có chọn lọc những tư liệu, những kết quả nghiên cứu và các kiến giải khoa học của các công trình nói trên, luận văn này cố gắng nêu và làm rõ những nội dung sau:
- Những điều kiện về địa lý, lịch sử và kinh tế -xã hội của hoạt động ngoại thương
- Tình hình ngoại thương dưới các triều đại phong kiến Việt Nam
- Đánh giá, nhận định tổng quát về hoạt động, vai trò của ngoại thương
Mặc dù rất cố gắng nhưng do một số khó khăn, thiếu thốn về tư liệu, kể cả sự ghi chép còn rời rạc về các sự kiện ngoại thương trong thư tịch cổ, nhiều nguồn tài liệu quan trọng bằng tiếng nước ngoài chưa thể khai thác được, do trình độ nghiên cứu của người viết và thời gian nghiên cứu có hạn nên luận văn này không tránh khỏi sai sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp và hướng dẫn của quý thầy cô
III Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, em sử dụng phương pháp nghiên cứu của ngành học là phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic, đồng thời cố gắng
áp dụng thêm kỹ năng của ngành thống kê để góp phần hệ thống hóa các sự kiện lịch
sử, các vấn đề thuế khóa, mặt hàng, giá cả…
Phương pháp cụ thể trong qúa trình khai thác tài liệu và hình thành bố cục luận văn:
- Đọc tài liệu và công trình nghiên cứu theo định hướng vấn đề tìm hiểu
- Chọn lọc và tập hợp các tư liệu rút ra từ nguồn tài liệu tham khảo theo đề cương chi tiết
- Sắp xếp tư liệu theo các nội dung của đề tài
Trang 11- Dựa vào tư liệu để hình thành bố cục khóa luận Khối lượng và nội dung
tư liệu góp phần bổ sung, điều chỉnh bố cục khóa luận và hình thành các lập luận, nhận xét
- Hoàn chỉnh các nội dung chính của đề tài để bố cục được hợp lý,cân đối
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thƣ mục tham khảo, nội dung của luận
Trang 12Chương I NHỮNG ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ-KINH TẾ CỦA NGOẠI THƯƠNG VIỆT
NAM TRONG CÁC THẾ KỈ XI-XVIII
I.Điều kiện địa lý- lịch sử:
Việt Nam là một quốc gia ở Đông Nam Á lục địa , thuộc bờ cực đông của bán đảo Đông Dương, với lãnh thổ hẹp ngang và đường bờ biển chạy dài, vừa ở vị trí của hai nền văn minh lớn Ấn Độ- Trung Hoa lại là nơi tiếp giáp của hai vùng lãnh thổ Đông Bắc Á và Đông Nam Á Vì vậy ngay từ những thế kỉ đầu công nguyên, khi ở miền nam châu Á đã có sự giao dịch buôn bán giữa Trung Hoa với các nước miền Nam và Ấn Độ thì đất Giao Chỉ đã là trạm dừng chân của thuyền bè qua lại trên con đường hàng hải thương mại ấy Nhà địa lý học đời Đường là Gỉa Đam đã từng nhắc đến con đường thông thương buôn bán giữa Trung Quốc và các nước phương Nam Theo Gỉa Đam thì con đường thông thương buôn bán quan trọng nhất là đường biển,
từ Quảng Châu qua Vịnh Bắc Bộ, quá Cù Lao Chàm và các hải cảng của nước Hoàn Vương (thuộc miền Nam Trung Bộ của nước ta ngày nay) và từ đó qua eo biển Mã Lai
để sang Nam Dương và Ấn Độ Do vị trí quan trọng của nước ta trên đường hàng hải giữa Trung Quốc và các nước phương Nam nên nước ta ngay từ đầu thế kỉ I đã là một địa điểm giao thông và thương mại quốc tế
Như vậy là hoạt động ngoại thương ở nước ta ra đời từ rất sớm từ những thế kỉ đầu công nguyên nhưng tại sao ngoại thương Việt Nam ra đời sớm như vậy nhưng nền ngoại thương Việt Nam thực sự chưa bao giờ đóng vai trò trọng yếu trong nền kinh tế dân tộc? Và tại sao người Việt đã sớm có truyền thuyết về nguồn gốc tổ tiên mang
đậm yếu tố Nước, về cái nhìn cổ xưa với biển, về truyền thống quai đê lấn biển, ý thức
bảo vệ chủ quyền trên biển và tài thao lược của thủy quân … Nhưng nhìn chung, cư dân Việt vẫn dừng lại trước biển, sống ven biển nhưng vẫn xây lưng lại với biển, sống chết vẫn cố làm nông trong hiệu quả kinh tế không cao? Và mặc dù với hơn 3000km
bờ biển vậy mà người Việt vẫn có ít truyền thống khai thác biển ngoài việc đánh bắt nhuyễn thể và các ven bờ Việt Nam không có nền kinh tế thương mại và hàng hải phát triển, không có nền văn hóa hải dương, khai phóng, hội nhập như cư dân các nước khu vực Địa Trung Hải hay một vài quốc gia khác trên thế giới Mối quan hệ kinh tế văn hóa giữa Đại Việt với các nước Đông Nam Á, châu Á, ngoại trừ Trung Quốc, không lấy gì làm sâu sắc và thường xuyên Sự hiểu biết của người Việt về địa lý, lịch
sử, kinh tế các nước trên thế giới cũng rất hạn hẹp cho dù đó là quốc gia lân bang, láng giềng ? Và tại sao nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam đã xuất hiện rất sớm từ khoảng thế
kỉ XII dưới triều Lý và nó cũng đã từng trải qua những thời kỳ khá phát triển ở các thế
kỉ XIV, XV và các thế kỉ XVII, XVIII Vậy vì sao mà trải qua 7 thế kỉ , phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn không ra đời trong lòng chế độ phong kiến Việt Nam? Chúng ta hãy bắt đầu từ việc tìm hiểu về những điều kiện lịch sử của ngoại thương Việt Nam:
Trang 131.Thời kì dựng nước (Hùng Vương- An Dương Vương):
Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục: Những hoạt động trao đổi hàng hóa đầu tiên giữa nước ta với Trung Quốc có từ trước công nguyên (thời Đường(2357-
2258TCN): Sách Cương mục tiền tiền biên của Lý Kim Tường chép rằng: “Năm Mậu
Thân thứ năm đời Đường Nghiêu, Việt thị thường sang chầu, dâng con rùa thần
Lời chua- Rùa thần: Theo thông chí của Trịnh Tiều, về đời Đào Đường, phương Nam
có Việt thường thị qua hai lần sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình có hơn ba thước, trên có chữ văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là Quy lịch (Lịch Rùa)”.1
Sử kí Trung Quốc chép: Năm Tân Mão thứ sáu (1110 TCN) đời Thành Vương
nhà Chu, phía Nam bộ Giao Chỉ có Việt Thường thị qua ba lần sứ dịch, sang dâng
chim trĩ trắng Chu Công nói:” Đức Trạch chưa thấm khắp đến phương xa, người quân
tử không nhận đồ lễ ra mắt; chính lệnh chưa ban ra tới người quân tử chưa bắt người
ta thuần phục” Theo lời người thông dịch, sứ giả muốn nói: “Ông già trong nước chúng tôi có nói: Trời mưa không dầm gió dữ và biển không nổi sóng đã ba năm nay,
ý chừng Trung Quốc, có thánh nhân chăng? Vì thế chúng tôi sang chầu” Chu Công đem dâng lễ vật lên nhà tôn miếu Sứ giả không thuộc đường về, Chu Công cho 5 cỗ
xe biền đều làm theo lối chỉ Nam Sứ giả theo xe ấy theo ven biển về nước Phù Nam, Lâm Ấp, vừa một năm mới về đến nước2
Đinh Tỵ, năm thứ 24(184TCN)( Hán Cao Hậu năm thứ tư) Nhà nước cấm nước
Nam Việt mua đồ sắt ở cửa quan Vua nói: “ Khi Cao Đế lên ngôi, ta cùng thông sứ chung đồ dùng Nay Cao Hậu nghe lời dèm pha, phân biệt đồ dùng Hán Việt Việc này tất là mưu kế của Trường Sa Vương muốn dựa y đức của nhà Hán mưu lấy nước
ta làm vua cả, tự làm công cho mình.”3
Năm Mậu Ngọ (183TCN) (Triệu Vũ Vương năm thứ 25,Hán Cao Hậu năm thứ 5) Mùa xuân, Triệu Vương Đà tự xưng là hoàng đế, đem quân đánh Trường
Như vậy, ngay từ trước công nguyên người Việt cổ đã chủ động tiến hành các
hoạt động giao hảo với các dân tộc xung quanh và xa như Trung Quốc, và từ đó những hoạt động ngoại thương đầu tiên cũng hình thành Khoảng năm 210 TCN, khi Tần Thủy Hoàng chết, đế chế Tần suy yếu, lợi dụng cơ hội đó Nhâm Ngao và Triệu Đà chiếm Nam Hải, xây dựng một vương quốc riêng chống lại nhà Tần thì đã có hoạt động buôn bán thương mại giữa Việt Nam và Trung Hoa
Theo Khâm Định Việt sử thông giám cương mục (tập 1),Sđd, trang 77 - 78
3 Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư (tập 1), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1967, trang 73 (Bản dịch của Cao Huy Giu)
4
Theo Khâm Định Việt sử thông giám cương mục (tập 1), Sđd, trang 92
Trang 14a Với Trung Quốc:
Theo Phan Lạc Tuyên, trên thực tế Việt Nam là nơi gặp gỡ của nhiều dân tộc và nhiều nền văn minh (như một số đông nhà nghiên cứu phương Tây đã nhận định) Cũng có ý kiến khác đánh giá Việt Nam là ngã tư đường của giao lưu quốc tế với Đông Nam Á và châu Á Từ lâu rồi, trước công nguyên, Việt Nam từng là vùng đất dừng chân hay là trạm trung chuyển cho các thương nhân ở vùng biển Địa Trung Hải, Trung Cận Đông, Ấn Độ tới, hoặc họ có thương điếm ở đây hoặc họ dừng chân nghỉ ngơi, mua thêm hàng hóa đi tiếp tơi Trung Quốc và Nhật Bản
Được nhắc đến nhiều vào lúc đó là Luy Lâu là nơi đóng thủ phủ của Thái thú Trung Quốc (năm 203 đổi là Giao Châu), ở vào vị trí huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc (Bắc Bộ ngày nay) Vào những thế kỉ đầu công nguyên do vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao lưu bằng đường bộ, đường sông và đường biển và là trung tâm hành chính và kinh tế nên nơi đây những nhà buôn từ Ấn Độ, Trung Á hay xa hơn nữa đã tới buôn bán Đồng thời tại đây họ tìm đầu mối để đi Trung Quốc hay những những thương nhân Trung Quốc liên hệ để đi tới vùng Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Quốc, Trung Đông và Địa Trung Hải Do đấy những tăng lữ Phật giáo cũng chọn Luy Lâu làm nơi dừng chân truyền đạo”5
Ngoài Luy Lâu, còn có Long Biên (thuộc Hà Bắc), Tư Phố, Lạch Trường( thuộc Thanh Hóa) là những trung tâm chính trị, kiêm buôn bán thời kì này
Để đạt được mục đích vận chuyển thuế khóa, vật cống, chính quyền đô hộ lo sửa đắp đường sá liên lạc giữa các miền cũng như giữa nước ta với Trung Quốc Cửu Chân, Nhật Nam và Giao Chỉ từ thời Hán đã liên lạc thông thương với nhau Cuối thế
kỉ I, con đường dọc sông Thương sang Trung Quốc được xây đắp Những con đường này được lợi dụng làm đường buôn bán giữa các quận và giữa nước ta với Trung Quốc Giao Chỉ là nơi có nền nông nghiệp và thương nghiệp phát triển nên là trung tâm trao đổi của dân buôn ở Cửu Chân và Hợp Phố Gạo Cửu Chân được đưa sang Hợp Phố để đổi lấy ngọc trai Hương liệu quí của Cửu Chân, Nhật Nam cũng được đưa
ra Giao Chỉ để chuyễn ra nước ngoài 6
Các con đường buôn bán chính trong và ngoài nước đều do người Hoa nắm giữ Chính quyền đô hộ nắm độc quyền việc mua bán muối và sắt Các đồng tiền cổ Trung Quốc cũng được lưu hành như đồng tiền bán lạng thời Tần, thời Cao Hậu… vàng và bạc cũng được dùng làm tiền.7
Tuy vậy, dưới thời Bắc thuộc nền kinh tế Việt Nam vừa được thúc đẩy, vừa bị kìm hãm (do tiếp xúc với một nền văn minh cao hơn nhưng lại bị bóc lột nặng nề) Với những sản vật quý được ưa chuộng ở nhiều nước nên Việt Nam trở thành nơi ghé chân của các thương thuyền Trung Quốc đi phương xa và dần trở thành một thị trường với hai mục đích: Một là, để các lái buôn Trung Quốc đến bán hàng và mua hàng đi xa; Hai là, để các lái buôn Trung Quốc bán hàng của họ, mua của ta về nước họ hay buôn bán làm giàu tại chỗ
Ngoại thương Việt Nam phát triển là do sự lệ thuộc vào Trung Quốc và sự phát triển của nền sản xuất trong nước Nhưng “trong suốt một ngàn năm chống ách thống trị Trung Hoa người Việt Nam không đúc tiền mà dùng tiền của bọn đô hộ Điều đó
Trang 15cho thấy nền kinh tế hàng hóa ở nước ta lúc đó chỉ mới bắt đầu phát triển và chưa đòi hỏi đến mức phải có một thứ hàng hóa đặc biệt là tiền”8
b Với các nước Đông Nam Á, và các nước trong khu vực:
Khu vực Đông Nam Á đã có giao dịch từ những thế kỉ trước công nguyên với
Việt Nam, chủ yếu và quan trọng hơn cả là bằng con đường Hồ Tiêu, con đường biển
mà các thuyền có nhiều điều kiện thuận lợi trong những đợt gió mùa hàng năm có định
kì Những thương nhân Ấn Độ, Cey lan, Java và cả người Arabe đã tới Giao Chỉ (và sau này là Giao Châu) để buôn bán Họ không muốn vất vả để đi tới các thương điếm
xa hơn Trung Quốc, bởi lẽ hàng hóa ở đó không có gì độc đáo bằng đất Giao Chỉ (sau này là Giao Châu) để buôn bán Và họ cũng dùng những thương điếm đặt ở đất Giao Chỉ, chỉ để đưa hàng vào đất Trung Quốc bằng cách sử dụng những dòng sông nội địa
Họ cũng có thể dùng những thương điếm đặt tại Giao Chỉ (sau này là Giao Châu) tích chứa hàng hóa để những lái buôn đem sang Trung Quốc hay dùng những thương điếm
là nơi tiêu thụ hàng hóa địa phương, gom góp và đôi khi có thể chế biến (da thú quý, quế…) để chuẩn bị đem đi xa cho khỏi hư hỏng9.Mối bang giao chính trị thơì đó chưa
rõ nét bằng những mối giao lưu về thương mại và tôn giáo Có nhiều lý do nhưng có thể lý do chính là từ những thế kỉ đầu công nguyên đến thế kỉ thử X, Việt Nam lúc đó nằm dưới sự đô hộ của triều đình Trung Quốc
Cũng nên nhắc lại rằng, nói đến Việt Nam thời kì trước thế kỉ XV ngược lại cho đến những thế kỉ đầu công nguyên là phải kể đến vương quốc cổ Phù Nam (Founan) tồn tại từ đầu công nguyên đến cuối thế kỉ thứ VI vương quốc này đã bị Chân Lạp
thôn tính và sau đó mang tên Thủy Chân Lạp Ngoài ra, vương quốc cổ Champa đã tồn tại từ năm 192 với quốc hiệu đầu tiên là Lâm Ấp (Lin Yi) cho đến thế kỉ XVIII mới trở thành một vùng đất của Việt Nam Tất nhiên là trước khi hòa nhập vào Việt Nam với
vị trí là những vương quốc, những quốc gia cổ này đã có sự bang giao với Đông Nam
Á và thế giới ngoại vi, nhất là với Ấn Độ Đồng thời rất có thể là mối bang giao giữa Phù Nam, Thủy Chân Lạp, Champa đã có những thời kì chặt chẽ với Việt Nam
Việc giao lưu giữa Việt Nam với Đông Nam Á và vùng ngoại vi ở những thế kỉ trước và sau công nguyên chủ yếu là việc buôn bán giữa các quốc gia vùng Địa Trung Hải, Trung Cận Đông, Ấn Độ với các quốc gia ở vùng Đông Dương như tên gọi ngày nay Các quốc gia ở Đông Dương do địa lý thiên nhiên nên là nơi sản xuất sản phẩm quý hiếm đối với thị trường thời đó: hồ tiêu, kì nam, trầm hương, vàng ngọc, đá quý, yến sào (tổ chim yến), các loại gỗ, tê giác, da hổ, báo, đồi mồi và các loài thú, chim trĩ nói chung là những thứ hàng cần thiết mà những khu vực khác không có hay hiếm Phải kể đến cả những loại vải, lụa dệt bằng tơ, sợi, những loại trái cây của vùng nhiệt đới, á nhiệt đới: lệ chi (vải), long nhãn…Đồng thời những thương nhân từ phía Tây tới
đã mang theo trên những con thuyền viễn dương của mình hàng hóa sản xuất của nước họ: đồ trang sức bằng vàng, đồ pha lê, các loại vũ khí và áo giáp chế tạo với kĩ thuật
tinh xảo và rất có thể những vật dụng dùng cho tầng lớp quý tộc và vua chúa Trước
công nguyên sự giao lưu giữa bán đảo Đông Dương, trong đó có Việt Nam đã phát triển Căn cứ vào những tư liệu, thư tịch cổ, người ta có thể biết rõ ràng điều
này Nhà địa dư học Ai Cập gốc La Mã Claudius Ptolesmee đã viết trong bộ
Trang 16Geographica vaò khoảng cuối thế kỉ II những giao lưu giữa La Mã và vùng Đông Nam
Á với những địa danh mà nhiều nhà nghiên cứu đang cố gắng giải mã nhưng cũng chưa thể khẳng định cụ thể xem đó là vùng nào hiện nay Đây là một vài ví dụ: Claudius Ptolemee đã viết tên những vùng đất hay thương điếm (Comptoir Commercial) mà những thương nhân La Mã (Romain) đã ghé vào (không liệt kê những địa danh liên hệ đến những khu vực ngoài địa giới Phù Nam, Thủy Chân Lạp, Champa, Việt Nam) được các nhà nghiên cứu nói đến trong các công trình nghiên cứu: Claudius Ptolemee nhắc đến thương điếm ở vùng đảo Satyres, vùng đất Sinai, địa danh, Daonas, Kottiaris, Thinai, Kattigara và những danh khác thuộc Đông Nam Á
Những nhà nghiên cứu có nhiều ý kiến khác nhau, tuy nhiên việc nhiên việc nêu rõ
những ý kiến cho chúng ta thấy được trên nét khái quát về sự giao lưu đã có của Tây Phương và Đông Nam Á trong đó có khu vực Đông Dương
Về địa danh đảo Statyres nhà khảo cổ học Louis Malleret đưa ra giả thuyết đó là
nhóm đảo Hòn Me, Hòn Sóc, Hòn Đất ở gần Rạch Gía Địa danh Daonas nhà nghiên
cứu Wilhem Volz cho rằng đó là vùng sông Mê Kông và nhà nghiên cứu, Andre
Berthelot cũng đồng ý với nhận định này Địa danh Seros được nhà nghiên cứu
Richard Henning cho là sông Hồng( Sông Cái) nhưng Andre Berthelot lại cho là Quảng Trị Với địa danh Kottiaris thì Louis Malleret cho là vùng sông Cái Lớn nhưng Albert Hermann cho là vùng sông Mê Kông Địa danh Thị Nại được Luuis Malleret xác định ở vung ven biển Nam Bộ ngày nay, hoặc ở gần Sài Gòn hoặc ở gần Bà Rịa
Riêng địa danh Kattigara đã gây ra nhiều ý kiến khác nhau, nhưng đa số cho rằng đó
thuộc về một nơi nào đó thuộc ven biển Nam Bộ ngày nay Nhà nghiên cứu Jirlius Klaprow trong cuốn Tableaux historiques de I’ Asie xuất bản tại Paris năm 1826 cho rằng Kattigara là một thương điếm thuộc vùng Vàm sông Mê Kông ở Nam Bộ Cùng với nhận định là địa danh này ở một nơi nào đó thuộc ven biển Nam Bộ có các nhà nghiên cứu Albert Hermann, Richard Henning, W.M.Stein và Louis Malleret một nhà khảo cổ học chuyên nghiên cứu về Việt Nam người đầu tiên nghiên cứu về Óc Eo đã cho rằng Kattigara nằm ở vùng bán đảo Cà Mậu, tuy chưa dám khẳng định đó là Óc
là một thương điếm phồn vinh vì vị trí của nó nằm trên đoạn đường giao lưu thương mại giữa phương Tây và Ấn Độ với Trung Quốc mà vào khoảng năm 166, có đoàn thương nhân La Mã đã đi đường biển tới Trung Quốc Vào khoảng triều đại của hoàng
đế Marc Aurele(160) có một phái đoàn của triều đình La Mã được phái đến đi qua đất
Giao Chỉ, đi bằng đường biển tới Những nhà nghiên cứu đã gọi tuyến đường biển từ
Địa Trung Hải tới Việt Nam và Đông Nam Á thời đó là đường Hồ Tiêu( Chemin des Epices) Nhận xét này không phải là không có lý do Bởi lẽ nhu cầu của triều đình
và quý tộc vùng Địa Trung Hải lúc đó cũng rất cần đến đồ gia vị mà chủ yếu là hồ tiêu, sản phẩm của vùng Đông Nam Á Ngày nay người ta còn thấy những tên gọi từ thuở
đó như Takkola (chợ Hồ Tiêu) hay Narikeladvpa (đảo Dừa) ở vùng Đông Nam Á
Trang 17Con đường Hồ Tiêu đã mở ra mối bang giao giữa Đông Nam Á với các nước Ấn
Độ và phía Tây, theo thư tịch cổ ghi lại thương nhân Ấn Độ và Trung Quốc đã dùng những con thuyền viễn dương loại lớn có thể chở từ 600 đến 700 người với kĩ thuật đóng thuyền rất tinh vi Những thương nhân Ấn Độ trong việc buôn bán với các dân tộc và các quốc gia vùng Đông Dương và Đông Nam Á trong những thế kỉ trước công nguyên vốn là những người theo đạo Bà La môn (Brahmanisme) thuộc đẳng cấp tăng
lữ ( Brahmana) hay quý tộc, võ sĩ (Kasytria) và những người thuộc giới buôn bán tự do( Vaisya) Cũng rất có thể những người thuộc đẳng cấp tăng lữ đi cùng để truyền đạo tại những nơi xa xôi mà sau này những nhà Đông phương học phương Tây gọi là vùng ngoại Ấn ( Inde exterieur) hoặc sau này khi văn minh Ấn Độ đã xâm nhập vào những quốc gia cổ ở Đông Nam Á, họ gọi vùng này là những quốc gia Ấn Độ hóa Cũng có trường hợp đó là những người thuộc hoàng tộc và quý tộc của những vương triều thuộc nhiều thuộc nhiều tiểu quốc Ấn Độ đi phiêu liêu hoặc chinh phục những vùng đất mới ở Đông Nam Á và cũng đồng thời đi trao đổi và thậm chí cướp bóc hay khai thác tự do những tài nguyên quý hiếm ở địa phương như vàng, đá quý, trầm hương, ngà voi, ngà tê giác…
Quan hệ giữa Phù Nam, Lâm Ấp với Trung Quốc thời kì này chỉ diễn ra dưới
hình thức triều cống
Do những biến động của chính trị nước Phù Nam bị Chân Lạp xâm chiếm vào khoảng giữa thế kỉ VI và sau năm 627 TCN sử sách không còn nhắc đến Phù Nam nữa Trước đó Phù Nam có gửi hai sứ bộ sang cầu cứu nhà Đường vào những năm 616
và 627 nhưng bị khước từ Sau đó Phù Nam chìm vào lãng quên của lịch sử để nhường cho một quốc gia mới xuất hiện: Chân Lạp tiền thân của Campuchia10
Nhìn chung việc buôn bán với nước ngoài, thịnh nhất vẫn là sự giao thương giữa
Việt Nam và Trung Quốc Hàng bán ra chủ yếu là hương liệu, lâm sản quí, vải mịn, gấm, giấy bản loại tốt,đường Hàng mua vào thì đủ các loại sản phẩm thủ công, nhất là những thứ xa hoa phục vụ bọn quan lại đô hộ Và tất nhiên, đương thời việc buôn bán với nước ngoài nằm trong tay chính quyền đô hộ Người đứng ra buôn bán ngoài các quan lại và họ hàng đều là các lái buôn Trung Quốc Hàng phục vụ chúng rất có hạn
Sự phát triển ngoại thương chủ yếu làm giàu các quan lại đô hộ và do đó chỉ tăng thêm ách lao dịch của nhân dân ta Ách bóc lột nặng nề càng trở nên nặng nề hơn và đó cũng là lý do khiến bọn thái thú, thứ sử ở nước ta giàu lên một cách nhanh chóng Nền thương nghiệp nước ta vốn có truyền thống từ lâu đời, lẽ ra phải được phát triển theo qui luật tự nhiên của nó Nhưng nền thương nghiệp đó bị nghừng trệ dưới ách thống trị vô cùng tàn bạo hơn một nghàn năm của đế quốc phong kiến Trung Hoa Bọn quan lại thống trị đã biến đất nước giàu có của chúng ta thành nơi cung đốn những sản phẩm tự nhiên quý giá như hương liệu, ngà voi, ngọc trai, và bạc…và những đồ mỹ nghệ do thợ thủ công Việt Nam sang tạo ra, để thỏa mãn ngày càng tăng lòng tham vô đáy của chúng Với chính sách bóc lột kinh tế vô cùng phản động như vậy, nền kinh tế nước nhà hầu như bi nghưng đọng, trong đó nền thương nghiệp hầu như chịu hậu quả
to lớn Thương nghiệp chính là biểu hiện, là thước đo của nền sản xuất hàng hóa Sản xuất hàng hóa không tăng đương nhiên thương nghiệp không phát triển Trong thời Bắc thuộc sản xuất hàng hóa ở nước ta không những không tăng mà còn bị giảm sút,
10
Theo Phan Lạc Tuyên Lịch sử bang giao Việt Nam- Đông Nam Á( Trước công nguyên- Thế kỉ
XIX),Sđd, trang 13-29
Trang 18bởi lẽ chỉ có một số nghề thủ công, loại thủ công nào đó được tồn tại để phục vụ nhu cầu xa xỉ của bon quan lại, còn lại sức lao động hầu như bị đẩy lùi về thời kỳ tìm kiếm, hái lượm để cung cấp sản phẩm tự nhiên quý cho chúng Mọi hoạt động kinh tế lớn đều do bọn quan lại thống trị Trung Hoa khống chế, lũng đoạn Một nền kinh tế như vậy sẽ không có nhiều sản phẩm dư thừa để biến thành hàng hóa thúc đẩy thương nghiệp tiến lên
“Tình trạng khan hiếm hàng hóa ở nước ta bởi sức lao động bị kìm hãm, bởi sản phẩm lao động bị tận thu vơ vét, bởi quyền lao động và hưởng thụ bị chà đạp chỉ có thể khắc phục được sau khi thoát khỏi ách thống trị tàn khốc của phong kiến Trung Hoa Điều này đã được thực tế lịch sử từ sau thế kỉ X, nhất là từ thời Lý và tiếp đó là thời Trần chứng minh rõ nét” 11
II Những điều kiện kinh tế - xã hội làm tiền đề cho hoạt động ngoại thương:
1 Chính sách trọng nông ức thương của các nhà nước phong kiến:
Việt Nam là một trong những cái nôi của nền văn minh lúa nước Nhà nước
phong kiến ra đời và ý thức hệ của nó được xây dựng trên cơ sở kinh tế nông nghiệp Địa tô phong kiến trở thành nguồn bóc lột và là nguồn sống chủ yếu của nhà nước phong kiến Vì vậy các triều đại phong kiến sau khi lên nắm quyền thường có các chính sách ưu tiên phát triển nông nghiệp:
- Thời Lý: Dưới triều Lý thiên tai, hạn hán, lụt lội thường xuyên xảy ra nhà vua
thường hay tự thân cầu đảo Tuy nhiên bên cạnh đó nhà nước thường có các biện pháp tích cực hơn Nhà nước đã chú trọng đến việc bảo vệ sức sản xuất Khi Lý Công Uẩn mới lên ngôi năm 1010 đã xuống chiếu bắt tất cả những người đào vong trở về bản quán, như vậy cốt là để số lượng lao động nông nghiệp được đảm bảo Năm 1065, Lý Thánh Tông hạ chiếu khuyến nông Các vua nhà Lý còn thực hiện công việc cày ruộng tịch điền và nhà vua tự đi xem gặt ở hành cung Ứng Phong (Nghĩa Hưng-Nam Định)
Lý Nhân Tông (1072-1128) rất lưu ý đến công việc này Theo ghi chép của Đại Việt
sử kí toàn thư, cũng có lần đích thân nhà vua đến hành cung này xem gặt Đây là hoạt
động khuyến khích sản xuất nông nghiệp
Chính sách “ngụ binh ư nông” cũng có tác dụng phát triển sản xuất nông nghiệp, sức lao động không bị thiếu Năm 1128, sáu quân được thay phiên nhau về làm ruộng
Sách lĩnh ngoại đại đáp cũng chép binh sĩ thay nhau nghỉ một tháng lần để cày ruộng
tự cấp Nhà Lý đã có luật lệnh để bảo vệ trâu bò Trộm trâu hay giết trâu bị tội nặng Năm 1117, thái hậu Linh Nhân nói rằng: “ Gần đây ở kinh thành, hương ấp có nhiều người trốn, lấy việc trộm trâu làm nghề nghiệp, trăm họ cùng quẫn, mấy nhà cày chung một trâu Trước đây ta đã từng nói đến việc ấy, nhà nước đã có lệnh cấm Nay giết trâu càng nhiều hơn trước” Bây giờ nhà vua ra lệnh là kẻ nào ăn trộm trâu, giết trâu, phạt 80 trượng đò làm khao giáp, vợ bị phạt 80 trượng, đồ làm tang thất phụ và phải bồi thường trâu Nhà láng giềng không cáo giác bị phạt 80 trượng
Nhà nước cũng chú trọng đến đê điều, trị thủy, đặc biệt ở vùng châu thổ sông Hồng Mùa thu năm 1077, triều đình ra lệnh đắp đê sông Như Nguyệt Năm 1103 “
11
Phạm Văn Kính (1979),“Bộ mặt thương nghiệp Việt Nam thời Lý –Trần”,T/C Nghiên cứu Lịch sử, (số 6), trang 35
Trang 19Vua xuống chiếu cho trong ngoài kinh thành đều đắp đê” Năm 1108, triều đình tổ chức đắp đê Cơ Xá (đê sông Hồng) từ Yên Phụ đến Lương Yên
Nhà Lý cũng đào đắp một số công trình thủy lợi Năm Lý Thánh Tông cho đào sông Đản Nãi Năm 1051, Lý Thái Tông lại cho đào kênh Lam Ở khu vực gần Thăng Long, nhà Lý cho khơi sâu rộng thêm các sông Lãm Kinh vào các năm 1089 và sông
Tô Lịch vào năm 1192.12
- Thời Trần: Nhà Trần vừa nắm chính quyền đã có biện pháp nhanh chóng phục hồi
sản xuất nông nghiệp, mở rộng thêm diện tích canh tác (như Nhà nước có chính sách khuyến khích các vương hầu, quý tộc, mộ dân nghèo đi khai hoang thành lập các điền trang, thái ấp) Triều đình đã áp dụng nhiều biện pháp khuyến khích nông nghiệp, trong đó có tổ chức làm thủy lợi trong phạm vi cả nước
Do những hạn chế của “đê vùng” thời Lý trong đó có đê Cơ Xá bảo vệ kinh thành (năm 1238, nước to tràn vào vỡ cung Thường Xuân, năm 1243, nước to phá vỡ thành Đại La tràn vào thôn xóm, cung điện…) nên nhà Trần ý thức được rằng muốn bảo vệ mùa màng, nhà cửa, tính mạng một cách ổn định lâu dài phải có quy hoạch đắp đê theo qui mô cả dòng sông Vì vậy, năm 1248, Thái Tông đặt cơ quan hà đê, có chánh sứ, phó sứ phụ trách việc đê điều ở các lộ phủ lại xuống chiếu đắp đê gọi là đê Quai Vạc hay Đỉnh Nhĩ Theo Đại Việt sử kí toàn thư :“ Đắp đê để giữ nước sông gọi là đê Quai Vạc, đắp suốt từ đầu nguồn cho tới bờ biển để ngăn chặn nước lũ tràn ngập Đắp đê Quai Vạc bắt đầu từ đấy” Việc đắp đê Đĩnh Nhĩ không chỉ dành riêng cho vùng đòng bằng sông Hồng mà còn thực hiện cả ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An.Ngoài ra việc đắp
đê ngăn chặn nước mặn cũng là một công cuộc mới mẻ ở thời Trần
Công cuộc xây dựng thủy nông cũng được nhà Trần chú ý Ở Thanh Hóa và Nghệ
An là nơi có nhiều công trình thủy nông Năm 1231, nhều dòng sông bị tắc, vua Thái Tông sai hoạn quan Nguyễn Băng Cốc đem quân bản phủ đào kênh Trầm, kênh Hào từ Thanh Hóa đến Diễn Châu Năm 1248, Nhân Tông lại cho đào sông Mã, sông Lễ và đục núi Chiếu Bạch (ở Thanh Hóa) tạo thành một con kênh chạy theo hướng Bắc Nam dài hơn 8 km tưới tiêu cho cả vùng Tống Giang (Hà Trung, Thanh Hóa) Năm 1256, triều đình lại cho khơi lại sông Tô Lịch nhằm đảm bảo giao thông đồng thời để tưới tiêu cho các vùng xung quanh kinh thành; Năm 1374, triều đình còn cho nạo vét những sông đòa từ Thanh Hóa đến cửa biển Hà Hoa (Hà Tĩnh)…13
- Thời Lê sơ: Từ năm 1427 khi đang bao vây thành Đông Đô, Lê Lợi kêu gọi những người “xiêu bạt lưu ly” trở về quê quán làm ăn và ngăn cấm việc bỏ hoang ruộng đất Theo Đại Việt sử kí toàn thư: “Năm Đinh Mùi [1427]Hạ lệnh cho dân xiêu tán về quê quán cũ mà cày cấy Người nào không có điền sản thì cho được buôn bán Người nào
bỏ nghề nghiệp thì xử tội nặng”14Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng khỏi ách đô
hộ của giặc Minh Nhà nước rất quan tâm đến việc bảo vệ và khuyến khích nông nghiệp Các quan phủ huyện có nhiệm vụ đốc thúc và khuyến khích nhân dân khai phá hết ruộng đất bỏ hóa, giúp đỡ nhân dân diệt sâu cắn lúa nếu có Thánh Tông đã từng
dụ các quan Thừa ty, Hiến ty, phủ huyện: “về các việc dân sự , tầm thường như là đại hạn mà không đảo, nước lụt mà không khơi, việc lợi không làm, việc hại không trừ có tai dị mà không cầu đảo thì phải xử tội lưu” Một chủ trương quan trọng của nhà nước được nhân dân hưởng ứng là khai hoang, mở rộng diện tích canh tác Nhiều làng xóm
12 Theo Trương Hữu Quýnh, Sđd, trang 143-145
13
Theo Trương Hữu Quýnh, Đại cương lịch sử Việt Nam (tập 1), Nxb Giáo dục, 2005, trang 203-206
14 Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử toàn thư (tập 3), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1968, trang 34
Trang 20ở vùng ven biển Sơn Nam, Thanh Hóa, Nghệ An ra đời Để giúp cho công cuộc khai hoang này, Thánh Tông đã cho đắp một hệ thông đê biển mang tên đê Hồng Đức Năm 1481, theo đề nghị của các quan, Thánh Tong quyết đinh cho thành lập 43
sở đồn điền với mục đích “khai thác hết sức nông nghiệp, mở rộng nguồn súc tích cho nước” Các đồn điền này được đặt ở các vùng Bắc (30 sở) Nghệ An (4 sở), Thuận Hóa (2 sở) Quảng Nam (2 sở) Các viên chánh, phó đồn điền sứ có nhiệm vụ mộ dân nghèo không ruộng, lưu tán đến đây khai hoang và phân chia ruộng đất cho họ cày cấy
Nhà Lê rất chăm lo đến thủy lợi, đê điều Các thừa tuyên đều có chức quan hà đê chuyên phối hợp với các quan phủ, huyện trông nom, sửa đắp đê điều Năm 1498, mỗi
xã phải cử một xã trưởng chuyê trách việc đê điều và khuyến nông Trường hợp đê vỡ, triều đình lập tức cử quan đi khám xét, huy động nhân dân, quân lính, công tượng, học sinh Quốc tử giám đi sửa đắp, cứu hộ Việc đào kênh, khơi ngòi được tổ chức ở nhiều nơi vừa có lợi cho chuyển vận, vừa tạo nguồn nước “tưới ruộng cho dân” Năm 1438, nhà nước cho dân khơi lại các kênh ở Trường Yên, Thanh Hóa, Nghệ An; năm 1449, khai sông Bình Lỗ (Kim Anh-Vĩnh Phúc), năm 1467 khai thêm một số kênh ở Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa… Nhà nước còn luôn luôn khuyến khích nhân dân đắp bờ giữ nước, khơi thông những chỗ úng thủy, phòng hạn hán, xe tát nước được phổ biến Ngoài ra nhà nước còn qui định mọi công trình xây dựng cần điều động dân phu đều phải tiến hành ngoài thời vụ cày cấy, gặt mùa, “hễ công việc gì có hại cho nghề nông thì không được khinh động sức dân” Pháp luật nhà Lê bảo vệ chặt chẽ sức kéo trong nông nghiệp Tội ăn trộm trâu bò bị trừng phạt nặng Năm 1489, Thánh Tông ra lệnh cấm giết trâu bò ban đêm Trong những năm khó khăn, hạn hán, lụt lội, nhà vua thường lập đàn cầu đảo, tự trách mình hoặc ra chiếu khuyến nông, động viên nhân dân khắc phục khó khăn đảm bảo sản xuất
Chính sách trọng nông của nhà Lê thực sự mang lại kết quả tốt Theo ghi chép của
sử cũ, trong 38 năm thống trị của Lê Thánh Tông, chỉ có 4 lần hạn hán, 1 lần đê vỡ, 1 năm đói kém… Nhiều năm sau, nhớ lại thời này, nhân dân đã ca ngợi:
Đời vua Thái Tổ, Thái Tông Thóc lúa đầy đồng trâu chẳng buồn ăn 15
- Thời Trịnh- Nguyễn:
Ở Đàng Ngoài: Mặc dù nhà nước Lê -Trịnh cố chăm lo đến tình hình nông
nghiệp nhưng so với các thời kỳ trước nông nghiệp thời kì này có phần kém phát triển hơn do hậu quả của chiến tranh và sự phát triển của chế độ tư hữu về ruộng đất, sự quan tâm của nhà nước không còn đạt được những kết quả như ở thế kỉ XV Lụt lội hạn hán thường xuyên đe dọa Theo ghi chép của sử cũ, từ năm 1580-1640 đã xảy ra
14 lần thiên tai trong đó có 6 nạn đói lớn, 6 lần lụt lội Năm 1664, chúa Trịnh ban lệnh qui định lệ khám xét đê điều, khởi công sửa đập co các quan chức địa phương Nhưng bọn quan lại quên ăn của đút sách nhiễu nhân dân, mặc dù nhiều tên bị giáng chức vẫn
“làm việc qua loa, cẩu thả, đến mùa nước lớn, đê lại vỡ lở, dân vùng ven sông luôn luôn bị tai họa” Tình hình từ 1680-1740 lại càng khó khăn hơn; đã xảy ra 24 lần thiên tai, trong đó có 14 nạn đói lớn, 7 lần thủy tai
Tuy vậy, nông nghiệp vẫn là nghành kinh tế quan trọng đóng vai trò chủ đạo trong thời kì này Công cuộc khẩn hoang ở các vùng ven biển thuộc Sơn Nam, ở các vùng trung du thuộc Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang…được thực hiện khẩn trương Nhiều làng mới được thành lập, diện tích ruộng đất được mở rộng ngày càng
15
Theo Trương Hữu Quýnh, Đại cương lịch sử Việt Nam (tập 1), Nxb Giáo dục, 2005, trang 327-328
Trang 21thu hút dân lưu tán Chúa Trịnh tạm thời miễn thuế cho loại ruộng “ẩn lậu”, cho phép xem ruộng khai hoang là ruộng tư, cấm quan lại không được khám xét, quấy nhiễu Nhân dân ra sức chăm lo sản xuất “ đất đai màu mỡ và không lúc nào nghỉ sản xuất…nhân dân rất hiểu giá trị của ruộng đất nên không bao giờ bỏ hoang…và như vậy mỗi năm họ thường được 2-3 vụ lúa…”(theo giáo sĩ Marini) Nhiều lái buôn nước ngoài cũng có cùng nhận xét Lái buôn Đampie viết: Ở đây có nhiều thóc gạo…Hàng năm người ta cấy gặt hai vụ, thu hoạch được rất nhiều Nhà bác học Lê Qúy Đôn thế kỉ XVIII cho chúng ta biết, bấy giờ ở Đàng Ngoài người nông dân đã gieo trồng được 8 giống lúa chiêm, 27 giống lúa mùa, 29 giống lúa nếp; trình độ thâm canh cao có nhiều gióng lúa ngắn ngày Họ cũng trồng nhiều giống ngũ cốc khác như ngô, kê, cao lương hoặc các loại lương thực khác như khoai, sắn, môn sọ…ông còn viết: “ các phủ Tiên Hưng, Khoái Châu, Lý Nhân, Thiên Trường, Kiến Xương, Thái Bình, Nghĩa Hưng, cấy lúa chiêm đất ruộng màu mỡ nghìn dặm, đồng bằng muôn khoảnh, một năm cấy
được hai mùa mỗi mẫu sản xuất trị giá hơn 200 quan”(Vân đài loại ngữ) Việc trồng
rau, cây ăn quả cũng phổ biến có đến 7 loại cam, 9 giống chuối, nhiều loại vải, quýt, nhãn, chanh…16
Ở Đàng Trong: Để nhanh chóng khai thác vùng đồng bằng sông Cửu Long các
chúa Nguyễn đã khuyến khích quan lại, địa chủ giàu có ở Thuận Hóa mộ dân phiêu tán
từ bắc Bố Chính trở vào đến đây “thiết lập xã, thôn, phường, chia cắt giới phận, khai khẩn ruộng nương” Các đảo như Cù lao Rùa (Biên Hòa), đảo Côn Lôn…đều có dân đến khai phá Chúa Nguyễn cho phép các địa chủ giàu có ở đây nuôi nô tỳ; nhân đó bọn lái buôn “đem con trai, con gái người Man ở đầu nguồn bán cho dân ở đây làm nô tỳ” Ở mạn Nam nhằm nhanh chóng đưa đất đai vào vòng quản trị, chúa Nguyễn khuyến khích các địa chủ và dân lưu vong khai hoang, biến thành ruộng đất tư Do đó trên đất Đồng Nai, Gia Định “các nhà giàu hoặc có chỗ 40, 50 nhà, hoặc có chỗ 20, 30 nhà; mỗi nhà có đến 50, 60 điền nô, trâu bò có đến 300 con, cày bừa, trồng cấy, gặt hái không lúc nào rỗi Hàng năm cứ đến tháng chạp, tháng một, đem thóc giã thành gạo, bán lấy tiền để chi dùng vào Tết tháng chạp…” Ruộng đất ngày càng mở rộng, theo lời của Lê Qúy Đôn, đất Gia Định “từ cửa bể đến đầu nguồn đi mất 6-7 ngày mà hết thảy đều là đồng ruộng, nhìn bát ngát, ruộng phẳng như thế đấy”17
- Thời Tây Sơn: Song song với những chính sách ưu tiên phát triển công thương
nghiệp như khuyến khích, mở rộng và phục hồi các làng nghề thủ công; chủ trương
mở của buôn bán với phương Tây và đề nghị nhà Thanh cho thương nhân hai nước qua lại buôn bán ở vùng biên giới Việt-Trung…Nông nghiệp cũng được nhà nước đặc biệt chú ý quan tâm phát triển “Một trong những việc làm đầu tiên của vua Quang Trung là nhanh chóng phục hồi sản xuất nông nghiệp Năm 1789 “chiếu khuyến nông” được ban bố: “đạo lo cho dân không gì bằng khôi phục dân lưu tán, khai khẩn ruộng
bỏ hóa…” “…từ lúc trải qua loạn lạc đến nay, binh lửa liên miên bận rộn, lại thêm đói kém, nhân khẩu lưu tán, đồng ruộng bỏ hoang Số đinh điền thực trưng mười phần không còn được 4-5…”và qui định:
+ Dân lưu tán phải nhanh chóng trở về quê cũ, xã nào chứa chấp người trốn tránh phải
bị trừng phạt Làng xã phải cung cấp ruộng đất cho công họ cày cấy nộp thuế
+ Hạn đến tháng 9 năm Kỉ Dậu (tức tháng 10-1789) xã phải làm xong sổ ruộng nộp lên
Trang 22+ Hạn trong 3 năm, ruộng đất trong xã đều phải được cày cấy “ Ruộng hoang xã nào đến hạn mà không có người nhận khai khẩn, nếu là ruộng công thì sắc mục xã ấy phải theo mức thuế mà nộp gấp đôi, nếu là ruộng tư thì sung công, nộp thuế như ruộng công”
Mặc dầu chính quyền Quang Trung chưa có chính sách nhằm giải quyết vấn đề ruộng đất cuối thế kỉ XVIII ở Đàng Ngoài, chiếu khuyến nông với tính cưỡng bức của
nó đã có những hiệu quả đáng kể Theo sử cũ, trong vòng 3-4 năm sau “mùa màng trở lại phong đăng, năm phần mười trong nước khôi phục được cảnh thái bình” Chính bài phú Tụng Tây hồ của Nguyễn Huy Lượng đã nói lên điều này:
“Qua Canh Tuất (1790) lại tưới cơn thời vũ, cỏ cây đều gội đức chiêm nhu”” 18
Như vậy, chính sách trọng nông của các triều đại phong kiến đã tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển, đời sống nhân dân được ấm no, trật tự xã hội được ổn định, nền độc lập dân tộc được củng cố và giữ vững Đồng thời nó cũng tạo ra nguồn sản phẩm phong phú, dồi dào, đó là nguồn hàng cho thương nghiệp, tạo khả năng cho thủ công nghiệp có thể thoát ly khỏi nông nghiệp và phát triển mạnh Mặt khác, việc khai thông hệ thống thủy lợi, sông ngòi kênh rạch cũng cũng tạo điều kiện cho việc chuyên chở hàng hóa giữa các vùng trong nước và thuyền bè các nước có thể đến trao đổi buôn bán dễ dàng Tuy vậy chính sách trọng nông lại gắn liền với tư tưởng “ức thương”, tư tương coi nghề nông là nghề gốc “dĩ nông vi bản” và buôn bán là “nghề ngọn” luôn chi phối tư tưởng của tầng lớp thống trị và nhân dân Vì vậy trong các chính sách phát triển kinh tế xã hội của giai cấp phong kiến luôn lấy nghề nông làm trọng và hết sức hạn chế ngoại thương Nguyên do là vì kinh tế phong kiến dựa trên cơ
sở sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Sự vững mạnh của chế độ phong kiến là ở chỗ giai cấp thống trị có duy trì được tình trạng nông dân phụ thuộc vào ruộng đất để chúng tiến hành bóc lột tô Nếu như kinh tế hàng hóa phát triển lớp thương nhân mạnh lên thì đối với chúng có hai điều tai hại: một là số thương nhân sẽ rời bỏ ruộng đất mà chuyên làm nghề thủ công hay buôn bán, như vậy mức tô của phong kiến sẽ không được đảm bảo Hai là, lớp thương nhân lớn mạnh lên sẽ bóc lột nông dân và thợ thủ công làm giảm “thu hoạch” của giai cấp phong kiến Nên giai cấp phong kiến chỉ muốn kinh tế hàng hóa phát triển trong chừng mực có thể thỏa mãn nhu cầu mua hàng của chúng Còn nếu như phát triển quá mức độ ấy đến chỗ trở thành một thực thể chi phối mọi quan hệ sản xuất và phân phối trong nền kinh tế toàn quốc thì sẽ bị giai cấp thống trị phản đối và chống lại Ngoài ra về mặt chính trị thì nếu như quan hệ thương phẩm hóa
tệ phát triển sẽ làm đảo lộn cái trật tự “quốc quân thần, gia phụ tử”, cái trật tự dựa trên
cơ sở kinh tế tự cấp, tự túc, dựa trên cơ sở nền kinh tế nông nghiệp trật tự và ổn định
Đó là chưa kể nếu kinh tế hàng hóa phát triển thì dân số ở nông thôn sẽ không thể nào
ổn định được vì nông dân hoặc bị phá sản hoặc thường xuyên tham gia vào quan hệ thương phẩm hóa tệ, hoặc bỏ ra thành thị làm nghề thủ công…như thế thì sẽ không đảm bảo cho nhà nước nguồn nhân công làm các công việc tạp dịch khác Và nhất là vì
lý do an ninh đất nước, Nhà nước lo sợ bọn gián điệp đội lốt thương nhân đến buôn bán để do thám tình hình trong nước Vì vậy chính sách “bế quan tỏa cảng” trở thành chính sách xuyên suốt các triều đại phong kiến nhất là từ thời Lê sơ trở đi
Trong hoạt động ngoại thương, thông thường tầng lớp đảm nhận vai trò buôn bán với nước ngoài là thương nhân Vậy tầng lớp thương nhân Việt Nam ra đời từ bao giờ?
18
Theo Trương Hữu Quýnh, Đại cương lịch sử Việt Nam (tập 1), Nxb Giáo dục, 2005, trang 431-432
Trang 23Vai trò và vị trí của họ trong xã hội ra sao? Những đóng góp của họ đối với nền ngoại thương dân tộc?
a Khái niệm tầng lớp thương nhân:
Có ý kiến cho rằng để hình thành tầng lớp thương nhân phải hội đủ cả 3 yếu tố:
Có vốn (dùng để trao đổi hàng hóa, buôn bán và kiếm lời); Có cơ sở buôn bán (cửa hàng, xưởng tiệm, cơ sở sẩn xuất…); Có đủ khả năng thuê mướn nhân công ( làm việc, chuyên chở, trao đổi hàng hóa nơi khác…)
Theo Lê Minh Đức: Tầng lớp thương nhân (tradesfolk or tradespeople) là những người sinh sống bằng nghề buôn bán, tức những người buôn bán và gia đình của họ19
b Về sự ra đời của tầng lớp thương nhân Việt Nam và tầng lớp đảm nhận việc buôn bán với nước ngoài:
- Thời Lý- Trần: Với sự hình thành của nền kinh tế hàng hóa thời kỳ này tầng lớp
thương nhân đã ra đời Thợ thủ công và thương nhân được xếp trong nhóm bình dân Thương nhân thời Lý- Trần tuy chưa hình thành đôi ngũ chuyên nghiệp nhưng hoạt
động giao thương đã có sự kết hợp buôn bán với các yếu tố thế và lực Tầng lớp quý tộc và quan lại cao cấp vừa có uy thế chính trị, vừa có tiềm lực kinh tế Họ vừa kết hợp hoạt động ngoại giao, chính trị với hoạt động kinh tế giao thương nhưng không coi buôn bán làm nghề chính20
Về hoạt động, dưới thời Lý thương nhân ở miền xuôi chở mắm, muối và dụng cụ
sắt lên bán ở mạn ngược, xong lại chở lâm sản về bán ở miền xuôi Tuy nhiên, hiện tượng như thế không nhiều Tại các “bạc dịch trường”, theo Chu Khứ Phi các “bạc dịch trường ở ngoại thành trạm Giang Đông: “ Những người thuyền chài Giao Chỉ mang cá, sò đến đổi lấy đấu gạo, thước vải Phú thương nước ấy (tức Đại Việt) đến buôn bán từ châu Vĩnh An phải thông điệp cho Khâm Châu ấy là tiểu cương (buôn nhỏ) còn nước ấy sai khứ đến Khâm Châu để buôn bán gọi là đại cương (buôn to) Hàng đem bán có bạc, đồng, tiền, trầm hương, quang hương, thục hương, sinh hương, trân châu, ngà voi Những tiểu thương nước ta (tức Trung Quốc) bán các thứ bút, giấy, gạo, vải, hàng ngày trao đổi một ít với người Giao Chỉ, không đáng kể Chỉ những phú thương từ đất Thục buôn bán đến Khâm Châu rồi từ Khâm Châu buôn hương đến Thục Một năm một chuyến buôn bán đến mấy nghìn quan Hai bên đem hàng mặc cả cùng nhau, hồi lâu mới định giá Sau khi mặc cả không được thương nghị với người khác, lúc định giá ban đầu thật là xa nhau một trời, một vực” Phú thương nước ta (Trung Quốc) sai người nhà buôn bán nhỏ, để tự cấp, dựng nhà, cày ruộng để ở lâu Phú thương nước ấy (Đại Việt) cũng ngoan cố không nhúc nhích, giữ giá lâu làm cho
ta khốn đốn Khi lái buôn hai bên gặp nhau, mời uống rượu làm vui, lâu rồi dần dần nâng giá cao, gần bằng nhau rồi đến ngang nhau Bấy giờ mới có quan cân hương và giao gấm” “ Hàng Trung Quốc bán ra cứ mỗi quan 30 đồng thuế Những người đương thời còn mô tả những hiện tượng lừa lọc, làm giả trong buôn bán hai bên, ví như người lái buôn nhà Tống cân hàng gian trá nhiều lần khiến nhà Lý phải 3 lần xin thử cân lại, hoặc bán thuốc bắc thì làm lại giả Do đó lái buôn Việt trả miếng bằng cách đúc lẫn
Trang 24đồng vào trong vàng, bạc, tẩm muối hay đổ chì vào trầm hương Trong cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý và Mông Cổ thời Trần thương nhân của Đại Việt đã tham gia vào công việc “tình báo” rất nhiều Chính Trần Ích Tắc khi còn ở Việt Nam
“thường viết thư riêng gửi bọn khách thương ở Vân Đồn đem về Trung Quốc xin quân Nguyên tiến công nước ta”22
- Thời Lê sơ: “ Theo GS Nguyễn Khắc Thuần tuy còn bé nhỏ, nhưng trong xã hội Đại
Việt cũng đã có thêm một tầng lớp xã hội mới đó là thương nhân Họ qui tụ ở các trung tâm kinh tế lớn, đặc biệt là Thăng Long”23
Trong xã hội thời Lê có tầng lớp thương nhân đông đảo hơn trước Nhưng cho đến thế kỉ XV, thương nhân và thợ thủ công vẫn chưa phải là một lực lượng lớn mạnh trong xã hội Trong khi đó nhà nước Lê sơ lại có quan niệm khinh miệt những người làm thợ, đi buôn, coi họ là những kẻ “bỏ gốc theo ngọn”, không phù hợp với tinh thần độc tôn nông nghiệp” và chính sách ức thương của chế độ phong kiến24
Trong bài
“Thập giới cô hồn quốc ngữ văn” Lê Thánh Tôn đã ca tụng nho sĩ, quân nhân Nhưng đến thương nhân nhà vua lại mạt sát Đầu tiên nhà vua miêu tả việc làm của thương nhân:
“Dạo khắp sơn xuyên dã huyện
Thông thâu hồ hải giang khê
Xuôi dòng ngang thổi sáo, ca trăng
Vượt biển cả, kéo thuyền xem gió.”
Hương kì nam25
, vảy đại mại (đồi mồi), bó an tức26, bị hồ tiêu, thau Lào, thóc Huế, thuyền tám cánh chở đã vỡ then27 Lụa ngũ sắc, vải tam lăng, vóc tố lĩnh, bả cầm chiên, quyến28 Thục, giấy Ngô, kho năm gian chất hầu rẽ nóc
Toàn những vật yêu, vật lạ’
Rất nhiều của quý của thanh”
Xem những câu trên chúng ta thấy các hoạt động của thương nhân quả là có tác dụng tích cực đối với nền kinh tế Việt Nam hồi thế kỉ XV Thương nhân đã chở thóc
từ Thuận Hóa ra bắc Họ đã mua đồng từ Thăng Long đem về cho nhà vua đúc tiền và các xưởng thủ công chế đồ đồng Chúng ta có lý do để nghĩ rằng thương nhân còn đem hàng thủ công ở Thăng Long và các nơi khác đến bán ở Huế và Lào Cũng như họ đã buôn kỳ nam, đồi mồi, an tức, hồ tiêu, lụa, vải vóc, đem bán ở khắp các nơi có thể bán được Vai trò của thương nhân là cần thiết cho đời sống kinh tế của đất nước lúc bấy giờ Vậy mà trong lời kết bài “Thập giới cô hồn quốc ngữ văn”, Lê Thánh Tôn đã lên tiếng nguyền rủa thương nhân như sau29:
Đêm ngày đau đáu bãi trường sa,
Của cải đem về để chật nhà
Thứ thuyền lớn dùng để đi biển
28 Quyến thục là lụa dệt ở đất Thục (Tứ Xuyên)
29
Văn Tân, Tại sao ở Việt Nam chủ nghĩa tư bản không ra đời trong lòng chế độ phong kiến?T/C Nghiên cứu kinh tế, số 130, 1970, trang 21
Trang 25Lòng mối lo toan đường vụn vặt,
Lưỡi lằn khéo léo nói văn hoa
Của phi nghĩa làm nên lập nước,
Tiếng bất nhân truyền để làm ca
Lừa đảo lo xem nào có khác,
Người ta lại bán được người ta”
Vai trò của thương nhân đối với nền kinh tế xã hội đương thời là không thể phủ nhận, nhà vua và quý tộc phong kiến vẫn cần đến “lụa ngũ sắc, vải tam lăng, vóc tố lĩnh, bả cầm chiên, quyến Thục”… do hoạt động của thương nhân mang đến song vua
Lê Thánh Tôn vẫn ghét thương nhân không phải vì những người này là kẻ có “lòng mối, lưỡi lằn”, có thói quen “mua hơn bán kém” mà chủ yếu vì vua lo sợ sự lớn mạnh của tầng lớp thương nhân sẽ đe dọa đến nguồn địa tô phong kiến của nhà nước và ngai vàng của họ Lê
Sang thời Trịnh- Nguyễn khi mà kinh tế nông nghiệp nông nghiệp đi xuống kéo theo sự sa sút của đời sống kinh tế nói chung thì thái độ của giai độ của giai cấp thống trị đối với vai trò của tầng lớp thương nhân trong xã hội đã có những thay đổi đáng kể Trong lệ bãi bỏ tuần ty (1743) Trịnh Doanh đã nói: “Ngày nay tài lực của nhân dân thiếu hẳn đi, chỉ còn trông chờ vào bọn phú thương chuyên chở lưu thông chỗ có đến nơi không thì mới tạm đủ” Từ chỗ coi buôn bán là “mạt nghề” nay nhà nước buộc phải công nhận vai trò quan trọng của nó trong hoạt động kinh tế xã hội “Thay đổi cách nhìn nhận về vai trò của hoạt động thương nghiệp cũng tức là nhà nước phải có
sự đánh giá khác đi đối với tầng lớp thương nhân, sự khinh thường đối với tầng lớp
“đua chen làm nghề ngọn” đã mất đi có lúc tưởng chừng như mất hẳn A-lếch-xan Đrốt trong hồi kí của mình đã tả lại cảnh lễ “đăng quang” của nhà vua trong đó có đại biểu của phường buôn và phường thợ được thay mặt nhân dân kinh đô vào chúc mừng
vị “minh chủ” mới Những thủ đoạn làm giàu cạnh tranh bán của chủ thương đã từng khiến giai cấp phong kiến có định kiến xấu đối với họ Song lúc này chính các quan lại cũng nhúng tay vào việc buôn bán và cũng tỏ ra không kém gì thương nhân trong nghệ thuật săn đuổi đồng tiền, khinh rẻ tầng lớp thương nhân khác nào khinh rẻ chính bản thân họ Tầng lớp thương nhân sẵn tiền tài cũng bằng mọi cách cố ngoi lên địa vị trong
xã hội Lệnh cho phép mua bán tước đã tạo điều kiện phong kiến hóa cho các thương nhân giàu có Nhà nước còn có lệnh quyên tiền để ban chức phẩm lệnh thưởng chức sắc cho các thương nhân dâng nộp các loại hàng hóa như diêm tiêu, lưu hoàng…Sự đóng góp trong hoạt động kinh tế, trong ngân quỹ quốc gia của thương nhân đã được Nhà nước đánh giá cao Nhờ đó công việc buôn bán của họ thêm phát đạt, thịnh vượng”30
c Cơ cấu tầng lớp thương nhân Việt Nam trong xã hội phong kiến:
Hạng nhỏ nhất gọi là những người buôn thúng bán mẹt hay buôn thúng bán bưng Vốn liếng của họ rất ít ỏi Công việc của họ xúc tiến ngày một hoặc dăm bữa, nửa tháng Nhiều khi họ đóng vai trò chuyển vận và lấy công làm lãi, nghĩa là kiếm ăn bằng công sức bỏ ra đài tải thôi Đó là những người cất hàng đi bán rong, đi các chợ
30
Trương Thị Yến, Bước đầu tìm hiểu về chính sách thương nghiệp của Nhà nước Việt Nam thế kỉ XVII-XVIII, T/C Nghiên cứu Lịch sử, số 4-1979, trang 73
Trang 26hoặc ngồi một chỗ Có người chỉ bán một thứ hàng nhất định (hàng dầu, hàng mắm, hàng nón…) Có người bán nhiều thứ hàng (hàng xén)
Hạng trung bình, vốn liếng đã khá lớn, hàng hóa cũng nhiều hơn; Đó là những hàng tấm, hàng xén loại lớn Thường thường có cửa hàng nhất định và những phiên chợ lớn ở một vùng quanh chỗ họ ở là họ đén bán hàng Trong loại này, có gồm một số buôn chuyến, buôn cất từng gánh hàng mỗi lần
Trên hết là hạng buôn lớn, thường gọi là các lái Họ có nhiều vốn, buôn những hàng rất lớn, có nhiều thủ đoạn trong nghề, có nhiều phương tiện Họ đi rất xa, đi xuôi, đi ngược, chỗ nào đánh hơi có nhiều lợi là họ đến Họ cũng chính là những người đặt mối hàng có khi độc quyền buôn ở một vài ngành, vài nơi, tuy rằng việc đặt hàng cũng đã có ở hạng trung bình Các lái buôn thường ở địa vị “ông chủ” có một số người làm việc cho họ, hoặc để gánh gồng, hoặc làm chân sào (những thuyền mắm, muối, những bè gỗ…) Chính là trong những người này có người gọi là phú thương mà đời nhà Trần (Trần Dụ Tông) thường gọi vào cung đánh bạc với vua
Quan lại, vua chúa cũng tham gia vào hoạt động buôn bán Dĩ nhiên với quyền bính trong tay, họ buôn với một đặc quyền làm trở ngại cho chính bản thân nghề buôn, chứ không nói đến việc thúc đẩy nữa Những sự nhũng nhiễu, lạm dụng rất nhiều, buôn miệng, buôn nước bọt, buôn kiểu trưng mua ép bán, có khi còn là cướp đoạt trắng trợn ở chỗ ăn quỵt nữa
Chuyện này trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh trở đi càng trầm trọng Phan Huy Chú trong “Lịch triều hiến chương” có nhắc đến những chuyện bẻ phá khung cửi, chặt gãy búa rìu, phá chặt cây sơn vì bị trưng dụng vải, gỗ, sơn”31
Nhìn chung, cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, từ thời Lý- Trần tầng lớp thương nhân Việt Nam đã ra đời “Trong xã hội có nhiều loại người tham gia buôn bán nhưng tựu chung lại có hai tầng lớp: Tầng lớp trên bao gồm vua, quan lại, quý tộc, địa chủ phong kiến và tầng lớp dưới gồm có những người sản xuất nhỏ - nông dân, thợ thủ công, dân nghèo thành thị Cả hai loại này tham gia buôn bán đều nhằm mục đích
để tăng thu nhập Mục đích của họ giống nhau nhưng điều kiện, cách thức tiến hành
khác nhau Tầng lớp trên vừa có uy quyền, vừa có của cải Đó là những điều kiện
thuận lợi để họ tham gia buôn bán lớn và dùng những thủ đoạn kinh doanh Việc buôn bán lớn với nhà Tống ở “bạc dịch trường” Khâm châu thời Lý là một ví dụ nếu lái
buôn nước ta không thuộc tầng lớp có thế lực thì nhà nước không ưu tiên can thiệp tới
mức cứ mỗi lần buôn là mỗi lần nhà nước gửi thông điệp và đã ba lần cử quan lại sang nhà Tống thử lại cân32 Nếu không phải là nhà buôn giàu có, vốn liếng nhiều thì không
thể “cầm vững giá lâu” khi mà lái buôn “người Tống thường gặng giá Họ sai người nhà làm nhà ở, buôn bán lặt vặt để tự cấp, rồi họ ở đó mãi, cứ ngâm giá cho người ta mỏi mệt…”33 Nếu lái buôn nước ta không phải là người có uy quyền thì không thể
dùng thủ đoạn “đúc lẫn đồng vào vàng bạc” để đối phó với việc nhà Tống bán thuốc giả (chắc là thuốc bắc?).34Một ví dụ tiêu biểu nữa đó là trường hợp buôn nón Ma Lôi của người nhà Nhân Huệ Vương Khánh Dư thời Trần: “Khi Khánh Dư mới đến trấn giữ Vân Đồn tục ở đấy làm nghề buôn bán sinh nhai, ăn uống, y phục đều trông vào khách buôn phương Bắc, điểm duyệt các trang hạ lệnh rằng: Quân đóng ở Vân Đồn là
Trang 27để ngăn giữ giặc Hồ, không nên đội nón của phương Bắc, trong khi vội vàng khó lòng phân biệt; nên đội nón Ma Lôi ai trái thế tất phải phạt (Ma Lôi là tên một hương ở Hồng-lộ, làng này khéo nghề đan cật tre làm nón, cho nên lấy tên làng làm tên nón) Trước đó Khánh Dư sai người nhà mua nón Ma Lôi chở thuyền đến đậu ở cảng rồi Lệnh đã hạ, ông còn sai người ngầm bảo người ở trang rằng: “Hôm nọ thấy ở trước vùng biển có thuyền chở nón Ma Lôi đậu” Do đấy người trong trang nối gót nhau tranh mua nón, bắt đầu mua mỗi cái nón không quá một tiền, đến sau giá cao bán một cái nón một tấm vải, thu được số vải đến hàng nghìn tấm”35 Qua đây ta có thể lưu ý hai điểm: Thứ nhất, nếu Khánh Dư chỉ dùng tới mánh lới con buôn mà không có uy quyền của vị phó tướng trấn giữ Vân Đồn thì chắc chắn việc buôn nón Ma Lôi không thực hiện được Thứ hai, nếu không phải là người nhà của hoàng tộc thì sẽ không đủ vốn để thực hiện một chuyến buôn lớn như vậy Tuy vậy, nghề buôn vẫn chưa phải là một nghề hấp dẫn nhất đối với tầng lớp trên Và chưa có một trường hợp nào trong số
họ từ bỏ “nghề “ làm quan, điền trang, thái ấp, trang trại, dốc toàn bộ tài sản để theo nghề buôn Như Trần Khánh Dư can tội thông dâm với công chúa Thiên Thụy con dâu Trần Quốc Tuấn, nên bị “cách hết quan tước, tịch thu tài sản không để lại một tí gì”36nên phải đi buôn than, nhưng rồi ông lại dễ dàng từ bỏ nó để trở lại với con đường danh vọng Như vậy, nghề buôn đối với tầng lớp trên tuy có cần thiết, có hấp dẫn nhưng chưa đến mức trở thành nghề riêng, nghề chính của họ Hệ quả của nó là trong
xã hội vẫn chưa xuất hiện tầng lớp thương nhân chuyên nghiệp Những trường hợp như buôn với nhà Tống thời Lý, buôn than, buôn nón Ma Lôi thời Trần chỉ có thể hiểu được đó là những người buôn bán lớn - đại thương chứ chưa phải là tầng lớp đại thương Tóm lai, tầng lớp trên có điều kiện làm nghề buôn bán nhất nhưng lại không chịu buôn bán đến nơi đến chốn đó là chưa kể đến việc họ còn dùng đặc quyền để lũng
đoạn thị trường bằng cách mua trưng bán ép, chặn mối cướp lợi nguồn hàng…Đối với
tầng lớp dưới, cũng giống như tầng lớp trên nghề buôn đối với họ cũng chỉ là nghề
phụ Nông dân chỉ tranh thủ lúc công việc nhà nông rỗi rãi để đi buôn, buôn bất cứ thứ
gì, loại hàng nào, miễn sao phù hợp với số vốn quá ít ỏi của mình Những loại buôn này chỉ có thể gọi là hoạt động buôn bán chứ chưa thể gọi là nghề buôn Đối với người nông dân ước mơ chính đáng của họ vẫn là có được đám ruộng riêng để cày cấy trước khi nhà nước cho phép mua ruộng công làm ruộng tư37
thì họ chỉ cần tiền để nộp thuế Sau đó mới dành dụm thêm để cố tậu lấy đám ruộng Còn thợ thủ công và dân nghèo thành thị làm nghề buôn cũng không hơn gì mấy Chồng sản xuất, vợ bán sản phẩm, trong nhà sản xuất, ngoài cửa là cửa hàng Tiền lãi thu được chắc chỉ đủ dùng để tái sản xuất giản đơn và nộp thuế thân khi nhà nước yêu cầu
Như vậy, trong xã hội nước ta thời bấy giờ chủ yếu vẫn là những người sản xuất nhỏ với lối buôn bán nhỏ Nguyên nhân là do sự phân hóa giai cấp không thể xảy ra trước, trong và sau khi chế độ tư hữu về ruộng đất được xác lập Trong tầng lớp những người buôn bán nhỏ này sẽ có những người giàu lên và những kẻ nghèo đi Nhưng sự giàu lên và nghèo đi chỉ ở mức độ nào đó Vì sự phân hóa giai cấp thời bâý giờ chưa thật là sâu sắc, triệt để Số người giàu có lớn đó không có thế lực nhưng lại có số vốn tương đối Họ đã tham gia buôn bán tích cực và là thành phần chính làm cho nội
35
Theo Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư (tập 2), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1967, trang 60-61
36 Theo Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư (tập 2),Sđd, trang 48
37
Năm 1254, nhà nước bán ruộng công cho dân làm ruộng tư Mỗi mẫu 5 quan (Theo Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư (tập 2),Sđd, trang 24)
Trang 28thương phát triển mạnh mẽ” Nhưng việc buôn bán lớn phần nhiều lại thuộc về ngoại thương thì loại thương nhân thuộc tầng lớp dưới không thể đảm đương được Vì vậy, tầng lớp có thể đảm nhận việc buôn bán trong hoạt động ngoại thương là số thương nhân trung lưu nhưng tiếc thay số thương nhân này lại chưa nhiều, chưa chuyên nghiệp nên đã hạn chế sự phát triển của nền ngoại thương nước nhà”39
Tựu chung lại ta có thể đi đến kết luận, tầng lớp thương nhân trong xã hội phong kiến- những người giữ vai trò chính trong hoạt động thương nghiệp lại có những biểu hiện cản trở sự phát triển của thương nhiệp Tầng lớp thương nhân tuy đã hình thành nhưng chưa làm giảm sút sức lao động trong sản xuất nông nghiệp để ảnh hưởng đến địa tô phong kiến và chưa nhiều tới mức để có thể đánh thuế làm tăng thêm cho quốc khố và đủ lớn mạnh để có thể đảm đương vai trò chính trong hoạt động ngoại thương nước ta thời bấy giờ
3 Về sự hình thành của nền kinh tế hàng hóa và thị trường dân tộc thống nhất:
Một vấn đề khi nghiên cứu về vấn đề ngoại thương không thể không đề cập đến
đó là sự hình thành của nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam và sự hình thành của thị trường dân tộc thống nhất Bởi khi nền kinh tế hàng hóa phát triển đến đỉnh cao và sự hình thành thị trường dân tộc thống nhất hình thành sẽ thúc đẩy các hoạt động trao đổi buôn bán giữa các vùng trên phạm vi cả nước và với bên ngoài (không chỉ dừng lại ở việc mua các sản phẩm của nước ngoài mà còn xuất khẩu đi các nước thu lợi nhuận) Đồng thời nó cũng chứng tỏ sự phát triển của sức sản xuất trong nước có đòi hỏi cần phải có sự giao lưu buôn bán với bên ngoài hay chưa Qúa trình tiến triển của nền kinh
tế hàng hóa được mở rộng ra khỏi thị trường trong nước cũng là quá trình tiến triển của hoạt động ngoại thương
Để tìm hiểu vấn đề trước hết chúng ta cần tìm hiểu khái niệm sản xuất hàng hóa
và những đặc trưng của nó
a Khái niệm kinh tế hàng hóa và những đặc trưng của nó:
Sản xuất hàng hóa là sản xuất nhằm mục đích trao đổi chứ không phải để tiêu dùng và như thế là có kinh tế hàng hóa là có trao đổi, do đó khi kinh tế hàng hóa phát triển thì các hiện tượng theo nó: tiền bằng kim khí, thương nhân cũng xuất hiện
“ Việc trao đổi đã có từ rất sớm trong lịch sử khi có sự phân công giữa bộ lạc trồng trọt và bộ lạc chăn nuôi, khi mà chế độ tư hữu đã nảy mầm trong lòng thị tộc Tuy nhiên phải đến khi có sự phân công giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp, giữa thành thị và nông thôn thì nền kinh tế hàng hóa mới phát triển và phồn thịnh lên được Vì rằng chỉ khi nào sức sản xuất nông nghiệp phát triển cho phép nghề phụ tách khỏi nông nghiệp phát triển độc lập Dần dần thợ thủ công tập trung ở thành thị, thành thị trở thành nơi hoạt động của thương nhân, nơi chuyên sản xuất các sản phẩm thủ công, còn nông thôn thì chuyên về sản xuất nông nghiệp Giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp, giữa thành thị và nông thôn có thường xuyên trao đổi với nhau Thành thị cần
Trang 29bán sản phẩm thủ công cho nông thôn và mua của nông thôn thường xuyên thực phẩm các nguyên liệu thủ công như bông, gỗ, thầu dầu… và ngược lại nông thôn cũng có những cái cần bán cho thành thị (nông phẩm) và mua của thành thị (chế thành phẩm)
Có trao đổi giữa thành thị và nông thôn thì nông phẩm cũng trở thành hàng hóa thường xuyên trao đổi trên thị trường như sản phẩm thủ công Khi nông phẩm đã trở thành hàng hóa, khi mà nông thôn bị cuốn vào quan hệ trao đổi thì qui luật giá trị cũng bắt đầu tác động trong nông nghiệp trong nông thôn bắt đầu có sự phân hóa tài sản, có
giàu và nghèo, do đó có hiện tượng mua bán ruộng đất Ănghen trong cuốn Nguồn gốc gia đình, chế độ tư hữu tài sản và nhà nước đã nêu lên những hiện tương khi mà nền
kinh tế hàng hóa xuất hiện là như sau:
1 Tiền bằng kim khí xuất hiện và theo đó tư bản tiền tệ, cho vay lãi và tín dụng cũng xuất hiện
2 Giai cấp thương nhân môi giới giữa những người sản xuất xuất hiện
3 Có chế độ tư hữu về ruộng đất và sự cầm cố ruộng đất
4 Lao động của nô lệ trở thành một hình thức chi phối nền sản xuất
Ở đây Ănghen nói về sự xuất hiện nền kinh tế hàng hóa trong xã hội nô lệ, khi mà chế độ công xã nguyên thủy tan rã Tuy nhiên trừ đặc điểm thứ tư ra thì các đặc điểm trên cũng là đặc trưng chung của nền kinh tế hàng hóa dù nó xuất hiện trong bất cứ xã hội nào và ở thời gian nào, ở phương Đông hay phương Tây”40
b Tình hình phát triển của nền kinh tế hàng hóa dưới các triều đại phong kiến ở nước ta:
- Thời Lý-Trần: Dưới thời Lý- Trần mặc dù chưa có sự phân công lao động giữa
thành thị và nông thôn, thủ công nghiệp chưa tách khỏi nông nghiệp, ít nhất là một bộ
phận lớn nhưng nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam đã xuất hiện Nguyên nhân sâu sắc cũng là nguyên nhân căn bản nhất là do tác dụng của chế độ sở hữu ruộng đất của
nhà nước và nguyên nhân trực tiếp là do tác dụng của hình thức tô đơn giản
Đặc trưng của chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến ở Việt Nam là chế độ sở hữu ruộng đất của nhà nước Trên cơ sở chế độ sở hữu đó- trong giai đoạn đầu của chế độ phong kiến (tức giai đoạn Lý -Trần) hình thành chế độ phân phong không triệt để Chế
độ phân phong không triệt để lại đưa tới tính phức tạp của chế độ sở hữu ruộng đất và làm xuất hiện sở hữu địa chủ Ở Tây Âu, chế độ phân phong triệt để trong sơ kỳ của chế độ phong kiến đã làm cho các thái ấp độc lập về kinh tế và chính trị xuất hiện Tất
cả đất đai đều thuộc sở hữu của lãnh chúa này hay lãnh chuá khác Tất cả nông nô đều chỉ là kẻ lĩnh canh ruộng đất Ngoài ra trong thái ấp trước khi chủ nghĩa tư bản xuất hiện, nói chung không hề có một hình thức sở hữu nào khác - như tiểu nông hay tiểu địa chủ chẳng hạn Như thế chế là hế độ phân phong triệt để đã làm nảy sinh đặc trưng trong chế độ chiếm hữu ruộng đất ở Tây Âu, là chế độ chiếm hữu ruộng đất của lãnh chúa Còn ở Việt Nam dưới thời Lý - Trần tình hình có khác Rõ ràng là ruộng đất toàn quốc không đem chia hết cho vương hầu mà ruộng đem chia không phải đều thuộc sở hữu vĩnh viễn của kẻ được chia, mà chỉ có một phần nào đó thôi Ngoài ra nhà nước duy trì chế độ công điền, công thổ để trên đó xây dựng nhà nước trung ương tập quyền khi mà thị trường thống nhất quốc gia chưa xuất hiện Dưới thời Lý -Trần chế độ sở hữu ruộng đất gồm: sở hữu của nhà nước (không thể mua bán được) và ruộng đất
40
Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình thành của chủ nghĩa
tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/C Nghiên cứu Lịch sử, số 9, năm 1960, trang 9
Trang 30thuộc sở hữu của địa chủ, tiểu nông, của vương hầu được phong cấp hoặc do cướp đoạt được (có thể mua bán được) Như vậy là dưới thời Lý – Trần, ngoài sở hữu của nhà nước còn có sở hữu của địa chủ: địa chủ quí tộc, địa chủ thường và tiểu nông Chính kinh doanh của lớp người này là cơ sở của nền kinh tế hàng hóa hồi đó, làm cho kinh tế hàng hóa xuất hiện và phát triển dưới thời Lý –Trần Vì rằng người tiểu nông cũng như địa chủ - cả địa chủ thường lẫn địa chủ quan lại - trên cơ sở quyền sở hữu về ruộng đất của mình có thể sử dụng tự do sản phẩm do mình kiếm được (tiểu nông) hoặc do bóc lột được Chỉ phải nộp thuế chứ không phải nộp tô cho nhà nước Mà
thuế đánh vào tư điền thì dù sao cũng ít hơn tô rất nhiều Chẳng hạn theo sách An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng chép thì ở nhà Trần ruộng quốc khố mỗi mẫu thu 6
thạch 80 thăng thóc, nhị đẳng 4 thạch, tam đẳng 3 thạch Đó là tô mà tá điền phải nộp cho nhà nước Trong khi đó thì thuế ruộng tư lại rất nhẹ “còn như ruộng ao của dân thì
cứ mỗi mẫu thu 3 thăng thóc” Như thế không những địa chủ còn thừa rất nhiều thóc
để có thể đem bán trên thị trường mà cả người tiểu nông ngoài phần nộp thuế và phần cần dùng cho bản thân, vẫn còn thừa một số thóc có thể đem bán trên thị trường Do
đó không những địa chủ do chỗ tích lũy được nhiều tiền của nên có khả năng tiêu thụ hàng hóa và ngay người tiểu nông do chỗ ít bị bóc lột hơn nông dân lĩnh canh nên cũng có điều kiện, có khả năng tiêu thụ hàng hóa Đó là những lý do khiến cho nền kinh tế hàng hóa phát triển
Nguyên nhân thứ hai, nguyên nhân trực tiếp làm cho nền kinh tế hàng hóa xuất hiện sớm ở Việt Nam , khi mà sức sản xuất nông nghiệp còn thấp, thành thị của công
thương nghiệp chưa phát triển đó là tác động của hình thức tô đơn giản đối với nền
kinh tế quốc dân đương thời Qui luật kinh tế cơ bản của xã hội phong kiến là qui luật địa tô phong kiến chính qui luật này quyết định kiểu bóc lột phong kiến, kiểu sở hữu tư liệu sản xuất và bóc lột người sản xuất của phong kiến Ở Việt Nam như đã trình bày ở trên, nền kinh tế hàng hóa đã xuất hiện và phát triển từ thế kỉ XII trong thời kì đầu của chế độ phong kiến dân tộc Nguyên nhân sâu xa của nó chính là do chế độ sở hữu ruộng đất của nhà nước và chính trên cơ sở của chế độ sở hữu ruộng đất nhà nước mà hình thức tô đơn giản (khác với hình thức tô cống nhiều loại của Tây Âu) đã xuất hiện trong giai đoạn đầu của chế độ phong kiến dân tộc Chính tác động của hình thức tô đơn giản này đã làm cho quan hệ trao đổi hàng hóa phát triển: “Ở Việt Nam hình thức trao đổi hàng hóa xuất hiện rất sớm khi mà nền kinh tế còn ở trong phạm vi tự cấp, tự túc Nguyên nhân trực tiếp của hình thức đó là do tác động của hình thức tô đơn giản đối với nền kinh tế, xã hội.Ở châu Âu trong sơ kỳ của chế độ phong kiến, do hình thức phân phong triệt để và nhiều bậc, đã xuất hiện các thái ấp mà phạm vi của nó rất nhỏ hẹp (so với quốc gia) Trong phạm vi các thái ấp nhỏ hẹp ấy lãnh chúa lại có toàn
quyền áp bức và bóc lột không chịu sự kiểm soát của nhà vua Vì vậy mà nền kinh tế
tự cấp tự túc xuất hiện dưới một hình thức triệt để Tất cả mọi thứ cần dùng đều sản
xuất trong phạm vi thái ấp, mua ở ngoài chỉ là những thứ đặc biệt, hoặc ở trường hợp đặc biệt Do đó mà trước khi tô tiền xuất hiện, hình thức tô nhiều loại đã được phổ biến Ở Việt Nam, thì như trên đã nói chế độ phân phong không triệt để đã đưa đến sự tồn tại của chính quyền trung ương với hệ thống quan liêu đông đảo Rõ ràng là trong phạm vi đất đai toàn quốc, với nhu cầu phức tạp của lớp quan liêu đông đảo kia không thể thực hiện lối thu tô nhiều loại được Làm sao mà có thể lập được những kho chứa
“gà mái”, “trứng gà”, “mỡ”, “củi” để phát cho quí tộc quan lại toàn quốc Vì vậy mà hình thức tô đơn giản xuất hiện Hình thức này cố định ở một vài thứ như thóc, lúa, tơ
Tô tiền xuất hiện từ rất sớm ở Việt Nam khi mà nền kinh tế hàng hóa chưa phát triển
Trang 31chính là vì vậy Với hình thức tô đơn giản, bọn quí tộc, quan lại tất nhiên phải bán những thóc, lụa, tơ không dùng và mua sắm những thứ cần thiết khác mà mình không
có Về phía nông dân và thợ thủ công cũng thực hiện trao đổi để lấy những thứ cần nộp thuế Ví như các người làm nghề thủ công khác nhau đều phải đổi lấy tơ hay lụa
để nộp thuế Có trao đổi thường xuyên tất có một phần tô tiền, có thống nhất đo lường
ở một chừng mực nào đó Việc trao đổi hàng hóa vì thế mà xuất hiện sớm
Nói một cách khác hình thức tô đơn giản xuất hiện đã tạo ra nhu cầu trao đổi thường xuyên giứa địa chủ phong kiến với thương nhân, mặt khác làm cho nông dân
và thợ thủ công buộc phải tiến hành trao đổi sản phẩm để có thể nộp tô Có trao đổi thường xuyên thì tô tiền cũng xuất hiện Vì kinh tế hàng hóa vẫn chưa thật phát triển nên tô tiền chỉ chiếm một phần nhỏ Nhưng dù sao khi tô tiền xuất hiện cũng đẩy mạnh quan hệ trao đổi hàng hóa phát triển hơn trước Nó làm cho việc mua bán hàng của phong kiến địa chủ càng thường xuyên hơn, làm cho nông dân tham gia vào quan hệ thương phẩm hóa tệ thường xuyên hơn Khi nông thôn bị cuốn một phần vào quan hệ trao đổi hàng hóa, khi nông dân phải đem một phần thóc, tô bán trên thị trường để lấy tiền, thì do tác động của qui luật giá trị, trong nông thôn quá trình phân hóa tài sản, quá
tư hữu hóa về ruộng đất lại xúc tiến mạnh hơn trước Đấy là nguyên nhân khiến người
ta thấy vào thế kỉ XIII-XIV dưới thời Trần, hiện tượng mua bán, cầm cố, tranh tụng về ruộng đất phát triển mạnh Hiện tượng này ảnh hưởng ngay cả đến chế độ sở hữu ruộng đất của nhà nước Việc Trần Cảnh hạ lệnh đem bán ruộng đất công cho tư nhân
là một ví dụ cụ thể41
Về tình hình phát triển cụ thể của nền kinh tế hàng hóa dưới thời Lý -Trần:
Về nông nghiệp, có nhiều hiện tượng cho ta biết là dưới triều Lý nông nghiệp rất
phát triển.Nó biểu lộ ở công việc trị thủy được nhà nước đặc biệt chú ý Công trình đắp
đê có tính chất kinh tế (chứ không phải để bảo vệ thành trì) được sử nói đến đầu tiên vào thời Lý Cùng với việc đắp đê sử cũ còn nói đến việc bảo vệ trâu Luật pháp dưới triều Lý Nhân Tông nghiêm cấm giết trâu, hễ giết trâu thì bị tội rất nặng, nhà Lý còn thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” và sử dụng tù binh42 vào sản xuất điều này chứng tỏ nông nghiệp đã phát triển nên việc bảo vệ công cụ, bảo vệ mùa màng mới đặt
ra cấp thiết như vậy
Nông nghiệp phát triển tạo khả năng cho một số nghề thủ công thoát ly hẳn khỏi nông nghiệp mà phát triển độc lập Mặt khác, do đời sống đã được phần nào cải thiện nên nhu cầu về hàng hóa của nông dân tức của đại đa số nhân dân cũng được tăng thêm Đó là cơ sở khách quan khiến cho công thương nghiệp có điều kiện phát triển hơn trước Tuy nhiên vào thời Lý tuyệt đại bộ phận nghề thủ công vẫn còn là nghề phụ của nông dân, những người thủ công chuyên nghiệp sống độc lập, sản xuất hàng hóa
để bán (chứ không phải là công tượng của nhà nước) còn rất ít Chứng tỏ là hồi này thành thị vẫn chưa phát triển, các làng chuyên môn về thủ công vẫn chưa xuất hiện (phải đến thế kỉ XIV-XV)
Về ngoại thương, sử cũ có cho ta biết hồi này giữa Việt Nam và Trung Quốc đã có
trao đổi buôn bán, các thương nhân Trung Quốc và Việt Nam đã có trao đổi hàng hóa với nhau tương đối thường xuyên Tuy nhiên chính do việc buôn bán này mà chúng ta biết rằng kinh tế hàng hóa nước ta hồi này chưa phát triển lắm Bởi sản phảm trao đổi
41
Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình thành của chủ nghĩa
tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/ C Nghiên cứu Lịch sử, số 9, năm 1960, trang 18-25
42
Khi đánh bại Chiêm Thành Lý Thái Tông đã bắt 5000 tù binh về làm nông nô, khai khẩn những vùng đất mới chiếm như ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh
Trang 32phần lớn là sản phẩm tự nhiên do người nông dân miên xuôi và miền núi kiếm được chứ không phải là các chế thành phẩm thủ công do thợ thủ công sản xuất ra Hình thức trao đổi căn bản vẫn là vật đổi vật, tiền hồi này còn rất khan hiếm chưa phổ biến Do
đó trong việc trao đổi, tiền cũng trở thành hàng hóa, một loại hàng hóa như mọi thứ hàng hóa khác chứ chưa hoàn toàn trở thành vật đo giá chung43
Bước sang thời Trần nền kinh tế hàng hóa nước ta mới thật gọi là phát triển Và
sự phát triển của nó không phải là một bước nhảy vọt mà chỉ là sự kế tục phát triển của nền kinh tế hàng hóa dưới triều Lý mà thôi
Về nông nghiệp thì nhà Trần có kế tục nhà Lý, tiến hành những công trình trị thủy
trên qui mô lớn, sử dụng tù binh vào sản xuất nông nghiệp, khuyến khích vương hầu quí tộc chiêu mộ nông dân thành khai hoang thành lập các điền trang, thái ấp
Cùng với nông nghiệp, công thương nghiệp đời Trần từ thế kỉ XIII trở đi càng phát triển hơn trước Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi ta có thể biết rằng thủ công
nghiệp thời kì này đã khá phát triển vì dưới thời của Nguyễn Trãi (thế kỉ XV) các nghề thủ công đã phát triển như việc sản xuất các loại vải, lụa, nhung, the, gấm…và làng chuyên môn cũng đã xuất hiện như gốm Bát Tràng, lụa Huê Cầu…
Tất nhiên, tình hình phát triển của thủ công nghiệp trên đây không phải là do chính sách quân điền của nhà Lê đầu thế kỉ XV sinh ra mà lại càng không phải là này sinh trong thời Minh thuộc mà phải được nhen nhóm dưới thời Trần Sự phồn thịnh của Thăng Long dưới triều Trần là một căn cư vững chắc để chúng ta có thể tin vào ước đoán này Vào thời Lý khi Lý Công Uẩn dời đô thì Thăng Long (bấy giờ là Đại La) lúc ấy đã có thương nhân hoạt động Bấy giờ Thăng Long lại phồn thịnh thêm một bước nữa Do chỗ nhân khẩu đã tập trung hơn, thương mại và công nghệ đã phát đạt hơn nên nhà nước đã chú ý đến việc tổ chức thành thị cho qui cũ Năm 1230 theo lệnh Trần Thái Tông (1225-1258) các phố xá chia thành 61 phường.Phường ở đây trước hết
là đơn vị hành chính, nhưng đơn vị hành chính này cũng phù hợp với đơn vị nghề nghiệp Căn cứ vào tổ chức thành Thăng Long thế kỉ XVIII, lúc mà kinh tế hàng hóa phồn thịnh nhất, ta có thể đoán rằng mỗi phường hồi này là những người cùng sản xuất hoặc cùng buôn bán một thứ hàng
Về ngoại thương, việc buôn bán với nước ngoài thời kì này phát triển hơn trước
Ngoài Trung Quốc còn có các nước Lộ Hạc, Trà Nho và Xiêm Ngoài cửa Vân Đồn thuyền buôn các nước còn đến buôn bán ở Diễn Châu (Nghệ An)
Vì kinh tế hàng hóa trong nước đã phát triển cho nên tiền tệ hồi này cũng đã đóng một vai trò quan trọng Dưới triều Lý do vì tiền còn ít và trong việc trao đổi thì hình thức trao đổi trực tiếp vẫn còn phổ biến và việc trao đổi hàng hóa vẫn còn chưa phổ biến cho nên tiền tệ vẫn còn chưa thật sự trở thành vật đo giá chung, nó vẫn thường bị coi như các thứ hàng hóa khác Đồng tiền cũng chịu sự thăng trầm của giá cả trên thị trường do luật cung cầu chi phối Vì vậy giá trị đồng tiền đại diện không thống nhất Đến thời Trần khi kinh tế hàng hóa đã phát triển, trao đổi hàng hóa đã phổ biến, đồng tiền đã có một vai trò quan trọng, thì tình trạng không thống nhất về tiền tệ sẽ gây nhiều trở ngại cho việc trao đổi hàng hóa, việc mua bán trong và ngoài nước Cho nên năm 1266 Trần Thái Tông qui định việc thống nhất tiền tệ, nhà nước qui định một tiền
là 70 đồng, một quan là 10 tiền Bạc được đúc thành phân lượng nhất định Điều này cho thấy việc trao đổi hàng hóa thông qua tiền tệ đã phổ biến nên sau này Hồ Qúi Ly mới đưa ra biện pháp tài chính táo bạo để cứu vãn cho nguy cơ suy sụp về kinh tế của
43
Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình thành của chủ nghĩa
tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/ C Nghiên cứu Lịch sử, số 9, năm 1960, trang 8- 12
Trang 33triều Trần là phát hành tiền giấy Việc phát hành tiền giấy không phải là kết quả của sự phát triển cao độ của nền kinh tế hàng hóa trong nước mà chỉ là một thứ tín phiếu, một thủ đoạn tài chính thuần túy không phù hợp với qui luật khách quan nên thất bại Nhưng nó cũng biểu lộ việc trao đổi hàng hóa thời này tương đối phổ biến, nếu không thì không thể có “hoàn cảnh”, có “cơ hội” để cho một biện pháp chủ quan táo bạo ấy
ra đời được
Tất cả những điều trên đều chứng tỏ rằng dưới triều Trần thế kỉ XIII-XIV nền kinh tế hàng hóa Việt Nam đã phát triển, quan hệ trao đổi hàng hóa đã phổ biến trong phạm vi toàn quốc44
- Thời Lê sơ: Điểm nổi bật của kinh tế thời Lê sơ so với thời Trần là sự phát triển
của chế độ tư hữu về ruộng đất Kinh tế hàng hóa phát triển cao khiến cho chế độ tư hữu về ruộng đất phát triển và chế độ tư hữu về ruộng đất càng phát triển thì càng thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển theo Vì vậy, đây chính là nguyên nhân trực tiếp làm cho các đại điền trang, thái ấp thời Trần tan rã dần, chế độ tư hữu về ruộng đất đầu đời Lê phát triển Như đã trình bày ở trên thì chúng ta có thể nhận định rằng mâu thuẫn chủ yếu trong thời Lý - Trần là mâu thuẫn giữa chế độ sở hữu ruộng đất của địa chủ, quý tộc ở các điền trang, thái ấp với chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân Và yêu cầu đặt ra cuối thời Trần là thủ tiêu chế độ chiếm hữu ruộng đất của các vương hầu, quí tộc
ở các điền trang, thái ấp Vì vậy sau khi đuổi được quân Minh giải phóng đất nước, thì
chính sách đầu tiên về kinh tế mà Lê Lợi thi hành là thực hiện chế độ quân điền Đó là
chính sách phát triển chế độ tư hữu về ruộng đất, để giải quyết vấn đề ruộng đất mà dưới triều đại nhà Hồ đã đặt ra nhưng không giải quyết được Lê Lợi nói về lý do thực hiện chính sách quân điền là căn cứ vào tình trạng “chiến sĩ thì nghèo, du sĩ thì giàu; người đem thân chiến đấu thì một tấc đất không có; người du thủ du thực thì chiếm ruộng đất quá nhiều” Phan Huy Chú đã nói về chính sách quân điền thời Lê sơ như sau: “Lê Thái Tổ sau khi thống nhất thiên hạ mới hạ lệnh làm việc quân điền Các viên phủ huyện phải khám đạc ruộng đất, đầm bãi thuộc công hay tư, làm thành sổ sách Các đại thần phải thảo luận thể lệ cấp điền để cấp cho quan lại, quân và dân, trên từ quan đại thần, dưới đến những người già yếu, cô quả, nam phụ đều được cấp ruộng nhiều ít khác nhau Xã nào ruộng nhiều người ít mà có ruộng bỏ hoang, thì quan sở tại được đem ruộng ấy cho người xã khác không có ruộng cày cấy Điền chủ xã có ruộng không được cố chiếm bỏ hoang ai trái lệnh sẽ phải buộc vào tội cưỡng chiếm Chính sách quân điền tạo điều kiện cho quan lại các cấp được một số ruộng đất thuộc sở hữu vĩnh viễn của mình, do đó hàng ngũ địa chủ lại đông đảo thêm, đồng thời nhân dân cũng được thêm nhiều ruộng đất, làm cho hàng ngũ nông dân tư hữu tăng thêm Tình hình này cộng với chế độ tư hữu về ruộng đất do nền kinh tế hàng hóa phát triển dưới thời Trần đã làm cho chế độ tư hữu về ruộng đất ở nửa sau thế kỉ XV phát triển hơn trước
Cùng với sự phát triển chế độ tư hữu về ruộng đất ở nửa đầu thế kỉ XV là sự tăng tiến của diện tích trồng trọt, sự phát triển của sức sản xuất nông nghiệp Đó là điều kiện khiến cho số lượng nông phẩm trên thị trường ngày càng nhiều hơn trước, tạo khả năng cho thủ công nghiệp có thể thoát ly khỏi nông nghiệp phát triển mạnh Sự phát
triển của thủ công nghiệp biểu lộ ở mấy hiện tượng sau đây: Thứ nhất là số lượng phường thủ công tăng lên Theo Thiên hạ bản đồ tổng số trong dư hạ tập thì trong
nước lúc bấy giờ phủ có 36 phường và các xứ có 47 phường, cộng cả thảy là 83
44
Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình thành của chủ nghĩa
tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/ C Nghiên cứu Lịch sử, số 9, năm 1960, trang 12-15
Trang 34phường Hai là các trung tâm buôn bán nhỏ trong nước cũng tăng nhiều hơn trước
“Lệ lập chợ” trong Hồng đức thiện chính thư chứng tỏ như vậy Lệ ấy qui định nơi nào
không có chợ thì có thể được lập thêm chợ, cũng qui định cả ngày họp chợ phải so le
nhau, không được trùng hợp với ngày họp phiên chợ cũ Ba là, sự chú trọng của nhà nước đối với việc đúc tiền và thống nhất đo lường Chiếu của Lê Lợi có nói “tiền là
huyết mạch của dân không thể không có được” Nhà nước ban hành những điều luật qui định việc thống nhất tiền tệ như năm 1428 thì 50 đồng ăn một tiền, tới năm 1439 định lại là 60 đồng ăn một tiền Năm 1439, Thái Tông qui định là lụa mỗi tấm dài 30 thước, rộng 1 thước 5 tấc trở lên; vải gai mỗi tấm dài 30 thước rộng 1 thước 5 tấc; vải bông dài 22 thước; giấy dùng 100 tờ Năm 1475 Thánh Tông ban hành các mẫu cân, thước, thưng, đấu theo thế chức của nhà nước và ra lệnh: “Nhà nước còn trừng trị nghiêm khắc những người không tuân theo tỉ lệ cân thước, thưng, đấu mà nhà nước đã
qui định” (Dư hạ tập) Năm 1472, Thái Tông lại qui định mẫu mực sào, thước Tất
nhiên những qui định thống nhất đo lường trên đây trước hết là vì nhu cầu đánh thuế, thu thuế của nhà nước, nhung nó cũng phản ánh tình hình phát triển của nền kinh tế hàng hóa lúc ấy
Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa đã tác động rất manh mẽ đến sản xuất nông nghiệp, làm cho quá trình phân hóa ruộng đất trong nông thôn xúc tiến mau chóng, chế độ tư hữu về ruộng đất dặc biệt phát triển vào nửa sau thế kỉ thứ XV dưới triều Lê Thánh Tông Bộ luật Hồng Đức đã dành một phần quan trọng để qui định những việc này.45
- Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh: Như thế là những điều kiện cần thiết cho
kinh tế hàng hóa có thể phát triển được đã xuất hiện đầy đủ ở thế kỉ XV Trải qua hai thế kỉ XVI-XVII do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, dưới sự kích thích của ngoại thương, kinh tế hàng hóa lại càng phát triển mạnh hơn trước
Trước thế kỉ XVI đã từng có thương nhân hoạt động trên đất nước ta Đầu thế kỉ XVI số thương nhân người Hoa sang nước ta càng nhiều thêm Về ngoại thương thì những thuyền buôn Trung Hoa thường sang nước ta vào đầu mùa gió bấc Những hàng hóa họ bán ở nước ta phần lớn là quân dụng chiến tranh và hàng xa xỉ phẩm dùng cho vua quan như diêm sinh, diêm tiêu, đồ sứ, chè, gấm vóc….Đến khi gió nồm thì họ lại trở về Hàng hóa chủ yếu họ mua về là tơ và quế Đó là ở Đàng Ngoài còn ở Đàng Trong thì các thương nhân Trung Hoa chở đến nhiều hàng hơn, vì ở Đàng Trong thủ công nghiệp không phát triển bằng ở Đàng Ngoài Nhưng những loại hàng mà họ bán cũng như họ mua thì cũng như ở Đàng Ngoài Hàng bán chủ yếu là quân dụng chiến tranh và các xa xỉ phẩm như khí giới, diêm sinh, diêm tiêu, đồ đồng, đồ sứ, kẽm, bạc đồng, bạc nén… Và những thứ hàng hóa mà họ mua về là những sản phẩm tự nhiên, quý của nước ta như gỗ quí, trầm hương, sa hương, quế, vây cá, yến sào, hồ tiêu và một vài sản phẩm thủ công đặc biệt như tơ sống, lụa, đường.Cùng với thương nhân Trung Hoa còn có các lái buôn Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan Hàng năm thuyền buôn ngoại quốc ra vào Kẻ Chợ, Phố Hiến, Hội An buôn bán rất nhiều
Với sự kích thích của ngoại thương, trên cơ sở của nền kinh tế hàng hóa thế kỉ thứ
XV, kinh tế hàng hóa ở Việt Nam trong giai đoạn này đặc biệt phồn thịnh Nó biểu hiện qua các hiện tượng sau:
“Thứ nhất, số lượng các nghề thủ công tăng thêm, số lượng người chuyên làm
nghề thủ công tăng thêm và các làng chuyên môn xuất hiện ngày càng nhiều Sử cũ
45
Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình thành của chủ nghĩa
tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/ C Nghiên cứu Lịch sử, số11, năm 1960, trang 4-6
Trang 35cho ta biết hồi này đã có những nghề như sau: nghề làm các đồ kim khí như thợ thiếc làm chóp nón, quai ấm; thợ bạc làm đồ trang sức, nghề thợ khóa, nghề đúc song chảo
và nghề đúc tượng đồng Nghề làm đồ gốm, đồ sành đã có từ trước, hồi này cũng rất phát triển ở nhiều địa phương trong nước Cùng với sự phát triển của đồ gốm nhiều nghề khác cũng rất phát triển như nghề dệt, làm đồ gỗ, làm chiếu, làm giấy, thuộc da, làm quạt, lọng, nghề sơn, làm hương, làm nón…
Các làng chuyên môn trong các thế kỉ XIV-XV đã xuất hiện thì vào các thế kỉ XVII-XVIII số lượng tăng thêm khá nhiều Ở Đàng Ngoài, có Đào Lâm và Trúc Lâm (Hải Dương) làm nghề thuộc da và đóng giày dép; nghề dệt vải ở Cương thôn huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây; nghề dệt sa lĩnh ở La Khê (Hà Đông), làng gốm Bát Tràng (Bắc Ninh), nghề làm đồ sành, đồ vại ở làng Thổ Hà (Bắc Ninh); nghề khắc bản in ở Liễu Tràng, Liễu Lục (Hải Dương) Ở Đàng Trong tuy thủ công nghiệp không phát triển bằng Đàng Ngoài nhưng cũng có các làng thủ công như làng Phù Trạch làm chiếu và cánh buồm, làng Triều Sơn dệt nón, làng Đốc Sơn làm giấy, làng Dã Lễ làm mui thuyền… thậm chí có cả một huyện trừ vài làng đều làm nghề thủ công
Thứ hai, trung tâm trao đổi hàng hóa xuất hiện nhiều hơn trước, hàng hóa lưu thông cũng tăng lên Trước hết là sự xuất hiện các chợ địa phương Ở Bắc Ninh có các
chợ Cầu, Giầu Keo, Lớn, Sủi, Văn giang, chợ Vân; ở Hà Đông có chợ Bằng, chợ Bền, chợ Canh, chợ Cáo, chợ Chèm, chợ Chuông, chợ Cống-văn-tự, chợ Dực, chợ Đầm, chợ Đình, chợ Đợ, chợ Ga, chợ Ké, chợ La Cả, chợ Lũ, chợ Mai Lĩnh, chợ Mỗ, chợ
Mỹ Lâm, chợ Phủ, chợ Quang, chợ Thá Trên, chợ Thá dưới, chợ Tia, chợ Vẽ, ở Hưng Yên có chợ Bạc, chợ Bầu, chợ Bông, chợ Đốc La, chợ Đọ, chợ Mễ, chợ Như Quỳnh, chợ Ôn Xá, chợ Như, chợ Thứa, chợ Trung, chợ Trướng, chợ Xuôi Đó là các chợ địa phương tương đối lớn, họp thành từng phiên nhất định, thường qua tháng 6 phiên vào ngày chẵn hay lẻ Người bán hay mua hàng không ở tại chợ, chỉ đến ngày phiên mới tụ tập lại để trao đổi mua bán hàng hóa, hết phiên thì lại giải tán, Ngày thường chợ chỉ là những lều tranh bỏ trống Ngoài các chợ địa phương còn có những làng chuyên về
“buôn bán” như lang Đa Ngưu ở Hưng Yên chuyên nghề buôn thuốc bắc, làng Bão đáp chuyên nghề buôn lược…
Thứ ba, là sự phát triển của các đô thị, những nơi trung tâm trao đổi hàng hóa vượt ra khỏi ngoài khuôn khổ tính địa phương nhỏ hẹp Đó là những nơi hoạt động
chủ yếu của các thương nhân Ngoài Phố Hiến và Hội An , còn có một thành thị lớn đương thời thường được nhắc đến là Kẻ Chợ Việc buôn bán ở Kinh Kì thời Lê mạt rất phát triển căn cứ vào số tiền thuế chợ mà triều đình thu được hàng năm ta có thể biết được điều ấy Theo “Quốc dụng chí” của Phan Huy Chú thì tình hình thuế chợ ở Kinh
Kì thời Lê mạt như sau: Chợ cửa đông hàng năm 318 quan tiền, 300 tấm da trâu bò; chợ cửa Nam 310 quan, 100 tấm da; chợ huyện 310 quan, 50 tấm da; chợ Đình Ngang, chợ Bà Đá cũng như trên Các loại hàng buôn bán hồi này cũng rất nhiều Căn cứ vào
thuế sản vật mà Quốc dụng chí ghi chép ta có thể biết được điều đó Về kim loại có vàng, bạc, đồng, sắt, kẽm…, mộc loại có lim, sến, vàng tâm, soan, tre, trúc, nứa, song,
lá gồi, cói, măng…thủy loại có cá, tôm biển, nước mắm…hỏa loại có than đá, than
củi, củi gỗ, củi bó; thổ loại có sơn, diêm tiêu, gạch, ngói; loại vật dụng có rượu, gạo
nếp, mật mía, mật ong, dầu, muối, vải, tơ, lụa,…; loại thập vật có giấy, chiếu, đồ bát men sứ, cán dáo dài, cán trúc; loại thập vật để thờ voi giấy, ngựa giấy, hình nhân trang
kim, áo minh y, áo lệnh y, kiệu và hình nhân, vòng, chiêng, trống, mâm son, ấm chén, chó, lợn, gà, mèo…
Trang 36Sở dĩ việc buôn bán phồn thịnh là vì hàng hóa trong toàn quốc đã tương đối lưu thông, thương nhân hồi đó đã qua nhiều địa phương trong nước để mua hàng và bán hàng và tới ngày phiên chợ thì phần lớn những thương nhân giàu đều tập trung ở các
đô thị để bán hàng và mua hàng Những tài liệu về thuế tuần ty sau đây chứng tỏ về sự lưu thông hàng hóa trong nước lúc ấy Từ năm 1723 trở về trước, đến năm 1723 thì bỏ
đi 13 sở Sở tuần ty rải rác ở khắp nơi trong cả nước từ đồng bằng đến miền núi, ở miền bắc cũng như ở miền trung và số tiền thuế đánh vào hàng hóa của mỗi sở tuần ty hàng năm thu được cũng khá lớn, điều đó cũng chứng tỏ số lượng hàng hóa lưu thông trong cả nước hồi này cũng khá lớn Hằng năm tiền thu thuế được ở: tuần ngà trung (Thanh Hóa) 4430 quan 4 tiền 30 đồng (tiền cổ), tuần Khả Lưu (Nghệ An) 2267 quan
4 tiền 53 đồng, tuần Trình Xá (Sơn Tây) 4.334 quan 1 tiền 50 đồng; tuần Cầu Doanh (Kinh Bắc) 4551 quan 5 tiền 19 đồng; xứ Cao Bằng đồng niên 49 dật, 9 lạng 5 tiền; xứ Thái Nguyên 2946 quan 3 tiền 27 đồng; tuần quản xứ Hưng Hóa 687 quan 9 tiền 17 đồng; xứ Tam Kì (Tuyên Quang) 1231 quan 5 tiền 43 đồng; tuần Thành xứ Lạng Sơn
80 dật 1 lạng 2 tiền, tuần xứ Quang Yên 4326 quan 6 tiền 39 đồng.46
Nhìn chung, vào các thế kỉ XVII, XVIII dưới thời Trịnh - Nguyễn phân tranh nền kinh tế hàng hóa nước ta đã khá phát triển, thủ công nghiệp đã tách rời một phần khỏi nông nghiệp để phát triển độc lập Tuy nhiên, trình độ phát triển của nền kinh tế hàng hóa nước ta vẫn còn thấp, đại bộ phận thủ công nghiệp hãy còn phụ thuộc vào nông nghiệp, kinh tế tự cấp tự túc vẫn còn chiếm địa vị thống trị trong phạm vi toàn quốc
c Những nguyên nhân làm cho nền kinh tế hàng hóa ở nước ta chậm phát
triển:
“Sự tồn tại của nghề phụ trong nông nghiệp có thể coi là nguyên nhân trực tiếp
và chủ yếu thứ nhất kìm hãm công thương nghiệp phát triển Như đã đề cập ở trên kinh
tế hàng hóa Việt Nam hình thành trong giai đoạn Lý-Trần không phải do sức sản xuất nông nghiệp phát triển, thành thị, nông thôn có sự phân công sản xuất như ở Tây Âu
Mà nguyên nhân trực tiếp lại là do tác động của chế độ tư hữu về ruộng đất và do tác động của hình thức tô đơn giản Do chỗ kinh tế hàng hóa xuất hiện trong lúc mà sức sản xuất nông nghiệp còn thấp chưa đủ khả năng nuôi sống thành thị cho nên người thợ thủ công vẫn không giám thoát ly nông nghiệp, thoát ly nông thôn Người nông dân vẫn duy trì nghề phụ của mình để tự cung, tự cấp Họ không dám rời bỏ ruộng đất
để đến các chợ hoặc thành phố chuyên làm nghề thủ công để sống vì sợ bị chết đói, sợ thiếu gạo Tuy nhiên nếu như sự xuất hiện của kinh tế hàng hóa quá sớm khi mà sản xuất nông nghiệp nói chung còn thấp nếu nó làm chậm sự phân công kinh tế giữa thành thị và nông thôn thì nó lại làm hình thành một sự phân công tự nhiên kiểu như phân công tự nhiên giữa bộ lạc trồng trọt và bộ lạc chăn nuôi - đó là sự xuất hiện của các làng chuyên môn về sản xuất thủ công (do điều kiện lịch sử-kinh tế-xã hội của làng đó qui định).Có làng chuyên môn là vì việc trao đổi đã vượt khỏi phạm vi làng
xã, mà đã phổ biến trong từng miền, và đã một phần nào đó phổ biến trong toàn quốc Khi chế độ tư hữu về ruộng đất phát triển, sức sản xuất nông nghiệp phát triển thì các làng chuyên môn lại càng xuất hiện nhiều hơn Trong các làng chuyên môn thủ công nghiệp không thể phát triển mạnh được vì về mặt sản xuất cũng như về mặt tiêu thụ nó găp rất nhiều giới hạn Chỉ trong phạm vi thành thị, nơi nhân khẩu tập trung, thương
46
Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình thành của chủ nghĩa
tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/ C Nghiên cứu Lịch sử, số 11,năm 1960, trang 6-9
Trang 37nhân tập trung, lại sẵn mọi thứ nguyên liệu do nông thôn cung cấp, thì sản xuất và tiêu thụ mới có thể tiến hành thuận lợi Những điểm này trong các làng chuyên môn đều thiếu cả Vì vậy các làng chuyên môn chỉ là một đơn vị thủ công của kinh tế tự cấp, tự túc ở địa phương Nó không những không có tác dụng phá vỡ kinh tế tự cấp tự túc ở địa phương mà trái lại còn củng cố kinh tế tự cấp, túc ở địa phương nữa Tình trạng mỗi địa phương nhỏ hẹp lại có những trung tâm thủ công nghiệp nho nhỏ của mình càng thêm củng cố trạng thái kinh tế tự cấp tự túc và làm cho quá trình tích lũy vốn tiến hành chậm chạp, khó khăn Ngay bọn thương nhân lớn cũng không thể phát triển được, vì trong cái thị trường địa phương nhỏ hẹp ấy người nông dân hoặc thương nhân nghèo ở nông thôn có thể tiếp xúc với những người sản xuất trong làng chuyên môn để mua hàng, do đó thương nhân giàu có ít cơ hội có thể kiếm chác được nhiều Vì vậy
mà mặc dầu dưới thời Lê mạt, kinh tế hàng hóa đã phát triển nhưng số lượng thương nhân giàu lại không nhiều Sử cũ có cho ta biết một số lái buôn giàu có thời Lê mạt là lái buôn muối, trâu, mắm, lái trâu, bò và lái gỗ Như thế đủ biết sự tồn tại của nghề phụ
và sự tồn tại của các lang chuyên môn làm cho thương nhân giàu không thể phát triển được nhiều Làm sao mà có thể có những thương nhân buôn vải, lụa tơ ở các địa phương trở nên giàu có lớn khi mà các làng chuyên môn làm nghề này rải rác khắp nơi Trong khi đó ở thành thị thương nhân lại rất giàu: Năm 1652 công ty Đông Ấn,
Hà Lan vì thiếu tiền mua tơ đã vay của một số thương nhân ở Thăng Long số tiền là 28.033 lạng bạc và năm 1655 lại vay 20.000 lạng bạc nữa với lãi hàng năm là hai phân Như vậy trong phạm vi thành thị thủ công nghiệp mới có thể phát triển mạnh
mẽ, quá trình tích lũy vốn mới tiến hành mau chóng tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản nảy nở, hoặc nếu như thủ công nghiệp hoặc cứ tồn tại ở nông thôn hoặc cư tập trung ở một số làng chuyên môn ở rãi rác trong nước thì không thể phát triển mạnh được
Đó là nguyên nhân trực tiếp và chủ yếu thứ nhất khiến cho nghề phụ cứ tồn tại mãi
ở nông thôn làm cho thủ công nghiệp không thể phát triển độc lập và mạnh mẽ được Nguyên nhân thứ hai đó là sự kìm hãm công thương nghiệp của nhà nước phong
kiến mà chính sách kìm hãm quan trọng nhất là “trọng nông ức thương”.47
Nhƣ vậy, trong chế độ phong kiến dưới sự áp, bức bóc lột của giai cấp phong kiến
thống trị đã làm tê liệt sự sản xuất Do đó, kinh tế hàng hóa cũng chỉ phát triển ở những khu vực nào có lợi cho giai cấp thống trị, đó là phục vụ nhu cầu xa xỉ hoặc để chúng có thể vơ vét, đánh thuế được nhiều hơn Tuy vậy, cũng nhờ đó mà “sức sản xuất vẫn còn có chỗ thoáng , hút được không khí tự do ở những kẻ hở đó mà nảy nở theo những phương hướng do tình trạng nói trên quyết định”48
Hơn nữa nhu cầu của nhân dân lao động tuy bị hạn chế song vẫn phát triển một mặt do bản thân việc tái sản xuất đơn thuần ra sức lao động mặt khác do nhu cầu mới của đời sống tạo nên do ảnh hưởng của sự phát triển sản xuất phục vụ và làm lợi cho phong kiến Tuy không theo một đường thẳng và một nhịp độ đều đặn nhưng nhìn chung kinh tế hàng hóa ở nước
ta vẫn có chiều hướng phát triển đi lên Sự phát triển của ngoại thương đã tạo điều kiện cho mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa hình thành và sang đầu thế kỉ XVII, thì mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện trong nền kinh tế hàng hóa Việt Nam nhưng chế độ phong kiến trung ương tập quyền đã không tạo điều kiện cho nó nảy
47
Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình thành của chủ nghĩa
tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/ C Nghiên cứu Lịch sử, số 13,năm 1960, trang 14-16
48
Theo Thành Thế Vỹ, Ngoại thương Việt Nam thế kỉ XVII-XVIII cho đến đầu thế kỉ XIX, Nxb Sử học,
Hà Nội, 1961, trang 6
Trang 38mầm lên được để nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam có thể mở rộng ra khỏi khuôn khổ thị trường trong nước
4 Các trung tâm giao thương:
Là một trong những khu vực hải thương được đánh giá là năng động nhất thế giới thời Cổ, Trung và Cận đại sơ kì Ngay từ thời cổ đại Việt Nam đã trở thành điểm đến
và dừng chân của nhiều thương nhân và thương thuyền ngoại quốc trong đó có Trung Quốc, Ấn Độ, các nước Đông Nam Á, Tây Á… Và các thương thuyền ngoại quốc khi dừng chân ở nước ta phải cần đến các thương cảng nước sâu và kín gió để có thể neo đậu thực hiện việc trao đổi, buôn bán và mua hàng Vì vậy khi nghiên cứu về vấn đề ngoại thương cần phải đề cập đến các trung tâm giao thương của nước ta thời kì này:
a Thăng Long- Hà Nội:
Hà Nội có thể tự hào là một trong những thủ đô cổ nhất thế giới Khi thành lập nước Âu Lạc An Dương Vương đã chọn Cổ Loa (Đông Anh- Hà Nội) làm kinh đô Đó
là thành Cổ Loa, trung tâm của nước Âu Lạc Cổ Loa nằm ở vùng đồng bằng trung du của lưu vực sông Hồng Từ Cổ Loa theo sông Hoàng Giang có thể ngược lên sông Hồng rồi theo sông Hồng, sông Đà, sông Lô có thể lên tận miền núi rừng phía Bắc và Tây Bắc, hay theo sông Hồng, sông Đáy có thể xuôi xuống sông Cầu để qua sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam lên miền núi rừng Đông Bắc hay theo sông Lục Đầu Giang xuống sông Thái Bình, sông Kinh Thầy tỏa rộng khắp vùng đồng bằng ven biển Cổ Loa ở vào vị trí trung tâm đất nước và đầu mối của các hệ thống giao thông đường thủy Cổ Loa lại ở giữa vùng đông dân kinh tế phát đạt49
.Đến năm 545 Lý Bí (Lý Nam Đế) cho xây dựng thành lũy ở của sông Tô Lịch để đối phó với cuộc xâm lược của Trần Bá Tiên và thành lập nên nhà nước Vạn Xuân, miền trung tâm Hà Nội
cổ đóng vai trò là trung tâm đất nước (trung tâm phong trào đấu tranh) với một tòa thành cổ lần đầu tiên được xây dựng tại đây Sang thế kỉ VII, Tống Bình trở thành trung tâm thống trị của cả miền đồng bằng Bắc Bộ của nhà Tùy Năm 621, nhà Đường thay nhà Tùy bắt đầu xây dựng thành lũy ở Tống Bình và đến năm 679 thì đặt trị sở của “An Nam đô hộ phủ” khống chế cả nước, ở Tống Bình Từ đấy cho đến đầu thế kỉ
X, trung tâm Hà Nội trở thành dinh lũy chủ yếu của chính quyền đô hộ phương Bắc với một vòng thành “đại la” rộng bao quanh để cho Đại La từ đó trở thành tên riêng của Hà Nội cổ và trở thành nơi giành giật của các lực lượng khởi nghĩa (tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng cuối thế kỉ VIII, khởi nghĩa của Dương Thanh đầu thế kỉ IX…) cùng bọn thống trị ngoại bang50
Tiếp theo sự kiện nổi bật là việc Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long Đúng như nhiều nhà sử học nhận xét, việc dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long ngoài ý nghĩa chính trị còn có ý nghĩa kinh tế sâu sắc, nó biểu hiện một sự lựa chọn đúng tạo nên một trung tâm kinh tế xã hội mới “bốn phương tụ hội” Hoa Lư vốn là đế đô nhưng có những mặt hạn chế trong vai trò trung tâm kinh tế - xã hội của một thị trường dân tộc thống nhất Đó là nơi thủ hiểm thì tốt nhưng phát triển kinh tế lại hạn
Trang 39hẹp Còn Thăng Long đúng như chiếu dời đô đã nhận định: “Thành Đại La đô cũ của Cao Vương (Biền) ở giữa khu vực trời đất, có thế rồng cuộn, hổ ngồi ở giữa nam bắc đông tây, hiện hình thế núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân cư không khổ về ngập lụt, muôn vật rất thịnh mà phồn vinh, xem khắp nước Việt chỗ ấy là hơn cả”51 Chiếu dời đô đã mở đường cho trung tâm Hà Nội cổ trở thành quốc đô của nước Đại Việt: “Thực là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi thượng đô của kinh sư muôn đời” Đô thị Hà Nội cổ chính thức thành lập từ đấy kết thúc thời kì
“tiền Thăng Long” bước vào thời kì phát triển tiêu biểu của đô thị
Về những hoạt động trao đổi buôn bán của Thăng Long - Hà Nội Như chúng ta đều biết phương diện chủ yếu của đời sống đô thị là những hoạt động kinh tế mà nền tảng cốt lõi là kinh tế công thương và dịch vụ Tuy nhiên trong suốt hơn một ngàn năm tồn tại của mình Hà Nội còn có một đặc trưng chủ yếu nữa là trí quốc đô của nó Vai trò quốc đô này vừa qui định những hoạt động đô thị chỉ riêng Hà Nội cổ mới có về phương diện chính trị văn hóa, vừa ảnh hưởng ngay đến tính chất của hoạt động kinh
tế đô thị Từ khi định đô ở thế kỉ XI cho đến ngay cả lúc quốc đô đã dời về Huế hồi thế
kỉ XIX, Hà Nội cổ vẫn là một đô thị mật tập những hoạt động triều chính cung đình Những buổi thiết triều với trăm quan văn võ ra vào các của Tây, cửa Nam của hoàng thành, chiếu chỉ vua ban được tuyên cáo và niêm yết ngoài cửa Nam Hai ba năm đều đặn những sứ bộ hàng trăm người với những cống phẩm quý báu từ kinh thành ra đi và
sứ thần các nước Cham Pa, Ai Lao, Chân Lạp, Xiêm La…cả những vùng xa xôi ngoài biển và nhất là những đoàn sứ giả cùng hàng trăm người cồng kềnh của các triều đại Trung Quốc đến trú đóng, diễu hành từ các trạm Hoài Viên ( Gia Lâm), Quán sứ (nội thành) hoặc “đi lại rầm rập ngoài đường”, rồi hàng trăm lần xuất chính, khải phục với hàng nghìn, vạn người lẫm liệt, oai phong những cuộc về kinh triều yết của thủ lĩnh các miền biên viễn lạ lùng, hứng thú…Tất cả luôn luôn tạo cho đô thị một không khí chính trị nồng hậu, lẫn vào đấy những lễ hội ăn thề trước thần đền Đồng Cổ tháng 3, tháng 4 hàng năm ở mạn Bắc kinh thành “dân chúng tấp nập đến dự xem như một dịp lớn của đô thành Mạn Nam kinh thành có lần dàn bày hàng trăm nghìn voi ngựa; rồi những đám tang đưa các vua nhà Lý về Hà Bắc, các vua nhà Trần về Thái Bình, các vua nhà Lê về Thanh Hóa xuất phát từ kinh thành với hàng nghìn, vạn người chứng kiến, có lúc nghẽn đường phải dẹp đám bằng trò hát
Sinh hoạt đô thị ở Hà Nội cổ nếu thiếu những cảnh tượng ấy sẽ khiến nơi này mờ nhạt dần diện mạo Nhưng cũng đã rõ là để tạo ra những sinh hoạt cung đình, triều chính như thế ở đô thị, phải thu hút về đây những động lực từ sâu xa của lịch sử và rộng dài của đất nước, để tập trung vào guồng máy điều hành của thiết chế quân chủ tại đô thị Còn nổ lực riêng của Hà Nội cổ thì vừa cung cấp một phần năng lượng cho những hoạt động ấy vừa dựa vào đấy mà lấy thêm điều kiện phát triển cho mình hình
thành một phương diện hoạt động chủ yếu của đô thị: kinh tế công thương và dịch vụ
Về phương diện này, sinh hoạt hàng nghìn năm của Hà Nội cổ đã tạo ra một đường hướng, một mô hình vận động theo kiến thức và tổ chức của một đô thị kết hợp chợ -bến-phố-phường, mà hạt nhân là những khu chợ Ngay từ khi mới định đô, hoạt động chợ búa ở Hà Nội cổ đã in dấu vào sử sách: “Mở chợ Tây Nhai với hành lang dài, mở phố chợ về cửa đông, hàng quán chen chúc sát đến bên đền (Bạch Mã) là rất huyên náo” Sứ giả nhà Nguyên đến Thăng Long cuối thế kỉ XIII đã ghi chép về một mạng lưới chợ họp định kì “hàng hóa phong phú, có dựng lều quán” Đến thế kỉ XV thì cố
51
Hoàng Xuân Long, Sđd, trang 45
Trang 40đạo Ferreira đã tổng kết: “Kẻ Chợ có rất nhiều chợ đẹp” Trong số những chợ đó, Phan Huy Chú ở đầu thế kỉ XIX đã nêu tên 8 khu chợ nổi tiếng: chợ của Đông, chợ cửa Nam, chợ Huyện, chợ Đình Ngang, chợ Ba Đá, chợ Văn Cử, chợ Bác Cử, chợ Ông Nước Sách địa chí triều Nguyễn cũng bổ sung vào đây hàng loạt tên chợ nữa: chợ Mới, chợ Yên Thọ, chợ Yên Thái, chợ Thịnh Quang, chợ Dịch Vọng… Bài thơ tả cảnh của Ngụy Tiếp, năm 1736 đã cho phép hình dung cụ thể về một số các chợ ấy – chợ Bạch Mã “ Gió hòa bụi, chợ đông người- Phất phơ tay áo đua chơi xuân cùng- Ngày dài thuyền chở xe dong – Bán buôn lũ lượt trập trùng chen đua” Và bức tranh toàn cảnh về sinh hoạt chợ búa ở Hà Nội cổ thì được những dòng sau đây thể hiện thật sinh động: “Thành phố bỗng trở thành một phiên chợ khổng lồ, ở đó người ta đi lại, la cà, chuyện trò, mặc cả ồn ào trong một đám đông dân chúng, đông gấp bội đám dân chúng bình thường mà số này vốn cũng đã rất chen chúc đông đảo rồi Hoạt động kinh tế của
đô thị Hà Nội có hạt nhân là những khu chợ tấp nập như thế Và cũng còn hòa vào những hệ thống bến cảng của đô thị nữa Sinh hoạt sông nước với sông Tô Lịch và các nhánh của sông này tạo ra cho Hà Nội có vô số bến cảng, phục vụ đắc lực cho việc vận chuyễn, buôn bán hàng hóa, đặc biệt là ở khu vực phía đông của đô thị Những bến chính nằm ở bở phải sông Hồng Hàng hóa từ đấy mà vào ra qua các cửa ô Hồi thế kỉ XIX Hà Nội cổ có 16 cửa ô thì ở mặt phía đông, mở đến 11 của ô và vì lẽ đó cùng với những khu chợ tấp nập của các đô thị , các bến cảng trên sông của Hà Nội cổ đã hình thành một cảnh tượng nhộn nhịp: “Thành phố nằm dọc theo bờ sông (Hồng) khoảng chừng 5 km Trên mặt sông là một sự hoạt động cuồng nhiệt Thuyền bè đi lại không lúc nào nghừng Tiếng pháo nổ ran, tiếng phèng phèng inh ỏi làm mọi người chói tai nhức óc….”52 Các phố phường Hà Nội cũng góp vào đây những hoạt động kinh tế của mình, “khéo tay hay nghề, đất lề Kẻ Chợ”- đô thị Hà Nội trải qua nhiều thế kỉ tồn tại
đã tập hợp được trong lòng mình cả một loạt nghề nghiệp và người sản xuất có chất lượng cao Phố phường- đúng hơn là phố và phường- là nơi tàng trữ đồng thời tung ra những lực lượng đó, với một đặc trưng nổi nét , mà những lời làm chứng của Julien, một sĩ quan Pháp đã làm cho bộc lộ rõ ràng: “ Tôi đã trông thấy nhiều phố Điều đặc biệt là những phố này do những nhà công nghệ cùng hoạt động trong một nghề cư trú”
Đó chính là sự thống nhất giữa phố và phường của đô thị điều này dẫn đến hệ quả
và hiệu quả: “Mỗi hàng hóa đều có một phố riêng Ở phố Bát Sứ tất cả đều xanh Tiếp đến phố Bát Tràng - tất cả đều đỏ Rồi đến phố Hàng Đồng lấp lánh ánh kim vàng chói Phố Hàng Thêu, Phố Hàng Trang màu sắc tươi vui sặc sỡ…” Như vậy các phố phường Hà Nội là những khu vực tự sản, tự tiêu Lời làm chứng của sĩ quan Hocquard người mô tả một ngôi nhà cửa hàng xưởng thợ ở Hà Nội hồi thế kỉ XIX càng minh họa cho điều này: “Cửa hàng được đặt trong một cái nhà tranh gần giống như một cái nhà kho lớn, mặt trông ra phố Ngôi nhà tranh đó được chia thành hai gian theo chiều dài, ngăn bằng một vách liếp Cửa hàng và xưởng thợ ở gian trông ra ngoài đường Còn gian bên trong vách, được bố trí làm phòng ở của gia đình Hà Nội cổ không có những hoạt động thương mại lớn, đẩy mạnh khỏi nhanh các luồng hàng tạo đà chuyễn động
cơ bản cho đô thị Thương nghiệp đô thị nói cho công bằng, cũng đã từng có những lúc phát triển khá, đặc biệt khi đã có sự kích thích của thương nhân ngoại quốc, kiểu như lái buôn Hà Lan Van Rizbeek,năm 1646, đêm đêm sục sạo đến các nhà thợ dệt tơ
để mua hàng trong tài liệu của Buch Tài liệu này cho biết là vào năm 1670, tàu buôn
52
Flauchut: Le Tonkin et les relations commerciales ( Revne des deux mondes, t3, Paris, 1874, trang159 dẫn theo Văn Tạo (chủ biên), Đô thị cổ Việt Nam, sđd, trang 144