1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận quản trị marketing Sự lựa chọn của người tiêu dùng hàng ngày chợ hay siêu thị

35 536 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 490 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay chợ và siêu thị là hai kênh phân phối các mặt hàng tiêu dùng thiết yếuhàng ngày đến cho người tiêu dùng.. Do đó chúng tôi nghiên cứu đề tài “ Sự lựa chọn của n

Trang 1

KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN BỘ MÔN: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ

ĐỀ TÀI

NHÓM 1:

7 NGUYỄN PHƯƠNG DUNG ĐT 2

Email: myphuoctay_duy@yahoo.com

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHTHÁNG 11 NĂM 2008

Trang 2

MỤC LỤC

PHỤ LỤC .2

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN: 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ BIỂU ĐỒ 4

TÓM TẮT ĐỀ TÀI .5

PHẦN 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 6

PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7

2.1 Khái niệm chợ 7

2.2 Khái niệm Siêu thị 7

2.3 Đôi nét về thị trường Việt Nam 8

2.4 Hàng hóa là gì? 8

2.5 Khái niệm người tiêu dùng 9

2.6 Định nghĩa thu nhập 9

2.7 Định nghĩa chi tiêu 10

PHẦN 3: PHÂN TÍCH SỐ LIỆU VÀ TRÌNH BÀI KẾT QUẢ 11

3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chợ hay siêu thị của người tiêu dùng 11

3.2 Phân tích dữ liệu và trình bài kết quả nghiên cứu 12

3.2.1 Mô tả dữ liệu 12

3.2.2 Phần hồi quy 22

PHẦN 4: KẾT LUẬN 24

4.1 Ý nghĩa của việc nghiên cứu 24

4.2 Hạn chế của đề tài 24

TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

PHỤ LỤC .26

Trang 3

Thành phố HỒ CHÍ MINH ngày……tháng ……năm 2008

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ BIỂU ĐỒ:

Trang 4

Biểu đồ 1: Biểu đồ về sự lựa chọn của người tiêu dùng về hình thức mua hàng tiêu

dùng hàng ngày

Biểu đồ 2: Biểu đồ về các nhân tố ảnh hưởng bởi các nhân tố khiến người tiêu dùng

lựa chọn hình thức mua hàng tiêu dùngBiểu đồ 3: Biểu đồ đánh giá của người tiêu dùng về mức độ vệ sinh ở chợ

Đồ thị về sự lựa chọn của người tiêu dùng và các nhân tố tác động đến sự lựa chọncủa người tiêu dùng

TÓM TẮT ĐỀ TÀI:

Người tiêu dùng

thị

Thói quen

mạnh

Trang 5

Theo số liệu thống kê, cả nước hiện có khoảng 9.000 chợ các loại, trong đó 75% làchợ nông thôn, 25% là chợ thành thị và mới có 30/64 tỉnh thành có siêu thị Vì thế kênhphân phối hàng hóa qua siêu thị mới chỉ chiếm khoảng 10% doanh thu bán lẻ của cảnước Tuy nhiên, người tiêu dùng đang ngày càng có thói quen đi mua sắm ở siêu thị, dựbáo kênh phân phối này sẽ chiếm từ 30-40% thị phần vào năm 2010 và 60 % vào năm

2020 Theo số liệu của vietbao.vn: 25% người tiêu dùng TP HCM khi được hỏi cho biếtthường xuyên mua hàng tại siêu thị, 30% lại chọn đồ trong hệ thống cửa hàng chuyêndoanh của doanh nghiệp Tỷ lệ đến chợ chỉ vỏn vẹn 8%

Ngày nay chợ và siêu thị là hai kênh phân phối các mặt hàng tiêu dùng thiết yếuhàng ngày đến cho người tiêu dùng Chợ là hình thức có từ lâu đời, hiện nay cùng với sựphát triển của đất nước, nhu cầu sở thích của người dân cũng tăng lên, để đáp ứng nhucầu đó siêu thị cũng đã có mặt ở Việt Nam Liệu người tiêu dùng có quay lưng lại vớichợ hay không? Do đó chúng tôi nghiên cứu đề tài “ Sự lựa chọn của người tiêu dùng vềcác mặt hàng tiêu dùng hàng ngày : Chợ hay Siêu Thị ?” để xem xét người tiêu dùng sẽchọn hình thức nào để cung ứng các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu hàng ngày cho chínhmình Để thực hiện đề tài nhóm đã tiến hành điều tra ngẫu nhiên 200 mẫu trên địa bànthành phố Hồ Chí Minh Các mẫu được điều tra bằng cách phỏng vấn trực tiếp dựa trênbảng câu hỏi Để xứ lý và phân tích số liệu đã thu thập được nhóm dùng phương phápthống kê mô tả và hồi quy tuyến tính Qua kết quả phân tích ta thấy được người tiêu dùngvẫn lựa chọn chợ nhiều hơn siêu thị bởi một số nhân tố Trên cơ sở nghiên cứu của nhómvề hai hình thức trên cho biết được những điều còn yếu kém cần phải cải thiện, trên cơ sở

đó nhóm đề ra một số cách thức để cải thiện những điểm yếu của hai bên để hai hình thứcnày đảm bảo cung cấp những gì tốt nhất cho người tiêu dùng và đáp ứng theo đúng nhucầu phát triển của xã hội

Trang 6

PHẦN 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI.

Sức khỏe tốt, cuộc sống đầy đủ là điều mà bất cứ một ai cũng cần đến chính vì thế

mà bữa ăn trong gia đình sẽ là điều quan trọng nhất để bảo vệ sức khỏe của bản thân từngngười trong gia đình Để có được bữa ăn tốt nhất trong gia đình thì người tiêu dùng(người nội trợ) phải đắn đo lựa chọn những gì tốt nhất, tiết kiệm nhất cho chính mình vàgia đình mình Họ đắn đo giữa hai sự lựa chọn đi Chợ hay đi Siêu Thị để mua các mặthàng tiêu dùng cho gia đình của chính mình Vậy “Sự lựa chọn của người tiêu dùng vềnhững mặt hàng tiêu dùng hàng ngày: Chợ hay Siêu Thị ?” nơi nào sẽ chiến thắng trongnhận thức của người tiêu dùng và tại sao ? nhân tố nào đã tác động đến quyết định củangười tiêu dùng khi mà họ đã chọn như thế

Chính vì sự đắn đo như trên mà nhóm đã thực hiện đề tài “Sự lựa chọn của

người tiêu dùng về những mặt hàng tiêu dùng hàng ngày: Chợ hay Siêu Thị?” để giải

quyết vấn đề đi Chợ hay đi Siêu thị mỗi người có nhiều lựa chọn khác nhau nên chúngtôi giả định rằng: Người tiêu dùng thích đi mua hàng tiêu dùng ở siêu thị hơn là chợ.Nhóm mong rằng sau khi thực hiện đề tài sẽ giải thích được tại sao người tiêu dùng lạilựa chọn một trong hai hình thức trên và cho nó là tốt nhất cho chính mình và gia đìnhtrong cuộc sống hàng ngày Qua đề tài cũng cho biết đươc những đánh giá của người tiêudùng về chợ và siêu thị những mặt yếu kém của hai hình thức này và mong rằng nó cóthể cung cấp thông tin cần thiết để giúp cho hai kênh phân phối hàng hóa đó có thể cảithiệt những mặt yếu của mình và phát huy những mặt mạnh đem lại lợi ích tốt nhất chongười tiêu dùng và cũng như là chính họ

Đề tài có kết cấu như sau:

Phần 1: Giới thiệu đề tài

Phân 2: Cơ sở lý thuyết

Phần 3: Phân tích số liệu và trình bài kết quả

Trang 7

2.1 Khái niệm Chợ:

Chợ ra đời từ rất sớm trong lịch sử loài người, khi mà con người đã sản xuất đượchàng hóa nhiều hơn nhu cầu của họ, nên phải mang nó đi trao đổi với người khác để lấymột loại hàng hóa nào đó

Chợ chủ yếu là nơi để mọi người trao đổi hàng hóa dư thừa với nhau, dựa trên mộtthước đo là sự thỏa thuận của hai bên Về sau cùng với sự ra đời của tiền tệ thì chợ khôngchỉ là nơi trao đổi mà diễn ra việc mua và bán hàng hóa - một bên là những người có sảnphẩm sẽ đem ra để bán, còn một bên là khách hàng dùng tiền để mua các sản phẩm cầnthiết cho mình hoặc các sản phẩm để đem bán lại Chợ có thể gồm nhiều khu vực riêngbiệt, mỗi khu vực lại có những dãy gồm nhiều gian hàng khác nhau

Đến nay, chợ vẫn là kênh phân phối thực phẩm quan trọng nhất ở thành phố, với87% người tiêu dùng đi chợ hàng ngày Trong điều kiện vật giá đua nhau leo thang nhưhiện nay, ưu điểm của chợ thể hiện rất rõ Giá hầu hết các mặt hàng bán ở chợ đều mềmhơn ở các trung tâm bán lẻ, mẫu mã đa dạng và người mua không phải chịu thuế GTGT(http://vi.wikipedia org/wiki/ Ch%E1% BB%A3)

2.2 Khái niệm Siêu thị:

Siêu thị là dạng cửa hàng tự phục vụ Hàng hóa ở đây rất đa dạng và được chọnlọc kĩ hơn so với trong chợ hay cửa hàng tạp phẩm Loại hình này gọi chung là siêu thịtruyền thống vì ngày nay, từ "siêu thị" còn được chỉ những nơi chỉ chuyên kinh doanhmột mặt hàng, một chủng loại hàng nào đó mà thôi Ví dụ: siêu thị máy tính, siêu thị điệnthoại di động, siêu thị trái cây, siêu thị điện máy thậm chí còn có siêu thị việc làm nữa

Đề tài chỉ nghiên cứu về siêu thị cung cấp các hàng hóa tiêu dùng mà người nộitrợ cần mua hàng ngày: Co-op mart, maximart,… Siêu thị có đặc điểm là nơi mua sắmthoáng mát sạch sẽ và tiện lợi

Đôi nét về siêu thị: tính đến tháng 5/2008, không kể các hệ thống do nước ngoàiđầu tư như Metro, Big C; tại Việt Nam hiện có hơn 10 hệ thống siêu thị do các doanhnghiệp trong nước làm chủ, đang “ăn nên làm ra” với tốc độ tăng trưởng 30-45% năm,

có mạng lưới từ 5 đến 30 điểm kinh doanh như Co-op mart, Citimart, Bài Thơ Mart,Hapro, Vinatexmart, Fivimart…

2.3 Đôi nét về thị trường Việt Nam:

Năm 2008 này là lần đầu tiên Việt Nam vươn lên vị trí thị trường hấp dẫn nhất thếgiới, tính từ khi A.T Kearney bắt đầu công bố GRDI năm 2001 – đánh giá về độ hấp dẫncủa thị trường bán lẻ ở những nền kinh tế mới nổi – dựa trên 25 yếu tố khác nhau, baogồm cả rủi ro kinh tế, chính trị, mức độ hấp dẫn cũng như bão hòa của thị trường bán lẻ

Ba yếu tố quan trọng tạo nên sức hấp dẫn của thị trường bán lẻ Việt Nam chính là tốc độtăng trưởng kinh tế đạt trên 7% (các năm qua), áp lực cạnh tranh giữa các hệ thống bán lẻchưa lớn, và Việt Nam có 65% dân số là người tiêu dùng trẻ Năm 2007, Việt Nam chỉ

Trang 8

xếp thứ 4, năm nay có sự thay đổi là nhờ kinh tế tăng trưởng mạnh, thể chế chính sáchđang cải tiến theo hướng thân thiện với nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là nhu cầu củangười tiêu dùng về những mô hình bán lẻ hiện đại.

Năm 2007 doanh thu bán lẻ cả nước đạt trên 45 tỉ USD Nếu tính tốc độ tăngtrưởng bình quân trên 20% như các năm qua, dự kiến doanh thu bán lẻ năm nay sẽ đạttrên 54 tỉ USD Để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước cũng như đón các cơhội kinh doanh, mục tiêu phát triển thương mại trong nước, theo đề án của Bộ Côngthương, là nâng tỉ trọng mức bán lẻ hàng hóa qua loại hình thương mại hiện đại (siêu thị,trung tâm thương mại, của hàng tiện ích…) đạt hơn 20% vào năm 2010 và 60% vào năm

2020 Và theo đó, các siêu thị đang được các nhà kinh doanh đầu tư xây mới, các địaphương trải thảm đỏ đón vào… Gần như tất cả các tỉnh thành đều đang có các dự án đầu

tư cho siêu thị, trung tâm thương mại

Năm 2005, theo thống kê của Bộ Công thương, cả nước mới có khoảng 200 siêuthị, 30 trung tâm thương mại và gần 1.000 của hàng tiện ích hoạt động tại 30/64 tỉnhthành Đến tháng 4/2008 này, con số đã tăng gấp đôi, và dự kiến đến 2010 sẽ có khoảng700-750 siêu thị, 150 trung tâm thương mại qui mô lớn và hàng chục ngàn cửa hàng tiệních

2.4 Hàng hóa là gì?

Khái niệm hàng hóa có thể hiểu theo hai nghĩa

- Theo nghĩa hẹp, hàng hóa là những vật hữu hình, tồn tại trong không gian bachiều, có khối lượng, có thể tích, hình dáng cụ thể, quan trọng hơn cả là hàng hóa này cógiá trị, có thể trao đổi mua bán được Như vậy, cái xe đạp bày ở siêu thị là hàng hóa, cònsao Hỏa không phải là hàng hóa

- Theo nghĩa rộng, hàng hóa là bất cứ dạng vật chất nào có thể trao đổi buôn bánđược

Khái niệm hiện tại về hàng hóa :

Sự thay đổi và phát triển nhận thức đối với đời sống kinh tế dẫn đến cách hiểuhàng hóa không như các nhà kinh tế cổ điển xác định Phạm trù hàng hóa mất đi ranh giớicủa sự hiển hiện vật lý của vật thể và tiến sát đến gần phạm trù giá trị Tiền, cổ phiếu,quyền sở hữu nói chung, quyền sở hữu trí tuệ nói riêng, sức lao động, v.v được xem làhàng hóa trong khi chúng không nhất thiết có những tính chất như đã liệt kê trên Theophép biện chứng duy vật lịch sử của Marx thì phạm trù hàng hóa có thể chỉ là đặc điểmriêng của chủ nghĩa tư bảng mà thôi

Trang 9

Người tiêu dùng là những người sử dụng những hàng hóa đã được sản xuất ra vànhững dịch vụ hay nói chính xác hơn là người có nhu cầu về một sản phẩm cụ thể nào đó.

Ở đây người tiêu dùng là người nội trợ trong gia đình hay chính xác hơn là ngườithường xuyên đi mua thực phẩm cho gia đình để chế biến phục vụ cho cuộc sống hàngngày,và những hàng hoá thiết yếu khác

2.6 Định nghĩa thu nhập:

 Thu nhập bao gồm tất cả các khoảng tiền bỏ túi, bất kể nó đến từ nguồnnào, có hợp pháp hay không, miễn là thường xuyên, liên tục có thể biết trước (một cáchtương đối) Thu nhập bao gồm các khoản:

2.7 Định nghĩa chi tiêu:

 Chi tiêu là việc dùng tiền vào mục đích nào đó nhằm thỏa mãn nhu cầu cánhân hoặc tập thể phân làm 4 loại chi tiêu:

 Chi tiêu cho chính phủ: xây dựng cơ sở, truờng học

Ở đề tài nghiên cứu chúng tôi chỉ xét đến chi tiêu cho tiêu dùng hàng ngày baogồm mua thực phẩm tiêu dùng hàng ngày Không tính đến các khoản chi tiêu khác như:thuê nhà, điện nước… chỉ có thể nói là chỉ tính tiền chợ đối với từng hộ gia đình

PHẦN 3: PHÂN TÍCH SỐ LIỆU VÀ TRÌNH BÀY KẾT QUẢ

3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chợ hay siêu thị của người tiêu dùng: + Thu nhập của người tiêu dùng (VNĐ/tháng)

Trang 10

+ Mức chi tiêu cho tiêu dùng hàng tháng (VNĐ/tháng)

+ Giá cả hàng hóa đơn vị (VNĐ/sản phẩm) giá cả nhân tố hàng đầu tác động đến

sự lựa chọn của người tiêu dùng, giá rẻ sẽ làm họ mua nhiều hơn và cảm thấy thỏa mãncao hơn với số tiền mà họ bỏ ra

+ Không gian vệ sinh (chỉ tiêu đánh giá về vệ sinh, …) ảnh hưởng đến việc lựa

chọn sản phẩm và nơi mua sản phẩm đối với người tiêu dùng, và người tiêu dùng có quantâm đến vệ sinh nơi mà họ mua hàng hóa và họ có biết rằng ảnh hưởng của các nhân tố

đó hay không

+ Chất lượng Chất lượng hàng hóa bán mà người tiêu dùng mua họ đánh giá ra

sao có hoàng toàn tốt hay không

+ Chương trình khuyến mãi (số lần khuyến mãi bình quân trong quý) đây là chỉ số

dành cho việc bán hàng hóa ở siêu thị

+ Sự đa dạng của hàng hóa

+ Sự thuận tiện

+ Thói quen

+ Phong cách phục vụ

Sau khi nhóm tiến hành điều tra 200 mẫu thu lại được 187 mẫu điều tra sau khi

chọn lọc loại bỏ những mẫu không đạt yêu cầu thì còn lại 150 mẫu đúng Sau khi thu thập

số liệu nhóm đã tiến hành sử lý số liệu theo quy trình như sau:

Kết luận chung

Số liệu đã thu thập

Trang 11

3.2 Phân tích dữ liệu và trình bài kết quả nghiên cứu:

3.2.1 Mô tả dữ liệu :

Case Processing Summary

Cases

Trên là bảng các mẫu thống kê đựơc từ số các mẫu thu về đạt tỷ lệ 98% các mẫuthu về được

Để trả lời cho câu hỏi đầu tiên của vấn đề nghiên cứu chúng ta tiến hành thống kê

mô tả từ bảng số liệu ta có thống kê mô tả về dữ liệu thu thập như sau:

Từ số liệu thống kê ta mô tả về sự lựa chọn của người tiêu dùng như sau:

Frequency Percent PercentValid CumulativePercent

đồ trên ta có thể kết luận rằng người tiêu dùng lựa chọn hình thức cung cấp hàng tiêudùng cho gia đình của họ là chợ nhiều hơn siêu thị

chợ

Trang 12

* Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn của người tiêu dùng đối với chợ và siêu thị.

Trong tổng số lượng mẫu nghiên cứu, các biến quan sát được đánh gía qua các thangđiểm từ 1 đến 5 Trong đó 1: không quan trọng; 2: ít quan trọng; 3: bình thường; 4: quantrọng; 5: rất quan trọng Bảng tổng hợp kết quả thống kê các biến định lượng:

Tổng hợp kết quả đối với siêu thị

Sự

thuậntiện

Thóiquen

Sự đadạng về

hang hóa

Gía cả Vệ sinh

Phongcáchphục vụ

Tổng hợp kết quả đối với chợ

Trang 13

3.9517 3.4414

Trang 14

Mức độ vệ sinh ở

Mức độ vệ sinh ở

Ý kiến khác về mức

Trang 15

Qua bảng thống kê mô tả trên và bảng biểu đồ 3 về mức độ vệ sinh của chợ là không

sạch sẽ lắm mà chỉ ở mức độ chấp nhận được đối với người tiêu dùng mà thôi

Qua số liệu và biểu cho ta thấy rằng:

 Mức độ vệ sinh ở chợ luôn sạch sẽ có 2 mẫu chiếm 1.3 %;

 Mức độ vệ sinh ở chợ ở chợ không sạch sẽ nghĩa là ở mức tạm chấp nhận đôi lúc còn mẫn cảm đối với người tiêu dùng là 46 mẫu 30,75%;

 Mức độ vệ sinh ở chợ tương đối nghĩa là người tiêu dùng có thể nhận xét là nó chỉ ở mức chấp nhận được không quá dơ đối với người tiêu dùng là

93 mẫu tương ứng với 62,0%;

 Các ý kiến khác về mức độ vệ sinh của chợ có 4 mẫu chiếm 2.7% có thể coi ý kiến này ở mức thấp và gần như ý nghĩa ở mức kém.

Biểu đồ 3

Trang 16

Sau đây là bảng danh mục các vấn đề cần quan tâm mà người tiêu dùng muốn gởiđến nơi mà cung cấp cho họ hàng tiêu dùng hàng ngày bao gồm các nhân tố sau: vệ sinh,phân bố laị khu vực buôn bán, cải thiện ý thức của người buôn bán trong chợ và thườngxuyên có cơ quan kiểm tra các mặt hàng buôn bán trong chợ để đảm bảo cho người tiêudùng an tâm sử dụng các mặt hàng mà họ mua.

Trang 17

Cấn cơ quan kiêm tra định kỳ

Qua bảng thống kê mô tả trên ta thấy được các nhân tố yếu kém của chợ mà ngườitiêu dùng rất cần đựơc giải quyết để đem lại sự an tâm cho ngưòi tiêu dùng cũng nhưgiảm đi những ấn tượng không tốt của người tiêu dùng về các mặt hàng bán ở chợ

Ngày đăng: 27/06/2015, 07:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w