báo cáo cải tiến các công đoạn sau thu hoạch lúa truyền thống để giảm tổn thất
Trang 1MARD – DANIDA CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ NGÀNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM HỢP PHẦN XỬ LÝ SAU THU HOẠCH
BÁO CÁO ĐỀ TÀI SỐ 1 CẢI TIẾN CÁC CÔNG ĐOẠN
SAU THU HOẠCH LÚA TRUYỀN THỐNG ĐỂ
GIẢM TỔN THẤT
NHÓM NGHIÊN CỨUTRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
Chủ nhiệm: Nguyễn Văn Minh
Trang 2MARD – DANIDA CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ NGÀNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM HỢP PHẦN XỬ LÝ SAU THU HOẠCH
BÁO CÁO ĐỀ TÀI SỐ 1
CẢI TIẾN CÁC CÔNG ĐOẠN
SAU THU HOẠCH LÚA TRUYỀN THỐNG ĐỂ
GIẢM TỔN THẤT
NHÓM NGHIÊN CỨU TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
Chủ nhiệm: Nguyễn Văn Minh
Tư vấn: Võ Tòng Anh
Trương Bá Thảo Cộng tác viên: Trần Văn Khải
Nguyễn Phú Dũng Nguyễn Thị Minh Châu Trần Xuân Hiển
Cao Thị Luyến Phan Uyên Nguyên
Lê Hữu Phước Nguyễn Thị Ngọc Giang
Lê Hòa Lợi Trịnh Hoài Vũ
Võ Thịnh Vượng
Trang 3Nhóm nghiên cứu Sau Thu Hoạch thuộc Khoa Nông Nghiệp & Tài Nguyên Thiên Nhiên, Trường Đại học An Giang (AGU) xin chân thành cảm ơn Ban Quản Lý Hợp Phần Sau Thu Hoạch (PHHC) thuộc Chương Trình Hỗ Trợ Ngành Nông Nghiệp (ASPS) của Tổ chức DANIDA (Thụy Điển) đã tài trợ cho đề tài nghiên cứu số 1 "Cải tiến các công đoạn sau thu hoạch lúa truyền thống để giảm tổn thất".
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ủy Ban Nhân Dân tỉnh An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp, Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, Trung tâm Khuyến Nông các tỉnh trên đã giúp chúng tôi trong quá trình điều tra và nghiên cứu.
Chúng tôi xin chân thành cảm tạ Phòng Nông nghiệp, Trạm Khuyến Nông các huyện Châu Phú, Châu Thành (An Giang); Tân Hiệp, Châu Thành (Kiên Giang) và Cao Lãnh, Tháp Mười (Đồng Tháp) và Ban Giám Đốc Nông Trường Động Cát Cao Lãnh Đồng Tháp đã hỗ trợ chúng tôi trong việc tổ chức và triển khai các phiếu điều tra phỏng vấn Chúng tôi cũng xin cảm ơn các khuyến nông viên ở các xã điểm có thí nghiệm đã nhiệt tình giúp đỡ và hướng dẫn các điều tra viên đến tận từng nông hộ và tham gia phỏng vấn nông dân và thực hiện thí nghiệm tại đồng ruộng.
Chúng tôi xin thành thật cảm tạ các hộ nông dân: Anh Út Ý xã Vĩnh An, Châu Thành, Ông Năm Tro, xã Bình Mỹ, Châu Phú, Ông Nguyễn Ngọc Chất, chủ nhiệm HTX Vĩnh Thắng, Thoại Sơn (An Giang); Ông Lê Tứ Thành, xã Vĩnh Hòa Hiệp - Châu Thành, Ông Nguyễn Minh Nghĩa, xã Tân Hiệp B, Tân Hiệp (Kiên Giang); Nông Trường Động Cát, xã Mỹ Quí, Cao Lãnh (Đồng Tháp) đã nhiệt tình cộng tác trong việc cung cấp đất, phương tiện và công lao động để hoàn thành thí nghiệm đồng ruộng và thí nghiệm tồn trữ lúa tại nhà trong thời gian dài.
Xin quý trọng nhiệt tình vì khoa học của anh Nguyễn Thanh Dũng, Giám Đốc HTX và Nhà máy xay Tân Mỹ Hưng, Phú Tân, An Giang; anh Võ Minh Chánh, nguyên Giám Đốc Nông trường Động Cát và cán bộ, công nhân viên của Nông trường.
Chúng tôi xin chân thành cảm tạ Ban Giám Hiệu trường Đại học An Giang đã tận tình ủng hộ về tinh thần và vật chất để hoàn thành tập báo cáo này.
Chúng tôi ghi nhận sự đóng góp to lớn và tích cực của các đồng nghiệp tại Khoa Nông Nghiệp và Tài Nguyên Thiên Nhiên, cùng các sinh viên ĐH2, ĐH3 và ĐH4PN trong việc hợp tác và thực hiện các cuộc điều tra và thí nghiệm đồng ruộng tại cơ sở.
TM NHÓM NGHIÊN CỨU
NGUYỄN VĂN MINH
Trang 4số lượng, tiến hành so sánh về chất lượng đối với công đoạn phơi sấy, ảnh hưởng của thời gian và ẩm độ tồn trữ lên phẩm chất hạt gạo lúa sấy và lúa phơi Khâu chất lượng tồn trữ, dùng CRD 2 yếu tố để đánh giá 2 cặp yếu tố có tương quan nhau là: (1) thời gian (1, 2, 3 tháng) với các mức ẩm độ (14, 16 %) và (2) phương pháp tồn trữ tại nhà và kho nhà máy Các chỉ tiêu phân tích chất lượng lúa gạo gồm các đặc tính xay xát: tỉ lệ bóc vỏ, tỉ lệ chà, tỉ lệ gạo nguyên và các đặc tính nấu ăn: độ dài hạt gạo, tỉ lệ dài/rộng hạt gạo, độ bền thể gel, hàm lượng amylose, nhiệt độ trở hồ Các thí nghiệm trên được thực hiện trên 3 điểm diện tích xấp xỉ 1 ha hợp tác với nông dân tham gia thí nghiệm có tham khảo với các cơ quan khuyến nông địa phương đó là: Châu Phú, Châu Thành (An Giang), Tân Hiệp, Châu Thành (Kiên Giang) và Cao Lãnh (Đồng Tháp).
Kết quả nghiên cứu cho thấy tổn thất về số lượng ở các công đoạn STH đều được nông dân đánh giá cao hơn so với thực nghiệm tại đồng ruộng Trong đó, phương pháp cải tiến với tổng tổn thất thấp nhất 9,65% và phương pháp truyền thống thực nghiệm trên đồng ruộng là 10,56% thấp hơn so với phỏng vấn là 12,56% trong vụ Đông Xuân
Vụ Hè Thu tổn thất cao hơn vụ Đông Xuân với mức tổn thất tuần tự là 12,85%; 15,07%
và 15,09% Đối với tổn thất về chất lượng thì công đoạn cắt gom và phơi có hao hụt về chất lượng lớn nhất làm thất thoát 2 - 3% sản lượng thu hoạch, chủ yếu là do mưa làm hạt lúa bị mọc mầm, giảm phẩm chất dẫn đến giảm giá bán từ 200 – 500 đồng/kg trong
vụ HT Trong công đoạn tồn trữ lúa phơi và sấy gần như không có sự tổn thất về chất lượng theo chiều hướng xấu mà chỉ có sự biến đổi về chiều dài và tỉ lệ D/R, đặc biệt là những biến đổi trong thành phần hóa học của hạt lúa như hàm lượng amylose, độ bền gel và độ trở hồ Những biến đổi hóa học nầy lại diễn ra theo hướng tốt tức làm cho đặc tính nấu ăn của gạo mềm cơm và ngon cơm hơn Tuy nhiên, đối với lúa sấy có sự biến đổi tốt hơn lúa phơi Tỉ lệ thu hồi gạo của phương pháp sấy cũng cao hơn phơi từ 1,28%
vụ HT đến 2,16% vụ ĐX
Phương pháp cải tiến đã chứng tỏ có ưu thế hơn phương pháp truyền thống mặc
dù chỉ mới áp dụng đối với 4 công đoạn là sử dụng máy gặt xếp dãy, sấy, xay xát bằng máy xay cố định và tồn trữ tại kho nhà máy đã làm giảm gần 1% tổn thất Trong tương lai cần phải cải tiến máy gặt đập liên hợp cho phù hợp với đồng ruộng vì nếu áp dụng loại máy nầy sẽ thay cho 3 khâu truyền thống là cắt gom, vận chuyển và tuốt thì tổn thất chỉ còn 0,86% thay vì 4,14% đối với cắt bằng tay và 3,88% đối với máy gặt xếp dãy.Nhất thiết phải sử dụng các công cụ hữu hiệu của khuyến nông như áp phích, tờ rơi, video, truyền hình, truyền thanh, báo cáo và đặc biệt là tổ chức các điểm trình diễn
về kết quả nghiên cứu của đề tài ở cấp xã cho nông dân, cán bộ nông nghiêp, thương lái
để họ hiểu thông suốt về thiệt hại sau thu hoạch lúa và lợi ích của việc áp dụng các công
cụ cải tiến và hướng tới cơ giới hóa trong tương lai
Trang 5CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANIDA Cơ quan Phát triển quốc tế Đan Mạch
ĐBSCL Đồng Bằng Sông Cửu Long
PHHC Hợp Phần Xử Lý Sau Thu Hoạch
PTNT Phát triển nông thôn
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM TẠ i
TÓM LƯỢC ii
CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH BẢNG viii
DANH SÁCH HÌNH x
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số khái niệm cơ bản về công nghệ STH trong ngành nông nghiệp 3
1.1.1 Khái niệm STH 3
1.1.2 Khái niệm về tổn thất STH 3
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 5
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 5
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 5
1.2.2.1 Hiện trạng công nghệ STH tại Việt Nam 5
1.2.2.2 Tầm quan trọng của tổn thất STH 9
1.2.2.3 Tình hình tổn thất STH 10
1.2.2.4 Thực trạng tổn thất STH ở các công đoạn 11
1.2.2.5 Nguyên nhân gây tổn thất STH 14
1.2.2.6 Các giải pháp khắc phục 15
1.2.2.7 Phẩm chất gạo, tiêu chuẩn và đánh giá 16
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Phương tiện nghiên cứu 20
2.1.1 Chọn vùng và điểm 20
2.1.1.1 Phỏng vấn 20
2.1.1.2 Thí nghiệm 20
2.1.2 Dụng cụ đo lường 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.2.1 Phỏng vấn bằng phiếu 20
2.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 20
2.2.3 Đánh giá các tổn thất lúa về số lượng 21
2.2.3.1 Cắt gom 21
Trang 72.2.3.3 Tuốt 21
2.2.3.4 Phơi, sấy 22
2.2.3.5 Xay xát 22
2.2.3.6 Tồn trữ 22
2.2.4 Đánh giá các tổn thất về chất lượng lúa 22
2.2.4.1 Phơi và sấy 22
2.2.4.2 Tồn trữ 22
2.2.5 Phương pháp xác định các chỉ tiêu phẩm chất hạt gạo 23
2.2.5.1 Phương pháp xác định nhiệt độ trở hồ qua độ phân hủy kiềm 23
2.2.5.2 Phương pháp xác định hàm lượng amylose 24
2.2.5.3 Phương pháp phân tích độ bền gel 26
2.2.5.4 Xác định mùi thơm 26
2.2.6 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu 27
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Mô tả vùng và điểm nghiên cứu 28
3.1.1 Huyện Châu Thành và xã Vĩnh An - Châu Thành - An Giang 28
3.1.2 Huyện Châu Phú và xã Bình Mỹ - Châu Phú - An Giang 30
3.1.3 Huyên Châu Thanh va xã Vĩnh Hòa Hiêp - Châu Thanh - Kiên Giang 30
3.1.4 Huyện Tân Hiệp và xã Tân Hiệp B - Huyện Tân Hiệp - Kiên Giang 30
3.1.5 Nông trường Động Cát, xã Ba Sao - Huyện Cao Lãnh - Đồng Tháp 33
3.1.5.1 Tổng quan chung 33
3.1.5.2 Vị trí địa lý 33
3.1.5.3 Đặc điểm khí hậu - thủy văn - thổ nhưỡng 33
3.1.5.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội 33
3.1.5.5 Đặc điểm Nông Trường Động Cát 33
3.2 Kết quả điều tra tình hình tổn thất STH 36
3.2.1 Phân bố mẫu điều tra 36
3.2.2 Đánh giá hiện trạng các hoạt động STH ở cấp độ nông hộ tại 3 tỉnh An Giang, Kiên Giang và Đồng Tháp 37
3.2.2.1 Khâu cắt gom 37
3.2.2.2 Khâu tuốt lúa 37
3.2.2.3 Khâu làm khô 38
3.2.2.4 Khâu tồn trữ 39
3.2.2.5 Khâu vận chuyển 40
3.2.2.6 Khâu xay xát 40
Trang 83.2.2.7 Kết luận 40
3.2.3 Đánh giá tổn thất STH ở cấp độ nông hộ 3 tỉnh An Giang, Kiên Giang và Đồng Tháp 41
3.2.3.1 Cơ sở đánh giá 41
3.2.3.2 Tổn thất trong khâu cắt gom 41
3.2.3.3 Tổn thất trong khâu suốt 42
3.2.3.4 Tổn thất trong khâu vận chuyển 42
3.2.3.5 Tổn thất trong khâu làm khô 42
3.2.3.6 Tổn thất trong khâu tồn trữ 43
3.2.3.7 Tổn thất trong khâu xay xát 43
3.2.3.8 Kết luận 43
3.3 Tổn thất STH thực nghiệm trên ruộng đồng 44
3.3.1 So sánh tổn thất cắt gom 44
3.3.2 So sánh tổn thất vận chuyển 46
3.3.3 So sánh tổn thất tuốt 47
3.3.4 So sánh tổn thất phơi (truyền thống) với sấy (cải tiến) 49
3.3.5 So sánh tổn thất máy xay di động với nhà máy xay cỡ lớn 50
3.3.6 So sánh tổn thất tồn trữ tại nhà với kho của nhà máy 51
3.4 Tổn thất về chất lượng lúa gạo tồn trữ và xay xát 53
3.4.1 Đặc tính xay xát 54
3.4.2 Đặc tính nấu ăn 55
3.4.2.1 Ảnh hưởng của ẩm độ tồn trữ lên đặc tính nấu ăn hạt gạo 55
3.4.2.2.Ảnh hưởng của phương pháp phơi và sấy lên đặc tính nấu ăn hạt gạo 55
3.4.2.3 Ảnh hưởng của thời gian tồn trữ lên đặc tính nấu ăn hạt gạo lúa phơi 56
3.4.2.4 Ảnh hưởng của thời gian tồn trữ lên đặc tính nấu ăn hạt gạo lúa sấy 58
3.5 So sánh tổn thất STH giữa phỏng vấn với thí nghiệm 59
3.5.1 So sánh tổn thất cắt lúa bằng liềm giữa thí nghiệm và phỏng vấn 59
3.5.2 So sánh tổn thất vận chuyển giữa thí nghiệm và phỏng vấn 60
3.5.3 So sánh tổn thất lúa do suốt giữa thí nghiệm và phỏng vấn 60
3.5.4 So sánh tổn thất do làm khô giữa thí nghiệm và phỏng vấn 61
3.5.5 So sánh tổn thất tồn trữ tại nhà giữa thí nghiệm và phỏng vấn 62
3.5.6 So sánh tổn thất máy xay di động giữa thí nghiệm và phỏng vấn 63
3.6 Cải tiến các công đoạn STH để giảm tổn thất 64
3.6.1 Cải tiến trong khâu cắt gom 65
3.6.1.1 So sánh hiệu quả giữa máy gặt xếp dãy và cắt tay bằng liềm 65
Trang 93.6.1.2 So sánh hiệu quả giữa máy gặt đập liên hợp với các phương tiện khác 66
3.6.1.3 Cải tiến các công đoạn trước thu hoạch 68
3.6.2 Cải tiến trong khâu suốt 69
3.6.3 Cải tiến trong khâu vận chuyển 69
3.6.4 Cải tiến trong khâu làm khô 69
3.6.5 Cải tiến trong khâu tồn trữ 70
3.6.6 Cải tiến trong khâu xay xát 70
3.7 Sử dụng các phương pháp khuyến nông có hiệu quả 71
3.7.1 Chuẩn bị các phương tiện nghe nhìn 71
3.7.2 Tổ chức trình diễn 4 công đoạn cải tiến 71
3.7.3 Tổ chức báo cáo lại kết quả thí nghiệm tại các vùng trọng điểm lúa 71
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
4.1 Kết luận 73
4.2 Kiến nghị 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ CHƯƠNG 79
Phụ chương 1 Tài liệu báo cáo khuyến nông 80
Phụ chương 2.1 Đặc điểm một số giống lúa 84
Phụ chương 2.2.Thông số kỹ thuật của một số máy gặt lúa 86
Phụ chương 3 Hiệu quả kinh tế của máy gặt xếp dãy 89
Phụ chương 4 Phiếu điều tra hộ nông dân 90
Phụ chương 5 Kết quả phân tích phẩm chất gạo của Viện lúa ĐBSCL 96
Phụ chương 6 Các bảng kiểm định T-test về số lượng 97
Phụ chương 7 Các bảng kiểm định T-test chất lượng 105
Phụ chương hình ảnh thực hiện đề tài 113
Trang 10DANH SÁCH BẢNG
Tựa bảng Trang
Bảng 1: Sự tổn thất sau thu hoạch của lúa gạo ở các nước Đông Nam Á 4
Bảng 2: Sự hao thất sau thu hoạch lúa gạo ở Nhật Bản 4
Bảng 3: Sự hao thất sau thu hoạch lúa gạo ở đồng bằng Sông Hồng 10
Bảng 4: Trung bình tổn thất STH theo mùa vụ ở ĐBSCL 12
Bảng 5: Diện tích - Năng suất - Sản lượng lúa tại 2 huyện Châu Thành và Tân Hiệp – Kiên Giang qua các vụ năm 2005 31
Bảng 6: Phân bố mẫu điều tra 36
Bảng 7: Chi phí cắt gom năm 2006 37
Bảng 8: Chi phí suốt năm 2006 37
Bảng 9: Hiện trạng phơi sấy năm 2006 38
Bảng 10: Hiện trạng bảo quản 3 tỉnh năm 2006 39
Bảng 11: Hiện trạng vận chuyển năm 2006 40
Bảng 12: Hiện trạng xay xát năm 2006 40
Bảng 13: Tổn thất sau thu hoạch qua các công đoạn thu hoạch và STH 41
Bảng 14: Tổn thất trong khâu cắt gom năm 2006 42
Bảng 15: Tổn thất trong khâu tuốt năm 2006 42
Bảng 16: Tổn thất trong khâu vận chuyển năm 2006 42
Bảng 17: Tổn thất trong khâu làm khô năm 2006 43
Bảng 18: Tổn thất trong khâu tồn trữ năm 2006 43
Bảng 19: Tổn thất trong khâu xay xát năm 2006 43
Bảng 20: Tổn thất các khâu sau thu hoạch năm 2006 44
Bảng 21: So sánh tổn thất cắt gom theo phương tiện 45
Bảng 22: So sánh tổn thất cắt gom theo vụ mùa 45
Bảng 23: So sánh tổn thất vận chuyển theo phương tiện 46
Bảng 24: So sánh tổn thất vận chuyển theo vụ mùa 46
Bảng 25: So sánh tổn thất tuốt theo phương tiện 48
Bảng 26: So sánh tổn thất tuốt theo vụ mùa 48
Bảng 27: So sánh tổn thất phơi với sấy 49
Bảng 28: So sánh tổn thất phơi với sấy theo vụ mùa 50
Bảng 29: So sánh tổn thất xay xát theo phương tiện 50
Trang 11Bảng 31: So sánh tổn thất tồn trữ tại nhà với kho của nhà máy vụ ĐX 51
Bảng 32: So sánh tổn thất tồn trữ tại nhà với kho của nhà máy vụ HT 52
Bảng 33: So sánh tổn thất tồn trữ tại nhà theo vụ mùa 52
Bảng 34: So sánh tổn thất tồn trữ tại kho theo vụ mùa 53
Bảng 35: Đặc tính xay xát của các mẫu lúa phơi và sấy 54
Bảng 36: So sánh tỉ lệ gạo nguyên giữa phơi và sấy 54
Bảng 37: Ảnh hưởng của ẩm độ tồn trữ lên đặc tính nấu ăn hạt gạo 55
Bảng 38: Ảnh hưởng của phương pháp phơi và sấy lên đặc tính nấu ăn hạt gạo 56
Bảng 39: Ảnh hưởng của thời gian tồn trữ lên đặc tính nấu ăn hạt gạo lúa phơi 56
Bảng 40: Ảnh hưởng tương tác giữa thời gian tồn trữ và ẩm độ lên tỷ lệ dài/rộng hạt lúa phơi 57
Bảng 41: Ảnh hưởng tương tác giữa thời gian tồn trữ và ẩm độ lên độ bền gel hạt lúa phơi 57
Bảng 42: Ảnh hưởng của thời gian tồn trữ lên đặc tính nấu ăn hạt gạo lúa sấy 58
Bảng 43: Ảnh hưởng tương tác giữa thời gian tồn trữ và ẩm độ lên độ bền gel hạt gạo lúa sấy 59
Bảng 44: So sánh tổn thất cắt lúa bằng liềm giữa thí nghiệm và phỏng vấn 59
Bảng 45: So sánh tổn thất vận chuyển giữa thí nghiệm và phỏng vấn 60
Bảng 46: So sánh tổn thất tuốt giữa thí nghiệm và phỏng vấn 61
Bảng 47: So sánh tổn thất phơi giữa thí nghiệm và phỏng vấn 61
Bảng 48: So sánh tổn thất sấy vỉ ngang giữa thí nghiệm và phỏng vấn 62
Bảng 49: So sánh tổn thất tồn trữ tại nhà giữa thí nghiệm và phỏng vấn 63
Bảng 50: So sánh tổn thất máy xay di động giữa thí nghiệm và phỏng vấn 63
Bảng 51: Tổng tổn thất các công đoạn sau thu hoạch giữa thí nghiệm và phỏng vấn 64
Bảng 52: So sánh tổn thất giữa các phương pháp từ cắt gom đến tuốt 66
Bảng 53: Hiệu quả kinh tế giữa các phương pháp từ cắt gom đến tuốt 67
Bảng 54: Hiệu quả kinh tế giữa phương pháp cải tiến và truyền thống các công đoạn STH trung bình hai vụ lúa 70
Trang 12
DANH SÁCH HÌNH
Tựa hình Trang
Hình 1: Cấu trúc hạt thóc 16
Hình 2: Công đoạn sau thu hoạch truyền thống và cải tiến đối với lúa gạo 21
Hình 3: Vị trí các vùng nghiên cứu ở 3 tỉnh An Giang, Kiên Giang và Đồng Tháp ở ĐBSCL 29
Hình 4: Bản đồ vị trí các điểm thí nghiệm tỉnh An Giang 29
Hình 5: Bản đồ vị trí các điểm thí nghiệm tỉnh Kiên Giang 32
Hình 6: Bản đồ vị trí các điểm thí nghiệm tỉnh Đồng Tháp 32
Hình 7: Bản đồ độ sâu ngập tỉnh An Giang 34
Hình 8: Bản đồ độ sâu ngập tỉnh Kiên Giang 34
Hình 9: Bản đồ độ sâu ngập tỉnh Đồng Tháp 35
Hình 10: Tỉ lệ tổn thất giữa cắt bằng liềm và máy gặt xếp dãy 44
Hình 11: Tỉ lệ tổn thất cắt gom giữa vụ ĐX với HT 45
Hình 12: Tỉ lệ tổn thất vận chuyển giữa 2 phương pháp truyền thống và cải tiến 46
Hình 13: Tỉ lệ tổn thất vận chuyển giữa vụ ĐX với HT 47
Hình 14: Tỉ lệ tổn thất tuốt giữa 2 phương pháp truyền thống và cải tiến 48
Hình 15: Tỉ lệ tổn thất tuốt giữa vụ ĐX với HT 48
Hình 16: Tỉ lệ tổn thất giữa 2 phương pháp phơi và sấy 49
Hình 17: Tỉ lệ tổn thất xay xát giữa máy xay di động và máy xay cỡ lớn 50
Hình 18: Tỉ lệ tổn thất tồn trữ giữa nhà với kho vụ ĐX 51
Hình 19: Tỉ lệ tổn thất tồn trữ giữa nhà với kho vụ HT 52
Hình 20: Tỉ lệ tổn thất tồn trữ tại nhà theo vụ mùa 53
Hình 21: Tỉ lệ tổn thất tồn trữ tại kho theo vụ mùa 53
Hình 22: Tỉ lệ tổn thất cắt lúa bằng liềm giữa phỏng vấn và thí nghiệm 60
Hình 23: Tỉ lệ tổn thất vận chuyển giữa thí nghiệm và phỏng vấn 60
Hình 24: Tỉ lệ tổn thất tuốt giữa thí nghiệm và phỏng vấn 61
Hình 25: Tỉ lệ tổn thất phơi giữa phỏng vấn và thí nghiệm 62
Hình 26: Tỉ lệ tổn thất sấy giữa phỏng vấn và thí nghiệm 62
Hình 27: Tỉ lệ tổn thất tồn trữ tại nhà giữa thí nghiệm và phỏng vấn 63
Hình 28: Tỉ lệ tổn thất xay di động giữa phỏng vấn và thí nghiệm 64
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có 2 triệu ha đất canh tác lúa, mỗi năm sản xuất ra khoảng 17,7 triệu tấn lúa, chiếm 52% sản lượng lương thực quốc gia nên hiện nay vẫn được xem là vùng trọng điểm lương thực của cả nước Tuy nhiên, theo báo cáo tổng hợp tháng 6/2004 của đề tài “Nghiên cứu hiện trạng và đánh giá nhu cầu sau thu hoạch tại 12 tỉnh ĐBSCL” do Hợp phần Sau Thu Hoạch (PHHC) chủ trì cho thấy rằng tổng thất thoát sau thu hoạch bình quân năm là 11,86% (trong đó vụ ĐX 9,88; vụ HT 14,60%; TĐ 9,93) Nếu chỉ tính 2 vụ trong 1 năm thì phần trăm thất thoát là 23,72% Từ
đó, tính ra sản lượng thất thoát cả năm là 4,2 triệu tấn lúa tương đương với 1.050 tỉ đồng (giá lúa 2.500 đồng/kg) Nếu tính cho cả nước số thiệt hại nầy chắc chắn sẽ lớn hơn gấp đôi vì nhiều lý do trong đó có yếu tố trình độ canh tác Đó là chưa kể đến những tổn thất
về chất lượng Trong các công đoạn sau thu hoạch, sự tổn thất dẫn đầu là cắt gom (2,97%), rồi đến xay xát (2,47%), phơi (2,42%), tuốt (1,90%), tồn trữ (1,80%) và thấp nhất là vận chuyển (0,30%)
Từ kết quả nầy cho thấy rằng: các công đoạn STH nào sử dụng nhiều lao động thủ công và máy móc thô sơ thì tổn thất cao hơn; mùa vụ có nhiều mưa như HT và TĐ tổn thất cũng cao hơn ĐX Từ đó, cũng đã thiết kế và sản xuất các máy móc như máy gặt xếp dãy, máy cắt tuốt lúa do sáng kiến của nông dân ở An Hòa, Châu Thành (An Giang), máy gặt đập liên hợp đã được trình diễn ở Nông trường Sông Hậu (TP Cần Thơ), các huyện của An Giang và Đồng Tháp; đổi mới các loại máy sấy cũ bằng các loại máy sấy mới có tính năng ưu việt hơn Tuy nhiên, theo điều tra cơ bản hai công đoạn cắt gom + phơi chiếm trên 45% tổng tổn thất vẫn còn thực hiện chủ yếu bằng thủ công mặc dù nông dân được khuyến cáo cắt lúa bằng máy thay dần bằng tay để giảm công lao động và chi phí sản xuất cũng như dùng máy sấy thay cho phơi lúa bằng ánh sáng mặt trời Điều nầy cho thấy công tác khuyến nông đóng vai trò hết sức to lớn trong việc phổ biến cho nông dân áp dụng được những cải tiến phương pháp STH nhằm nâng cao chất lượng giảm tổn thất lúa
Hiện trạng STH lúa của đất nước ta đang có nhiều vấn đề cần phải khắc phục và cải tiến để trước hết giảm tổn thất về số lượng và chất lượng nhờ vào máy móc nhằm làm giảm thủ công đồng thời cũng đáp ứng được hiện tượng thiếu nhân công do quá trình đô thị hóa ngày càng nhanh hơn Do vậy, cần có những nghiên cứu để tìm hiểu một cách chính xác nguyên nhân cùng với các tổn thất lượng và chất STH lúa truyền thống Qua nghiên cứu cơ bản, các nhóm điều tra cũng đã tổng kết bước đầu được một
số biện pháp cải tiến giá rẻ và các biện pháp chi phí cao đã được đề nghị Các phương pháp nầy hiện nay có tầm quan trọng đặc biệt đối với tình hình STH tại ĐBSCL nói riêng và toàn đất nước Việt Nam nói chung Trong một tương lai dài, các phương pháp giá rẻ và chi phí cao cần được nghiên cứu tỉ mỉ để hoàn thiện và chắc chắn sẽ được áp dụng rộng rãi góp phần làm giảm tổn thất STH
Xuất phát từ tính cấp thiết đó, nhu cầu cần phải có những thí nghiệm thực tế trên đồng ruộng và nhà máy xay lúa nhằm xác định số lượng và nguyên nhân gây ra tổn thất
để cải tiến từng công đoạn với ít nhất là 4 công đoạn gồm cắt gom, phơi sấy, xay xát và
tồn trữ Đề tài "Cải tiến các công đoạn sau thu hoạch lúa truyền thống để giảm tổn thất" nhằm giải quyết mục tiêu tổng quát nói trên.
Trang 14Mục tiêu cụ thể của đề tài:
- Đánh giá tác động của các phương pháp sau thu hoạch truyền thống đến tổn thất STH về lượng và chất đối với lúa của hộ nông dân
- Cải tiến các phương pháp STH truyền thống để giảm bớt tổn thất và nâng cao chất lượng lúa
- Sử dụng các phương pháp khuyến nông có hiệu quả nhằm hướng dẫn nông dân thực hiện các cải tiến STH để nâng cao chất lượng, giảm tổn thất
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH TRONG NGÀNH NÔNG NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm sau thu hoạch
Đã từ lâu nền nông nghiệp trên thế giới, người ta phân chia thành hai công đoạn: công đoạn trước thu hoạch (pre – harvest stage) và công đoạn sau thu hoạch (post – harvest stage) Mỗi công đoạn đều có công nghệ đặc trưng riêng của nó
Theo Bounre (1977), do Lê Doãn Diên (2002) trích dẫn, đề xuất khái niệm “sau thu hoạch” và sau đó được Viện hàn lâm khoa học quốc gia Hoa Kỳ và Harris cũng như
Linblah bổ sung sửa đổi như sau: “Công đoạn sau thu hoạch bắt đầu từ lúc sản phẩm
ăn được tách rời khỏi cây trồng vốn đã sản sinh ra sản phẩm đó do hành động có chủ tâm của con người với ý định bắt đầu từ sản phẩm nầy và đưa nó vào bữa ăn” Do đó,
công đoạn sau thu hoạch chấm dứt và kết thúc khi lương thực, thực phẩm trở thành vật
sở hữu của người tiêu dùng cuối cùng
Như vậy công đoạn sau thu hoạch có thể bao gồm các khâu sau đây:
- Thu hoạch (harvesting)
- Các hoạt động trước bảo quản (pre - storage activities) như sơ chế, tuốt, đập (threshing), phơi sấy (drying), làm sạch (cleaning), phân loại (grading)
- Bảo quản (storing)
- Chế biến, xay xát (processing, milling)
- Kiểm soát và quản lý chất lượng (quality control)
1.1.2 Khái niệm về tổn thất sau thu hoạch
Theo Hà Thanh Toàn (2000), hao hụt sau thu hoạch là sự hao hụt về chất lượng và
số lượng có thể đo được của sản phẩm gồm các khâu:
Nông nghiệp
Công đoạn trước thu hoạch Công nghệ trước thu hoạch
Công đoạn sau thu hoạch Công nghệ sau thu hoạch
Trang 16Hao hụt khối lượng: có thể được định nghĩa là sự hao hụt về khối lượng của hạt
qua một thời gian khảo sát từ khi thu hoạch đến khi được tiêu thụ
Hao hụt về chất lượng: biểu hiện của sự hao hụt về chất lượng hạt là những thay
đổi ảnh hưởng đến các yếu tố như trạng thái bên ngoài, hình dạng, kích thước cũng như mùi vị của hạt
Hao hụt về dinh dưỡng: hao hụt về chất khô ăn được có thể dẫn đến sự hao hụt
các chất dinh dưỡng có trong hạt thực phẩm
Hao hụt về khả năng sống, nẩy mầm: sự suy giảm khả năng nẩy mầm để phát triển
thành chồi khỏe mạnh và vững chắc chính là biểu hiện của hao hụt về khả năng sống, nẩy mầm, sự hao hụt rất quan trọng khi hạt được sử dụng làm giống
Sự hư hỏng: sự hư hỏng là sự phá hủy do tác nhân vật lý, thường là sự hao hụt về
khối lượng hoặc sự phá hỏng của hạt Sự hư hỏng vật lý có thể xảy ra trong tuốt quá trình thu hoạch, đập, nghiền
Sự hao hụt về kinh tế: tổng hao hụt về chất lượng và số lượng của sản phẩm hay
còn có nghĩa là hao hụt về thu nhập của nông dân
Theo thống kê của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp thế giới (FAO) thì tùy theo các yếu tố môi trường, tùy thuộc độ mau hỏng của nông sản, lương thực, thực phẩm và tùy theo các kỹ thuật và các công nghệ sau thu hoạch đã sử dụng mà các tổn thất nầy có thể lên đến 100% Nếu tính trung bình thì đối với các loại hạt, tổn thất sau thu hoạch là 10%, đối với các loại cây có củ là 10 – 20%, còn đối với rau quả là 10 – 30% Theo số liệu của Trung tâm đào tạo nghiên cứu nông nghiệp vùng Đông Nam Á (SEARCA) thì sự hao hụt sau thu hoạch về lúa gạo ở các nước Đông Nam Á biến thiên
từ 10% đến 37% và được phân bố như ở Bảng 1
Bảng 1: Sự tổn thất sau thu hoạch của lúa gạo ở các nước Đông Nam Á
Bảng 2: Sự hao thất sau thu hoạch lúa gạo ở Nhật Bản
Các hoạt động sau thu hoạch Sự hao thất (%)
Không đáng kể0,2 – 0,30,30,30,10,2
Trang 17Nguồn: Bộ Nông Lâm Nhật Bản, do Lê Doãn Diên, 2002 trích dẫn
Theo thống kê của Bộ Nông Lâm Nhật Bản, sự hao thất sau thu hoạch của lúa gạo
ở Nhật Bản chỉ khoảng 3,9 – 5,6% (Bảng 2) - thấp nhất thế giới
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Lương thực bị mất sau quá trình thu hoạch như chế biến, bị hỏng do côn trùng và các loài gặm nhấm hay những nhân tố khác Việc giảm tổn thất là cần thiết để tăng cường sản xuất trong tương lai Lượng tổn thất tùy loại hoa màu, đất nước, vùng khí hậu… Kết quả ước lượng tổng thất thoát lương thực từ 10 – 40% (Satin, 1997)
Một nghiên cứu bởi Viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) ở Philippines đánh giá từ 5 - 16% lượng lúa gạo bị mất trong quá trình thu hoạch bao gồm , tuốt, vận chuyển, làm sạch Trong thời kỳ sau thu hoạch, thêm 5 - 21% bị mất trong làm khô, bảo quản, xay xát và chế biến Tổng lượng thất thoát là 10 - 37% tổng lượng lúa Gần đây, theo báo cáo điều tra về tình trạng thất thoát lúa, ở Trung Quốc là 5 - 23% và Việt Nam 10 - 25% Lượng tổn thất do thu hoạch 1 - 3%, quá trình buôn bán 2 - 7%, tuốt 2 - 6%, làm khô 1 - 5%, tồn trữ 2 - 6%, vận chuyển 2 - 10% Tổng lượng tổn thất 10 - 37% (Satin, 1997)
Theo Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (2004), tổn thất STH đối với lúa gạo ở Việt Nam vào loại cao nhất Châu Á, dao động khoảng 9 - 17% Tại các quốc gia sản xuất nông nghiệp lớn như Ấn Độ thất thoát chỉ 3 - 3,5%, Băng-la-đet 7%, Pakixtan
2 - 10%
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.2.1 Hiện trạng công nghệ sau thu hoạch tại Việt Nam
* Tình hình thu hoạch lúa
Ở ĐBSCL chỉ có khoảng 434 máy lúa (chủ yếu là máy cải tiến) Nhưng trong thời gian qua nhu cầu về nhân công lúa rất cao Trong khi đó một số nông dân đã sử dụng máy đeo vai, máy lúa rải hàng để thu hoạch nhưng việc ứng dụng nầy còn rất nhiều hạn chế là do: điều kiện kênh rạch và khó thu hoạch được những lúa đổ ngã, rơm dài, do đó khó tuốt và tốn công gom nhiều Cho nên việc thu hoạch lúa của nông hộ ở ĐBSCL chủ yếu thuê mướn nhân công bằng tay với liềm hay vòng và thường thiếu lao động lúc cao điểm thu hoạch Do thiếu lao động nên nông dân phải trả chi phí để lúa, đặc biệt trong mùa lũ Điều nầy dẫn đến thu hoạch trễ gây hao hụt ngoài đồng cao (Hợp Phần
Xử Lý Sau Thu Hoạch, 2004)
Theo Dương Thái Công (2005), máy cũng phát triển trong vài năm gần đây Các loại máy hiện có chủ yếu ở ĐBSCL như:
- Máy cải tiến từ máy cắt cỏ (máy mang vai)
- Máy gặt xếp dãy
- Máy gặt đập liên hợp
Tuy nhiên từng loại máy có những ưu nhược điểm khác nhau và tùy vào từng điều kiện thực tế của từng vùng mà chúng được ứng dụng Nhưng hiện nay loại công cụ thu hoạch lúa chủ yếu là cắt bằng tay, sử dụng liềm và lực lượng nhân công tại chỗ hoặc tại các xã, huyện, tỉnh khác đến Thông thường nhân công làm dịch vụ cắt gom (ngố) là vào vụ ĐX và cắt lòi vụ HT
Ưu nhược điểm của cắt bằng tay là:
Trang 18- Có thể được mọi địa hình trong mọi điều kiện của đồng ruộng ở mọi tình trạng của lúa.
- Cắt chậm, năng suất thấp, khoảng 2 người/công/ngày, rơi rụng nhiều, giá nhân công cao Không đáp ứng kịp thời cho việc quay vòng thời vụ
Theo Nguyễn Bồng (2004), thực tế ở ĐBSCL cũng cho thấy rằng, sau khi lúa bằng máy gặt xếp dãy, khâu gom lúa đến chỗ đập thường gặp khó khăn do người gom cho rằng, gom lúa bằng máy sẽ khó khăn hơn lúa bằng tay và lại đòi hỏi chi phí cao hơn Đây chính là một trong những nguyên nhân làm trở ngại việc phát triển máy Theo Ngô Văn Hóa (2004), tình hình thu hoạch lúa ở An Giang chủ yếu là thủ công Các loại máy hiện nay gồm máy cải tiến từ máy cắt cỏ, máy cắt xếp dãy, máy gặt đập liên hợp,…
Tình hình dịch vụ lúa:
- Cắt lúa bằng tay: sử dụng liềm và lực lượng nhân công tại chỗ hoặc từ các xã huyện, tỉnh khác đến Thông thường nhân công làm nhiệm vụ cắt và gom vào vụ ĐX và cắt lòi vào vụ HT do lũ Giá thường biến động do thời điểm, tình trạng cây lúa và thường do nhân công nâng giá
Ưu điểm: có thể cắt được mọi địa hình trong nhiều điều kiện của ruộng đồng, mọi tình trạng của cây lúa
Nhược điểm: cắt chậm, năng suất thấp, khoảng 2 người/công/ngày, rơi rụng
- Máy cắt mang vai: được cải tiến từ máy cắt cỏ; có thể nói đây là máy có nhiều điều được tranh luận
Ưu điểm: máy gọn nhẹ, giá thành rất rẻ so với các loại máy khác, thuận lợi khi hoạt động, không mất nhiều thời gian và công sức khi mang máy ra hoạt động ngoài ruộng
Nhược điểm: cần phải học vận hành kỹ trước khi đi vào sử dụng, độ an toàn thấp
Chi phí nhiên liệu cho 1.000 m2 khoảng 1 lít xăng (11.000 đồng)
- Máy gặt xếp dãy: hiện nay ở An Giang có nhiều loại máy gặt xếp dãy được nông dân áp dụng trên đồng ruộng được sản xuất từ các tỉnh khác nhau như An Giang, Đồng Tháp, Long An Loại máy gặt xếp dãy do Công ty Cơ khí An Giang sản xuất với công suất thiết kế 2 ha/ngày chiếm đa số
Ưu điểm: đối với máy gặt xếp dãy có công suất lớn có thể giải quyết được việc khan hiếm nhân công, cắt sạch gọn, ít rơi rụng, đáp ứng thời vụ
Nhược điểm: lúa bông lúa hơi dài, rất nặng cho máy tuốt nên máy tuốt rất ngại khi tuốt lúa máy gặt xếp dãy, lúa cắt rải trên đồng nên khi gom lại tuốt tốn nhiều công, lúa ngã và nhiều lá ủ thì khả năng hoạt động của máy kém
Trang 19Phần lớn nông dân ĐBSCL hiện nay đều sử dụng máy tuốt để lúa Đa số nông dân
sử dụng máy tuốt từ dịch vụ tuốt có ở địa phương, nơi khác đến hoặc nông dân tự trang
bị Thường có hai loại cỡ máy tuốt thông dụng là loại trống đập dài 1,2 – 1,4 m (nhỏ) và 1,6 – 1,8 m (lớn) Các loại máy nầy có thể di chuyển nhờ ghe xuồng hay có gắn bánh xe
để di chuyển đến nơi tuốt lúa Đặc biệt trong điều kiện đồng ruộng ở ĐBSCL ở một số vùng khó vận chuyển, bờ nhỏ, đường hẹp nông dân thường sử dụng máy tuốt loại nhỏ (Hợp Phần Xử Lý Sau Thu Hoạch, 2004)
Theo Nguyễn Văn Minh và ctv (2002), tuốt lúa ở tỉnh An Giang hiện nay đã được
cơ giới hóa 100%, trong toàn tỉnh có 2.372 máy tuốt và chủ yếu do tư nhân đầu tư Chủ tuốt thường cung cấp dịch vụ cho nông dân ở cùng xã hoặc các xã lân cận Các máy tuốt thường có công suất trung bình từ 1 - 5 tấn/giờ, sử dụng các động cơ từ 15 – 30 HP của Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam Riêng thùng tuốt được thiết kế ở các cơ sở sản xuất máy tuốt địa phương Nhìn chung số lượng và chất lượng dịch vụ máy tuốt ở An Giang đang trong giai đoạn cạnh tranh và cơ bản đáp ứng nhu cầu của nông dân
* Công nghệ làm khô
Phơi nắng
Theo kết quả điều tra Hợp Phần Xử Lý Sau Thu Hoạch (2004), ở ĐBSCL có trên 90% nông dân áp dụng phương pháp phơi Đa số nông dân phơi trên sân đất (42% hộ), phơi sân xi măng (38% hộ), một số nơi nông dân phơi lúa trên lộ, sân công cộng do không có nhiều sân phơi
Theo Dương Thái Công (2004) có rất nhiều hình thức phơi nắng như:
- Phơi mớ: bông lúa sau khi cắt được để lại phơi trên đồng trước khi gom Phơi
mớ vào vụ ĐX nhằm giảm chi phí và thời gian cho công đoạn phơi hạt Đa số nông dân phơi mớ đều chưa quan tâm đến vấn đề rạn nứt hạt gạo của lúa phơi mớ, họ chỉ quan tâm đến chi phí và thời gian phơi
- Phơi trên sân gạch, xi măng sau khi tuốt lúa
- Phơi trên nền đất: sân phơi thường là nền sân trước nhà, bờ kênh Nông dân phơi lúa trên nền đất có lót lưới cước để giữ sạch lúa và giảm hao hụt lúa Phương pháp nầy có ưu điểm là tận dụng được những nền đất trên bờ kênh, sân nhà Tuy nhiên, cần phải tốn nhiều chi phí đầu tư cho lưới cước, đệm cao su để đậy lúa và thuê mướn nhân công phơi lúa Chi phí cho hoạt động phơi trung bình khoảng 48.000 đồng/tấn vào mùa
ĐX và 128.000 đồng/tấn vào vụ HT, cao gấp 2,7 lần mùa ĐX và tương đương với chi phí sấy lúa
Trang 20Làm khô bằng máy sấy
Phần lớn nông dân ở ĐBSCL có tập quán phơi lúa, họ chỉ sấy lúa khi nào không thể phơi được Ngay cả những nơi có máy sấy sẵn sàng, khi tuốt lúa xong họ vẫn chờ nắng để phơi và chỉ đem sấy khi nào mưa nhiều không thể phơi được Toàn ĐBSCL ước tính có khoảng 2.946 máy sấy các loại, trong đó cỡ máy dưới 4 tấn/mẻ khoảng 374 máy, 4 – 6 tấn/mẻ khoảng 1.401 máy và trên 8 tấn/mẻ khoảng 672 máy Theo nông dân
có hai lý do khiến họ hạn chế sử dụng phương pháp sấy, thứ nhất là công vận chuyển lúa từ nhà đến máy sấy rất cao (12.000 đồng/tấn/km) và hai là chi phí sấy lúa khá cao (70.000 – 80.000 đồng/tấn) trong khi giá bán giữa lúa phơi và lúa sấy thì như nhau (Hợp Phần Xử Lý Sau Thu Hoạch, 2004)
Theo Nguyễn Văn Xuân và ctv (2002), các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Kiên Giang
là một trong các tỉnh có số lượng máy sấy cao nhất 12 tỉnh ĐBSCL Trong đó riêng tỉnh Kiên Giang có số lượng máy sấy nhiều nhất (770 máy) chủ yếu là máy sấy tĩnh vỉ ngang
và máy sấy rất rẻ không đáng kể (5 máy), lượng máy sấy hiện còn mất cân đối giữa các địa phương trong tỉnh
Theo Nguyễn Văn Minh và ctv (2002), trong toàn tỉnh An Giang có 494 máy sấy các loại Chủ yếu là máy sấy tĩnh vỉ ngang, ngoài ra còn có các loại máy sấy đảo gió, tháp chóp ống lưới, loại máy sấy cải tiến vỉ ngang và loại sấy SRR Nhìn chung dịch vụ sấy lúa còn ở qui mô nhỏ, chưa mang tính chuyên nghiệp Nông dân tự trang bị máy sấy cho gia đình và dòng họ, sau thời gian sấy xong sẽ chuyển sang làm dịch vụ sấy cho các nông dân khác trong cùng xã Tuy nhiên, cũng có một số hộ bắt đầu đầu tư cho dịch vụ sấy chuyên nghiệp
Theo Nguyễn Văn Minh và ctv (2003), phương tiện vận chuyển lúa ở Sóc Trăng như ghe, xuồng máy, máy kéo, xe bò, xe trâu trong đó chủ yếu bằng ghe xuồng máy Dịch vụ vận chuyển có giá khác nhau theo phương tiện và quãng đường vận chuyển Giá vận chuyển trung bình khoảng 32.000 – 35.000 đồng/tấn Nhìn chung, dịch vụ vận chuyển vẫn chưa đáp ứng đủ vào thời điểm thu hoạch tập trung, nhất là vụ HT do nhân công của địa phương bị thu hút vào nuôi trồng thủy sản và công ty chế biến thủy sản
* Tồn trữ và bảo quản
Nông dân nhiều nơi ở ĐBSCL chưa quan tâm đến việc tồn trữ và bảo quản lúa lâu dài mà sau khi thu hoạch họ có thể bán ngay lúa tươi hoặc giữ một vài tháng sau đó bán lúa cho thương lái Rất ít nông dân trữ lúa để chờ bán với giá cao Theo kết quả điều tra
có khoảng 50% nông dân bán lúa tươi ngay sau khi thu hoạch với sản lượng trên 40% Hầu hết nông dân có tồn trữ lúa với mục đích để ăn hoặc làm giống Thông thường trong 100% thu hoạch được, nông dân để khoảng 2 – 4% sản lượng lúa làm giống và 14 – 16% sản lượng dành để ăn Việc tồn trữ chủ yếu là chứa trong bao và đem chất đống trong một góc nhà (Hợp Phần Xử Lý Sau Thu Hoạch, 2004)
Theo Nguyễn Văn Minh và ctv (2002), nông dân An Giang bảo quản lúa chủ yếu
ở qui mô hộ gia đình nhằm mục đích chờ giá, để ăn hoặc làm giống và chủ yếu là theo kinh nghiệm cá nhân Theo kết quả điều tra có khoảng 49,5% hộ nông dân bảo nhằm
Trang 21mục đích chờ giá, phần còn lại sau khi phơi khô là bán ngay vì họ cần tiền để trả ngân hàng, đầu tư cho vụ kế tiếp và những chi phí khác Phương tiện bảo quản lúa của nông dân An Giang chủ yếu là bao PP với sức chứa 45 – 50 kg/bao Theo nông dân thì bảo quản bằng bao sẽ dễ dàng hơn trong việc bán và giảm được rủi ro do thay đổi ẩm độ trong quá trình bảo quản
Theo Bùi Song Cầu và Nguyễn Ngọc Hùng (2004), hiện nay vùng ĐBSCL tồn trữ lúa theo hai dạng: với qui mô tồn trữ vừa và nhỏ ở các nông hộ từ 1 - 20 tấn hoặc với qui mô tồn trữ lớn ở các công ty, xí nghiệp Cả hai qui mô tồn trữ dùng phương pháp bảo quản khô trong kho ở dạng chứa trong bao
Xay xát quy mô lớn (công nghiệp): công suất xay xát 2 – 2,5 tấn gạo/giờ chủ yếu phục vụ cho nhu cầu xay xát quy mô công nghiệp
Các dịch vụ xay xát nầy không tiến hành theo hình thức hợp đồng mà chủ yếu là hình thức thỏa thuận giữa chủ nhà máy với tư thương xay gạo do sự bị động của thị trường xuất khẩu gạo
Thông thường, sản phẩm gạo lật cung cấp cho các nhà máy lau bóng có độ ẩm cao, đôi khi đến 18%, gây khó khăn cho công đoạn lau bóng do phải xử lý ẩm độ của gạo lật, điều nầy làm tăng giá thành lau bóng và giảm chất lượng gạo xuất khẩu Để khắc phục tình trạng nầy, cần phải làm khô nguyên liệu đến ẩm độ thích hợp (14,5 – 15,5%) trước khi đem xay xát
1.2.2.2 Tầm quan trọng của tổn thất sau thu hoạch
Theo Lê Doãn Diên (2004), mọi phương tiện và thiết bị bảo quản sau thu hoạch các loại nông sản, các loại lương thực thực phẩm đều rất quan trọng với nông dân và chủ trang trại, xí nghiệp, các nhà máy sản xuất và chế biến, lưu thông và tiêu thụ lương thực thực phẩm Các phương tiện và thiết bị rất cần thiết nhằm đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm cho mỗi gia đình nông dân cũng như cho toàn cộng đồng cho đến vụ thu hoạch tiếp sau, đồng thời đảm bảo việc bán các loại nông sản, các loại lương thực, thực phẩm với giá có lợi cho nông dân
Mục tiêu của việc bảo quản các loại nông sản nhằm tạo điều kiện thích ứng về môi trường để bảo vệ một cách tốt nhất các loại nông sản, đồng thời duy trì số lượng và chất lượng của chúng Như vậy, sẽ giảm được sự tổn thất
Ngoài sự tổn thất về số lượng, sự tổn thất về chất lượng cũng rất đáng kể Các loại nấm mốc trong quá trình bảo quản hạt không đúng kỹ thuật sẽ làm giảm đáng kể tỉ lệ các aminoacid và một số aminoacid không thay thế Nấm mốc cũng gây ra sự tổn thất
về chất lượng protein trong hạt Điều nầy sẽ gây ảnh hưởng xấu trong dinh dưỡng khi dùng các loại nông sản làm nguyên liệu để chế biến
Tất cả những điều nói trên đã chứng tỏ tầm quan trọng của công đoạn sau thu hoạch trong hệ thống nông nghiệp của mỗi nước, đặc biệt là ở Việt Nam
* Sự tổn thất về số lượng
Trang 22Là sự tổn thất về trọng lượng các loại nông sản, lương thực, thực phẩm gây ra do các loại côn trùng, chuột và chim trong quá trình thu hoạch, các công đoạn sau thu hoạch và quá trình bảo quản.
bộ, nhân viên quản lý tinh thông nghiệp vụ Ngược lại, ở những nước đang phát triển, các tổn thất trong các khâu chế biến, bảo quản và vận chuyển nông sản, lương thực, thực phẩm thường có chiều hướng cao vì thiếu các phương tiện và thường là thiếu hiểu biết về các phương pháp để quản lý đúng mức nông sản, lương thực, thực phẩm (Lê Doãn Diên, 2004)
Theo thống kê, tại Việt Nam tỉ lệ tổn thất lúa STH trung bình rất cao, từ 13 - 16%,
trong đó tại vùng duyên hải Nam Trung Bộ là 15%; 10% tại ĐBSH và 15% tại ĐBSCL Nếu tính chi li, hàng năm tổng sản lượng lúa của cả nước từ 35,5 - 36 triệu tấn thì tỉ lệ thất thoát mỗi năm cũng trên dưới 2 triệu tấn lúa Nếu quy ra thành tiền thì mất cả ngàn
tỷ đồng (Nông Nghiệp Việt Nam, 2005)
Sản xuất hàng hóa nông sản của nước ta còn đứng trước nhiều khó khăn Sau những gánh nặng về giống, vốn, phân bón và kỹ thuật canh tác, nhà nông còn phải đối
mặt với tình trạng thất thoát STH Đây là nỗi khổ thật sự, vì chỉ tính "sơ sơ" tổn thất lúa
gạo, mỗi năm nước ta mất hơn 3.000 tỷ đồng (Nông Nghiệp Việt Nam, 2005)
Quá trình sản xuất lúa gạo từ khi cắt, gom, tuốt, vận chuyển, phơi, chế biến, bảo quản và tiêu thụ có rất nhiều nguyên nhân làm hao hụt sản phẩm Nếu không chú ý cẩn thận từng khâu sẽ gây “mất mùa trong nhà”, lượng lúa gạo bị hao hụt trong các khâu nầy có thể làm mất đến 30% sản phẩm (Nông Nghiệp Việt Nam, 2005)
* Tình hình tổn thất lúa sau thu hoạch ở Đồng Bằng Sông Hồng
Theo cuộc điều tra tiến hành năm 1990 – 1991 của Viện Công Nghệ sau thu hoạch phối hợp với Tổng Cục Thống kê, sự hao thất ở các khâu trong hệ thống sau thu hoạch lúa gạo ở ĐBSH được thể hiện như sau:
Bảng 3: Sự hao thất sau thu hoạch lúa gạo ở đồng bằng Sông Hồng
Các hoạt động sau thu hoạch Sự tổn thất (%)
Trang 23* Tình hình tổn thất lúa sau thu hoạch ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
ĐBSCL là vùng có tỉ lệ tổn thất cao nhất nước Năm 1999 khu vực nầy sản xuất gần 17 triệu tấn lúa, với mức thiệt hại 20%, ĐBSCL mất 3 – 3,5 triệu tấn lúa, tương đương sản lượng của hai tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng cộng lại Tổn thất STH không chỉ làm giảm sản lượng, chất lượng, mà còn làm ảnh hưởng lớn đến thu nhập của nông dân Chỉ riêng đối với sản xuất lúa ở ĐBSCL, mỗi 1% tổn thất STH làm thiệt hại tới 7 triệu USD Với tỉ lệ tổn thất 20 – 30% mỗi năm đối với lúa gạo, Việt Nam đã mất tới 150 –
200 triệu USD (Hà Yên, 2003)
Mặc dù ĐBSCL là vùng sản xuất ra một khối lượng lớn lúa gạo cho cả nước nhưng những hỗ trợ và các dịch vụ cho nông dân trồng lúa vẫn còn giới hạn Có nhiều nông dân trồng lúa vẫn nghèo và thiếu các phương tiện sản xuất, đặc biệt là thiếu các phương tiện cho các khâu STH và quản lý kém dẫn đến những thất thoát rất nghiêm trọng STH (Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, 2004)
ĐBSCL là vựa lúa lớn nhất của cả nước, tổng sản lượng hàng năm khoảng 17 triệu tấn Lúa HT và TĐ thường thu hoạch trong thời gian mưa bão lũ lụt Do đó sản lượng hao hụt giai đoạn STH là rất lớn (Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, 2004)
Theo Nguyễn Duy Cần (2004), kết quả phân tích và dựa vào kết quả sản xuất lúa toàn vùng ĐBSCL, sản lượng vụ ĐX là 8.631.700 tấn, vụ HT là 6.509.700 tấn và vụ TĐ
là 2.581.800 tấn thì lượng lúa thất thoát vụ ĐX là 830.369,54 tấn (khoảng 9,62%), vụ
HT là 808.504,74 tấn (12,42%) và vụ TĐ là 287.096,16 tấn (11,31%) Tổng cộng thất thoát của cả năm là 1.925.974 tấn lúa tương đương với 3.370,454 tỷ đồng
1.2.2.4 Thực trạng tổn thất sau thu hoạch ở các công đoạn
Theo Tạp chí Nghiên cứu sản phẩm bảo quản của Canada, hiện nay, tổn thất sau thu hoạch do côn trùng, vi khuẩn phá hoại và các nhân tố khác chiếm 10 - 25% tổng sản lượng nông sản toàn thế giới Tại Việt Nam, đối với rau quả, do công nghiệp chế biến từ khâu thu hoạch, lựa chọn, bảo quản chủ yếu vẫn còn thủ công nên tỉ lệ tổn thất sau thu hoạch lên tới 20 - 25% Đó là chưa kể, công nghệ bảo quản và phương tiện vận chuyển thiếu và lạc hậu, chất lượng thấp, giá thành cao, sản phẩm chưa có sức cạnh tranh trong xuất khẩu Hay như một số mặt hàng lương thực, tỉ lệ thất thoát trong khâu thu hoạch và STH là 8 - 10%, thậm chí, vụ HT ở ĐBSCL là 15% (Nông Nghiệp Việt Nam, 2006).Thất thoát STH, tiến sĩ Tạ Quốc Tuấn khẳng định "Bất cứ một khâu, một động tác nào cũng đều gây ra thất thoát lúa, kể cả ở những khu ruộng thử nghiệm, ruộng mẫu của Viện Lúa Khi lúa chín phải thuê nông dân tới thu hoạch Ngay từ động tác đầu tiên của
họ là cắt lúa đã gây ra thất thoát vì cắt được bó lúa nào là họ ném ngay xuống đất Tiếp
đó, những người đi thu gom lúa lại một chỗ cũng làm hạt lúa bị rơi vãi Rồi khi đưa lúa lên bờ lại rơi, đưa lúa lên xe lại cũng rơi Sau đó là lúa rơi vãi ở mọi khâu còn lại, từ tuốt lúa, tới phơi phóng, vận chuyển, xay xát Có những ruộng lúa, khi thu hoạch xong,
số lượng hạt lúa rơi vãi trên khắp mặt ruộng hoàn toàn có thể nẩy mầm, mọc kín lên thành một ruộng lúa mới" Thực trạng nầy, đến bây giờ vẫn còn phổ biến trên hầu khắp các cánh đồng lúa ở ĐBSCL, bởi tuy đã có máy móc nhiều hơn, nhưng việc thu hoạch lúa vẫn còn phụ thuộc quá nhiều vào đôi bàn tay người nông dân, với quá nhiều công đoạn, tạo ra nhiều chỗ hở cho hạt lúa rơi vãi xuống đất (Nông Nghiệp Việt Nam, 2006).Theo Trần Ngọc Chủng (2005), những công đoạn chính gây những thất thoát sau thu hoạch trên lúa bao gồm khâu thu hoạch, gom, tuốt lúa, phương pháp phơi, điều kiện tồn trữ và xay chà Những thất thoát sau thu hoạch trên lúa tùy thuộc vào mùa vụ, thời
Trang 24tiết, vùng sinh thái nông nghiệp và phương pháp xử lý sau thu hoạch của con người áp dụng vào.
* Tổn thất do cắt và gom lúa
Việc cắt và gom lúa ở ĐBSCL thường thực hiện hoàn toàn bằng thủ công Thất thoát do các khâu cắt và gom có thể bao gồm nhiều yếu tố như do giống, thu hoạch trễ, lúa đổ ngã ở thời điểm thu hoạch, thời tiết xấu, bó và vận chuyển, Thất thoát do cắt và gom lúa vụ HT và TĐ cao hơn vụ ĐX Điều nầy do vụ HT thu hoạch rơi vào mùa mưa, lúa thường đổ ngã, trở ngại trong việc cắt và gom Một cách cụ thể, tỉ lệ thất thoát trung bình do khâu cắt và gom được ước tính như sau: vụ HT là: 4,16%, vụ TĐ là 3,06% và
vụ ĐX là 2,06% (Hợp Phần Xử Lý Sau Thu Hoạch, 2004)
Bảng 4: Trung bình tổn thất STH theo mùa vụ ở ĐBSCL Đvt:
- Hạt lẫn theo rơm được đánh giá thông qua kết quả của những người mót lúa
- Hạt sót theo bông lúa được ước lượng khoảng 0,3 – 0,5%
- Hạt bị rơi vãi xung quanh máy tuốt được nông dân thu hồi lại nhờ có trải lưới cước Vậy, hao hụt trong khâu tuốt là: ĐX 1,0 – 1,3%; HT 1,7 – 2,9%
Theo Trần Ngọc Chủng (2005), thất thoát do khâu tuốt thì ít hơn khâu cắt Những thất thoát nầy có thể do lúc thời tiết xấu, hạt lúa dính với rơm, cách đưa lúa vào khi tuốt
và tùy vào loại máy tuốt Thất thoát do tuốt lúa ở vụ TĐ và HT có xu hướng cao hơn ở
vụ ĐX Cụ thể là: Vụ HT là 2,32%, vụ TĐ là 2,67% và vụ ĐX là 1,71%
* Tổn thất do phơi - sấy lúa
Làm khô lúa là bước quan trọng nhất trong các khâu sau thu hoạch Nó không những ảnh hưởng thất thoát tồn trữ, thất thoát xay chà, mà còn ảnh hưởng đến chất lượng và giá cả của lúa hàng hóa
Thất thoát do phơi tùy thuộc vào các phương tiện phơi Hiện tại nông dân áp dụng phương pháp phơi nắng, rất ít nông dân sấy lúa Thất thoát do phơi nắng có thể gây ra bởi thời tiết xấu (mưa), hạt rơi vãi và đôi khi mưa liên tục làm lúa mọc mầm Bình quân toàn ĐBSCL, tỉ lệ thất thoát do phơi trong vụ HT cao nhất, trong khi tỉ lệ thất thoát do phơi trong vụ TĐ và ĐX rất thấp Điều nầy do vụ HT mưa nhiều gây thất thoát cao khi phơi Một cách cụ thể, trung bình tỉ lệ thất thoát do phơi ở từng vụ như sau: Vụ HT là 2,94%, vụ TĐ là 1,31% và vụ ĐX là 1,36% (Hợp Phần Xử Lý Sau Thu Hoạch, 2004)
Trang 25Theo Nguyễn Văn Minh và ctv (2003), hao hụt trong khâu phơi ở các vụ do tác động bởi những yếu tố như:
- Vụ ĐX tổn thất gồm:
+ Do rơi vãi trong quá trình phơi khoảng 1%
+ Do việc phơi mớ trên đồng gây ra sự rạn nứt làm giảm tỉ lệ thu hồi gạo nguyên khi xay xát Theo kết quả điều tra tại Sóc Trăng năm 2003, có khoảng 17% hộ nông dân phơi mớ Do đó hao hụt do sự rạn nứt khoảng 0,26%
Vậy tổn thất trong khâu phơi lúa ở vụ ĐX là 1,26%
- Vụ HT tổn thất bao gồm:
+ Mất mát do rơi vãi trong quá trình phơi khoảng 1,4%
+ Ngoài ra, yếu tố thời tiết bất lợi trong vụ HT như mưa bão kéo dài không phơi lúa được làm ảnh hưởng đến chất lượng lúa như bị biến màu hay nẩy mầm, gây mất mát khối lượng và giảm giá bán, tổng trong khâu nầy ước tính khoảng 0,92%
Vậy tổn thất trong khâu phơi lúa ở vụ HT là 2,32%
* Tổn thất do vận chuyển
Thất thoát do khâu vận chuyển được tính thông qua ước lượng sự hao hụt trong quá trình vận chuyển lúa hạt từ đồng về nhà, vận chuyển lúa đem phơi, tồn trữ hay đem bán Việc ước tính tổn hại do vận chuyển chỉ mang tính tương đối Thất thoát do khâu vận chuyển thì rất thấp so với các khâu khác sau thu hoạch Thất thoát do khâu vận chuyển ở từng vụ như sau: vụ HT là 0,38%, vụ TĐ là 0,57% và vụ ĐX là 0,22% (Hợp Phần Xử Lý Sau Thu Hoạch, 2004)
Theo Nguyễn Văn Minh và ctv (2003), hao hụt trong khâu vận chuyển chủ yếu là
sự rơi đổ lúa do rách, bể bao đựng trong quá trình vận chuyển Nhìn chung hao hụt nầy thấp, qua kết quả điều tra 225 hộ nông dân tại Sóc Trăng năm 2003 thì ước lượng tổn thất trong khâu nầy khoảng 0,25%
- Do tồn trữ lúa: tùy theo mục đích sử dụng mà khâu tồn trữ lúa trong dân khá đa dạng, khối lượng và thời gian tồn trữ cũng rất khác nhau Việc đánh giá thất thoát trong khâu nầy chủ yếu thông qua phiếu điều tra, có khoảng 50 – 60% hộ nông dân tại Kiên Giang có tồn trữ lúa với khối lượng trung bình 5,6 tấn/hộ, thời gian tồn trữ trung bình 4 tháng Vậy hao hụt do tồn trữ lúa tính trung bình trong khâu nầy cả hai vụ là 2,1 - 2,6%
Trang 26độ ẩm chưa được coi trọng Hầu như các công ty chế biến lương thực ở nước ta ít quan tâm sự tổn thất nầy, trong khi đây là nguyên nhân chủ yếu làm cho gạo của nước ta luôn
có tỉ lệ thu hồi và phẩm cấp thấp, giá thành chế biến cao Ðiều cần khuyến cáo là các đơn vị chế biến lương thực nên có công đoạn sấy nguyên liệu trước khi đưa vào chế biến để nâng cao tỉ lệ thu hồi cũng như phẩm chất của sản phẩm Tổn thất trong quá trình xay xát, chế biến vào khoảng 2,2 - 3,3% (Nông Nghiệp Việt Nam, 2006)
Thất thoát trong khâu xay xát được ước lượng thông qua tỉ lệ gạo nguyên thu hồi,
tỉ lệ xay xát Trong khi tỉ lệ xay xát bị ảnh hưởng vào chất lượng lúa khi đem xay xát (chất lượng lúa ở mùa vụ), và chất lượng nhà máy xay xát (máy lớn, máy nhỏ) Theo số liệu điều tra, tỉ lệ xay chà (gạo thu hồi) cho lúa vụ HT là 60% và cho lúa ĐX là 65%, trong khi tỉ lệ nầy ở nhà máy xay xát loại nhỏ từ 55 – 60% và máy cỡ lớn là 60 - 68% Trung bình tỉ lệ thất thoát do xay xát không khác nhau nhiều Cụ thể là: vụ HT là 1,9%,
vụ TĐ là 2,1% và vụ ĐX là 2,3% (Hợp Phần Xử Lý Sau Thu Hoạch, 2004)
1.2.2.5 Nguyên nhân gây tổn thất sau thu hoạch
Một cách tổng quát, những công đoạn chính gây những tổn thất sau thu hoạch trên lúa bao gồm khâu thu hoạch, gom, tuốt lúa, phương pháp phơi, điều kiện tồn trữ và xay chà Những tổn thất sau thu hoạch trên lúa tùy thuộc vào mùa vụ, thời tiết, vùng sinh thái nông nghiệp và phương pháp xử lý sau thu hoạch của con người áp dụng vào
Theo Lê Doãn Diên (2004) có rất nhiều nguyên nhân gây nên tổn thất về nông sản, lương thực, thực phẩm trong các công đoạn sau thu hoạch mà ta có thể phân loại thành ba nhóm như sau:
* Nguyên nhân hàng đầu: là những nguyên nhân trực tiếp có ảnh hưởng đối
với nông sản, lương thực, thực phẩm
- Nguyên nhân sinh học: nông sản, lương thực, thực phẩm bị các loài gặm nhấm
và các động vật khác ăn Điều nầy là nguyên nhân gây tổn thất trực tiếp đến nông sản, lương thực và thực phẩm Đặc biệt, côn trùng gây nên tổn thất về cả 2 cách: tổn thất về trọng lượng do chúng ăn trực tiếp và tổn thất về chất lượng do chúng bài tiết…
- Nguyên nhân vi sinh vật: nông sản, lương thực, thực phẩm bị hư hỏng bởi nấm
và vi khuẩn Vi sinh vật thường tiêu thụ một số lượng nhỏ nông sản nhưng phần lớn làm hỏng bằng cách làm mục nát, thối rữa hay làm hư hại bằng cách khác khiến người ta không thể sử dụng nông sản nữa
- Nguyên nhân hóa học: nhiều loại cấu tử hóa học hiện hữu tự nhiên trong nông sản, lương thực, thực phẩm bảo quản trong kho đã phản ứng một cách tự phát đồng thời gây ra tổn thất về màu sắc, kết cấu và giá trị dinh dưỡng
- Các phản ứng hóa sinh: một số phản ứng do hoạt động của enzime có thể xảy ra
ở nông sản, lương thực, thực phẩm trong thời gian bảo quản làm cho nông sản, lương thực, thực phẩm mất màu, mất mùi vị hay trở nên mềm nhũn
- Nguyên nhân cơ giới: hiện tượng xay xát làm sứt mẻ hay làm bầm dập… đều là những nguyên nhân gây nên tổn thất
- Nguyên nhân vật lý: việc làm nóng hoặc lạnh quá dư hoặc không đủ điều kiện có thể làm hư hỏng nông sản, lương thực, thực phẩm Khí quyển không thích hợp trong sự bảo quản kín cũng có thể gây tổn thất
- Nguyên nhân sinh lý học: sự suy giảm hô hấp tự nhiên vốn diễn ra trong tất cả các sinh vật sống cũng dẫn đến hiện tượng tổn thất về trọng lượng
Trang 27- Nguyên nhân tâm lý: trong một số trường hợp, vì nguyên nhân tôn giáo, người ta kiêng kỵ ăn thức ăn nầy hay thức ăn khác.
* Nguyên nhân thứ yếu: là những nguyên nhân tạo điều kiện dễ dàng cho
những nguyên nhân chủ yếu cho sự tổn thất phát sinh Đó thường là kết quả của những khoản đầu tư không đầy đủ về tài chính, về công nghệ và về kiểm soát chất lượng Ta có thể nêu một vài nguyên nhân sau:
- Trình độ tay nghề kém, thiếu công nghệ, thiếu kỹ thuật trong thu hoạch, và sơ chế sản phẩm
- Thiếu các thiết bị cho việc vận chuyển và bốc xếp những sản phẩm dễ bị hư hỏng
- Kho tàng và phương tiện bảo quản nông sản, lương thực, thực phẩm thiếu hay chất lượng không tốt
- Vận chuyển khó khăn, không kịp chuyên chở đến thị trường tiêu thụ trước khi nông sản, lương thực, thực phẩm bị hư hỏng
- Không có hay thiếu thiết bị phơi sấy, nắng ít không phơi được
- Phương thức chế biến và các hệ thống thị trường mang tính truyền thống gây nên nhiều tổn thất
* Nơi xảy ra tổn thất: các tổn thất có thể xảy ra ở bất cứ nơi đâu, từ khi thu
hoạch đến khi tiêu thụ Để hiểu rõ hơn chúng ta có thể nêu sự tổn thất trong từng khâu như sau:
- Thu hoạch: đây là khâu tách sản phẩm ra khỏi cây trồng vốn đã sản sinh ra sản phẩm đó
- Chuẩn bị: đây là khâu tách bóc hoặc chiết xuất phần ăn được ra khỏi phần không
- Lưu kho: là việc cất giữ nông sản, lương thực, thực phẩm cho tới khi tiêu dùng
- Vận chuyển: tất cả mọi hình thức vận chuyển đã được sử dụng để đưa nông sản, lương thực, thực phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ cuối cùng
Trang 28+ Tồn trữ: tồn trữ trong bao Lúa khô được vô bao, chất thành đống để nơi thoáng mát ở góc nhà Tồn trữ tạm thời chờ bán.
* Phương pháp chi phí cao
+ Cắt lúa: sử dụng máy cắt xếp dãy Cắt lúa bằng máy cho năng suất thu hoạch cao 3 - 4 ha/ngày Không cắt được lúa ngã Đòi hỏi kỹ thuật và sức khỏe người sử dụng máy
+ Sấy lúa: sử dụng máy sấy vĩ ngang (4 - 6 tấn/mẻ), máy sấy vĩ nghiêng hoặc thông gió đóng hạt Dễ vận hành, đầu tư trung bình, thích hợp cho hộ có qui mô sản xuất lúa vừa và lớn
+ Tồn trữ: dùng kho chứa Kho chứa thông thoáng bằng quạt
1.2.2.7 Phẩm chất gạo, tiêu chuẩn và đánh giá
* Hạt lúa và thành phần trong hạt
Theo Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang (2000), sự hiểu biết cấu trúc của hạt thóc rất quan trọng để chúng ta có thể giải thích những tính trạng vật lý cũng như hóa học của hạt gạo Sự thay đổi về cấu trúc, chức năng hợp phần trong mô phôi nhũ ảnh hưởng rất lớn đến phẩm chất dinh dưỡng của gạo Hơn nữa, sự hiểu biết nầy còn đóng góp rất
có ý nghĩa trong kỹ thuật xay xát, chế biến hạt gạo
Hạt thóc trưởng thành hoàn toàn gồm có những thành phần sau:
Hình 1: Cấu trúc hạt thóc (Nguồn: http://www.goldenrice.org/image/why_grain.jpg)
Theo Lê Doãn Diên (2004), kích thước, hình dạng hạt thóc cũng như hạt gạo là chỉ tiêu chất lượng bề ngoài quan trọng trong việc buôn bán và thương mại, thường gạo
Râu
Trấu trên
Trấu dưới
Vỏ bì
Vỏ lụa Tầng aleuron Nội nhủ (tinh bột) Gạo lức
Trang 29được phân loại dựa trên kích thước, hình dạng của hạt gạo và độ đồng đều của gạo Thành phần của hạt thóc thường có những thành phần như sau:
Mày thóc
Tùy theo giống thóc và điều kiện canh tác mà mày thóc có độ dài khác nhau; nói chung độ dài của mày thóc không vượt quá 1/3 chiều dài vỏ trấu Tuốt quá trình bảo quản, do sự cọ xát giữa các hạt thóc trong quá trình cào đảo, phần lớn mày thóc rụng ra, làm tăng lượng tạp chất trong các khối thóc
Vỏ trấu
Vỏ trấu có tác dụng bảo vệ hạt thóc, chống lại các ảnh hưởng xấu của điều kiện môi trường (nhiệt độ, độ ẩm) và sự phá hoại của sinh vật hại (côn trùng, vi khuẩn, nấm mốc, ) Trên mặt vỏ trấu có các đường gân và có nhiều lông xù xì Trong quá trình bảo quản, lông thóc thường rụng ra do quá trình cọ xát với nhau giữa các hạt thóc, làm tăng lượng tạp chất trong thóc Tùy theo giống lúa mà vỏ trấu có độ dày khác nhau và chiếm một tỉ lệ khác nhau so với toàn hạt thóc Độ dày của vỏ trấu thường là 0,12 – 0,15 mm
và thường chiếm 20% so với khối lượng toàn hạt thóc
ta gọi là “bạc bụng”
Phôi
Phôi nằm ở góc dưới nội nhũ, đây là bộ phận có nhiệm vụ chuyển hóa các chất dự trữ trong nội nhũ thành các chất dinh dưỡng nuôi mộng khi hạt thóc nẩy mầm
* Phẩm chất gạo và tiêu chuẩn đánh giá
Theo IRRI (1996) phẩm chất gạo có thể được đánh giá thông qua các hợp phần như sau: dạng hạt gạo thể hiện ra bên ngoài, phẩm chất xay chà, phẩm chất cơm khi nấu chín, phẩm chất dinh dưỡng
Dạng hạt gạo
Tiêu chuẩn đánh giá Điểm Kết luận
3 dài (6,6 đến 7,5 mm)
5 trung bình (5,51 đến 6,6 mm)
7 ngắn (5,5 mm hoặc ngắn hơn)
Trang 30Dạng hạt gạo 1 thon dài (D/R lớn hơn 3)
Tiêu chuẩn quốc tế về hàm lượng amylose như sau:
2 – 20% amylose thấp (gạo dẻo)
20 – 25% amylose trung bình (mềm cơm)
>25% amylose cao (cứng cơm)+ Độ trở hồ
Độ trở hồ (GT) là một tính trạng biểu thị nhiệt độ cần thiết để gạo hóa thành cơm
và không hoàn nguyên GT biến thiên từ 550C đến 790C
Tiêu chuẩn quốc tế về nhiệt độ trở hồ dựa trên phản ứng của hạt gạo với KOH:
1 cao (hạt gạo còn nguyên )
2 cao (hạt gạo phồng lên)
3 cao (phồng lên, viền còn nguyên, nở ít)
4 trung bình (phồng lên, viền còn nguyên, nở rộng)
5 trung bình (hạt rã ra, viền hoàn toàn nở rộng)
6 thấp (hạt tan ra, hòa chung với viền)
Trang 317 thấp (hạt tan ra hoàn toàn và trong)
Độ trở hồ trung bình là tiêu chuẩn tối hảo cho phẩm chất gạo tốt Rất hiếm có giống lúa hội đủ cả 2 tiêu chuẩn amylose trung bình và độ trở hồ trung bình
Trang 32CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Chọn vùng và điểm
2.1.1.1 Phỏng vấn
Chọn tổng số 6 huyện gồm Châu Phú, Châu Thành (An Giang); Tân Hiệp, Châu Thành (Kiên Giang) và Cao Lãnh, Tháp Mười (Đồng Tháp) thuộc vùng ĐBSCL để làm địa điểm phỏng vấn
2.1.1.2 Thí nghiệm
Chọn huyện Châu Phú, Châu Thành (An Giang), huyện Tân Hiệp, Châu Thành (Kiên Giang) và Cao Lãnh (Đồng Tháp) mỗi nơi 1 điểm thí nghiệm Diện tích mỗi điểm rộng trên dưới 1 ha tùy theo nông hộ tham gia thí nghiệm Chọn các điểm thí nghiệm với nông dân hợp tác nhờ vào sự giới thiệu của các cơ quan khuyến nông địa phương nhằm mục đích lựa chọn những điểm trình diễn có tính chất đại diện và tạo thuận lợi cho công tác khuyến nông sau nầy
2.1.2 Dụng cụ đo lường
- Máy đo ẩm độ: Máy Riceter M, nhãn hiệu của hãng Kett Electronic Laboratory, Tokyo, Nhật Bản
- Máy đo chiều dài, rộng hạt gạo Thickness Gage của hãng Mitutoyo, Nhật Bản
- Các loại cân trọng lượng 1 kg, 20 kg, 50 kg của hãng Nhơn Hòa, TP HCM
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức ngẫu nhiên hoàn toàn (Complete Randomized Design) với số lần lập lại ít nhất là 3, để so sánh sự khác biệt giữa các phương pháp truyền thống và phương pháp cải tiến
Thu thập số liệu tổn thất sau thu hoạch về số lượng và chất lượng của 2 phương pháp truyền thống và cải tiến gồm các công đoạn cắt gom, vận chuyển, tuốt, làm khô, xay xát và bảo quản Theo đó, phương pháp cải tiến khác với truyền thống ở 4 công đoạn là cắt với máy cắt xếp dãy so với cắt tay, khâu làm khô là máy sấy vỉ ngang so với phơi nắng, khâu xay xát là máy xay cố định của nhà máy lớn so với máy xay di động chạy trên đường hoặc dưới sông và khâu tồn trữ là tồn trữ tại kho nhà máy xay so với tồn trữ tại nhà của nông dân (Hình 2)
Trang 33Hình 2: Công đoạn sau thu hoạch truyền thống và cải tiến đối với lúa gạo
(Nguồn: Mukko và Athapol, 2006)
2.2.3 Đánh giá các tổn thất lúa về số lượng
2.2.3.1 Cắt gom
Thí nghiệm 1: “So sánh tổn thất lúa giữa cắt lúa bằng tay (truyền thống) và máy gặt xếp dãy (cải tiến)”
- Bố trí trên 1 ha, lấy mẫu cắt bằng tay trên 9 lô (sample plot), diện tích lô 5 x 5 =
25 m2.Thuê nhân công cắt sát gốc rạ cho sạch, lượm hạt rơi vãi bằng tay Rửa hạt Đo
ẩm độ, cân trọng lượng mẫu
- Dùng máy cắt xếp dãy cắt toàn bộ 1 ha trên và cũng lấy mẫu giống hệt như trên
- Ngoài ra, thí nghiệm cũng lấy số liệu về hao hụt cắt gom thực nghiệm trên đồng ruộng của máy gặt đập liên hợp đã trình diễn tại An Giang tại các huyện Thoại Sơn và Tịnh Biên để làm số liệu tham khảo cho hướng phát triển tới
Mặt khác, số lượng hao hụt do tuốt trên toàn ruộng thí nghiệm của nông hộ cũng được thu thập bằng cách cân lượng lúa sót trong các đống rơm bị phun ra, quét gom và lượm kỹ lúa rơi vãi quanh máy tuốt
Công đoạn sau thu hoạch truyền thống đối với lúa gạo
Cắt máy Vận chuyển bằng máy Tuốt bằng máy Sấy Xay nhà máy lớn Bảo quản tại kho Cắt tay Vận chuyển bằng máy Tuốt nắng Phơi di động Xay Bảo quản tại nhà
Công đoạn sau thu hoạch cải tiến đối với lúa gạo
Trang 342.2.4 Đánh giá các tổn thất về chất lượng lúa
- Độ dài/rộng hạt gạo
- Độ bền gel
- Hàm lượng amylose
- Nhiệt độ hóa hồCác công đoạn đánh giá về chất lượng chỉ khảo sát 2 công đoạn phơi, sấy và tồn trữ vì 2 công đoạn nầy có khả năng thay đổi chất lượng của hạt gạo và chỉ khảo sát trên các số liệu thu thập tại các điểm nghiên cứu thuộc tỉnh An Giang
2.2.4.1 Phơi và sấy
Thí nghiệm 7: "So sánh đặc tính phẩm chất hạt giữa phơi và sấy vỉ ngang"
- Thu thập mẫu từ phơi, sấy vỉ ngang Trọng lượng mẫu 1 kg Lập lại 5 lần Mỗi lần 3 mẫu
2.2.4.2 Tồn trữ
Thí nghiệm 8: "Ảnh hưởng của nơi tồn trữ lúa trên phẩm chất gạo”
So sánh 2 phương pháp tồn trữ lúa: bằng bao PP tại nhà nông dân và kho nhà máy
xay Trọng lượng mẫu 1 kg Lập lại 5 lần Mỗi lần 3 mẫu
Thí nghiệm 9: "Ảnh hưởng của ẩm độ hạt lúa và thời gian tồn trữ đến phẩm chất gạo”
Thí nghiệm tiến hành với 2 nhân tố:
Trang 35+ Thời gian: 0, 1, 2, 3 tháng
+ Ẩm độ hạt lúa khi tồn trữ: 14, 16%
Trọng lượng mẫu 1 kg Lập lại 3 lần Mỗi lần 1 mẫu Tổng cộng 24 mẫu
2.2.5 Phương pháp xác định các chỉ tiêu phẩm chất hạt gạo
Các phương pháp phân tích do Viện Lúa ĐBSCL thực hiện Kết quả có xác nhận của cấp thẩm quyền của Viện ký tên và đóng dấu đính kèm ở phần Phụ chương
2.2.5.1 Phương pháp xác định nhiệt độ trở hồ qua độ phân hủy kiềm (TCVN 5715 –
+ Độ phân hủy kiềm của hạt gạo xát được đánh giá qua thang điểm từ 1 – 7 và tỉ
lệ nghịch với nhiệt độ trở hồ theo mối tương quan:
b Nội dung phương pháp
Dùng dung dịch kali hydroxyt 1,7% phân hủy 6 hạt gạo xát nguyên ở nhiệt độ
300C trong 23 giờ Dựa vào hình dáng và mức độ bị phân hủy của các hạt gạo sau khi ủ
ấm để xác định độ phân hủy kiềm bằng cách so sánh mẫu gạo thí nghiệm với mẫu chuẩn
và thang điểm chuẩn, từ đó qui ra nhiệt độ trở hồ của mẫu
c Dụng cụ – Hóa chất
Hộp nhựa vuông có kích thước 4,6 x 4,6 x 1,9 cm hoặc hộp petri có đường kính
và chiều cao tương tự
Tủ ấm có khả năng duy trì nhiệt độ ở 300C
Pipet 10 ml
KOH 1,7%
Nước cất hoặc nước có độ sạch tương đương
d Mẫu chuẩn và thang điểm chuẩn
Phân hủy 6 hạt gạo xát nguyên trong hộp nhựa vuông (4,6 x 4,6 x 1,9 cm) chứa 10
ml dung dịch KOH 1,7% ở nhiệt độ 300C trong 23 giờ Hình dạng và mức độ bị kiềm phân hủy của hạt gạo được đánh giá bằng mắt sau khi ủ ấm dựa trên thang điểm sau:Điểm 1: hạt gạo không bị phân hủy
Điểm 2: hạt gạo bị trương lên
Điểm 3: hạt gạo bị trương lên, vành keo không hoàn thiện và hẹp
Điểm 4: hạt gạo bị trương lên, vành keo hoàn chỉnh và rộng
Điểm 5: hạt gạo bị nứt ra hoặc vỡ thành những mẫu nhỏ, vành keo hoàn chỉnh và rộng
Trang 36Điểm 6: hạt gạo phân tán, hòa tan với vành keo
Điểm 7: hạt gạo bị phân tán và trộn lẫn hoàn toàn
e Cách định độ phân hủy kiềm của mẫu thử
+ Từ mẫu gạo đã xay xát, làm sạch cám, chọn lấy khoảng 30 hạt gạo nguyên.+ Phân hủy kiềm: Lấy 6 hạt gạo xát nguyên với 2 lần phân tích nhắc lại, đặt vào hộp nhựa vuông kích thước 4,6 x 4,6 x 1,9 cm, sắp xếp sao cho các hạt không chạm vào nhau Dùng pipet cho vào mỗi hộp 10 ml dung dịch KOH 1,7% Nếu dùng hộp petri thì cần đưa vào một lượng dung dịch KOH có chiều dày ít nhất 4,5 mm để ngập được hạt gạo Đậy hộp lại và để ở nhiệt độ 300C trong 23 giờ
+ Đánh giá độ phân hủy kiềm:
Sau thời gian ủ ấm, lấy hộp nhựa ra và quan sát bằng mắt hình dạng, mức độ bị kiềm phân hủy ở từng hạt gạo trong mẫu thử và dựa vào mẫu chuẩn với thang điểm từ 1 – 7 để cho điểm các hạt trong mẫu
Điểm phân hủy kiềm của mẫu thử là giá trị trung bình của 6 điểm tính riêng cho từng hạt và kết quả cuối cùng là trị số trung bình của hai lần xác định song song
g Xác định nhiệt độ trở hồ của mẫu thử
Từ điểm số trung bình nhận được dựa vào mối tương quan giữa độ phân hủy kiềm
và nhiệt độ trở hồ để qui ra nhiệt độ trở hồ của mẫu thử
2.2.5.2 Phương pháp xác định hàm lượng amylose (TCVN 5716 – 1993)
b Nội dung phương pháp
Nghiền nhỏ gạo thành bột mịn để phá vỡ hoàn toàn hạt tinh bột Sau khi đã loại
mỡ khỏi bột, hóa hồ bằng dung dịch Natri hydroxyt Điều chỉnh pH dung dịch mẫu từ 4,5 x 4,8 bằng hệ đệm axetat, thêm dung dịch iốt và đo độ hấp thụ của phức màu tạo thành ở bước sóng 620 nm bằng phổ kế
Hàm lượng amylose của mẫu được xác định dựa vào đồ thị chuẩn, đồ thị này được xây dựng trên cơ sở sử dụng hỗn hợp amylose và amylopectin để loại trừ ảnh hưởng của amylosepectin đến màu của phức amylose – iốt trong dịch mẫu thử
Natri hydroxyt, dung dịch 1 mol/l
Natri hydroxyt, dung dịch 0,09 mol/l
Trang 37Máy quang phổ có khả năng đo độ hấp thụ ở bước sóng 620 nm.
Thiết bị chiết Soxlet
để loại bỏ alcol dư và cân bằng độ ẩm
* Chuẩn bị dung dịch mẫu thử
Cân 100 ± 0,5 mg mẫu thử đã được chuẩn bị trong bình định mức 100 ml Thêm cẩn thận 1 ml etanol 95% để rửa trôi phần mẫu còn bám trên thành bình và làm ướt đều mẫu Thêm từ từ 9,0 ml dung dịch natri hydroxyt 1 mol/l sao cho mẫu không bị vón cục
Để yên ở nhiệt độ phòng từ 15 đến 24 giờ Có thể đun cách thủy ở 1000C trong thời gian 10 phút cho đến sôi, sau đó làm nguội đến nhiệt độ phòng Đưa thể tích đến vạch bằng nước cất và lắc mạnh
* Mẫu trắng
Tiến hành mẫu trắng với cùng một lượng thuốc thử theo đúng như các bước đối với mẫu thử nhưng sử dụng 5,0 ml dung dịch natri hydroxyt 0,09 mol/l thay cho dung dịch mẫu thử
Trang 38- Hiện màu: dùng pipet lấy 5,0 ml của mỗi dung dịch chuẩn cho vào bình định mức 100 ml đã có sẵn 50 ml nước cất Thêm 1,0 ml axit axetic 1 mol/l và lắc đều Nếu cần có thể kiểm tra lại pH của dung dịch, giá trị pH cần đạt từ 4,5 - 4,8 và từ đó điều chỉnh lượng axit axetic thêm vào cho thích hợp Sau đó thêm 2,0 ml dung dịch I2 0,2% và thêm nước cất đến vạch định mức, lắc đều và giữ yên trong 20 phút.
- Đo mật độ quang của các dung dịch trên máy quang phổ ở bước sóng 620
nm với dung dịch đối chứng là mẫu trắng
- Vẽ đồ thị chuẩn: dựa vào các giá trị mật độ quang thu được và hàm lượng amylose tương ứng theo phần trăm khối lượng trong gạo tính theo chất khô
* Xác định mẫu thử
- Hiện màu: Dùng pipet lấy 5,0 ml dung dịch mẫu thử cho vào bình định mức 100 ml có chứa sẵn nước cất, thêm 1,0 ml axit axetic 1 mol/l, thêm 2,0 ml dung dịch I2 0,2% và thêm nước cất đến vạch định mức, lắc đều và giữ yên trong 20 phút
- Đo mật độ quang trên máy quang phổ ở bước sóng 620 nm với dung dịch đối chứng là mẫu trắng
g Tính toán kết quả
Hàm lượng amylose biểu thị bằng phần trăm khối lượng trong gạo xát theo chất khô được xác định dựa vào mật độ quang đo được của mẫu thử và đồ thị chuẩn
Kết quả cuối cùng là trị số trung bình cộng của hai phép xác định song song
2.2.5.3 Phương pháp phân tích độ bền gel
Cân 100 mg bột gạo đặt trong ống nghiệm có kích thước 100 mm x 110 mm và để vào 0,2ml của 95% cồn và chứa 0,025% thymol blue Thêm vào 2 ml KOH 0,2N vào ống nghiệm Ống nghiệm được đậy lại và đun sôi trong nồi cách thủy 8 phút Lấy ra và
để yên trong 5 phút Sau đó đưa các ống nghiệm vào đá 20 phút và cho nằm theo bề mặt của gel Chiều dài của gel được đo bằng thước đo Đánh giá độ dài của gel
Cấp 0: không thơm Cấp 1: thơm ít Cấp 2: rất thơm
2.2.6 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu
Trang 39Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel Phân tích ANOVA bằng phần mềm MSTATC.
Dùng phương pháp phân tích thống kê t-Test để so sánh sự khác biệt giữa các trung bình của từng cặp số liệu giữa phương pháp truyền thống và phương pháp cải tiến Riêng đối với các thí nghiệm tồn trữ với 4 mức độ thời gian 0, 1, 2, 3 tháng thì so sánh
sự khác biệt giữa các trung bình bằng LSD
Trang 40CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN3.1 MÔ TẢ VÙNG VÀ ĐIỂM NGHIÊN CỨU
An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp là 3 tỉnh thuộc khu vực ĐBSCL, có điều kiện
tự nhiên rất đặc trưng của khu vực và riêng mỗi tỉnh các huyện đa số cũng có điều kiện tương đối giống nhau
Phần nầy mô tả đặc điểm tự nhiên, tình hình sản xuất nông nghiệp của các xã điểm có thí nghiệm STH trên đồng ruộng của nông hộ và các huyện thực hiện phỏng vấn
Các huyện thực hiện phỏng vấn bao gồm:
- Châu Thành, Châu Phú (An Giang)
- Châu Thành, Tân Hiệp (Kiên Giang)
- Cao Lãnh, Tháp Mười (Đồng Tháp)
Các xã điểm thực hiện thí nghiệm trên đồng ruộng về các tổn thất STH:
- Xã Vĩnh An - Châu Thành, xã Bình Mỹ - Châu Phú (An Giang)
- Xã Vĩnh Hòa Hiệp - Châu Thành, xã Tân Hiệp B - Tân Hiệp (Kiên Giang)
- Nông Trường Động Cát, xã Mỹ Quí - Cao Lãnh (Đồng Tháp)
3.1.1 Huyện Châu Thành và xã Vĩnh An - Châu Thành - An Giang
Phía Bắc của Châu Thành giáp huyện Châu Phú, phía Đông – Đông Bắc giáp với huyện Chợ Mới, phía Đông – Đông Nam giáp với TP Long Xuyên, phía Nam giáp với huyện Thoại Sơn Phía Tây giáp với huyện Tri Tôn, phía Tây Bắc giáp với huyện Tịnh Biên Huyện nằm trên trục chính giao thông quốc lộ 91, chợ lớn nhất của huyện là chợ An Châu, bệnh xá và trường học khá đồ sộ tập trung trên tuyến quốc lộ chính Diện tích tự nhiên 34.682 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp 28.515,9 ha, chủ yếu là sản xuất lúa trong đó màu chiếm 800,8 ha (tính đến ngày 31/03/2006: Bắp nù dẻo 8 ha; Bắp nếp 133,9 ha; Đậu nành 6,5 ha; Đậu xanh 15,2 ha; Dưa hấu 25,5 ha; Đu đủ 2,5 ha; Đậu phộng 02 ha; Sắn 35 ha; Khoai lang 1,5 ha; còn lại là rau dưa các loại 389,5 ha), chỉ có một xã duy nhất là chuyên màu (Bình Thạnh) Thuận lợi của huyện là được phù sa của sông Hậu bồi đắp hàng năm và cũng là nguồn nước cung cấp cho sản xuất nông nghiệp Huyện nằm trong vành đai nhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều, hàng năm có hai mùa mưa nắng rõ rệt đặc biệt có mùa nước nổi giúp cho đất đai màu mỡ hơn sau mỗi mùa nước rút (Báo cáo Phòng Nông Nghiệp và PTNT Châu Thành – An Giang, 2006)
Vĩnh An là xã ở vùng ven phía Tây cặp Tỉnh lộ 941, giáp với huyện Tri Tôn, rất thuận lợi cho việc giao thông thủy, bộ Xã nằm trên vùng đất phèn hoạt động trung bình, tầng mặt dày, dinh dưỡng kém, không có đốm jarosite, tuy nhiên rất thuận lợi cho việc trồng lúa do hàng năm đều có lũ về với mực nước lũ 1,1 - 2,2 m Toàn xã có diện tích đất nông nghiệp chiếm 2.568 ha chủ yếu trồng lúa, với năng suất bình quân đạt 7,4 tấn/ha, sản lượng 19.003,2 tấn và cơ cấu giống lúa gồm: