báo cáo điều tra và thiết kế xây dựng mô hình hệ thống canh tác bền vững trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng nơi đất cao nhiều cát thuộc vùng núi An Giang
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
ĐIỀU TRA VÀ THIẾT KẾ XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỆ THỐNG CANH TÁC BỀN VỮNG TRONG CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU
CÂY TRỒNG NƠI ĐẤT CAO NHIỀU CÁT THUỘC VÙNG BẢY NÚI AN GIANG
Chủ nhiệm đề tài: NGUYỄN VĂN MINH Cộng tác viên: TRẦN VĂN KHẢI
VÕ THỊNH VƯỢNG
LÊ VĂN NAM
LÊ PHƯỚC SANG
Long Xuyên, tháng 5 năm 2006
Trang 2- KS Nguyễn Văn Phương PGĐ Sở Nông nghiệp & PTNT An Giang đã gợi ý, giúp đở
và ủng hộ đề tài nghiên cứu
- Th.S Nguyễn văn Mì Trưởng Phòng Nông nghiệp & PTNT đã tạo điều kiện thuận lợi
về chuyên môn và tiếp xúc địa phương
- Chính quyền địa phương, Hội nông dân các xã Lương Phi, Lê Trì và Thị trấn Ba Chúc
đã tạo mọi điều kiện về tổ chức hội thảo, phỏng vấn nông hộ và tạo mọi thuận lợi trong quá trình thực hiện nghiên cứu
- Các đồng sự trong Bộ Môn Khoa Học Cây Trồng đã góp công sức vào quá trình thực hiện trong đó có các thầy cô Trần Văn Khải, Phạm Huỳnh Thanh Vân, Võ thị Xuân Tuyền, Trịnh Hoài Vũ đã sát cánh bên tôi từ những ngày đầu vừa mới triển khai nghiên cứu Cô Nguyễn thị Minh Châu đọc và sữa bản thảo
- Các sinh viên ĐH2PN Đại Học An Giang Võ Thịnh Vượng, Lê Văn Nam, Lê Phước Sang đã cùng tôi phỏng vấn nông hộ tại các điểm nghiên cứu, tổng kết số liệu và trình bày bản thảo
- Các sinh viên ĐH2PN và ĐH3PN đã hợp tác trong các cuộc phỏng vấn nông hộ
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Vùng núi Dài gồm 3 xã Lương Phi, Lê Trì, Châu Lăng và Thị trấn Ba Chúc thuộc huyện Tri Tôn là vùng bán sơn địa, đất đai không được phì nhiêu như đất ở đồng bằng của tỉnh An Giang Vì thế nó có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển kinh tế-xã hội của vùng nói riêng và toàn khu vực Bảy Núi nói chung
Trước đây, trong thời kỳ còn chiến tranh, vì là vùng tranh chấp nên đời sống nhân dân quá khó khăn Đến nay, sau hơn 30 giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quê hương miền núi nầy đã có những sự thay đổi to lớn về hạ tầng cơ sở cho đến sản xuất nông nghiệp và đang hướng đến một nền nông nghiệp-du lịch sinh thái bền vững
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển sản xuất hướng đến một nền nông nghiệp bền vững còn có những vấn đề bất cập cần phải quan tâm giải quyết Đó là xu hướng độc canh cây lúa đang thống trị ở một bộ phận lớn dân cư và các cấp lãnh đạo địa phương vì phát triển cây lúa tỏ
ra dễ dàng hơn các loại hoa màu khác.Thứ hai, năng suất, sản lượng cây trồng còn thấp so với các vùng khác do tính chất đất đai kém màu mỡ hạn chế Thứ ba, việc thiếu nước tưới trong năm, đặc biệt ở mùa khô là một yếu tố quan trọng hàng đầu làm giới hạn việc thâm canh tăng vụ, không phát huy được hết sức sản xuất của lao động nông thôn Từ đó, tồn tại tình trạng một bộ phận dân cư dưới mức ngưỡng nghèo và tái nghèo còn phổ biến ở vùng nầy Ngoài ra, tập quán không dùng phân chuồng, phân xanh, phân ủ để trả lại cho đất những chất do thu hoạch cây trồng lấy đi mà chỉ dùng phân hóa học làm cho đất ngày càng xấu hơn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự bền vững của môi trường
Từ những suy nghĩ trên, nhu cầu cần phải có những nghiên cứu cơ bản về kinh tế hộ, các
hệ thống canh tác hiện hành, những khó khăn thuận lợi đối với nông hộ đang trực canh, những
ưu nhược điểm của điều kiện môi trường, cơ hội và tiềm năng phát triển của vùng, những nghiên cứu về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, những biện pháp làm giàu đất trồng giúp khắc phục sự xuống cấp và suy kiệt của môi trường là những việc làm cần thiết và cấp bách
Xuất phát từ cách đặt vấn đề như thế, quá trình nghiên cứu chia thành 3 giai đoạn Đầu tiên, tìm hiểu tổng quát về hiện tình kinh tế hộ và các hệ thống canh tác phổ biến cùng với các
mô hình tiên tiến đang được thực hiện tại vùng, bằng các phương pháp tiếp cận nông dân và phỏng vấn kinh tế hộ Kế đến, khảo sát thí điểm các nông hộ có mô hình canh tác tiên tiến, hiệu quả cao đồng thời đúc rút ưu khuyết điểm làm cơ sở để nhân rộng mô hình Cuối cùng, triển khai thực hiện các thử nghiệm về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi cũng như các mô hình có sử dụng phân bón từ nguồn gốc hữu cơ bảo vệ môi trường bền vững nhằm khuyến cáo nông dân
Trang 4TÓM TẮT Nhằm mục đích tìm hiểu về tình hình kinh tế hộ và hiệu quả kinh tế-môi trường của mô hình hệ thống canh tác trên vùng đất xám nhiều cát 2 xã và 1 thị trấn điểm tại khu vực Núi Dài thuộc huyện Tri Tôn An Giang, cuộc nghiên cứu đã được thực hiện trong vòng 2 năm 2004-2005
để giải đáp vấn đề trên
Bằng cách dùng các công cụ của phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của nông dân (PRA), phương pháp phỏng vấn nông hộ, phỏng vấn nhóm am hiểu sự việc (KIP) và bằng quan sát trực quan, cuộc nghiên cứu đã tiến hành 3 hội thảo với qui mô trung bình 20 nông dân đại diện ở 3 điểm xã, thị trấn cùng với 4 cuộc phỏng vấn các cấp lãnh đạo nông nghiệp huyện, xã để tìm hiểu tổng quan về vùng nghiên cứu Phỏng vấn 273 hộ nông dân gồm 3 nhóm giàu, nghèo , trung bình theo tiêu chuẩn đánh giá của địa phương, được phân phối đều về các ấp, khóm thuộc 3 điểm nghiên cứu với khoảng cách tối thiểu là 10 hộ Tổng hợp và phân tích số liệu thống kê mô tả bằng chương trình Excel với các số trung bình, tối đa, tối thiểu
Kết quả cho thấy nguồn lực nông hộ đáp ứng tương đối tốt cho nhu cầu sản xuất Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên, vùng nghiên cứu chia thành 2 tiểu vùng rõ rệt Vùng ruộng trên chỉ dựa vào nguồn nước mưa để tưới nên hàng năm chỉ sản xuất được 1 vụ nên kinh tế hộ khó khăn Trái lại, hộ nào có đất ở ruộng bưng hoặc có đất ở 2 nơi thì cuộc sống khá giả hơn Cơ cấu thu nhập hộ do sản xuất nông nghiệp chiếm trên 85% so với phi nông nghiệp, trong đó trồng trọt 84%, chăn nuôi xấp xỉ 16% Thu nhập của nhóm hộ nghèo dưới ngưỡng nghèo 200.000đ/tháng Nhóm hộ trung bình có thu nhập khá hơn nhưng phần dư không nhiều trong khi
đó nhóm giàu cách biệt xa với 2 nhóm kia với thu nhập và phần dư cao hơn 10 lần
Mô hình HTCT ruộng trên hiện nay chỉ 1 vụ với các loại cây trồng như lúa mùa, lúa Thu, củ sắn, củ gừng, khoai mì, đậu xanh, đậu phộng, năng suất cây trồng thấp, thu nhập trung bình 20 triệu đồng/ha/năm Gừng và củ sắn cao hơn ( 81và 32 triệu đồng), nhưng chỉ số lợi tức biên và hiệu quả đồng vốn không được cao lắm
Hè-Mô hình HTCT ruộng bưng trong đê bao vững chắc gồm 2 vụ lúa, 3 vụ lúa, 2 luá 1 màu
là đậu xanh, dưa hấu với thu nhập cao trên 40 triệu đồng Ruộng bưng không có đê bao thường
là 2 vụ gồm Hè –Thu sớm và cây vụ Đông như đậu xanh, dưa hấu Tết với thu nhập trung bình trên dưới 25 triệu đồng
Các mô hình đã được thiết kế và đề xuất căn cứ vào các tiêu chí của Nhà nước về phát triển HTCT chuyển đổi bền vững, hiệu quả cao như sau:
- Ruộng trên có 3 mô hình: (1)Lúa HT - Đậu phộng vụ Đông; (2) Đậu phộng (Đậu xanh)
HT -Trồng cỏ nuôi bò (3) Đậu xanh HT – Lúa Nàng nhen mùa – Cây phân xanh với thu nhập tuần tự là 20; 18; 25 triệu đồng/ha/năm
- Ruộng bưng có đê bao 2 mô hình:(1) Hai vụ lúa ĐX- HT- Đậu nành vụ Đông (2) Hai
vụ lúa HT-TĐ – Dưa hấu Tết với thu nhập tuần tự là 41; 34 triệu đồng/ha/năm
- Ruộng bưng không đê bao: (1) Lúa HT – Dưa hấu vụ Đông (2) Lúa mùa – Dưa hấu Tết với thu nhập tuần tự là 27; 74 triệu đồng/ha/năm
Khó khăn lớn nhất là vốn đầu tư cho trồng trọt và chăn nuôi bò cần phải được quan tâm đúng mức Kế đến là nước tưới cho tiểu vùng ruộng trên Nếu giải quyết được nước tưới cho vùng nầy bằng cách xây dựng 2 hồ chứa nước lớn Ô vàng (Ba Chúc), Ô Tà Sóc (Lương Phi) thuộc núi Dài sẽ mở ra khả năng thâm canh, tăng vụ tạo điều kiện cho các nông hộ vươn lên làm giàu đồng thời phát triển du lịch sinh thái, danh lam thắng cảnh của thánh địa đạo Hiếu Nghĩa góp thêm công ăn việc làm cho người dân sung túc hơn
Trang 5KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT ĐBSCL Đồng Bằng Sông Cửu Long
MBCR Marginal Benefit Cost Rate: Thu nhập biên hay Lợi tức biên
MRCR Marginal Revenue Cost Rate: Doanh thu biên
M Mùa
NN Nông nghiệp
PRA Participatory Rural Appraisal: Phương pháp đánh giá nông thôn có sự
tham gia của nông dân PTNT Phát triển nông thôn
RAVC Return above variable cost: Thu nhập trên biến phí
SALT1 Sloping Argicultural Land Technology: kỹ thuật canh tác nông nghiệp đất dốc
SALT2 Simple Agro-livestock Technology: kỹ thuật canh tác nông súc đơn giản SALT3 Sustainable Agroforest Land Technology: kỹ thuật canh tác nông - lâm kết hợp
bền vững
SALT4 SmallAgro-fruit Livelihood Technology: kỹ thuật sản xuất nông nghiệp kết hợp
với cây ăn quả quy mô nhỏ SWOT Strenght Weak Opportunity Threat: Phân tích mạnh, yếu, cơ hội và rủi ro
TĐ Thu Đông
TT Thị Trấn
UBND Ủy Ban Nhân Dân
Trang 6CHƯƠNG I
MỞ ĐẦUVùng đất cao nhiều cát ở Bảy Núi thuộc 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên (An Giang) là một vùng có tập quán trồng 1 vụ lúa mùa nhờ nước trời nên năng suất rất thấp hoặc sống nhờ vào làm rẫy trồng màu Chung quanh nhà có trồng thêm cây Tầm vông, xoài Thanh Ca và một vài loại cây khác làm nguồn thu nhập phụ
Vùng nghiên cứu gồm 2 xã Lương Phi, Lê Trì và thị trấn Ba Chúc có đến 24% dân số thuộc người Khmer, số hộ người Khmer chiếm 23% Đặc biệt xã Lê Trì hộ người Khmer chiếm đến 53% và chiếm 28,8% dân số
Do đặc tính đất xám nghèo dinh dưỡng, vùng ruộng trên nước lũ hằng năm không ngập đến nên việc canh tác lệ thuộc vào nước mưa và nguồn nước ngầm rất hạn chế nên chỉ trồng được một vụ lúa hoặc màu trong năm Nguồn thu của nông hộ chỉ nhờ vào một vụ lúa hoặc rau màu và được tăng thêm nhờ vào thu nhập của xoài, tầm vông Vùng ruộng bưng đất thấp nước lũ hằng năm đều ngập và đã có các hệ thống dẫn nước từ kinh Vĩnh Tế và kinh Tám ngàn vào từ giữa thập niên 90 đến nay nên đã có thể tăng lên 2 vụ lúa là phổ biến; một số ít hộ trồng 1 lúa 1 màu và cũng đã có những hộ tăng lên 3 vụ ở nơi có đê bao chủ động được nước tưới Nhìn chung, hệ thống canh tác của vùng nghiên cứu vẫn còn là độc canh cây lúa
Trước tình hình giá lúa gạo, lương thực bấp bênh trong những năm gần đây khiến cho các
hộ lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế Do vậy, tìm giải pháp để phá thế độc canh cây lúa đồng thời tăng thu nhập cho các hộ nông dân là thực sự cần thiết
Theo xu thế chung của đất nước, yêu cầu chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn mà trong đó sự chuyển đổi cây trồng sang một hệ thống canh tác mới đa canh bền vững, có hiệu quả
là một yêu cầu khách quan và bức xúc Điều này cũng nhằm mục đích tránh bị động vào giá lúa gạo và cũng nhằm nâng cao mức sống cho nông hộ Tỉnh đã triển khai một số chương trình hệ thống canh tác cho 2 huyện miền Núi nhằm vào mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng có lợi cho người nông dân
A MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I MỤC TIÊU
Đề tài” Điều tra và thiết kế xây dựng mô hình hệ thống canh tác bền vững trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng nơi đất cao nhiều cát thuộc vùng Bảy Núi An Giang.” được thực hiện nhằm các mục tiêu tổng quát là tập trung vào nghiên cứu các mô hình tiên tiến có hiệu quả kinh tế so với mô hình trồng đại trà là 1 hoặc 2 vụ lúa để làm cơ sở cho việc thiết kế xây dựng các mô hình hiệu quả hơn
Mục tiêu cụ thể gồm có:
- Đánh giá tình hình kinh tế hộ và hiệu quả kinh tế-tài chính của các hộ đang thực hiện các
mô hình canh tác đại trà và tiên tiến
- So sánh và tìm ra những mô hình tiên tiến hiện có mang tính bền vững và hiệu quả cao
- Thiết kế xây dựng ít nhất 2 mô hình canh tác đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi cơ cấu cây trồng của vùng nghiên cứu
II NỘI DUNG
Trang 7- Dùng các phương pháp nghiên cứu hệ thống canh tác như phiếu phỏng vấn nông hộ, PRA, SWOT, phỏng vấn chuyên gia, quan sát thực tế … để điều tra và đánh giá tình hình kinh tế
hộ, phân loại thành 3 nhóm hộ giàu, trung bình, nghèo nhằm phân tích thu nhập và phần dư tài chính của nông hộ và nhân khẩu, phản ảnh một cách trung thực mức sống của nông dân tại điểm nghiên cứu
- Sử dụng các chỉ tiêu phân tích tài chính như lãi thuần (RAVC), hiệu quả đồng vốn, lãi/vốn, lãi/vật tư, doanh thu biên tế, lợi tức biên tế để đánh giá hiệu quả kinh tế từng mô hình hệ thống canh tác và so sánh các mô hình có hiệu quả cao, tiên tiến với mô hình trồng đại trà, phổ biến tại vùng nghiên cứu
- Từ các phân tích trên, đúc kết, lựa chọn và kiến nghị các mô hình HTCT có hiệu quả cao nhằm tăng thu nhập cho nông hộ và bảo đảm tính bền vững của môi trường Đề tài cũng là cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi tại vùng đất xám cao nhiều cát vùng Bảy Núi vốn là nơi nghèo so với các nơi khác trong Tỉnh
B ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi kinh tế, xã hội:
- Chỉ chọn các hộ nông dân trực tiếp sản xuất không chọn các hộ xâm canh, tiểu thương, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp
- Không phân biệt hộ người Kinh hay Khmer
C CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Đặc điểm chung kinh tế nông hộ, nông nghiệp, nông thôn
1.1 Thế nào là kinh tế nông hộ, nông nghiệp, nông thôn
Theo Lâm Quang Huyên (2003) cho rằng “ Nông hộ (hộ nông dân) là gia đình sống bằng nghề nông, là một đơn vị về mặt chính quyền, là gia đình sống bằng nghề nông Hộ nông dân là một đơn vị sản xuất cơ bản, một đơn vị sản xuất “rất ổn định” và là “phương tiện tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp” Hộ nông dân có những đặc trưng riêng biệt, không giống như những đơn vị kinh tế khác, do đó có thể thấy rằng: nông hộ là một đơn vị kinh tế xã hội khác biệt
Định nghĩa của Đào Công Tiến (2003) về kinh tế nông hộ như sau:
Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế nông thôn Kinh tế nông
hộ dựa chủ yếu vào lao động gia đình để khai thác đất và các yếu tố sản xuất khác nhằm đạt thu nhập thuần cao nhất Kinh tế nông hộ là đơn vị kinh tế tự chủ, căn bản dựa vào sự tự tích lũy, tự
Trang 8đầu tư để sản xuất kinh doanh nhằm thoát khỏi cảnh nghèo đói và vươn lên giàu có, từ tự túc tự
cấp rồi lên sản xuất hàng hóa gắn với thị trường
1.2 Vì sao hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ
Là đơn vị kinh tế tự chủ có nghĩa là mỗi hộ nông dân tự quyết định mục tiêu và quá trình
sản xuất kinh doanh, trực tiếp quan hệ thị trường nếu có sản phẩm hàng hóa, tự hạch toán, lời ăn
lỗ chịu (Lâm Quang Huyên, 2003) Hoặc theo Đào Công Tiến (2003) đơn vị kinh tế tự chủ “ là
tự chịu trách nhiệm cao về sản xuất và tiêu dùng, căn bản dựa trên sự cân bằng giữa nguồn lực
sản xuất và nhu cầu tiêu dùng của gia đình.”
2 Thực trạng kinh tế nông hộ Việt nam
2.1 Tình hình nông hộ ở nông thôn Lâm Quang Huyên (2003) cho rằng, nước ta hiện nay và nhiều năm tới vẫn còn là một
nước nông nghiệp Dân số và lao động ở nông thôn vẫn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số dân và lao
động cả nước (từ 70 – 80%)
Tỷ trọng số hộ nông dân trong tổng số hộ gia đình ở vùng nông thôn cao nhất là miền
núi và trung du Bắc Bộ chiếm 91,2% Đồng bằng Sông Hồng chiếm 91,13% rồi đến khu 4 cũ
chiếm 83,16%; Tây Nguyên chiếm 76,78%; Duyên hải miền Trung chiếm 74,37%; ĐBSCL
chiếm 69,94% và thấp nhất là miền Đông Nam Bộ chiếm 48,42% (Lâm Quang Huyên, 2003)
Nguồn: Kinh tế nông hộ và kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, 2003.
2.2 Tình hình đất đai của nông hộ
Theo Lâm Quang Huyên (2003), diện tích đất nông nghiệp bình quân của hộ nông dân
nước ta rất thấp và ngày càng giảm Cao nhất là ĐBSCL – 10.149 m2, rồi đến Đông Nam Bộ –
9.169 m2 và Tây Nguyên – 7.412 m2 Các tỉnh có diện tích ruộng đất bình quân của hộ nông dân
cao nhất là Minh Hải cũ – 15.923 m2, Kiên Giang – 14.963 m2 và Sóc Trăng – 14.737 m2 Thấp
nhất là Hải Phòng – 1.997 m2, Hà Nội – 2.117 m2 và Thái Bình – 2.179 m2
Trang 9Nguồn: Kinh tế nông hộ và kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, 2003.
2.3 Tình hình nhân khẩu và lao động
Lâm Quang Huyên (2003) cho rằng: bình quân nhân khẩu của hộ nông dân trong cả nước năm 1994 là 4,47 người và bình quân lao động là 2,35 người Bình quân lao động của hộ nông dân cao nhất là ĐBSCL – 2,67 người, Đông Nam Bộ –2,51 người, thấp nhất là Đồng bằng Sông Hồng – 1,97 người và Khu 4 cũ – 2,05 người
Bảng 3: Cơ cấu hộ nông dân theo quy mô đất nông nghiệp trong cả nước (1994)
Nguồn: Kinh tế nông hộ và kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, 2003
Còn đối với các hộ nông dân sản xuất rau hoa quả, cây cảnh, cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc gia cầm, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng,… thì với qui mô diện tích nhỏ hay lớn đều hướng về sản xuất nông sản hàng hóa là chủ yếu, và khối lượng, tỷ suất nông sản hàng hóa ít phụ thuộc vào qui mô đất đai Một số hộ với 500 – 1.000 m2 trồng hoa, cây cảnh có thể thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm với tỷ suất hàng hóa đạt 100% (Lâm Quang Huyên, 2003)
2.4 Tình hình năng lực và trình độ sản xuất của nông hộ
Về năng lực và trình độ sản xuất, kinh tế hộ nông dân hiện nay đã và đang hình thành 4 loại hộ (Lâm Quang Huyên, 2003):
* Loại hộ nông dân nghèo: Thiếu đất, thiếu vốn, thiếu vật tư kỹ thuật và công cụ sản xuất, thiếu kiến thức và năng lực quản lý sản xuất nông nghiệp, đôi khi thiếu cả lao động nên trình độ sản xuất thấp kém Kết quả là năng suất cây trồng vật nuôi thấp, làm không đủ ăn Nhóm này chiếm khoảng 15 – 20% tổng số hộ nông dân
* Loại hộ nông dân trung bình: Có quỹ đất khá hơn nhưng thiếu vốn và vật tư kỹ thuật, quản lý sản xuất khá hơn loại trên nhưng cũng còn hạn chế nên năng lực sản xuất cũng chỉ đóng khung ở mức sản xuất tự túc là chủ yếu, sản lượng và tỷ suất nông sản hàng hóa chưa đáng kể Loại hộ này chiếm khoảng trên dưới 50% tổng số hộ nông dân
Trang 10* Loại hộ nông dân khá: Có quỹ đất nhiều hơn trung bình, có vốn để mua vật tư kỹ thuật và ứng dụng khoa học công nghệ mới, có kinh nghiệm và năng lực quản lý kinh tế khá, có khả năng đi vào thâm canh, tăng năng suất sản xuất nông sản để tự túc và sản xuất nông sản hàng hóa với khối lượng khá, chiếm khoảng 50% tổng sản lượng nông sản làm ra Nhóm hộ này chiếm khoảng 25 – 30% tổng số hộ nông dân trong cả nước Riêng vùng ĐBSCL chiếm 45 – 50% và đang có xu thế tăng lên
* Loại hộ nông dân giàu: Có quỹ đất nhiều, có vốn lớn, có trình độ quản lý kỹ thuật khá, có năng lực sản xuất mạnh, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào quản lý sản xuất,
đã trở thành hộ nông dân sản xuất nông sản hàng hóa là chủ yếu với khối lượng nhiều, tỷ suất hàng hóa cao Loại hộ này chưa nhiều, mới chỉ 10% tổng số hộ nông dân cả nước nhưng đang
có xu thế tăng lên trong quá trình đi lên CNH đất nước
2.5 Thực trạng sản xuất nông nghiệp của nông dân ở nước ta Theo Lâm Quang Huyên (2003), loại hộ nông dân khá và giàu sản xuất nông sản hàng hóa theo mô hình trang trại hiện nay rải rác ở các vùng đều có nhưng tập trung ở những nơi sản xuất lúa hàng hóa như vùng lúa Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên (ĐBSCL), vùng trồng cây công nghiệp xuất khẩu như: cà phê, cao su, chè ở vùng đồi núi Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, miền núi và Trung du Bắc Bộ và vùng nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản ở ven biển
Lâm Quang Huyên (2003) cho rằng, ở vùng đồng bằng, kinh tế hộ nông dân đã sản xuất
ra trên 90% lúa gạo, hoa màu, rau quả, thịt lợn, thịt gia cầm, trứng sữa, các cây con đặc sản Theo Nguyễn Sinh Cúc (2003) trước sự đổi mới kinh tế, An Giang chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, phát triển mạnh chăn nuôi, thủy sản, công nghiệp và dịch vụ đi đôi với thâm canh lúa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả Cây rau đậu có giá trị kinh tế cao và có thị trường tiêu thụ như bắp lai, đậu đỏ, bông vải, chuối cấy mô, đậu xuất khẩu, mía giống mới, đậu mè (vừng)
3 Đất xám
3.1 Diện tích và phân bố Đất xám ở Đông Nam Bộ chiếm diện tích lớn thứ hai sau nhóm đất đỏ vàng với 744.652
ha, chiếm 31,75% tổng diện tích tự nhiên toàn vùng; chúng phân bố thành khối lớn và tập trung
ở tỉnh Tây Ninh (48,19%) và tỉnh Sông Bé cũ (36,94%)
Các đất xám điển hình trên phù sa cổ hoặc trên granite thường xuất hiện ở các địa hình cao (đỉnh hoặc sườn thoải các đồi gợn sóng) Đất xám có tầng kết von – đá ong thường xuất hiện ở phần cuối dốc, chân đồi Đất xám mùn thường có mặt ở những địa hình thấp vừa; ở các triền đồi phẳng cuối bề mặt dốc hoặc phần giữa hai đồi lượn sóng Đất xám gley và đọng mùn xuất hiện ở những địa hình thấp nhất, xen lẫn với các đất xám khác nhất là đất xám mùn và đất xám có dạng đá ong (Phan Liêu, 1992)
Đất xám vùng Châu thổ sông Cửu Long trải dài dọc theo biên giới Việt Nam –Campuchia từ huyện Đức Hòa (Long An) đến huyện Hà Tiên (Kiên Giang) Tổng diện tích là 148.522 ha(Lê Phát Quới,1992), bao gồm đất xám phù sa cổ và đất xám ven núi vùng Tịnh Biên, Tri Tôn (An Giang) và Kiên Lương, Hà Tiên (Kiên Giang) Theo Phạm Quang Khánh (1997), tổng diện tích đất xám ĐBSCL là 149.122 ha chiếm 72,8% quỹ đất dốc, trong đó đất xám trên phù sa cổ là 115.542ha (56,4%), đất xám trên granite và đá cát 33.580 ha (16,4%) tập trung tại vùng Bảy núi và ở Hà Tiên, Kiên Lương (Kiên Giang)
3.2 Đặc điểm hình thành và các loại hình đất xám Đất xám Đông Nam Bộ hình thành trên hai mẫu chất khác nhau:
(i) Trên mẫu chất phù sa cổ (Pleiostocen muộn)
Trang 11(ii) Trên đá granite, giàu thạch anh, nghèo kiềm kiềm thổ
Trên bản đồ đất 1/200.000, đất xám được chia thành 3 đơn vị bản đồ:
(i) Đất xám trên phù sa cổ
(ii) Đất xám đọng mùn gley
(iii) Đất xám trên đá granit (Phạm Quang Khánh, 1995)
Đặc điểm hình thành và loại hình đất: Theo Phan Liêu (1992), phân chia đất xám thành 6 loại:
1) Đất xám trên phù sa cổ 2) Đất xám trên phù sa cổ có tầng kết von đá ong
3) Đất xám trên granit 4) Đất xám mùn
5) Đất xám gley 6) Đất xám đọng mùn gley
Theo Phạm Quang Khánh (1995) chia đất xám ra 3 loại hình chính:
1) Đất xám trên granit 2) Đất xám trên phù sa cổ
3) Đất xám trên phù sa cổ đọng mùn gley
Theo FAO/UNESCO chia đất xám (ACRISOLS ) làm 5 loại hình:
1) Haplic Acrisols: Đất xám điển hình 2) Chromic Acrisols:Đất xám vàng
3) Ferric Acrisols: Đất xám có kết von 4) Gleyic Acrisols: Đất xám gley
5) Arenic Acrisols: Đất xám cơ giới nhẹ
Bảng 4: Hàm lượng mùn, đạm, lân, kali trên đất xám (Phạm Quang Khánh, 1995)
3.3 Tính chất đất xám
3.3.1 Đất Đông nam bộ Đất xám trên phù sa cổ có tầng thường rất dày, cơ giới nhẹ, dễ thoát nước, thuận lợi cho
cơ giới hóa và thích hợp với các loại cây trồng cạn Tuy vậy, rất nghèo các chất dinh dưỡng, nên khi sản xuất yêu cầu đầu tư cao về phân bón
Tính chất hóa học hạn chế chính trên đất xám (Haplic Acrisols) là P và K (Công Doãn Sắt, 1997) Ngoài ra, đối với đậu phộng trồng trên đất xám, yếu tố hạn chế năng suất là P, K,
Trang 12Theo Địa chí An Giang (2003):
Đất đồi núi An Giang chiếm diện tích khoảng 29.320 ha, chiếm 9,6% tổng diện tích đất của tỉnh Chủ yếu phân bố ở hai huyện Tri tôn và Tịnh Biên chỉ một phần nhỏ ở huyện Thoại Sơn (vùng Ba Thê) Thành phần thuộc loại cát pha sét, chủ yếu là cát pha ít bột và sét, có nơi hàm lượng cát chiếm trên 60% như ở xã An Hảo, An Cư (Tịnh Biên) Đất hầu như không có độc
tố nhưng hàm lượng chất hữu cơ thường rất thấp từ 1,08 – 0,2% ở tầng bên dưới Đất đồi núi tại đây được phân thành các loại sau:
• Đất sườn tích tại chỗ Đất sườn tích tại chỗ là đất phong hóa của đá mẹ rồi trầm tích tại chỗ dọc theo các sườn núi Bề dày tùy theo dốc đứng hay thoải, nhưng không quá 5 m Đất phong hóa ở núi Cấm, núi Phú Cường, Tà Pạ tương đối giàu dinh dưỡng và thành phần cơ giới lớn, tỷ lệ giữa cát và sét khoảng 1,25–1,8 Tuy nhiên, phần lớn ở các núi khác như Cô Tô, núi Trà Sư, núi Két…thì nghèo dinh dưỡng và tỷ lệ cát/ sét từ 2,5–2,8; gồm các hỗn hợp đá từ đá tảng, cuội, dăm đến cát
• Đất yếm phù Đây là đất phong hóa từ các nơi được dòng lũ mang đến tích tụ ở nơi có địa hình thấp hơn Loại đất này phân bố thành vành đai thấp chạy từ chân đồi Tức Dụp đến Ba Chúc (Tri Tôn) Thành phần chủ yếu là sét, pha sét với hàm lượng chất hữu cơ thường cao Đất có màu xám đen
• Đất thềm cao Đất thềm cao là loại đất cát, quanh chân núi hay còn được gọi là đất “ruộng trên” Đất chủ yếu là cát mịn, hàm lượng độc tố thấp, nhưng chất hữu cơ nghèo, có màu nâu xám lẫn một ít thực vật Phân bố tương đối rộng ở các chân núi của hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên
Việc sử dụng đất tập trung trong mùa mưa, khi có nước; cây trồng chủ yếu là lúa một vụ/năm, một số nơi có trồng thêm đậu xanh, màu, khoai mì
• Đất dọc theo các rãnh, khe núi Đất dọc theo các rãnh núi, khe núi gồm cát, sạn sỏi bở rời từ trên núi do mưa lũ kéo xuống Đất hầu như chủ yếu là cát, có lẫn một ít hữu cơ; loại này có diện tích không nhiều (Địa Chí An Giang, 2003)
3.3.3 Kiến nghị sử dụng đất xám Chỉ nên khai thác đất xám trên phù sa cổ cho sản xuất nông nghiệp Trong đó ưu tiên cho việc trồng các loại cây như cao su, điều vì nó có khả năng bảo vệ cải tạo đất tốt Trong sử dụng đất phải chú ý:
- Biện pháp chống xói mòn và rửa trôi, tăng cường bón phân bổ sung dinh dưỡng nhất là các loại phân hữu cơ (Phạm Quang Khánh, 1995)
- Thế mạnh của đất xám là thích hợp cho cây công nghiệp và hoa màu, trở ngại là thiếu nước mùa khô và đất nghèo (Phan Liêu, 1992)
- Trong hội thảo về tiềm năng đất dốc đã ghi nhận thêm đất xám trên phù sa cổ cũng thích hợp cho cây ăn trái và đặc biệt là các loại hoa màu cạn như sắn, lạc, mía, thuốc lá, đậu đổ, rau xanh (Hội thảo về đất dốc, 1997)
4 Mô hình sản xuất nông nghiệp trên đất dốc ở nước ngoài
Theo Chiu và Chen (2000) các mô hình sản xuất nông nghiệp trên đất dốc ở nước ngoài gồm có 4 loại:
Trang 13- SALT1: Kỹ thuật canh tác nông nghiệp đất dốc (Sloping Argicultural Land Technology).
- SALT2: Kỹ thuật canh tác nông súc đơn giản (Simple Agro-livestock Technology)
- SALT3: Kỹ thuật canh tác nông - lâm kết hợp bền vững (Sustainable Agroforest LandTechnology)
- SALT4: Kỹ thuật sản xuất nông nghiệp kết hợp với cây ăn quả quy mô nhỏ (SmallAgro-fruit Livelihood Technology)
Nội dung của các kỹ thuật nầy như sau:
4.1 Mô hình kỹ thuật canh tác nông nghiệp đất dốc (SALT1) Đây là một mô hình tổng hợp dựa trên mô hình phối hợp tốt các biện pháp bảo vệ đất với sản xuất lương thực mà người nông dân có thể thực hiện được như sau:
Trong mô hình, người ta bố trí những cây cố định trên những băng rộng 4 – 6 m tùy theo
độ dốc, nếu dốc mạnh thì băng hẹp (4 m), nếu dốc nhẹ thì băng trồng rộng (6 m) Các băng đó được trồng theo đường vành nón ngang dốc, một số băng trồng cây hàng năm như lúa, lạc, đỗ, ngô xen kẽ với một số băng trồng cây dài ngày như chanh, chuối, ca cao Nhờ vậy mà có được thu hoạch đều đặn trong cả năm và nếu bị rủi ro mất mùa đối với cây này thì còn cây khác được thu hoạch để bù đắp một phần
Giữa các băng cây còn được trồng xen những hàng cây cố định đạm để giữ đất chống xói mòn, làm phân xanh và lấy củi đun Cây cố định đạm được trồng dày theo hàng đôi ngang dốc
để tạo thành rào xanh Khi cây cao 1,5 – 2 m, chừa lại một phần gốc cao 40 – 50 cm để tiếp tục đâm chồi, cắt phần trên xếp vào gốc vừa chặn dòng chảy vừa bón lại cho đất Cây cố định đạm thường được dùng là cây keo dậu, muồng hoa pháo, muồng ba lá dài
Cơ cấu cây được sử dụng để đảm bảo được sự ổn định và có hiệu quả nhất là 75% cây nông nghiệp và 25% cây lâm nghiệp Trong cây nông nghiệp thì 50% là cây hằng năm và 25% là cây lâu năm
Hằng năm, người nông dân thu thập được một lượng hàng hóa tăng gấp rưỡi so với cách trồng sắn độc canh của họ Thu nhập bình quân của một gia đình bằng mô hình này ở phía Nam Philippin được hơn 50 đô la Mỹ trong 1 tháng Đó là chưa kể những lợi ích thu được về nhiều mặt khác nhờ có tác dụng phòng chống xói mòn giữ đất, giữ nước tăng 4 lần, tăng được năng suất cây trồng gấp 5 lần, hoàn trả và duy trì được độ phì đất, đa dạng hơn được sản phẩm thu hoạch, tăng thêm được việc làm, tận dụng được mọi nguồn lao động trong gia đình
Đây là mô hình sử dụng đất dốc tổng hợp nhưng đơn giản, cần vốn ít, đầu tư thấp Các
hộ gia đình chỉ cần một số vốn nhỏ để mua giống và phân bón với công cụ cuốc xẻng thông thường và một số hiểu biết về cây trồng và kỹ thuật canh tác là có thể thực hiện được
4.2 Mô hình kỹ thuật nông – súc kết hợp đơn giản (SALT2) Đây là một mô hình sử dụng đất tổng hợp dựa trên cơ sở phát triển mô hình kỹ thuật canh tác nông nghiệp đất dốc (SALT1) nói trên bằng cách dành một phần đất trong mô hình đó
để chăn nuôi theo phương thức nông – lâm – súc kết hợp
Ở Philippin, người ta chú trọng ứng dụng việc nuôi dê trong hệ thống để lấy thịt và sữa Một phần tư héc ta đất trồng được dành để trồng cây lương thực có hàng rào xanh và hàng cây ngang dốc theo cách làm mô hình kỹ thuật canh tác nông nghiệp đất dốc để chống xói mòn, bảo
vệ đất và ngăn chặn súc vật phá hoại hoa màu Một phần tư héc ta đất trồng khác trồng cây cỏ
Trang 14làm thức ăn cho dê Bằng cách đó, mỗi nhà nuôi 14 con dê, mỗi ngày mỗi con dê có thể cho 2 lít sữa nếu có đầy đủ thức ăn
Cơ cấu sử dụng đất thích hợp ở mô hình này là 40% dành cho sản xuất nông nghiệp, 20% cho trồng cây lâm nghiệp và 20% dành cho chăn nuôi, phần đất còn lại làm nhà ở và chuồng trại Phân chuồng được bón trả lại cho cây trồng trong mô hình
Tác dụng của mô hình này rất rõ ràng, ngoài lợi ích về chống xói mòn bảo vệ đất và các nông lâm sản thu được còn có thịt, sữa và phân bón cho đất nên việc canh tác và sử dụng đất được lâu bền hơn
4.3 Mô hình kỹ thuật canh tác nông – lâm kết hợp bền vững (SALT3)
Đây là một mô hình sử dụng đất tổng hợp dựa trên cơ sở kết hợp trồng rừng quy mô nhỏ với việc sản xuất lương thực thực phẩm
Ở đây, người nông dân dành phần đất nơi thấp hơn là phần sườn dưới và chân đồi núi để trồng các băng cây lương thực xen với các hàng rào xanh cây cố định đạm theo kiểu mô hình kinh tế canh tác nông nghiệp đất dốc (SALT1) Còn phần đất cao ở phía trên, thường là sườn trên hoặc đỉnh đồi núi thì trồng rừng hoặc để rừng phục hồi Cây lâm nghiệp được chọn để trồng theo thời gian thu hoạch được chia ra thành các loại từ 1 – 5; 6 - 10; 11 - 15; 16 – 20 năm sao cho có thể thu được sản phẩm cao nhất và đều đặn Ở Philippin thường dùng các cây mọc nhanh
và cho gỗ nhỏ để làm củi, làm giấy, làm cột vừa có tác dụng cải tạo đất như keo dậu Philippin, bản xe lá phượng, lõi thọ, tếch và được trồng theo băng hoặc theo đám xen kẽ nhau
Cơ cấu sử dụng đất thích hợp ở đây là 40% dành cho nông nghiệp và 60% cho lâm nghiệp Bằng cách đó đất đai được bảo vệ có hiệu quả hơn, đồng thời vẫn có đủ lương thực, thực phẩm, gỗ củi và nhiều sản phẩm phụ khác, tăng được thu nhập cho người nông dân
Mô hình này tuy đòi hỏi đầu tư cao hơn cả về vốn liếng cũng như sự hiểu biết và thời gian nhưng khả năng sinh lợi không nhỏ, không chỉ cho trước mắt nhất thời mà cả về lâu dài nhờ
có hỗ trợ nhiều mặt của rừng
4.4 Mô hình sản xuất nông nghiệp với cây ăn quả quy mô nhỏ (SALT4)
Đây là một mô hình sử dụng đất tổng hợp được xây dựng và phát triển từ năm 1992 dựa trên cơ sở hoàn thiện các mô hình nói trên
Trong mô hình này, ngoài đất đai dành để trồng cây lương thực, cây lâm nghiệp, cây hàng rào xanh còn dành ra một phần để trồng cây ăn quả Tập đoàn cây ăn quả nhiệt đới được chú ý đặc biệt do sản phẩm của nó có thể bán để thu tiền mặt và cũng là những cây lưu niên có thể duy trì được sự ổn định và lâu bền hơn về môi trường sinh thái so với cây hằng năm
Ở Philippin, trong các mô hình canh tác nông nghiệp đất dốc (SALT1), người ta thường dành 3000–4000 m2 hoặc 5000–7000 m2 để trồng cây ăn quả như đu đủ, chuối, cam, chanh, xoài, dứa, dừa và cả một số cây công nghiệp có giá trị như cà phê, ca cao, chè Đối với các loại cây này đòi hỏi đất đai phải tốt và có sự đầu tư thâm canh cao hơn về các biện pháp cày cuốc, làm đất, bón phân, chọn giống, chăm sóc Tuy nhiên, đây cũng là những loại cây gần gũi quen thuộc với người nông dân, chỉ cần giúp họ hiểu biết về khoa học kỹ thuật bằng cách cho họ tham gia trình diễn là họ có thể ứng dụng được
Cũng như các mô hình trên, trong mô hình này, cây cố định đạm cũng được đặc biệt chú
ý, ngoài các tác dụng đã biết, nó còn có tác dụng che bóng và phủ đất cho cây ăn quả và cây công nghiệp Có 9 tiêu chuẩn để chọn lựa cây hàng rào xanh cố định đạm là: dễ gieo trồng; cho năng suất sinh khối cao; nguồn giống dễ kiếm; khả năng hoai mục các cành khô, lá rụng nhanh;
Trang 15có khả năng cố định đạm; có thể làm củi; làm thức ăn cho gia súc; chịu hạn và chống chịu được sâu bệnh hại
Ở Philippin người ta đã chọn được 5 loại cây đáp ứng được các tiêu chuẩn trên là cây Phomingia macrophyla, Desmodium rensonii, Glyricidia sepium, keo dậu chịu đất chua và muồng hoa pháo Những cây này tuy không có ở nước ta nhưng cũng đã có những khảo nghiệm bước đầu có một số cây có triển vọng phát triển tốt ở một số vùng như cây muồng hoa pháo ở Hòa Bình, Sơn La; cây Gliricidia trồng ở Bắc Thái, Đồng Nai (Nguyễn Xuân Quát, 1999) Các cây hoa màu được trồng trong hệ thống gồm rau đậu, ngũ cốc và rau cải
4.5 Các mô hình khác Các tài liệu sau đây có liên quan đến mô hình canh tác đất dốc tại Philippin, Thái Lan, Đài Loan, Inđônêsia gần giống với điều kiện canh tác của Việt Nam
Theo Chiu và Chen (2000) tại Indonesia, các hệ thống canh tác trên cơ sở bảo tồn đất được áp dụng nhiều để chống xói mòn đất do mưa, chảy tràn và mất đất làm tăng năng suất cây trồng, bảo đảm an ninh lương thực Các thí nghiệm đưa ra hệ thống canh tác thích hợp như bắp - màu (bắp - đậu nành, bắp - đậu phộng, đậu xanh) cho năng suất và lợi tức cao đồng thời sử dụng thân lá để làm chất tủ gốc, chất phủ đất
Tại Hàn quốc, Chiu và Chen (2000) khuyến cáo trồng các loại cây tùy theo độ dốc Độ dốc 2% trồng lúa, 2-7% hoa màu cạn, 7-12% cây ăn trái hoặc dâu tằm, 15-45% trồng cỏ và
>45% trồng rừng
Tại Đài Loan, chính sách đa canh và thâm canh đất nông nghiệp nói chung chia làm 3 thời kỳ Từ 1945-1973 chính sách gia tăng nông nghiệp khuyến khích thâm canh đất trồng Thời
kỳ hai từ 1974-1983 nhằm vào sản xuất lúa, các chỉ tiêu đa canh giảm dần Thời kỳ ba từ
1984-1999 giảm sản xuất lúa, đa canh giảm liên tục và đạt đến điểm thấp nhất ( Fenn, Ho & Hoang, 2001)
5 Mô hình sản xuất nông nghiệp đất dốc trong nước
Tại miền Bắc Việt Nam, lúa, sắn chè, lạc là những cây trồng quan trọng nhất ở trung du (Lê Trọng Cúc, 1990) Xây dựng rừng tự nhiên trên đất trống đồi núi trọc các mô hình trồng rừng và các biện pháp quản lý cỏ dại, làm thức ăn gia súc như: thỏ ăn cỏ, búp non, một vài thứ thức ăn thừa; gà ăn sâu bọ, lá xanh, quả rụng, hạt; vịt làm sạch dòng nước, ăn cỏ, rong tảo, thân
củ, ăn sâu, bọ, sên, ốc; ngỗng ăn cỏ hòa thảo, cỏ họ đậu; các mô hình chăn nuôi gia súc có sừng (Lê Trọng, 2004)
Tại miền Đông Nam bộ, Phạm Quang Khánh (1995) đã nghiên cứu hệ thống sử dụng đất xám Theo đó trong 10 hệ thống sử dụng đất không được tưới có đến ba hệ thống lấy cây bắp làm chính xen cây họ đậu trong đó có đậu xanh Ngoài ra còn có hệ thống trồng lúa mùa địa phương Các hệ thống canh tác trên đất xám có tưới và không tưới được trình bày trong bảng 5 Bảng 5: Các hệ thống canh tác chính trên đất xám Đông nam bộ Đvt: (1000 đ/ha)
+Có tưới
+Không được tưới
Trang 16-Đậu phộng HT+Lạc xen đậu xanh mùa 5.250 8.750 3.500 0,67 Thấp
Theo báo cáo của Nguyễn Duy Cần (1996) trong hệ thống canh tác của nông dân tiên tiến Phạm Văn Nhỏ tại xã Lê Trì đã cho biết hình thức xen canh ở đất dốc là khoai mì + đậu xanh cho năng suất khoai mì là 30 t/ha và đậu xanh là 500 kg/ha
Theo Nguyễn Bảo Vệ (2001) đã đề xuất một mô hình chung cho vùng đất xám cao vùng đất cát Bảy Núi, vùng chân núi là hệ thống canh tác tổng hợp bao gồm trồng cỏ chăn nuôi bò và trồng rau màu (lúa, đậu, bắp) và hệ thống cây chắn gió (cây lâm nghiệp hoặc cây ăn trái phân tán) cộng với cỏ ngăn dòng chảy (trồng cỏ Vetiver phân tán chống xói mòn)
Trong bài tham luận tại Đại hội Đại Biểu Nông Dân Sản Xuất Kinh Doanh Giỏi Lần I Huyện Tri Tôn của ông Nguyễn Thành An là nông dân xã Tân Tuyến – Tri Tôn – An Giang Mô hình 2 Dưa Hấu + 1 Lúa trên đất ruộng trong điều kiện đủ nước tưới rất có hiệu quả: vụ lúa Đông Xuân đạt năng suất 8 tấn/ha/vụ; vụ dưa hấu tết đạt năng suất 25 tấn/ha/vụ, giá bán từ 1.600
- 2.500đ/kg trong khi giá thành sản xuất chỉ 700 – 850 đ/kg Với diện tích đất 1 ha mỗi năm ông
An thu nhập gần 120 triệu đồng (Hội nông dân huyện Tri Tôn, 2004)
Tính bền vững của một hệ thống cây trồng dựa vào 4 điều kiện sau:
- Hệ thống đó ổn định được năng suất kinh tế trong các điều kiện môi trường bất thuận
và giữ được môi trường không suy thoái trong thời gian dài
Trang 17- Sau một thời gian ngắn thu được hiệu quả kinh tế ngay đồng thời duy trì được hiệu quả kinh tế như vậy trong theo gian dài dù rằng có những điều kiện bất lợi tác động lên hệ thống
- Các hệ thống cây trồng bền vững cũng ngụ ý chỉ một số khía cạnh về phúc lợi xã hội như bình đẳng xã hội, công việc ít nặng nhọc, nam nữ và trẻ em đều bình đẳng
- Hệ thống có khả năng uyển chuyển và thích ứng được với các điều kiện môi trường khác nhau
Theo Trung Tâm thông tin về Hệ thống Nông nghiệp lựa chọn (AFSIC): Quốc Hội Mỹ
đã thông qua điều luật về nền nông nghiệp bền vững định nghĩa như sau:
Nền nông nghiệp bền vững là một hệ thống canh tác tổng hợp cây trồng và vật nuôi được áp dụng riêng biệt trong một thời kỳ dài mà nó sẽ:
- Thỏa mãn nhu cầu lương thực và chất xơ cho con người
- Tăng cường chất lượng môi trường và nền tảng của nguồn tài nguyên thiên nhiên mà nền kinh tế nông nghiệp dựa vào
- Sử dụng tổng hợp có hiệu quả nhất các nguồn tài nguyên không hồi phục và nguồn tài nguyên trong nông trại một cách thích đáng, tự nhiên
- Áp dụng các chu trình sinh học và kiểm soát
- Làm bền vững khả năng tồn tại và phát triển quá trình hoạt động của nông trại
- Tăng cường chất lượng cuộc sống cho nông dân và xã hội nói chung
Theo Võ-Tòng Xuân (2005) khuyến cáo không nên làm 3 vụ lúa đại trà ở ĐBSCL như sau:
Quan điểm phát triển nền nông nghiệp bền vững là không nên phát triển đại trà lúa 3 vụ ở ĐBSCL Hãy cho đất nghỉ, đưa lũ tràn vào để lấy phù sa, diệt trừ sâu bệnh Nông dân còn có nguồn lợi tự nhiên để khai thác, đa dạng loại hình kinh tế, tăng thu nhập Còn nếu canh tác vụ ba trong đê bao thì nên hướng đến canh tác lúa giống, cây màu nhưng đặc biệt cũng cần xen lẫn những vụ nghỉ để lũ vào đồng Ngay cả trồng màu, các địa phương cũng phải chú ý đến vấn đề đầu ra Đó là cái khó của ĐBSCL, không giải quyết được nó thì người dân vừa cực vừa nghèo thêm…
Hiện nay, nhiều địa phương có đê bao đang chạy theo thành tích báo cáo lên trên để nông dân ồ ạt sản xuất lúa vụ 3 Thậm chí còn làm 7 vụ/2 năm Tôi biết chắc những nông dân này không thể nào làm giàu từ mảnh ruộng của mình trong khi phân bón thuốc men phải dồn dập đổ xuống dẫn đến suy thoái đất vì mất cân bằng dưỡng chất
Xây dựng đê bao, bờ bao đã khó, đã tốn kém (chưa nói đến đúng hay sai), nhưng làm sao
để các công trình đó hoạt động theo đúng thiết kế xem chừng còn khó hơn Tôi biết có đê bao làm xong một, hai năm được bữa ra cho lũ vào, nhưng sau đó kiên cố luôn để không cho một giọt lũ nào vào đồng Lý do địa phương đưa ra là không còn đất, còn cừ để hàn lại đê bao nếu cứ làm như vậy, nhưng còn có lý do không nói ra là áp lực của cái lợi trước mắt Thậm chí, nhiều
đê bao được thiết kế cống bọng để chủ động điều tiết lũ vào đồng, nhưng suốt nhiều năm liền không thấy giọt lũ nào vào đồng, ngoài chuyện làm giảm năng suất, ô nhiễm môi trường sinh hoạt sống và đất đai nông nghiệp cũng đến mức báo động
6.2 Vai trò cây phân xanh đối với HTCT bền vững trên đất dốc Theo Thái Phiên và Nguyễn Tử Siêm (1998) cho biết vai trò cây phân xanh phủ đất đối với nền nông nghiệp sinh thái bền vững trên đất dốc thể hiện ở chỗ:
Trang 18• Tạo một lớp phủ nhanh chóng bảo vệ đất chống xói mòn và dòng chảy bề mặt
• Giữ dinh dưỡng khỏi trôi theo chiều sâu và kéo dinh dưỡng dưới sâu lên tầng canh tác
• Bổ sung vào chất lượng dinh dưỡng cây trồng đáng kể, đặc biệt là đạm (từ 200 300kg N/ha) và kali (300 -500kg/ha), chống giữ chặt lân và giải phóng lân dễ tiêu
-• Nâng cao dung tích hấp thu và thành phần kim loại kiềm trong dung tích hấp thu
• Tạo cấu trúc đất, làm cho đất tơi xốp, tăng độ thấm nước, giữ nước
• Điều hòa tiểu khí hậu khu vực và môi trường đất xung quanh hệ rễ
• Cải thiện căn bản thành phần nông phẩm vùng đồi núi, tăng thành phần protein trong bữa ăn con người và thức ăn gia súc
• Tăng thêm nguồn gỗ củi đun và góp phần cải thiện môi trường
Cũng theo Thái Phiên và Nguyễn Tử Siêm (1998) cho biết năm 1927 nhà nông học Pháp Chauvin đã thu thập và thử nghiệm tại Pleiku một tập đoàn cây phân xanh gồm 62 giống bản địa
và nhập nội từ Jakarta Kết quả chọn được 12 giống phân xanh thích hợp để làm cây tiên phong cải tạo đất hoặc trồng xen trong vườn cây lâu năm như chè, cà phê, cao su, cây ăn quả Đó là: Đậu triều (Cajanus indicus) Đậu lông (Calopogonium mucunoides)
Đậu bướm (Centrosema pubescens) Sục sạc mũi mác (Crotalaria anagyroides)
Sục sạc lá tròn (Crotalaria striata) Sục sạc lá dài (Crotalaria urasamoiensis)
Hàn the (Desmodium gyroides) Tràm dây (Desmodium gyroides)
Trinh nữ (Mimosa invisa) Cốt khí (Tephrosia candida)
Cốt khí (Tephrosia maxima) Cốt khí (Tephrosia vogelii)
Từ năm 1949-1952 tại Trung tâm Nghiên cứu nông nghiệp Blao (Lâm Đồng) một tập đoàn cây phân xanh phủ đất thuộc họ Đậu đã được khảo nghiệm bởi A Chavaney & J Lanfranchi Sau 6 năm nghiên cứu hai ông đã rút ra kết luận trên đất đỏ bazan có 5 cây phủ đất tốt nhất, trong đó cây quì dại là cây cho năng suất chất xanh cao nhất, tới 100 t/ha chất xanh: Đậu triều (Cajanus indicus), Cốt khí (Tephrosia maxima) Cốt khí (Tephrosia vogelii), Muồng hôi (Cassia hirsita), Quì dại (Tithonia diversifolia)
Đến những năm 2000-2005, Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền nam trong chương trình hợp tác với Đại Học Công giáo Leuven, Vương quốc Bỉ về làm giàu quỹ lân cho đất Đông nam bộ và Tây nguyên trên các điểm thí nghiệm xã Đà Loan (Lâm Đồng), xã Đak Nhau (Bình Phước) và xã Nghĩa Hòa, xã Iablang (Gia Lai) kết luận:
• Cây tóp mỡ (Flemigia sp), đậu mèo (Mucuna pruriens), sắn dây dại (Pueraria phaseoloides) và quì dại (Tithonia diversifolia) có tiềm năng cho năng suất thân lá cao và ổn định (trên 10 tấn/ha) Năng suất thân lá tươi trung bình của tóp mỡ, đậu mèo và sắn dây dại qua các điểm nghiên cứu đạt từ 11,0- 12,5 t/ha/năm Đặc biệt đối với cây quì dại đạt trên 20 t/ha/năm (Phan Thị Công, Roel Merckx, Công Doãn Sắt, Nguyễn Quang Chơn, Nguyễn Bình Duy, 2005)
7 Sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Theo Võ-Tòng Anh (2005) định nghĩa :
Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi là tập trung vào việc chuyển đổi từ cây trồng có giá trị thấp sang cây có giá trị cao hơn, sang chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản Mặc dù “cây có giá trị thấp” được xác định băng giá trị của nó trên một đơn vị trọng lượng, song hợp lý hơn cả có thể xác định đó là những cây trồng mang lại lợi ích kinh tế cao trên một đơn vị diện tích ruộng đất hoặc công lao động
Trang 19Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi là thực hiện một bước chuyển từ trạng thái cơ cấu cây trồng vật nuôi cũ sang trạng thái cơ cấu cây trồng, vật nuôi mà mình mong muốn để có thể đáp ứng được những yêu cầu của chuyển đổi Thực chất của việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi là thực hiện một loạt các biện pháp chính sách nhằm thúc đẩy phát triển cơ cấu cây trồng, vật nuôi mới có triển vọng về thị trường
Theo chủ trương chuyển cơ cấu nông nghiệp nông thôn của tỉnh cho hai huyện miền núi Tri Tôn và Tịnh Biên là: vùng đất ruộng bưng trũng chịu một mùa lũ kéo dài năm tháng nên phát triển diện tích trồng tràm, trồng khoai mì hoặc một vụ lúa mùa + một vụ rẫy đông xuân; vùng ruộng trên có thể áp dụng một trong bốn hệ thống: đồng cỏ chăn nuôi, đậu xanh Hè Thu + lúa mùa (KDM 105), chuyên rẫy màu Hè Thu – màu Thu Đông, chuyên rẫy khoai mì (Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn An Giang, 2001)
II PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Phương tiện nghiên cứu
- Các phiếu điều tra
- Dùng chương trình Microsoft Excel (máy tính) để phân tích và tổng hợp số liệu
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Thể thức thống kê Hình thức nghiên cứu là phỏng vấn, điều tra kinh tế hộ các nông hộ làm nông nghiệp để lấy số liệu Tiến hành điều tra 273 hộ chọn ngẫu nhiên trong 3 xã theo tỷ lệ: 91 hộ nghèo: 91 hộ trung bình: 91 hộ giàu Tính trung bình các chỉ tiêu giữa các nông hộ
2.2 Phương pháp tiến hành
2.2.1 Chọn vùng và điểm nghiên cứu Vùng các xã chung quanh chân núi Dài gồm các điểm hộ nông dân thuộc 2 xã Lương Phi, Lê Trì và thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang Chung quanh núi Dài gồm có 4
xã, chọn 3 xã điểm đại diện như trên đều có núi và đất bằng
2.2.2 Thu thập các số liệu thứ cấp:
- Điều kiện tự nhiên
- Kinh tế - xã hội: Các báo cáo của các cơ quan nông nghiệp, báo cáo kế hoạch năm của UBND xã điểm và huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang
2.2.4 Điều tra bằng phương pháp phỏng vấn với bảng câu hỏi
- Chọn mẫu điều tra: 273 hộ nông dân (phỏng vấn có dư 300 phiếu để chọn lọc lại)
+ Phân phối đều trong các ấp (17 khóm, ấp): 1 khóm, ấp từ 12 - 16 mẫu điều tra
+ Phân phối ngẫu nhiên trong các hộ: từ 10 – 15 hộ tiến hành điều tra 1 hộ
Trang 20- Nội dung và hình thức điều tra: điều tra theo phiếu điều tra đã thiết kế sẵn theo mẫu của Viện Hệ Thống Canh Tác Đại học Cần Thơ
- Tổng hợp và phân tích mẫu điều tra: Hoàn chỉnh các phiếu điều tra và tiến hành nhập
số liệu (bảng biểu đã thiết kế sẵn)
- Xử lý số liệu: Số liệu được xử lý bằng Microsoft Excel Các giá trị được tính là: Giá trị trung bình (mean), giá trị lớn nhất (max), giá trị nhỏ nhất (min), giá trị phần trăm (%)
- Bổ sung số liệu: Các phiếu còn thiếu thông tin hoặc thông tin sai lệch thì tiến hành phỏng vấn lại và nhập số liệu bổ sung
3 Phân tích thống kê mô tả các chỉ tiêu
Tính trung bình tất cả các chỉ tiêu của các nông hộ như:
- Phân tích nguồn lực nông hộ + Nguồn lực về lao động
+ Nguồn lực về đất đai
+ Nguồn lực về phương tiện sinh hoạt gia đình: phương tiện giao thông, tài sản gia đình phục vụ cho hoạt động vui chơi giải trí, công cụ lao động phục cho hoạt động sản xuất nông nghiệp,…
+ Nguồn lực về việc sử dụng nước
- Cơ cấu thu nhập của nông hộ
+ Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp: trồng lúa, trồng màu, chăn nuôi,…
+ Thu nhập từ phi nông nghiệp và dịch vụ
+ Chi tiêu gia đình trong một năm
+ Tích lũy (hay tiền để dành) hàng năm
- Phân tích sản xuất các mô hình canh tác (mùa vụ, cây trồng, lợi nhuận,…)
+ Cơ cấu mùa vụ sản xuất lúa 2 vụ
+ Cơ cấu mùa vụ trồng màu
+ Cơ cấu mùa vụ trong chăn nuôi
+ Tương hỗ giữa chăn nuôi và trồng trọt
+ Những thuận lợi và khó khăn chung của nông dân
+ Vai trò của giới trong sản xuất nông nghiệp
+ Các ý kiến đề xuất của nông dân
- Phân tích hiệu quả kinh tế các mô hình canh tác của nông hộ
+ Doanh thu, chi phí, lợi nhuận từ sản xuất lúa 2 vụ
+ Doanh thu, chi phí, lợi nhuận từ trồng màu
+ Doanh thu, chi phí, lợi nhuận từ chăn nuôi
4 So sánh các chỉ tiêu tài chính các mô hình canh tác phổ biến và tiên tiến
Dùng các chỉ tiêu lợi nhuận, lãi/vốn, lãi/vật tư, lãi/lao động để đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình và các chỉ tiêu doanh thu biên, lợi tức biên để so sánh các mô hình hiệu quả cao, tiên tiến với mô hình trồng đại trà
4.1 Các chỉ tiêu phân tích mô hình Các chỉ tiêu sau dùng để phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình (Nguyễn Văn Sánh, 1997); (Nguyễn Thị Song An, 2001)
4.1.1 Lợi nhuận (RAVC: Return Above Variable Cost)
Trang 21Thu nhập trên biến phí
TVCGR
Trong đó: GR = Sản lượng X Đơn giá; (GR: Gross Revenue)
TVC = Phí vật tư + Phí lao động (TVC: Total Variable Cost ) Mục đích: tính lợi nhuận của các mô hình sản xuất, đánh giá được các mô hình này có lợi nhuận cao hay thấp so với mô hình sản xuất tiên tiến
4.1.2 Hiệu quả đồng vốn
TVCE=
TVC
RAVC( Lãi/vốn) (TVCE: Total Variable Cost Efficiency) Mục đích: Tính được 1 đồng vốn biến phí mang lại bao nhiêu đồng lãi
4.1.3 Lợi tức/nhân tố đầu tư
FACTORGR−TVC A Trong đó: nhân tố A (factor A) là lao động hoặc vật tư
Mục đích: Đánh giá mức sử dụng đồng vốn và công lao động so với lợi nhuận thu được
từ các mô hình sản xuất
4.2 Các chỉ tiêu so sánh giữa 2 mô hình Các chỉ tiêu sau dùng để so sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình HTCT đang được trồng đại trà (mô hình phổ biến) với mô hình có hiệu quả cao (mô hình tiên tiến) tại vùng nghiên cứu (Kay, 1988)
4.2.1 Tỉ số lợi nhuận mô hình tiên tiến/ phổ biến là tỉ số suy ra từ phép phân tích điểm hòa vốn (Break-even budgeting analysis) trong phân tích kinh tế toàn nông trại (Whole Farm Analysis)
Theo phương pháp tính nầy, trước hết là năng suất sau đó là sản lượng và giá đầu ra của
mô hình mới phải cao hơn mô hình hiện đang canh tác thì nông dân mới chấp nhận chuyển đổi sang mô hình mới Do đó, phải thỏa mãn điều kiện của hệ phương trình:
RAVCn = 0 (1) Trong đó: - RAVCn : lợi nhuận của mô hình tiên tiến
RAVCn ≥ RAVCf (2) - RAVC f : lợi nhuận của mô hình phổ biến
Thông thường, RAVCn phải cao hơn RAVCf của nông dân ít nhất 30% để kích thích nông dân áp dụng mô hình mới, nghĩa là RAVCn = 1,3 RAVCf
4.2.2 Tỉ số doanh thu/chi phí biên (MRCR: Marginal Revenue Cost Rate)
là tỉ số giữa mức thu tăng thêm và mức chi tăng thêm trên một đơn vị diện tích 1 ha của mô hình tiên tiến so với mô hình phổ biến Ý nghĩa: nếu mức chi tăng thêm 1 đồng thì mức thu sẽ tăng thêm A lần/1 đồng
1 2
1 2
TVCTVC
GRGRMRCR
−
−
=
Trong đó: GR 2 : Tổng thu mô hình sản xuất có hiệu quả cần so sánh (tiên tiến)
GR 1 : Tổng thu mô hình sản xuất được trồng đại trà (phổ biến).
TVC 2 : Tổng chi phí mô hình sản xuất có hiệu quả cần so sánh (tiên tiến)
TVC 1 : Tổng chi phí mô hình sản xuất được trồng đại trà (phổ biến)
Trang 22Mục đích: so sánh doanh thu tăng thêm giữa các mô hình sản xuất tiên tiến và mô hình sản xuất phổ biến
• Nếu MRCR > 1: Doanh thu mô hình sản xuất tiên tiến có hiệu quả hơn mô hình sản xuất phổ biến
• Nếu MRCR = 1: Hiệu quả đầu tư không thay đổi
• Nếu MRCR < 1: Doanh thu mô hình sản xuất tiên tiến không hiệu quả
4.2.3 Thu nhập biên (Marginal Return Rate) là tỉ số giữa lợi nhuận tăng thêm và chi phí tăng thêm trên một đơn vị diện tích 1 ha
1 2
1 2
TVCTVC
RAVCRAVC
MRR
−
−
=
Trong đó: RAVC 2 : Lợi nhuận mô hình sản xuất tiên tiến
RAVC 1 : Lợi nhuận mô hình sản xuất phổ biến
TVC 2 : Tổng phí mô hình sản xuất tiên tiến
TVC 1 : Tổng phí mô hình sản xuất phổ biến
Mục đích so sánh: Tính được lợi nhuận tăng thêm khi chi phí gia tăng của các mô hình tiên tiến so với mô hình phổ biến
5 Lựa chọn mô hình hiệu quả tài chính cao
Dùng các chỉ tiêu tài chính như hiệu quả đồng vốn, lợi nhuận, tỉ số lợi nhuận, MBCR, MRCR trong đó 2 chỉ tiêu lợi nhuận so sánh và MBCR cao có tính quyết định là mô hình tiên tiến hiệu quả hơn hay không so với mô hình phổ biến Nếu hai chỉ tiêu nầy bằng nhau mới xét đến các chỉ tiêu kế tiếp
6 Đề xuất mô hình HTCT có hiệu quả cao và bền vững
Dùng các tiêu chí của Phân viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp để chọn lựa các mô hình HTCT gồm có:
1 Gia tăng lợi nhuận nông hộ
2 Thỏa mãn mục tiêu Nhà nước
3 Thúc đẩy tiềm năng sản xuất vùng
4 Bảo vệ môi trường bền vững Mỗi tiêu chí được đánh giá bằng thang điểm 1 đến 3 Điểm 1: *** Hiệu quả cao
Điểm 2: ** Hiệu quả trung bình Điểm 3: * Hiệu quả thấp
Mô hình nào đạt được ít nhất 2 tiêu chí với hiệu quả cao thì được chọn Từ các
mô hình được chọn sẽ thiết kế được ít nhất 2 mô hình có hiệu quả cao và bền vững để khuyến cáo nhân rộng cho toàn vùng nghiên cứu
Trang 23CHƯƠNG II
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU & PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
A MÔ TẢ ĐIỂM
I MÔ TẢ ĐẶC ĐIỂM VÙNG NGHIÊN CỨU
Vùng nghiên cứu bao gồm 2 xã Lương Phi, Lê Trì và thị trấn Ba Chúc nằm quanh chân núi Dài thuộc huyện miền núi Tri Tôn Địa hình đất đai đa dạng bao gồm đồi núi có diện tích trồng rừng lớn, đồng bằng trồng lúa và nhiều loại hoa màu rất phong phú về tiềm năng Tuy nhiên, tại các vùng trên cũng tồn tại những khó khăn nhất định: địa hình rất phức tạp, đất đai phân tán, bậc thang, đất thường thiếu nước vào mùa khô Mặc dù có nhiều khó khăn, song với sự
nỗ lực vượt khó cải thiện trong hệ thống canh tác của các nhà lãnh đạo các xã cùng với sự ủng
hộ nhiệt tình của nhân dân trong xã nhà nên đã đạt nhiều thành tựu nổi bật Diện tích đất nông nghiệp qua nhiều năm được cải tạo, nay đã trở thành đất thuộc canh tác lúa 2 vụ, diện tích gieo trồng lên đến 66.281,6 ha (2003) trên tổng diện tích Vùng nghiên cứu có tổng số dân là 29.565 người (2003), trình độ dân trí của người dân hiện tại tăng lên đáng kể, tỷ lệ con em đang học phổ thông, THCN, cao đẳng, đại học ngày càng cao
Vùng nghiên cứu có phần lớn người dân sống bằng nghề nông, nên tính kiên trì chịu khó, cần cù sáng tạo của người dân trong xã thể hiện rất cao Từ đó việc triển khai kế hoạch Kinh tế -
Xã hội luôn đạt hiệu quả cao nhưng tốc độ còn chậm, nhất là sự phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi của tỉnh đề ra
1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Lương Phi, Lê Trì và thị trấn Ba Chúc có tổng diện tích đất tự nhiên là 15.208 ha, trong
đó diện tích đất nông nghiệp là 10.693 ha, đất lâm nghiệp là 1.973 ha, đất chuyên dùng là 1.021
ha, đất ở là 408 ha, đất chưa sử dụng là 1.123 ha (Niên giám thống kê huyện Tri Tôn, 2003) Ba
xã Lương Phi, Ba Chúc, Lê Trì nằm ở dưới chân núi Dài nối liền nhau qua hương lộ Tri Tôn – Lương Phi – Ba Chúc – Lê Trì (Hình 1)
Lương Phi là xã miền núi thuộc huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang Hướng Đông giáp xã Châu Lăng; hướng Tây giáp xã Vĩnh Phước, xã Lương An Trà, xã An Tức; hướng Bắc giáp thị trấn Ba Chúc, xã Lê Trì Tại xã Lương Phi, diện tích đất tự nhiên là 4.011 ha Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 2.414 ha, đất lâm nghiệp là 940 ha, đất chuyên dùng là 222 ha, đất thổ cư là
209 ha, đất hoang hóa (đất chưa sử dụng) là 226 ha Nếu phân loại diện tích đất theo hệ thống canh tác thì có 240 ha đất ruộng trên, 210 ha đất vườn tạp, 997 ha đất lâm nghiệp, 10 ha đất núi,
232 ha đất chuyên dùng và 175 ha đất ở (Niên giám thống kê huyện Tri Tôn, 2003)
Thị trấn Ba Chúc thuộc huyện Tri Tôn, cách trung tâm huyện 18 km Với vị trí địa lí: hướng Đông giáp xã Lê Trì, hướng Tây giáp xã Lương An Trà, hướng Nam giáp xã Lương Phi
và hướng Bắc giáp xã Lạc Quới Tổng diện tích tự nhiên 2.056 ha, trong đó diện tích đất núi chiếm 700 ha, diện tích đất nông nghiệp chiếm 721 ha Thị trấn có ba dân tộc sinh sống chủ yếu: Kinh, Khmer và Hoa Tổng dân số của thị trấn là 3.605 hộ (15.499 khẩu), trong đó hộ dân tộc Khmer 183 hộ (844 khẩu), dân tộc Hoa 60 hộ (308 khẩu) Dân số sống bằng nghề mua bán như dịch vụ thương mại, tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ lệ 30%, còn lại 70% chủ yếu sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp (Báo cáo ĐU-UBND Thị trấn Ba Chúc, 2004)
Trang 24Hình 1: Bản đồ vị trí vùng và các điểm nghiên cứu
NÚI DÀI
NÚI CẤM
Điểm nghiên cứu
Vùng nghiên cứu
Trang 25Lê Trì là xã vùng sâu huyện Tri Tôn với địa hình bán sơn địa, có cộng đồng người Khmer khá cao chiếm 65% dân số toàn xã, dân cư phân bố không đồng đều tập trung chủ yếu ở các phum sóc và cặp theo tuyến lộ Ba Chúc – Lê Trì – An Cư Hiện tại xã có ba ấp: An Thạnh, Trung An, Sóc Tức Hướng Đông giáp xã An Cư – An Nông thuộc huyện Tịnh Biên Hướng Tây giáp thị trấn Ba Chúc Hướng Nam giáp xã Lương Phi, Châu Lăng Hướng Bắc giáp Lạc Quới
2 Mặt cắt sinh thái vùng nghiên cứu
Căn cứ vào địa hình, thủy văn, điều kiện đất đai và hiện trạng canh tác mặt cắt sinh thái của vùng nghiên cứu từ trên núi Dài đi xuống có thể chia thành 4 vùng có đặc điểm tương đối khác nhau rõ rệt:
- Vùng trên núi: Với độ cao 571 m, nhiệt độ mát hơn nên thích hợp với cây trồng chịu lạnh như su su, dó bầu, cây ăn trái Độ sâu tầng đất canh tác rất biến thiên, có nơi rất mỏng nhỏ hơn 0,3 m ở triền dốc đá, có nơi lại sâu hơn trên 3 m dọc theo triền suối hoặc thung lũng Nói chung, đất bạc màu vì bị xói mòn dữ dội trong vài ba chục năm qua nhưng từ 10 năm trở lại đây nhờ trồng rừng nên đất được bảo vệ tương đối
- Vùng chân núi: Đất dốc trên 13o nên bị xói mòn mạnh, bị rửa trôi nên đất bạc màu Thêm vào đó, do cát từ trên núi bồi tụ, sa cấu chứa rất nhiều cát có nơi lên đến 60-70% nên đất rất phù hợp với các loại củ như củ sắn, khoai mì, gừng Vấn đề nước tưới rất nan giải, chủ yếu nhờ nước trời ngoại trừ những nơi gần suối có thể bơm nước bằng ống dây hoặc mương máng nổi Nơi đây tập trung đông đảo nhà ở của đại bộ phận dân cư, có đường nhựa giao thông, hệ thống ống cấp nước tiêu dùng và đường dây dẫn điện cho toàn vùng
- Vùng ruộng trên: Đất dốc dưới 8o thuộc loại cát pha thịt, ít bị rửa trôi hơn vùng trên, nước tưới nhờ vào nước mưa nhưng đã có thể bơm bằng máy bơm dẫn từ các kênh mương thủy lợi tuy nhiên không phải lúc nào cũng đủ nước tưới Đặc điểm quan trọng của vùng nầy là nước
lũ hằng năm không ngập tới được Hoa màu phổ biến là bắp, củ sắn, khoai mì, gừng Cũng có những xóm nhà của dân cư ở rải rác
- Vùng ruộng bưng: Đất bằng, độ dốc nhẹ, mặt đất lồi lõm có nhiều bưng trũng Sa cấu thuộc loại thịt pha cát Nơi đây đã có hệ thống thủy lợi để thâm canh tăng vụ, một số nơi đã có
đê bao hoàn chỉnh giúp tăng lên 3 vụ lúa Ngược lại với vùng ruộng trên, vùng nầy hằng năm chịu một thời gian ngập lũ kéo dài 4 đến 5 tháng từ tháng 8 đến tháng 11 dương lịch và cũng chính vì lý do nầy mà đất được bồi tụ một lượng phù sa lớn làm tăng độ phì nhiêu Cây trồng chủ yếu ở đây ngoài lúa 2-3 vụ còn luân canh với cây họ đậu hoặc các loại rau cải, dưa các loại đặc biệt là dưa hấu, hành lá (Hình 2)
3 Thực trạng sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp phát triển đáng kể trong những năm gần đây:
*Tại xã Lương Phi
Về trồng trọt: Diện tích sử dụng và canh tác đất nông nghiệp trên địa bàn xã tăng lên hàng năm Năm 2000 tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 4.690,4 ha, đến năm 2005 tăng lên 4.958 ha Tổng sản lượng lương thực của năm 2000 là 19.477 tấn, đến năm 2005 sản lượng lương thực tăng lên 27.800 tấn Theo Báo Cáo Tổng Kết Tình Hình Kinh Tế - Chính Trị - Xã Hội của xã nhiệm kỳ 2000 – 2005 cho biết, bình quân lương thực đầu người năm 2000 là 2.310 kg/người/năm, năm 2004 là 2.650 kg/người/năm
Trang 26Vùng địa hình Trên núi (Núi Dài,
571m)
nhựa
đủ
Bắp, lúa rẳy, dưa , bầu
bí, đậu xanh, gừng, mì rẳy, đu đủ
mì, củ sắn, lúa 1 vụ
Lúa 2-3 vụ, bắp, rau cải, đậu, dưa hấu
Cây dài ngày
Xoài, mít, điều, chuối, ổi, mãng cầu,
Xoài, mít, điều, chuối,
ổi, tầm vông, đu đủ, mãng cầu, thốt nốt, dừa
Sao, dầu, keo tai tượng, tràm bông vàng, trầm hương, bạch đàn
Khó khăn Độ cao Nước trời Nước trời Đường nhựa hẹp Nước trời Ngập lụt hàng năm
Triển vọng
Có hệ thống hồ chứa nước,phát triển nông lâm bền vững,du lịch
Trang 27Ngành khuyến nông thường xuyên mở các lớp tập huấn cho nông dân, giới thiệu các giống mới, kỹ thuật mới, các mô hình có hiệu quả như: chương trình 3 giảm 3 tăng, lai chọn giống mới Một bộ phận nông dân áp dụng và sản xuất được một số giống lúa mới có chất lượng cao BN1, KDM…Bên cạnh đó, một số nông dân áp dụng các mô hình trồng màu khá hiệu quả như: trồng lúa kết hợp trồng dưa hấu, dưa leo; trồng lúa mùa, đậu phộng, đậu xanh…Thu hoạch dưa hấu khoảng 20 ha đạt năng suất bình quân 3 t/công; mè đen đang thu hoạch khoảng 19,8 ha; đậu phộng có tổng diện tích gieo trồng là 30 ha, thu hoạch được 2 ha, năng suất trung bình 30 giạ/công Đến năm 2005, toàn xã thu hoạch dứt điểm vụ lúa Đông Xuân (2140 ha) đạt năng suất bình quân 6 - 6,5 t/ha Vụ lúa Hè Thu đang xuống giống 170 ha; dưa hấu 12 ha; mì 10 ha; củ sắn
5 ha và mè đen 6 ha Một số giống lúa mùa đang được bà con nông trồng và phát triển như: Nàng Tây Đùm, Bông Sen, Nàng Pha, Chệt Cụt, Nàng Nhen, Tàu Binh, Ba Sào,… Từ đó tình hình sản xuất của bà con nông dân tăng cao, nên lợi nhuận thu được trên cùng diện tích tăng lên đáng kể (bảng 6)
Bảng 6 : Một số cây trồng chủ lực của xã Lương Phi năm 2004
Loại cây trồng Diện tích(ha) Năng suất(tạ/ha) Sản lượng(tấn)
Nguồn: báo cáo tổng kết năm 2005 xã Lương Phi, 2005
Về tình hình sâu bệnh, bệnh đạo ôn xuất hiện trên cây lúa 150 ha, mức độ nhiễm ở cấp 1-
3 và 70 ha nhiễm bệnh ở cấp 5 Do có sự chủ động phòng chống dịch bệnh kịp thời nên đã ngăn chặn được sự gây hại, không ảnh hưởng đến năng suất lúa Về tổ chức các lớp tập huấn khuyến nông cho bà con nông dân: mở một lớp “kỹ năng chọn - tạo giống lúa ở cộng đồng” tại ấp An Nhơn có 33 hộ nông dân tham dự Ngoài ra xã còn phối hợp với trạm khuyến nông phát động chương trình “3 giảm 3 tăng” trước khi xuống giống lúa Hè Thu năm 2005, đăng ký thi đua chương trình 3 giảm 3 tăng có 52 hộ nông dân tham gia với diện tích canh tác 2 vụ Vụ Hè Thu
có 40,24 ha và vụ Đông Xuân tới là 30 ha với 38 hộ nông dân tham gia
Về chăn nuôi: Hiện trên địa bàn toàn xã có nuôi khoảng 1.468 con bò, 750 con heo, gà 7.395 con, vịt đàn 10.170 con và dê là 200 con
*Tại Thị trấn Ba Chúc
Diện tích gieo trồng 1.407 ha, trong đó cây lúa chiếm 1.300 ha, sản lượng lương thực đạt 6.825 tấn, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 9,5%, bình quân thu nhập đầu người đạt 6 triệu đồng/ người/ năm Sản lượng lương thực qui thóc 14.825 tấn Toàn Thị trấn có 610 con bò và 867 con heo, riêng gia cầm đang tiếp tục gây nuôi trở lại
*Tại xã Lê Trì
Do có địa hình đa dạng và phức tạp bao gồm đồi núi với diện tích trồng rừng tương đối lớn, xã có tổng diện tích tự nhiên 26.692 ha, diện tích đất nông nghiệp là 3.250 ha, trong đó một phần diện tích thuộc ruộng trên hằng năm nông dân trồng lúa một vụ, hay trồng đậu xanh, rẫy
mì Ở đồng bằng (ruộng bưng) trồng lúa hai vụ, một số loại hoa màu khác bước đầu đem lại hiệu quả tương đối cao góp phần vào nguồn thu tương đối ổn định cho nông hộ và tỏ ra rất có tiềm năng Bên cạnh đó xã còn có thế mạnh rất lớn trong chăn nuôi, tuy nhiên hiện tại vẫn còn tồn tại những khó khăn nhất định, với địa hình tương đối phức tạp, ở vùng đất cao thường phải thiếu nước vào mùa khô, ở vùng ruộng thấp thì chịu ngập lũ trong mùa nước nổi do đó đã gây không ít
Trang 28khó khăn cho nông dân trong việc sản xuất Tuy nhiên với những nỗ lực của các cấp chính quyền và nông dân trong thời gian gần đây có được những thành tựu đáng kể Trong thời gian qua do có sự đầu tư trong công tác cải tạo hệ thống thủy lợi nên diện tích lúa hai vụ không ngừng tăng lên cũng như diện tích hoa màu, có nơi làm 3 vụ lúa
B ĐÁNH GIÁ NÔNG THÔN CÓ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI
- Khảo sát sơ bộ các mô hình canh tác trong vùng
- Bước đầu tham khảo các điều kiện tổng quát về các mô hình được xem là có hiệu quả Buổi PRA được tiến hành trên cơ sở thảo luận song phương giữa cán bộ trường Đại Học
An Giang và bà con nông dân, nội dung buổi thảo luận xoay quanh một số vấn đề sau:
+ Đất triền bưng: nơi nào có hệ thống đường nước có thể làm hai vụ lúa
+ Đất bưng: làm hai vụ lúa
Nông dân trong vùng phân biệt giữa ruộng triền bưng và ruộng bưng dựa vào nguồn nước
sử dụng:
* Ruộng bưng lấy nước trực tiếp từ sông, nguồn nước mang nhiều phù sa
* Ruộng triền bưng chủ yếu sử dụng nước mưa, đôi khi nước sông có lên đến vùng đất này, nhưng rất hiếm và nguồn nước gần như không còn lượng phù sa
Trang 29- Khóm An Định
Cả vùng đất có tính chất gần như nhau, không phân biệt rõ như ở ấp An Bình Nông dân trong vùng chủ yếu trồng lúa 2 vụ ( ĐX – HT), một số nông dân áp dụng mô hình Lúa ĐX – Màu – Lúa HT
Về năng suất lúa, toàn vùng có đặc tính khác với vùng khác là vụ HT thường cho năng suất cao hơn Đặc biệt theo một số nông dân, vụ HT năm 2003 nông dân thu được năng suất rất cao,
để giải thích cho trường hợp này nông dân cho là có lẽ bà con xuống vụ “đúng tiết” Theo một số
bà con, năng suất vụ HT cao vào khoảng 5,2 – 6 t/ha
- Khóm An Hòa
Hiện nay khóm An Hòa được chia làm các khu vực
+ Khu vực giáp với khóm An Bình
Đất ruộng được nông dân trồng hoa màu, trên những khu vực vườn giáp núi, nông dân đa
số lập vườn, trồng các loại cây như: xoài, đào, tầm vông,… Hiện nay ở độ cao 1/2 núi Dài trở lên phần ngọn núi, bà con đang có phong trào trồng cây Dó (Trầm Hương), phong trào đang phát triển rất mạnh, nhưng hiệu quả của loại cây này chưa xác định được vì mới bước vào giai đoạn ban đầu, cần thêm một thời gian để xác định hiệu quả của nó
Chăn nuôi: chăn nuôi bò còn đang thịnh hành, nông dân có thể dùng lao động nhàn rỗi (nhất là lao động trẻ em) để sinh lời, tuy nhiên, một số nông dân có thể tự hạch toán kinh tế
để hiểu rằng, nếu tính tất cả công trong toàn bộ các khâu nuôi và cả chăm sóc bò và trả lãi ngân hàng, nông dân thu được lợi nhuận rất thấp
Hiện nay, phong trào nuôi dê đang phát triển, một số bà con nhận thấy nuôi dê đem lại lợi ích kinh tế cao hơn nuôi bò
+ Khu vực giáp ranh núi Tượng: đa số nông dân làm rẫy và ruộng, một số hộ làm thêm nghề phụ như: sửa xe đạp, xe gắn máy
+ Khu vực giáp núi Dài: đa số nông dân trồng xoài, phong trào trồng Dó mới xuất hiện một
số năm gần đây Bà con trong khu vực này đang có nhu cầu về chăn nuôi để góp phần phát triển kinh tế
+ Khu vực giáp An Định: đa số nông dân trồng một vụ lúa và một vụ màu, khi kết thúc vụ lúa, nông dân xuống ngay vụ màu Màu thường trồng tại vùng là các loại: bắp, đậu, dưa
để xác định được mô hình phát triển thích hợp trong vùng
2 Lịch thời vụ
Trang 30- Su su hiện nay vẫn còn một số nông dân trồng, nhưng năng suất rất thấp nên diện tích còn rất ít
- Đa số bố trí trồng trầm vào đầu mùa mưa, trầm thích hợp với trồng trên núi hơn là dưới chân núi
- Tầm vông: thường được trồng vào đầu mùa mưa
Vật nuôi
- Bò: có thể được nuôi quanh năm (có khoảng 70% hộ nông dân trong vùng có nuôi bò) Xét về hiệu quả kinh tế: khi nuôi một con bò, nông dân bỏ vốn khoảng 5 triệu, sau khi nuôi 1 năm nông dân có thể thu lời khoảng 1,5 triệu
- Heo, gà: có thể nuôi quanh năm
- Hươu: theo sự hỗ trợ của Chi Cục Khuyến Lâm, cho nông dân vay vốn ngân hàng để phát triển cuộc sống nông thôn
Theo một nông dân đã thử nghiệm qua việc nuôi hươu đã mang lại hiệu quả kinh tế cao Nông dân bỏ vốn 18.300.000đ để mua một cặp hươu bố mẹ, sau khi nuôi một năm thu được một một cặp hươu con và 5,7 kg nhung Giá cặp hươu con là 15 triệu và 5 triệu cho mỗi kilogram nhung hươu
Màu -ruộng bưng
Màu - ruộng trên
(Sắn, )
Trang 31– 10 xe bò/1000 m (khoảng 3 – 3,5 t/1000 m ) Gừng được bán cho các xe tải, có thể chở ra
miền Trung, Sài Gòn hoặc có thể đến Campuchia…Gừng được trồng chủ yếu ở ruộng trên,
chưa biết kỹ thuật để trồng gừng ở ruộng dưới
- Các loại cây trồng khác gồm có: củ sắn, mì, đậu xanh, đậu nành… (nhưng đậu xanh được trồng nhiều hơn đậu nành)
4 Mô hình canh tác có hiệu quả
Theo ý kiến của một số nông dân tại buổi hội thảo PRA, những mô hình sau được coi là có hiệu quả (bảng 8):
1 Mô hình làm lúa hai vụ đông xuân và hè thu là rất căn bản, nên làm theo kỹ thuật mới, giảm chi phí trong sản xuất, đem lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đình Còn đất ruộng trên trồng tầm vông và kết hợp chăn nuôi bò
2 Mô hình tổng hợp: mô hình bao gồm nhiều yếu tố: lúa, màu và cả chăn nuôi, quan trọng
là áp dụng mô hình biogas lấy gas làm chất đốt và chất thải từ hệ thống biogas có thể dùng bón cho cây và thậm chí làm thức ăn cho cá Làm lúa, nuôi cá nông dân sẽ thu được sau 3 tháng, màu thu hằng ngày tạo nguồn thu nhập thường xuyên
3 Một mô hình khác là nếu nông dân ở đất núi thì có thể áp dụng mô hình trồng vườn tạp với các loại cây như: xoài, điều, vú sữa, tầm vông và nên áp dụng kỹ thuật mới để cây cho năng suất cao Ngoài ra với mô hình này còn áp dụng thêm chăn nuôi dê, vì điều kiện nuôi ở triền núi rất thích hợp, nhưng vấn đề quan trọng ở đây là nông dân ở vùng chưa hiểu rõ kỹ thuật nuôi (trước mắt là nuôi dê cho năng suất thịt cao)
Bảng 8: Hiệu quả kinh tế lúa, màu Đvt: 1000đ/1000m 2
Riêng vấn đề chăn nuôi bò nông dân thu được lợi nhuận trên từng con riêng lẽ thấp, nhưng nông dân có thể nuôi nhiều con để cộng gộp lợi nhuận được nhiều
5 Dự báo mô hình canh tác tương lai hiệu quả cao
Bảng 9: Dự báo mô hình canh tác tương lai hiệu quả cao
1 Trồng lúa vẫn còn là mô hình 1 Chăn nuôi bò có triển vọng hơn chăn nuôi dê,
Trang 32mang lại hiệu quả kinh tế cao trong
thời gian gần
theo khuynh hướng lấy thịt và lấy phân
2 Trồng các loại cây ăn trái như:
xoài, mít, ổi
2 Trồng trầm hương: Theo một số nông dân cho biết, trong thời gian tới (2010 - 2020), nông dân sống trên vùng đất núi có thể làm giàu nếu làm chủ
từ 1 - 2 ha
6 Phân tích SWOT
Bảng 10 cho thấy các thuận lợi khó khăn của vùng
Bảng 10: Phân tích thuận lợi - khó khăn (SWOT)
Thuận
lợi
- Áp dụng chương trình IPM có điều kiện vay vốn nông nghiệp -UB thị trấn tạo điều kiện bơm nước tốt
- Áp dụng kỹ thuật lai, chọn tạo giống có năng suất cao
- Nông dân trồng được nhiều loại rau màu: dưa, sắn, gừng do nước được cung cấp đầy đủ
- Có tập huấn kỹ thuật thường xuyên (bò thịt, bò sinh sản )
- Giá bò hiện nay trên thị trường có giá cao
- Bò ít bệnh do có sự chủ động trong tiêm chủng Mặt
yếu
- Thiếu vốn đầu tư
- Vốn vay từ chương trình của Nhà nước chưa đủ cung cấp cho sản xuất
- Thiếu kỹ thuật canh tác
- Nước bơm không đủ
- Thiếu giống mới, có năng suất cao
- Giá bán không ổn định
- Thời tiết thay đổi thất thường, không thuận lợi cho trồng hoa màu (mưa nhiều, nhiều sương gây lây lan bệnh trên hoa màu .)
- Thiếu vốn đầu tư sản xuất
- Thiếu vốn (Nhà nước có chủ trương cho vay, nhưng chỉ đáp ứng một phần nhu cầu vốn)
- Thiếu kỹ thuật và giống tốt
Khó
khăn
- Bơm nước không đủ (do mặt đất không bằng giữa các vùng)
- Không có hệ thống tiêu nước
- Giá phân bón không ổn định
- Lúa có chất lượng cao (đủ tiêu chuẩn xuất khẩu), nhưng bị thương lái ép giá
- Hạt giống có chất lượng không cao
- Không đủ nước sản xuất (nhất là khu ruộng trên)
- Sâu bệnh nhiều
- Giá cả không ổn định
- Giá con giống cao -Thiếu thức ăn (hiện nay chủ yếu là thức ăn tự kiếm), công tác trồng cỏ chưa chủ động
Cơ hội - Giá lúa hiện nay trên thị trường
cao
- Nông dân trồng lúa có cơ hội làm giàu
- Rất ít thậm chí gần như không có cơ hội
- Giá thịt bò trên thị trường hiện nay cao
- Nhà nước chủ trương cho vay mở rộng
7 Chủ trương chuyển đổi cơ cấu vật nuôi - cây trồng tại vùng
Theo ý kiến của nông dân tham gia cuộc PRA, hiện nay tại vùng nghiên cứu nhà nước đang chủ trương chuyển đổi một số vấn đề sau:
+ Nuôi bò vẫn được nhà nước khuyến khích mạnh
+ Chăn nuôi dê chưa được phát triển
Trang 33Để trả lời cho vấn đề: tại sao chăn nuôi được khuyến khích, nhưng khuynh hướng phát triển vẫn còn chậm do một số nguyên nhân sau đây:
- Vịt, gà, heo
+ Còn ngại vấn đề kỹ thuật (chuồng trại, tiêm chủng )
+ Vấn đề bệnh cúm trên gà hiện nay đang là nguyên nhân khá lớn gây trở ngại trong vấn đề đầu tư chăn nuôi gà lại
+ Tin đồn thất thiệt trong dư luận (bệnh cúm trên gà có thể lây qua heo, do đó làm nông dân ngần ngại trong cả vấn đề chăn nuôi heo)
- Bò: Chưa đủ cỏ cho bò ăn và cần người chăm sóc
8 Vai trò của các kênh thông tin
Trong cuộc tham khảo về vai trò của các kênh cung cấp thông tin phục vụ công tác sản xuất có 17 nông dân cùng tham gia được tổng hợp ở bảng 11 nhận thấy:
Trong giai đoạn hiện tại
Thông tin qua radio được nông dân lắng nghe nhiều nhất (có 88,5% nông dân đồng ý), điều này có thể được giải thích vì nông dân có thể vừa làm việc (làm ngoài đồng) vừa nghe radio vì giá phương tiện nầy không quá cao so với thu nhập của nông dân nên dễ mua sắm Sau radio, tivi vẫn đóng vai trò quan trọng chiếm 76,5% Cán bộ khuyến nông hiện nay vẫn là lực lượng cung cấp thông tin kỹ thuật sản xuất đến cho nông dân, có 64,7% nông dân đồng ý là cán bộ khuyến nông mang đến thông tin cho họ
Nông dân vẫn có thu thập thông tin từ tạp chí và sách báo và học hỏi kinh nghiệm từ nông dân khác, nhưng tuyệt đối 100% nông dân cho là họ hoàn toàn không thu thập thông tin gì từ cửa hàng nông dược
Bảng 11: Tác động của kênh thông tin đến người dân
Kênh thông tin
Trong tương lai
Ý kiến của nông dân về phần trăm có tăng lên, nhưng chung qui lại radio, tivi và cán bộ khuyến nông vẫn đóng vai trò quan trọng trong cung cấp thông tin Những hướng dẫn từ cửa hàng nông dược, trong tương lai vẫn chưa tạo được niềm tin từ nông dân, sự tín nhiệm từ nông dân vẫn là 0%
9 Điều kiện tín dụng
Bảng 12: Điều kiện cho vay tín dụng
Trang 34
Theo bảng 12, đa số hộ nông dân đều thiếu vốn (64,7%) trong đó vay ngân hàng và mua trả chậm là chủ yếu
10 Vai trò của phụ nữ trong sản xuất
Trong 17 hộ tham gia PRA, các chủ nông hộ cho ý kiến như sau:
Trong công tác chuẩn bị trồng lúa, màu, chăn nuôi bò sự tham gia của phụ nữ giữ vai trò quan trọng hơn nam giới chiếm hơn 50% Các giai đoạn chăm sóc,thu hoạch thì sự đóng góp ít hơn Điều nầy phản ảnh thực tế là phụ nữ ở nông thôn còn dành thì giờ nhiều cho việc nội trợ Bảng 13: Sự tham gia lao động của phụ nữ
- UBND thị trấn quan tâm nhiều đến sản xuất của nông dân trong vùng
- Đường bơm nước ngày càng phục vụ tốt hơn
12 Đề xuất của nông dân
- Nhà nước cần khuyến cáo nông dân làm giống lúa hoặc loại cây màu nào thuận tiện cho sản xuất và tiêu thụ
- Mở trạm, trại nhân giống lúa (tình hình hiện nay nông dân tự nhân giống cho quá trình sản xuất nên chất lượng lúa giống không đảm bảo)
- Nông dân cần có hợp đồng bao tiêu để đảm bảo đầu ra ổn định, tạo điều kiện để nông dân
Trang 35- Hiện nay phong trào trồng dó bầu đang phát triển, nhưng nguồn giống trong nông dân còn đại trà, do vậy chưa đảm bảo, Nhà nước cần có chính sách quản lý để nguồn cây giống cung cấp cho nông dân được đảm bảo chất lượng
- Xoài: giống cây con hiện nay chưa được ổn định, đa số bà con lập vườn ban đầu bằng nguồn giống trôi nổi, chất lượng cây giống không ổn định, gây thiệt hại nhiều cho nông dân trong sản xuất
II TẠI XÃ LƯƠNG PHI
Địa điểm tại văn phòng Ủy Ban xã Lương Phi trong ngày 22 tháng 7 năm 2004.Thành phần gồm:
- Giảng viên trường Đại học An Giang (4 giảng viên, do giảng viên Nguyễn Văn Minh làm Trưởng đoàn)
- 22 nông dân xã Lương Phi
Buổi PRA được tiến hành trên cơ sở thảo luận giữa cán bộ trường Đại Học An Giang và bà con nông dân xã Lương Phi, nội dung buổi thảo luận xoay quanh một số vấn đề sau:
1 Các vùng canh tác chính của xã Lương Phi
- Khu vực ấp An Thành và An Nhơn
Khu vực trên lộ đến giáp núi, nông dân trồng tầm vông, xoài Cát Hòa Lộc, Thanh Ca… Riêng giống xoài Cát Hòa Lộc đang được nhân dân chú trọng phát triển mạnh
Ruộng bưng, nông dân đa số làm lúa 2 vụ, số còn lại làm một vụ màu và 1 vụ lúa
Chăn nuôi: nông dân nuôi bò coi như làm kinh tế phụ và sử dụng nguồn phân để bón cho cây trồng Ở đây chưa xuất hiện phong trào nuôi dê như ở các vùng khác
- Khu vực ấp Tà Miệt
Đất nầy không nằm trong khu vực triền núi, nhìn chung có 2 loại đất:
+ Đất pha cát gần lộ: trước kia khu vực này đa số nông dân trồng lúa, hiện nay một số nông dân chuyển sang trồng màu gồm các loại như: bắp, đậu phộng, gừng …vì những năm gần đây lúa phát triển không tốt, theo lý giải của nông dân có thể do ảnh hưởng của điều kiện thời tiết + Đất phèn: đất khu vực này phèn rất nhiều, trồng lúa năng suất không cao Do vậy, nhu cầu bức xúc của nhân dân trong vùng là làm sao rửa phèn là biện pháp cần thiết để tăng năng suất lúa
Về chăn nuôi, người dân tộc Khmer là đa số ngoài làm ruộng bà con còn chăn nuôi bò và heo với qui mô nhỏ (qui mô hộ gia đình từ 1 – 2 con/hộ)
- Ấp An Lương: Toàn khu vực ấp, nông dân đa số trồng lúa
- Ấp An Ninh: Trong cả ấp có nhiều loại đất: đất ruộng (đất bưng) và đất nằm gần mặt lộ (ruộng trên)
+ Đất trên lộ trồng vườn tạp, gồm các loại cây như: xoài, tầm vông Khu vực trên gần núi hơn trồng các loại cây như: mãng cầu, điều, đậu que
+ Trên ruộng bưng: chủ yếu nông dân làm lúa 2 vụ
Về lĩnh vực chăn nuôi và thủy sản: chủng loại nuôi tương đối đa dạng bao gồm các loại như: rắn ri voi, cá sấu, lươn, ếch, dê
Trang 36Bảng 14: Các sự kiện lịch sử cây trồng tại Lương Phi
1975-1980 - Không có cây giống để sản xuất, nông dân phá rừng trồng thuốc lá Vào
những năm này thuốc lá rất có giá, nhất là những năm 1977, 1978 một kglogram thuốc lá khô có thể đổi được 1 chỉ vàng
1988 - Nông dân trồng thuốc bị lỗ nặng, do không còn thị trường tiêu thụ, nên đồng
1995 - Phong trào trồng khoai mì và củ sắn giảm, vì nông dân bắt đầu trồng xen tầm
vông vào vườn
- Phong trào trồng chuối phát triển mạnh, giá chuối tương đối cao (giá khoảng 25.000 đ/12 nải) Kinh tế của nhiều hộ trong giai đoạn này dựa vào chuối khá nhiều
1997-1998 - Chủ trương Phủ Xanh Đồi Trọc, trồng các loại cây như: tràm Bông Vàng,
bạch đàn nhưng năng suất thu hoạch không cao do bà con chưa quen với cách chăm sóc làm cây chết nhiều
- Để gia tăng hiệu quả kinh tế, nông dân xen canh điều vào vườn tràm
Hiện nay - Phong trào trồng dưa hấu có hiệu quả cao, giá khoảng 1.200 đ/kg
- Vẫn còn khuynh hướng chuyển từ lúa mùa sang lúa thần nông Một số nơi nông dân vẫn còn ưa chuộng các giống lúa mùa có chất lượng cao như: giống Bông Sen
- Hiện nay phong trào trồng dưa hấu vẫn còn đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhất
là các giống có chất lượng tốt như: Hắc Mỹ Nhân, Hưng Nông
4 Mô hình canh tác có hiệu quả
Theo ý kiến của một số nông dân tại buổi đánh gia nông thôn có sự tham gia của người dân, những mô hình sau được coi là có hiệu quả (Bảng 15)
4.1 Trồng điều trên đất núi Đối với những hộ nông dân có vườn tạp, hiện nay khuynh hướng trồng điều Ấn Độ (hạt lớn, có năng suất cao) sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao Điều là loại cây trồng khá thích hợp cho
Trang 37vùng đất núi (đất chân và lưng chừng núi) Một yếu tố khác mang lại triển vọng cho ngành trồng điều là hiện nay tại vùng có cơ sở sản xuất Nông Gia 2 tại xã Châu Lăng
4.2 Mô hình trồng đậu phộng
Mô hình này hiện nay vẫn còn mang lại hiệu quả kinh tế cao, lợi nhuận từ mô hình này vào khoảng 1.000.000đ/1000m2
4.3 Mô hình trồng dưa hấu, su su
Hiện nay mô hình trồng dưa hấu là mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng trồng su
su đang bị giảm mạnh Một nông dân đã đưa ra một thí dụ thực tế để cho thấy sự giảm mạnh của năng suất: với cùng một diện tích trồng vào những năm 1980, nông dân thu được 1.500kg su su/2 ngày, hiện nay năng suất giảm còn 80 kg/3 ngày Để giải thích cho vấn đề này, nông dân đưa ra 2 lý do: thời tiết không còn lạnh nữa, hoặc đất đã bị “chai” sau quá nhiều năm trồng một loại cây trồng Quan điểm của nhóm nghiên cứu đồng ý với lý do thứ hai là do đất đã bị thoái hóa sau nhiều năm trồng su su
4.4 Các mô hình chăn nuôi Đối với những hộ ít đất, có thể áp dụng mô hình chăn nuôi để góp phần phát triển kinh tế Hiện nay những mô hình nuôi cá sấu, rắn mang lại hiệu quả cao nhưng rất ít nông dân đủ vốn để đầu tư chăn nuôi cho mô hình này
4.5 Mô hình nuôi bò Hiện nay đa số nuôi kiểu đơn lẽ, theo hộ gia đình (từ 2 – 5 con/hộ) Bò chủ yếu là giống thường, chưa có giống bò lai Sind Nhà nước có hỗ trợ tiền nuôi bò nhưng chưa đủ vốn đầu tư Hiện nay, nuôi bò vẫn còn mang lại hiệu quả kinh tế, nhưng không còn đủ nguồn cỏ để cung cấp cho những hộ chăn nuôi trong vùng Cần phổ biến những giống cây có khả năng làm thức ăn chăn nuôi
Bảng 15: Hiệu quả kinh tế đất ở Lương Phi Đvt: 1.000đ/1.000 m2
Màu
Bò (1 năm)
Riêng vấn đề chăn nuôi bò nông dân thu được lợi nhuận trên từng con riêng lẽ thấp, nhưng nông dân có thể nuôi nhiều con để cộng gộp lợi nhuận được nhiều Nông dân trong vùng nuôi bò nhiều do tận dụng được nguồn lao động nhàn rỗi (đi làm đồng vừa dắt bò theo để cho ăn, tận dụng sức lao động của trẻ em, ) Ngoài ra nông dân còn tạo được thêm thu hoạch trong chăn nuôi do có thể tận dụng được nguồn sức kéo hoặc có thể nuôi bò cái sinh sản
5 Mô hình canh tác nào trong tương lai sẽ có hiệu quả cao
Bảng 16: Dự báo mô hình hiệu quả tương lai ở Lương Phi
Trang 38Trong tương lai gần Tương lai xa
1 Nuôi bò vẫn phát triển, nhưng giống bò tốt
(bò lai sind) chưa được cung cấp nhiều tại xã
1 Phong trào cây Tầm Vông phát triển mạnh
2 Chăn nuôi bò
6 Phân tích thuận lợi - khó khăn (SWOT)
Bảng 17: Phân tích SWOT tại Lương Phi
Mặt yếu - Thiếu kỹ thuật canh tác Đất
phèn, nông dân không biết kỹ thuật nên năng suất lúa không cao
- Giá lúa không ổn định
- Hiện tượng chuột phá hại, gây thiệt hại rất nặng
- Sâu bệnh nhiều do thời tiết không thuận lợi (Dưa hấu, Dưa leo
bị bệnh chết dây )
- Dịch bệnh bất thường
- Cỏ không đủ cung cấp cho số lượng bò tại xã
- Thiếu vốn và kỹ thuật canh tác
- Hạt giống có chất lượng không cao
- Không đủ nước sản xuất (nhất là khu vực ruộng trên)
- Sâu bệnh nhiều
- Giá cả không ổn định
Cơ hội - Giá lúa hiện nay trên thị
trường cao
- Một số giống có năng suất cao, tạo điều kiện cho nông dân làm giàu
- Giá cả bất ổn định
- Bắp lai hiện nay đang có năng suất và giá cao
giống tốt
7 Chủ trương chuyển đổi cơ cấu vật nuôi - cây trồng tại vùng
Theo ý kiến của nông dân tham gia cuộc PRA, hiện nay tại vùng, nhà nước đang chủ trương chuyển đổi một số mô hình sau:
- Cây trồng: Sản xuất lúa có chất lượng và năng suất cao Phong trào trồng cây Đào Ấn Độ (Điều có hột lớn, do vậy cây cho năng suất hột cao) Trồng tre Điền Trúc để lấy măng
- Vật nuôi: Nuôi bò, dê vẫn được nhà nước khuyến khích mạnh Để trả lời cho vấn đề: tại sao chăn nuôi được khuyến khích, nhưng khuynh hướng phát triển vẫn còn chậm vì thiếu vốn là nguyên nhân chung cho tất cả các đối tượng vật nuôi, ngoài ra với từng đối tượng riêng có một
Trang 39số nguyên nhân khác nhau Chẳng hạn đối với chăn nuôi bò còn do thiếu cỏ và do thiếu kiến thức chăm sóc
8 Vai trò của các kênh thông tin
Trong cuộc tham khảo về vai trò của các kênh cung cấp thông tin phục vụ công tác sản xuất có 21 nông dân cùng tham gia Qua bảng 18 các hộ có ý kiến như sau:
Trong giai đoạn hiện tại
Thông tin qua tivi được nông dân lắng nghe nhiều nhất (có 95,2% nông dân đồng ý), điều này có thể được giải thích vì nông dân sau một ngày làm việc vất vả, tivi là phương tiện giải trí thông dụng nhất tại vùng nông thôn, giúp nông dân nắm được nguồn thông tin nhanh Sau tivi, hoạt động học tập kinh nghiệm từ những nông dân trong vùng đóng vai trò quan trọng (chiếm 71,4 %) Ngoài ra, theo ý kiến của nông dân tại hội thảo radio vẫn là phương tiện cung cấp thông tin khá quan trọng cho nông dân (chiếm 61,9%)
Bảng 18: Tác động của kênh thông tin đến người dân Lương Phi
Kênh thông tin
Vai trò của sách báo trong kênh cung cấp thông tin chưa được đánh giá là có hiệu quả Nông dân chưa tin tưởng vào cửa hàng nông dược là do 2 nguyên nhân: nông dân chưa tin tưởng vào chất lượng thuốc và giá nông dược còn chênh lệch nhiều giữa các đại lý
Trong tương lai
Ý kiến của nông dân về phần trăm có tăng lên, nhưng chung qui lại radio, ti vi và cán bộ khuyến nông vẫn đóng vai trò quan trọng trong cung cấp thông tin Nhưng vai trò cung cấp thông tin của sách báo vẫn chưa được cải thiện
9 Điều kiện tín dụng
Trong cuộc tham khảo về điều kiện phục vụ công tác sản xuất có 22 nông dân cùng tham gia kết quả cho thấy hầu hết nông dân đều thiếu vốn và họ vay ngân hàng, mua trả chậm 100% (bảng 19)
Bảng 19: Tình hình tín dụng cho sản xuất tại xã Lương Phi
Hiện trạng Điều kiện
Trang 4010 Vai trò của phụ nữ trong sản xuất
Qua Bảng 20 có 22 hộ tham gia ý kiến nhận thấy vai trò của phụ nữ tham gia tương đối đồng đều trong tất cả các khâu của việc trồng lúa và trồng màu Đặc biệt trong trồng màu tỷ lệ % phụ nữ tham gia vào tất cả các khâu có cao hơn so với trồng lúa
Riêng về vấn đề chăn nuôi bò phụ nữ chỉ tham gia vào khâu chăm sóc
Bảng 20: Sự tham gia của phụ nữ trong các công đoạn sản xuất xã Lương phi
11 Sơ đồ Venn về các mối quan hệ trong sản xuất
Mối quan hệ giữa nông hộ và các cơ quan Tại buổi hội thảo, theo ý kiến của 21 nông dân tham gia PRA mối quan hệ giữa hộ nông dân và các cơ quan được thể hiện ở Bảng 21
Bảng 21: Mối quan hệ giữa nông dân với các cơ quan xã Lương Phi
Hiện nay tại xã, nông dân có mối quan hệ mật thiết nhất với khuyến nông xã (100%), vì đây là tổ chức đi song hành giới thiệu và hướng dẫn kỹ thuật mới, giúp nông dân nâng cao chất lượng cuộc sống
Với các yếu tố trong sản xuất Giống, kỹ thuật và nguồn vốn có mối quan hệ khắng khích với nông dân trong sản xuất, trong đó giống và kỹ thuật đóng vai trò tối quan trọng (100% nông dân đồng ý) (Bảng 22)
Bảng 22: Tầm quan trọng của các yếu tố sản xuất xã Lương phi