báo cáo về ảnh hưởng của kỹ thuật canh tác IPM đến xoài thanh ca trong mô hình vườn đồi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
ẢNH HƯỞNG CỦA KỸ THUẬT CANH TÁC IPM ĐẾN XOÀI THANH CA TRONG MÔ HÌNH VƯỜN ĐỒI
Ở XÃ BA CHÚC – TRI TÔN – AN GIANG
Chủ nhiệm đề tài: Th.S NGUYỄN VĂN MINH
Long Xuyên, tháng 4 năm 2009
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
ẢNH HƯỞNG CỦA KỸ THUẬT CANH TÁC IPM ĐẾN XOÀI THANH CA TRONG MÔ HÌNH VƯỜN ĐỒI
Ở XÃ BA CHÚC – TRI TÔN – AN GIANG
Chủ nhiệm đề tài: Th.S NGUYỄN VĂN MINH
Cộng tác viên: KS TRẦN VĂN KHẢI
Long Xuyên, tháng 4 năm 2009
Trang 3CẢM TẠ
Chân thành cám ơn:
- Chính quyền địa phương, Hội nông dân Thị trấn Ba Chúc đã tạo mọi điều kiện về tổ chức hội thảo, phỏng vấn nông hộ và tạo mọi thuận lợi trong quá trình thực hiện nghiên cứu
đề tài về cây xoài
- Gia đình anh Nguyễn Ngọc Ngởi đã hợp tác và hỗ trợ phương tiện, địa điểm vườn xoài làm thí nghiệm
- Các đồng sự trong Bộ Môn Khoa Học Cây Trồng đã góp công sức vào quá trình thực hiện trong đó có các thầy cô Trần Văn Khải, Phạm Huỳnh Thanh Vân, Võ Thị Xuân Tuyền, Trịnh Hoài Vũ đã sát cánh bên tôi từ những ngày đầu vừa mới triển khai nghiên cứu
Chủ nhiệm đề tài
NGUYỄN VĂN MINH
Trang 4
TÓM TẮT Nhằm mục đích đánh giá hiện trạng canh tác, tình hình quản lý sâu bệnh và hiệu quả
của kỹ thuật canh tác IPM trên cây xoài ở vườn đồi so với để tự nhiên của nông dân Đề tài
“Ảnh hưởng của kỹ thuật canh tác IPM đến xoài Thanh Ca trong mô hình vườn đồi ở
TT Ba Chúc - Tri Tôn - An Giang” được tiến hành nhằm giải quyết vấn đề trên
Sử dụng PRA, bảng phỏng vấn các nông hộ trồng xoài để phân tích hiện trạng canh
tác, quản lý sâu bệnh có liên quan đến IPM và bố trí thí nghiệm lô phụ (Split-plot design) 2
nhân tố gồm nhân tố phụ (có hoặc không sử dụng kỹ thuật canh tác IPM) và nhân tố chính (2
loại hoá chất XLRH: nitrat kali và fotfer-X) để xác định hiệu quả của kỹ thuật canh tác IPM
và loại hoá chất XLRH Số liệu được phân tích ANOVA và LSD bằng phần mềm MSTATC
Kết quả cho thấy:
Vùng nghiên cứu có tập quán trồng giống xoài Thanh Ca từ rất lâu đời do thích hợp
với điều kiện đất đai, thời tiết Thường đất trồng xoài tập trung ở ruộng trên và chân núi Mỗi
hộ có khoảng 5 – 20 gốc xoài từ 10-15 tuổi Đa số trồng xoài bằng hột, rất ít sử dụng phân
hoá học nhưng dùng phân hữu cơ tương đối cao (40%) Thường vườn xoài được để tự nhiên ít
chăm sóc và không tỉa cành nhánh nên vườn rất dày và nhiều sâu bệnh Có đến 68% hộ sử
dụng thuốc BVTV nhưng xử lý ra hoa chỉ 14% số hộ Sâu hại quan trọng gồm rầy bông xoài,
bọ trĩ được nông dân dùng Actara, Bassan để phòng trị và bệnh thán thư trị bằng Antracol
Đa số nông dân chưa hiểu biết gì về khái niệm phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) trên
cây xoài Kỹ thuật XLRH mùa nghịch còn tương đối mới Nguồn tiếp cận thông tin chủ yếu là
các thương lái mua xoài lá, còn qua đài, báo rất ít Thiếu nước tưới là yếu tố hạn chế lớn nhất
của hộ trồng xoài Trình độ học vấn thấp làm chậm tiếp thu tiến bộ kỹ thuật mới Tuy nhiên,
đất đai, thời tiết, giao thông thuận hợp là những ưu thế của vùng có khả năng thành lập HTX,
trang trại xoài và cây ăn trái có giá trị cao, tăng thu nhập cho nông dân
Có 3 loài sâu bệnh hại quan trọng trên các lô có và không áp dụng KTCT IPM tuần tự
là rầy bông xoài (95,5% so 30,2 %), sâu đục trái (55,5% so với 20,5%), bệnh thán thư lá (50%
so 10%) và bệnh thán thư trái (20% so 0%) Trọng lượng trái trung bình của các nghiệm thức
có áp dụng KTCT IPM là 84,67 kg/cây khác biệt có ý nghĩa thống kê so với không áp dụng
Không có sự khác biệt thống kê giữa 2 loại thuốc XLRH là nitrat kali (67,17 kg/cây) và fotfer
(64,17 kg/cây) vì cây xoài Thanh Ca rất dễ đáp ứng với các loại thuốc XLRH Lợi nhuận của
KTCT IPM (474.652 đ) cao hơn 1,8 lần so với không áp dụng (264.290 đ) Lãi/ vốn (4,02 so
với 4,24) và lãi/ vật tư (9,9 so với 11,71) thấp hơn nhưng lãi/ lao động cao hơn (6,78 so với
6,69), và MRR = 3,78 ≥ 2,0 rất cao có thể hấp dẫn khuyến cáo nông dân làm theo qui trình
Cần phải tuân theo qui trình một cách chặt chẽ như ngay sau đợt thu hoạch phải tỉa
cành tạo điều kiện cho cây đâm chồi mới, tạo thông thoáng và giảm thiểu sâu bệnh về sau
Bón phân, phun thuốc trừ sâu bệnh giai đoạn ra lá non: Đầu mùa mưa, khoảng tháng 5, làm
cỏ vườn, bón NPK 1 - 2 kg/cây để giúp cây ra đọt và lá non Khi cây ra đọt, phun thuốc ngừa
bọ cắt lá (Visher 10 cc/ bình 8 lít) và bệnh thán thư (Mancozeb 80WP 15-30 g/ 8 lít, 7-10
ngày/ lần) Chú ý tỉa cành tạo thông thoáng để cây nhận đủ ánh sáng Xử lý ra hoa: Đầu tháng
9 bắt đầu phun thuốc XLRH Dùng 300 g nitrat kali (hoặc 100 g Fotfer) + 50 g Manzate + 16
cc Sumicidine (bình 16 lít nước) phun thật đều tán lá Từ 7 – 10 ngày sau cây nhú mầm hoa
Phun 50 g Ridomil + 16 cc Cymbus để ngừa thán thư và sâu đục ngọn Khi phát hoa đã đạt
kích thước tối đa và bắt đầu có vài hoa ở phía trong nở Phun 50 g Ridomil + 16 cc Karate
ngừa thán thư và sâu ăn bông Sau đó, ngưng phun thuốc để bảo vệ côn trùng thụ phấn Khi
trái non đạt cỡ 1-2 mm phun 16cc Bavistin +16 cc Sumi Alpha ngừa thán thư và sâu đục trái
Về sau, cứ 10 ngày/ lần xịt thuốc trừ sâu bệnh luân phiên từ các công thức trên để ngừa thán
thư và sâu đục trái cộng với thuốc dưỡng lá (16-16-8 Ba lá xanh) và dưỡng trái như Tilt Super
để trái lớn tốt
Trang 5MỤC LỤC Trang
Lời cảm tạ ……… i
Tóm tắt……….… ii
Mục lục……… iii
Danh sách bảng……… vii
Danh sách hình……… viii
Ký hiệu và viết tắt……….… ix
CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU………. 1
A MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU……….… 1
I Mục tiêu……… … 1
II Nội dung nghiên cứu ……… 1
B ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU……… 2
C CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 2
I Cơ sở lý luận……….……… … 2
1.1 Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)……… … 2
1.2.1 IPM là gì ? ……….………….… 2
1.2.2 Lịch sử IPM……….……… 3
1.2.3 Các đặc trưng của IPM……… 4
1.2.4 Các nguyên lý và nguyên tắc của IPM……… 5
1.2.5 Các yêu cầu của IPM……… … 5
1.3 Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây ăn trái……… 8
1.3.1 Biện pháp sinh học……… … 8
1.3.2 Biện pháp kỹ thuật……… … 8
1.3.2.1 Chọn giống ……… 8
1.3.2.2 Nhân giống ……… 8
1.3.3 Biện pháp canh tác……… … 10
1.3.3.1 Khử giống trước khi trồng ……… 10
1.3.3.2 Cải thiện môi trường nơi trồng……… 10
1.3.3.3 Chọn mật độ thích hợp……… 10
1.3.3.4 Tỉa thoáng tán……… 10
1.3.3.5 Xen canh……… 10
1.3.3.6 Bón phân cân đối, đầy đủ……… 10
1.3.3.7 Bao quả……… 10
1.3.3.8 Vệ sinh vườn……… 10
1.3.3.9 Bẫy dẫn dụ và diệt côn trùng……… 11
Trang 61.3.4 Biện pháp hoá học……… … 11
1.3.4.1 Nguyên tắc chung……… 11
1.3.4.2 Điều tra dự báo……… 11
1.3.4.3 Thuốc trừ sâu bệnh……… 11
1.3.4.4 Kiểm dịch thực vật……… 11
1.4 Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên xoài……….… 11
1.4.1 Sử dụng kỹ thuật canh tác……… 11
1.4.2 Biện pháp cơ học và vật lý……… … 12
1.4.3 Thuốc bảo vệ thực vật……….… 12
1.4.4 Biện pháp sinh học……… … 13
1.5 Một số khó khăn trong việc áp dụng IPM trên xoài hiện nay……….… 13
1.5.1 Xoài là ký chủ ưa thích của nhiều loài dịch hại……… … 13
1.5.2 Xoài có thể bị dịch hại tấn công ở khắp các giai đoạn phát triển……… 14
1.5.3 Đối tượng gây hại khó phòng trị……….… 14
1.5.4 Điều kiện thời tiết khí hậu thuận lợi……… 14
1.5.5 Kỹ thuật canh tác xoài……….… 14
1.5.5.1 Áp dụng không đúng một số thành tựu khoa học trên xoài……… 14
1.5.5.2 Vấn đề tạo tán, tỉa cành……… 14
1.5.5.3 Giống xoài……… 15
1.5.5.4 Tiến bộ khoa học kỹ thuật về canh tác xoài……… 15
1.5.5.5 Tay nghề của các nhà vườn……… 15
1.5.5.6 Sử dụng thuốc trừ dịch hại……… 15
1.5.5.7 Phương tiện và kỹ thuật áp dụng thuốc bảo vệ thực vật……… 16
1.6 Tình hình dịch hại trên xoài……… 16
1.6.1 Sâu hại trên xoài……… 17
1.6.1.1 Sâu đục trái (hột) xoài Deanolis albizonalis……… 17
1.6.1.2 Rầy bông xoài……… 18
1.6.1.3 Sâu đục ngọn, chồi và cành non Dudua aprobola (Meyrick) ……… 18
1.6.1.4 Bọ cắt lá Deporaus marginatus (Pascoe) ……… 19
1.6.1.5 Sâu ăn bông xoài Thalassodes falsaria (Geometridae – Lepidoptera)………… 19
1.6.1.6 Sâu ăn lá……… 19
1.6.1.7 Dòi đục trái Bactrocera……… 20
1.6.1.8 Bù lạch……… 20
1.6.2 Bệnh hại trên xoài……… 21
1.6.2.1 Bệnh thán thư (Anthracnose) ……… 21
Trang 71.6.2.2 Bệnh đốm bồ hóng……… 21
1.6.2.3 Bệnh phấn trắng: (Powdery mildew) ……… 21
1.6.2.4 Bệnh thối trái……… 21
1.6.2.5 Bệnh đốm rong lá (Cephaleuros) ……… 22
1.7 Một số vấn đề cần thiết cho việc áp dụng IPM trên xoài……… … 22
1.8 Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật ……… 26
1.8.1 Ảnh hưởng tích cực……….… 26
1.8.2 Ảnh hưởng tiêu cực……….… 26
II PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 26
2.1 Phương tiện……… … 26
2.2 Phương pháp……… … 26
2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp……… … 26
2.2.2 Đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) ……….… 26
2.2.3 Phỏng vấn với bảng câu hỏi……… 28
2.2.4 Bố trí thí nghiệm hiệu quả áp dụng phòng trừ dịch hại tổng hợp trên xoài… 28
2.2.5 Thời gian thực hiện……… … 29
2.2.6 Qui trình chăm sóc……… … 29
2.2.7 Phương pháp xử lý ra hoa……… 30
2.2.8 Các chỉ tiêu theo dõi và đo đếm……… … 30
2.2.9 Công thức tính và so sánh các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế……… … 30
2.2.10 Phương pháp xử lý số liệu……… … 31
CHƯƠNG II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 32
2.1 Lịch sử các sự kiện về mô hình canh tác xoài……….… 32
2.2 Lịch thời vụ và chăm sóc xoài……… 33
2.3 Phân bố và mặt cắt sinh thái vùng trồng xoài……… … 34
2.4 Hiện trạng canh tác……….… 34
2.4.1 Đặc điểm tình hình canh tác……… 34
2.4.2 Kỹ thuật canh tác và chăm sóc vườn trồng……….… 36
2.4.3 Tình hình dịch hại……… 37
2.4.4 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật……… 38
2.5 Tình hình áp dụng IPM và tiến bộ kỹ thuật trên xoài……… … 38
2.6 Mối quan hệ giữa hộ trồng xoài với các định chế nông thôn……… … 40
2.7 Phân tích SWOT của mô hình kinh tế vườn xoài……… 41
2.7.1 Kết quả SWOT……… 41
2.7.2 Chiến lược SWOT……… … 43
Trang 82.7.2.1 Chiến lược SO: Phát huy thuận lợi và cơ hội để phát triển mô hình vườn xoài 43 2.7.2.2 Chiến lược WT: Khắc phục khó khăn và rủi ro để hoàn thiện mô hình xoài… 43
2.8 Phân tích xu hướng phát triển kinh tế vườn xoài……….… 43
2.9 Hiệu quả của kỹ thuật canh tác và cơ giới của IPM trên xoài……… 44
2.9.1 Tình hình sâu bệnh ở điểm thí nghiệm……….……… 44
2.9.2 Ảnh hưởng của kỹ thuật canh tác IPM và loại thuốc xử lý ra hoa ……… 45
2.9.3 So sánh hiệu quả kinh tế giữa có và không áp dụng kỹ thuật canh tác IPM… 46
2.9.4 Qui trình kỹ thuật canh tác IPM khuyến cáo trên xoài Thanh Ca……… 47
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ……… 49
I Kết luận……… 49
II Đề nghị……….… 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… …… 51
PHỤ CHƯƠNG……… … 52
PC 1 Câu hỏi thảo luận PRA trên xoài ở TT Ba Chúc……… 54
PC 2 Kết quả thảo luận PRA trên hộ nông dân trồng xoài……… … 56
PC 3 Phiếu điều tra nông hộ trồng xoài……… 60
PC 4 Chi phí cho kỹ thuật canh tác IPM và hoá chất xử lý ra hoa ……… 64
PC 5 Bảng phân tích phương sai (ANOVA) trọng lượng trái……… 65
PC 6 Hình ảnh thực hiện đề tài……….… 66
Trang 9DANH SÁCH BẢNG Tên bảng Trang
Bảng 1.1 Dịch hại phổ biến và biện pháp quản lý tổng hợp trên cây xoài………… 23Bảng 1.2 Các công cụ của PRA được sử dụng nghiên cứu……….………… 28Bảng 2.1 Lịch sử các sự kiện về mô hình kinh tế vườn xoài ở Ba Chúc……… 32Bảng 2.2 Đặc điểm vườn điều tra nông dân ……… 34Bảng 2.3 Kỹ thuật canh tác và chăm sóc vườn trồng của nông dân ……… … … 36Bảng 2.4 Tỉ lệ vườn có sâu bệnh và mức độ thiệt hại …… … ……… 37Bảng 2.5 Tình hình sử dụng thuốc BVTV của nông dân xã Ba Chúc ……… 38Bảng 2.6 Các yếu tố liên quan đến áp dụng IPM và kỹ thuật mới của hộ trồng xoài 39Bảng 2.7 Phân tích thuận lợi, khó khăn, cơ hội và rủi ro của mô hình vườn xoài … 42Bảng 2.8 Dự báo các yếu tố liên quan đến tương lai phát triển kinh tế vườn xoài ở
TT Ba Chúc – Tri Tôn – An Giang ……… 44Bảng 2.9 Thành phần và mức độ phổ biến của côn trùng gây hại trên các lô thí
nghiệm xoài Thanh Ca ở Ba Chúc - Tri Tôn - An Giang……… 45Bảng 2.10 Ảnh hưởng của kỹ thuật canh tác và cơ giới trong biện pháp quản lý dịch
hại tổng hợp (IPM) và loại thuốc xử lý ra hoa lên trọng lượng trái xoài thu hoạch ở TT Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang ……… 46Bảng 2.11 Hiệu quả kinh tế của kỹ thuật canh tác IPM so với không áp dụng……… 47
Trang 10DANH SÁCH HÌNH Tên Hình Trang
Hình 1.1 Bản đồ vị trí thí nghiệm về kỹ thuật canh tác IPM trên xoài Thanh Ca 27 Hình 1.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm loại hoá chất XLRH và áp dụng biện pháp canh
tác (IPM) trên cây xoài tại TT Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang ……… 29 Hình 2.1 Lịch thời vụ chăm sóc mùa thuận và mùa nghịch cho xoài Thanh Ca … 33 Hình 2.2 Mặt cắt sinh thái vùng trồng xoài núi Dài tại TT Ba Chúc……… 35 Hình 2.3 Sơ đồ VENN về mối quan hệ giữa hộ trồng xoài với các cơ quan và tư
nhân ……… 41
Trang 11KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT
BVTV Bảo vệ thực vật
DDT Dichloro diphenyl trichloroethane
ĐBSCL Đồng Bằng Sông Cửu Long
IPM Integrated Pest Management - Biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp FAO Food and Agriculture Organization
GAP Good Agricultural Practice
HTX Hợp tác xã
MKP Mono - Kalium Photphate
2,4-D 2,4 –Dichlorophenoxy acetic acid
PBZ Paclobutrazol
PRA Participatory rural appraisal
RAVC Return above variable cost: Thu nhập trên biến phí
SWOT Strength Weakness Opportunity Threat
SALT 4 Small Agro-fruit Livelihood Technology
VAC Vườn ao chuồng
Trang 12CHƯƠNG I
MỞ ĐẦU
Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn dự đoán diện tích trồng xoài tại Việt Nam sẽ gia tăng đến mức 150.000 ha, với sản lượng dự kiến đạt được là 1.500.000 tấn trong năm 2010 (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 1998) Diện tích cây xoài ở An Giang năm 2006 là 3.847 ha tăng vượt mức so với năm 2004 chỉ có 1.897,5 ha và đạt sản lượng 8.514 tấn so với năm 2004 chỉ có 4.640 tấn (Niên Giám Thống Kê An Giang, 2006) Điều đó cho thấy tầm quan trọng của cây xoài trong phạm vi của tỉnh Mặc dù được trồng từ rất lâu đời tại Việt Nam nhưng nhìn chung năng suất bình quân của xoài không cao, chất lượng trái cũng chưa đạt tiêu chuẩn chung xuất khẩu Tại ĐBSCL trong những năm gần đây đã có những tiến bộ kỹ thuật như ra hoa trái vụ; một số cây đầu dòng đã được xác định và nhân giống vô tính; các dịch hại thường xuyên làm thất thu năng suất cây xoài cũng được xác định,… Tuy nhiên thực tế sản xuất đã cho thấy nhiều nhà vườn đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc canh tác xoài sao cho có hiệu quả kinh tế và chất lượng cao Một trong những khó khăn lớn của các nhà vườn là vấn đề dịch hại trên xoài Cho đến nay, để đối phó với các đối tượng này, nhà vườn chủ yếu dựa vào thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) Trong những năm qua mặc dù phải sử dụng thường xuyên với khối lượng lớn thuốc BVTV nhưng nhiều nhà vườn
đã không đạt yêu cầu mong muốn, trái lại tại một số nơi dịch hại còn bộc phát dữ dội hơn Theo chiều hướng phát triển một nền nông nghiệp bền vững, có giá trị kinh tế cao, vấn đề sản xuất xoài sạch là một hướng đi không thể thiếu và đây cũng là một trong những trở ngại rất lớn cho vấn đề sản xuất xoài hiện nay tại Việt Nam Để sản xuất được xoài “sạch”, điều quan trọng hiện nay là phải hạn chế sử dụng hoá chất BVTV phát huy hiệu quả tổng hợp của các biện pháp an toàn sinh thái khác,… hay nói khác đi là biện pháp quản lý dịch hại theo IPM Tuy nhiên việc áp dụng IPM trên xoài không phải là một vấn đề đơn giản không những cho các nhà vườn tại Việt Nam mà cũng là một vấn đề khó khăn cho nhiều nước trong khu vực Thị trấn Ba Chúc huyện Tri Tôn thuộc vùng Bảy Núi thường có tập quán trồng giống xoài Thanh Ca thích hợp với điều kiện đất đai vùng cao thuộc loại đất xám nghèo dinh dưỡng, không có nước tưới chỉ lệ thuộc hoàn toàn vào nước mưa Cho nên, dù giá trị thương mại của giống xoài nầy không cao nhưng vẫn được bà con nông dân trồng phổ biến Trong những năm gần đây, một số hộ nhà vườn đã bước đầu áp dụng biện pháp xử lý ra hoa (XLRH) trái vụ trên xoài Thanh Ca nhằm tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhưng đã gặp nhiều trở ngại Các trở ngại đó là thiếu trang bị kiến thức kỹ thuật XLRH và nhất là các kỹ thuật canh tác và kỹ thuật tỉa cành để giúp cây xoài đậu trái nhiều, tăng trọng lượng trái so với để cây tự nhiên Do vậy,
đề tài “Ảnh hưởng của kỹ thuật canh tác IPM đến xoài Thanh Ca trong mô hình vườn đồi ở xã Ba Chúc - Tri Tôn - An Giang” được tiến hành nhằm giải quyết vấn đề trên
A MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I Mục tiêu
Đánh giá hiện trạng canh tác, tình hình quản lý sâu bệnh trên mô hình cây xoài ở vườn đồi và khảo nghiệm hiệu quả của kỹ thuật canh tác (làm cỏ, vệ sinh vườn, bón phân hợp lý,…), biện pháp cơ học (tỉa cành, tạo tán,…) trong biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) so với để tự nhiên của nông dân
II Nội dung nghiên cứu
1 Đánh giá hiện trạng canh tác xoài, tình hình kiểm soát sâu bệnh ở vườn xoài bằng các phương pháp PRA, phỏng vấn hộ trồng xoài với bảng câu hỏi
Trang 132 Khảo sát hiệu quả của biện pháp canh tác và biện pháp cơ giới của IPM đến năng suất trái bằng thí nghiệm so sánh 2 nhân tố gồm loại hoá chất XLRH và có hay không sử dụng hai biện pháp nầy của IPM
B ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng: Các vườn xoài Thanh Ca của các hộ nông dân ở Thị Trấn Ba Chúc đã đưa vào
kinh doanh có tuổi từ 7 năm trở lên
C CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
đủ các khái niệm này không thực sự đơn giản (Trần Văn Hai và Phạm Hoàng Oanh, 2003)
IPM là một chiến lược phòng trừ dịch hại dựa trên việc xác định ngưỡng kinh tế khi mật số dịch hại tiến gần đến mức cần thiết phải áp dụng các biện pháp để tránh giảm lợi nhuận Nghĩa là giá trị dự đoán về sự tổn hại cây trồng xảy ra vượt quá chi phí kiểm soát dịch hại (Frisbie và Adkisson, 1985)
Từ công lao lãnh đạo việc phát triển và mở rộng IPM trên toàn thế giới, Adkisson và Smith nhận được giải thưởng Lương thực thế giới năm 1997 Hai ông định nghĩa IPM như sau: “ Trong nông nghiệp, IPM là một chiến lược kiểm soát dịch hại sử dụng một loạt các phương pháp bổ sung như: công cụ cơ giới, công cụ vật lý, sự quản lý di truyền, sinh học, canh tác và hoá học Các phương pháp nầy được thực hiện trong ba giai đoạn: phòng trừ, quan sát và can thiệp Nó là một phương pháp tiếp cận sinh thái với mục tiêu chính là giảm hoặc loại trừ một cách có ý nghĩa việc sử dụng thuốc BVTV” (http://en.wikipedia.org/wiki) IPM là một cách tiếp cận nhạy cảm với môi trường và có hiệu quả quản lý dịch hại khi kết hợp các biện pháp thông thường Chương trình IPM sử dụng những thông tin toàn diện và phổ biến về dòng đời của dịch hại và sự tương tác của chúng với môi trường Những thông tin nầy kết hợp với những biện pháp kiểm soát dịch hại hiện có được dùng để quản lý dịch hại bởi các phương tiện kinh tế nhất, và với những rủi ro có thể có thấp nhất cho con người, tài sản và môi trường http://www.epa.gov/opp00001/factsheets/ipm.htm
Theo Rainer và ctv (1994) thì quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là một hệ thống quản lý dịch hại mà trong khung cảnh cụ thể của môi trường và những biến động quần thể của các loài gây hại, sử dụng tất cả các kỹ thuật và biện pháp thích hợp có thể được, nhằm duy trì mật
độ của các loài gây hại ở dưới mức gây ra thiệt hại kinh tế
Quản lý dịch hại tổng hợp cũng có thể định nghĩa là một hệ thống các biện pháp phòng trừ hợp lý về kinh tế và vững bền, dựa trên sự phối hợp các biện pháp trồng trọt, sinh học di truyền chọn giống và hoá học nhằm đạt được sản lượng cây trồng cao nhất và tác hại của môi trường ít nhất (Oudejans, 1991, trích dẫn bởi Nguyễn Công Thuật 1996)
Các biện pháp trên cần được sử dụng phối hợp với nhau và ở mức độ thích hợp tuỳ theo từng điều kiện cụ thể về tình hình dịch hại, khả năng chịu đựng và đền bù cả cây trồng, điều kiện đất đai, thời tiết khả năng về kinh tế,… phối hợp ở đây chủ yếu là sử dụng nhiều biện pháp để hỗ trợ cho nhau, tăng hiệu quả phòng trừ, không nên chỉ đơn thuần dựa vào một biện pháp, nhất là không nên chỉ dựa vào biện pháp hoá học Mức độ thích hợp tức là không
Trang 14nên dùng quá liều yêu cầu cần thiết và phải phù hợp với từng điều kiện cụ thể (Võ Văn Á và ctv, 1998)
Ngày nay khi nền sản xuất nông nghiệp đã theo hướng thâm canh, bên cạnh năng suất gia tăng thì kéo theo sự gia tăng về dịch hại Người ta ước tính có khoảng 10 ngàn loài sâu hại
và hàng trăm ngàn loại bệnh gây hại trên các loại cây trồng làm giảm năng suất cây trồng trung bình từ 20-30% Nhiều nước trên thế giới đã ghi nhận những đợt dịch hại nghiêm trọng Riêng đợt rầy nâu ở Đông Nam Á từ năm 1995 - 1996 đã gây thiệt hại tới 300 triệu USD Ở nước ta, trong vòng 30 năm qua cũng từng xảy ra những đợt dịch sâu bệnh gây hại nặng nề, điển hình như đợt rầy xanh đuôi đen và bệnh vàng lụi lúa ở các tỉnh phía Bắc những năm
1964 - 1965, dịch rầy nâu và bệnh lùn xoắn lá ở các tỉnh Nam Bộ trong những năm 1977 -
1980 và các năm 1991 - 1992 Ngoài ra các loài dịch hại khác như bệnh, cỏ dại, chuột tuy không gây hại thành dịch nghiêm trọng nhưng đã làm giảm năng suất đáng kể và tốn chi phí phòng trừ rất tốn kém (Võ Văn Á và ctv, 1998)
Để phòng trừ các loài dịch hại bảo vệ cây trồng nhiều biện pháp kỹ thuật tiến bộ đã được áp dụng vào đồng ruộng Ban đầu là các biện pháp thủ công như bắt giết, biện pháp canh tác, sử dụng một số chất vô cơ có sẵn trong tự nhiên và các chất hoá học tổng hợp đổ vào đồng ruộng ngày càng nhiều hơn như hợp chất Clo hữu cơ, Lân hữu cơ, Cacbamat, Cúc tổng hợp Các hợp chất này có hiệu lực trừ sâu cao nhưng cũng rất độc hại với môi trường và con người, giết hại nhiều loại thiên địch, làm sâu hại dễ quen thuốc Dần dần người ta nhận ra rằng biện pháp hoá học là “con dao hai lưỡi”, nó có thể giúp phòng trừ sâu hại có hiệu quả cao nhưng cũng rất có hại tới sức khoẻ con người và huỷ hoại môi trường sinh thái (Võ Văn
Á và ctv, 1998) Vì việc áp dụng biện pháp phòng trừ vừa đảm bảo về năng suất vừa duy trì được tính bền vững của nền nông nghiệp là hết sức cần thiết
1.2.2 Lịch sử IPM
Việc sử dụng hoá chất tổng hợp để phòng trừ dịch hại đã bắt đầu từ thập niên 1940 khi các khám phá các hợp chất hữu cơ như dichloro diphenyl trichloroethane (DDT), benzenhexachloride và 2,4 –Dichlorophenoxy acetic acid (2,4-D) đã báo trước một cuộc cách mạng trong quản lý dịch hại Thuốc BVTV khả thi kiểm soát nhiều loại sâu bệnh mà các biện pháp trước đây không làm được Kết quả là thuốc BVTV đã góp phần một cách có ý nghĩa vào việc gia tăng năng suất trong thập niên 1940 - 1960 Việc sử dụng nông dược, đặc biệt là thuốc trừ sâu, phát triển rất nhanh Nhiều nông dân bắt đầu áp dụng thuốc trừ sâu theo lịch đều đặn mà rất ít chú ý đến sự lây nhiễm thật sự Kết quả, các dòng kháng thuốc đã phát triển Nông dược, đặc biệt là thuốc trừ sâu và thuốc trừ nấm, làm bộc phát các giống có lợi nào đó, thường làm xuất hiện các loài ăn mồi có khi còn nguy hiểm hơn vấn đề dịch hại Nhiều loại thuốc trừ sâu có nguồn gốc clor hữu cơ đã có ảnh hưởng bất lợi cho môi trường và tỏ ra nguy hiểm không chấp nhận được cho sức khoẻ con người Phần lớn các hợp chất nầy đã được loại
bỏ và thay vào đó là những thuốc trừ sâu gốc lân, carbamate và pyrethroid tổng hợp ít lưu tồn hơn (Allen, 1987)
Không lâu sau Thế Chiến II, khi thuốc trừ sâu tổng hợp được sử dụng rộng rãi, các nhà côn trùng học ở California đã phát triển khái niệm “phòng trừ côn trùng bằng giám sát” Cùng lúc đó, các nhà côn trùng ở các tiểu bang thuộc vành đai bông vải như Arkansas cũng ủng hộ cách tiếp cận tương tự Theo hệ thống nầy, phòng trừ sâu hại được “giám sát” bởi các nhà côn trùng học phân loại và sự áp dụng thuốc trừ sâu dựa trên những kết luận đạt được từ
sự giám sát chu kỳ mật số sâu hại và thiên địch Điều nầy cho thấy cách thực hiện là có những chương trình phun thuốc theo lịch Phòng trừ giám sát dựa trên sự thông hiểu về sinh thái và
xu hướng dự đoán mật số sâu hại và thiên địch
Trang 15Sự phòng trừ có giám sát đã hình thành nhiều cơ sở khái niệm cho “sự phòng từ tổng hợp mà các nhà côn trùng học ở California đã nói rõ ràng vào thập niên 1950 Sự phòng trừ tổng hợp tìm cách xác định sự phối hợp tốt nhất giữa phòng trừ sinh học và hoá học cho một loại sâu hại nhất định Hoá chất BVTV được sử dụng trong chừng mực làm gảy đổ biện pháp phòng trừ sinh học Như vậy, thuật ngữ “tổng hợp” đồng nghĩa với thuật ngữ “tương thích” (“compatible”) Phòng trừ bằng hoá chất được áp dụng chỉ sau khi quan sát thường kỳ cho thấy mật số dịch hại đã đạt đến mức ngưỡng kinh tế cần xử lý bằng cách ngăn chặn mật số đạt đến mức thiệt hại kinh tế mà ở điểm nầy sự tổn thất kinh tế sẽ vượt quá chi phí các biện pháp phòng trừ nhân tạo
IPM mở rộng khái niệm phòng trừ tổng hợp đến tất cả các loại dịch hại và phát triển các chiến thuật khác hơn là chỉ phòng trừ bằng hoá chất và sinh học Biện pháp nhân tạo như thuốc BVTV được áp dụng như là trong phòng trị tổng hợp nhưng hiện nay phải được tương thích với chiến thuật phòng trị cho mọi loại dịch hại Các chiến thuật khác như tính kháng của cây ký chủ và biện pháp canh tác trở thành một bộ phận của kho tàng IPM IPM bổ sung cơ
sở đa ngành cho các nhà côn trùng học, bệnh học cây trồng, tuyến trùng học, và các nhà khoa học về cỏ dại
Ở Mỹ, IPM đã trở thành chính sách quốc gia từ tháng 3 năm 1972 khi tổng thống Nixon chỉ đạo các cơ quan liên quan từng bước đưa tiến bộ của những khái niệm và áp dụng IPM vào tất cả các ngành có liên quan Năm 1979, Tổng thống Carter thành lập một Uỷ Ban Phối hợp IPM liên Cơ quan để đảm bảo phát triển và thực hiện các biện pháp IPM (http://en.wikipedia.org/wiki/Integrated_pest_management)
1.2.3 Các đặc trưng của IPM
Theo Rainer Daxl (1994) IPM có các đặc trưng sau:
- Kiểm soát dựa trên sự hiểu biết về dịch hại và thiên địch của chúng
Hiểu biết về sinh học và sinh thái học của sâu hại và thiên địch, đặc biệt nắm được ở đâu và khi nào chúng xảy ra và di chuyển như thế nào vào cây trồng làm nơi cư trú để hình thành cơ sở cho sự kiểm soát Người áp dụng IPM cũng cần hiểu quan hệ giữa dịch hại và thiên địch để có thể quyết định mật độ của chúng
- Mật độ quần thể của dịch hại được giữ ở mức độ thấp
Dịch hại xảy ra ở qui mô nhỏ thì không hẳn gây ra tức thì sự tổn thất nào Ở mật độ thấp, chúng có thể cân bằng với cây trồng Thiệt hại xảy ra khi cây không đủ khả năng đền
bù Tuy nhiên, kiểm soát dịch hại chỉ đảm bảo bằng tài chính nếu chi phí của biện pháp kiểm soát đó thấp hơn chi phí thiệt hại mà nó sẽ gây ra Theo qui luật, chi phí của các biện pháp kiểm soát thì cao hơn trong khi kết quả đạt được chỉ một thời đoạn ngắn Bởi thế quan điểm
về kinh tế của người nông dân là kỳ vọng ổn định mật số quần thể của dịch hại ở một mức độ thấp, nhưng không loại trừ được chúng một cách hoàn toàn
Người ta đã chứng tỏ rằng không thể thực hiện được và cũng không có hiệu quả kinh
tế khi diệt trừ tận gốc dịch hại cây trồng tại một miền hay ở cấp độ quốc gia Hơn nữa quan điểm sinh thái học xem sâu hại là nguồn thức ăn cho thiên địch để duy trì cân bằng hệ sinh thái
- Kết hợp các phương pháp kiểm soát
Kết hợp các phương pháp kiểm soát là một đặc trưng quan trọng của IPM Sự kết hợp giữa các biện pháp ngăn ngừa và diệt trừ để chặn đứng hoặc giúp ngăn chặn mật số dịch hại chống lại sự phát triển tới một mức độ mà sự thiệt hại lớn xảy ra
Trang 16IPM nhắm vào mục tiêu này chủ yếu thông qua các kỹ thuật không sử dụng thuốc hoá học Dựa trên điều kiện cây trồng và điều kiện từng địa phương các biện pháp có thể bao gồm: phương pháp canh tác chọn giống, vệ sinh đồng ruộng, sự can thiệp và cuối cùng ít ra thúc đẩy sự phát triển của thiên địch
1.2.4 Các nguyên lý và nguyên tắc của IPM
Việc áp dụng biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp phải dựa trên những nguyên lý
và nguyên tắc của nó Theo Nguyễn Công Thuật (1996), phòng trừ dịch hại tổng hợp có những nguyên tắc và nguyên lý như sau:
- Một là, trong hệ thống phòng trừ dịch hại tổng hợp tất cả các kỹ thuật tham gia cần được xét đến sự hài hoà giữa các yếu tố của môi trường, đặc biệt là phải khai thác tối đa các yếu tố gây chết tự nhiên của sâu hại Mặt khác, tác động của tất cả các kỹ thuật được sử dụng cũng phải được xem xét về mặt này
- Hai là, không thể suy nghĩ một cách nông cạn cho rằng có thể tiêu diệt hết các cơ thể gây hại trên đồng ruộng, mà cần hiểu rằng chỉ có thể duy trì mật độ của chúng ở dưới mức gây ra thiệt hại kinh tế Như vậy một biện pháp phòng trừ chỉ được áp dụng trong trường hợp nếu không thực hiện thì giá trị tổn thất về sản lượng cây trồng sẽ lớn hơn những chi phí của việc xử lý
- Ba là, không thể quan niệm phòng trừ tổng hợp là một qui trình in sẵn để có thể áp dụng trong mọi trường hợp, ở mọi nơi, mọi lúc, mà phải coi đó như là một nguyên tắc cần phải tuân theo để cho phép xác định, trong mỗi tình huống cụ thể, một giải pháp tối ưu, xét về mọi mặt
- Bốn là, những biện pháp áp dụng trong phòng trừ tổng hợp rất phong phú và đa dạng Đồng thời những thành tựu mới trong nghiên cứu khoa học BVTV ngày nay càng được đưa ra sử dụng trong sản xuất nhiều hơn, rộng rãi hơn và không ngừng lại một chỗ
Sau cùng, khái niệm phòng trừ tổng hợp có liên quan đến hai khái niệm là ngưỡng gây hại và ngưỡng kinh tế
1.2.5 Các yêu cầu của IPM
Theo Võ Văn Á và ctv (1998) để việc áp IPM trên cây trồng đạt kết quả tốt cần có những yêu cầu sau:
- Trồng cây khoẻ
- Bảo vệ thiên địch
- Thăm đồng thường xuyên
- Nông dân trở thành chuyên gia
Trồng cây khoẻ chủ yếu là chọn giống kháng sâu bệnh và chăm sóc cây đầy đủ bằng các biện pháp canh tác
Bảo vệ thiên địch chủ yếu là sử dụng thuốc hoá học hợp lý khi cần thiết và dùng loại thuốc ít gây hại thiên địch, tạo điều kiện môi trường cho thiên địch tồn tại và phát triển
Hai yêu cầu đầu tiên thể hiện nội dung cơ bản về mặt kỹ thuật của IPM là điều khiển cân bằng hệ sinh thái trên cơ sở tác động vào cây trồng và thiên địch để chủ động khống chế
sự phát triển của dịch hại Hai yêu cầu sau là những công việc quan trọng cần làm để thực hiện các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp có kết quả Trong quá trình thực hiện phải nắm vững và vận dụng đồng thời 4 yêu cầu này Muốn xác định những biện pháp thích hợp, có hiệu quả thì phải thường xuyên điều tra đồng ruộng để nắm vững kết cấu và sự biến động của
Trang 17hệ sinh thái Cụ thể là nắm vững tình hình sinh trưởng của cây trồng, thành phần và số lượng các loài thiên dịch, dự kiến khả năng biến động của sự tương quan giữa chúng để có biện pháp xử lý thích hợp Cuối cùng là tất cả các biện pháp trên chỉ có thể thực hiện có hiệu quả khi người nông dân, người chủ thực sự của đồng ruộng thông hiểu và thực sự tin tưởng các biện pháp IPM, mỗi người nông dân áp dụng các biện pháp tức là cả cánh đồng, cả địa phương, cả nước đã áp dụng Khi đó IPM mới thực sự có kết quả mong muốn
* Sử dụng thuốc hoá học trong IPM
- Ưu của thuốc hoá học: Theo Võ Văn Á và ctv (1998) thuốc hoá học là một trong
những biện pháp rất cần để phòng trừ dịch hại trong một tương lai còn dài, do có một số ưu điểm sau:
+ Tiêu diệt dịch hại mạnh mẽ nhanh chóng và triệt để nhất là khi chúng phát sinh mạnh mẽ đe doạ nghiêm trọng đến năng suất cây trồng, các biện pháp khác không thể ngăn nổi
+ Dùng thuốc có thể tiêu diệt hàng loạt dịch hại trong một thời gian ngắn hiệu quả
rõ ràng
+ Trong một thời gian ngắn có thể sử dụng trên một diện tích rộng lớn, nhất là với các phương tiện phun rải hiện đại (máy phun động cơ, máy bay rảy thuốc)
+ Với những tiến bộ của khoa học con người có thể sáng chế ra những loại thuốc
ít độc với con người và môi trường
- Các tác động xấu do thuốc hoá học gây ra:
Các loại thuốc hoá học ít hay nhiều đều có độc hại đối với con người, gia súc và các động vật có ích khác
+ Tiêu diệt các loài thiên địch của sâu hại
+ Hình thành các loài kháng thuốc Thực tế cho thấy ngày càng có nhiều loài sâu kháng thuốc làm cho liều lượng sử dụng tăng lên gây ra tốn kém và ô nhiễm môi trường
+ Làm xuất hiện những đối tượng dịch hại quan trọng người ta nhận thấy rằng ở những nơi có sử dụng thuốc trừ sâu nhiều hơn bình thường thì làm cho nhện đỏ phát triển trở thành đối tượng gây hại chủ yếu Dùng nhiều thuốc trừ cỏ 2,4-D để diệt cỏ lác và cỏ lá rộng
sẽ làm cỏ hoà bản phát triển mạnh
+ Gây ra hiện tượng tái phát của dịch hại, có nhiều trường hợp năm đầu sử dụng thuốc hoá học, dịch hại có giảm đi, trong những năm sau tuy lượng thuốc sử dụng tăng lên nhưng dịch hại không những không giảm mà còn tăng hơn so với trước Nguyên nhân của hiện tượng nay là do dùng nhiều thuốc hoá học đã dẫn tới việc mất cân bằng sinh thái, do thiên địch giảm sút, hình thành các loài dịch hại kháng thuốc kích thích các loài sống sót sinh sản nhiều hơn Khi một số loài sâu hại đã sống chung với một loại thuốc nào đó thì nhanh chóng trở nên chống với các loại thuốc hoá học cùng nhóm gọi là hiện tượng kháng chéo, nguy hiểm hơn là sâu hại có thể chống với nhiều nhóm thuốc khác nhau gọi là hiện tượng chống đa tính Gây nhiễm độc cho môi trường sống và để lại dư lượng trong nông sản (Võ Văn Á và ctv, 1998)
Vì vậy việc sử dụng thuốc hoá học hợp lý trên đồng ruộng là rất quan trọng Theo
Võ Tòng Xuân (1993) việc dùng không đúng thuốc có thể:
- Không diệt được đối tượng gây hại và làm tăng cả số lượng côn trùng gây hại chính lẫn số côn trùng trước đó là đối tượng gây hại thứ yếu
- Tạo ra những tập đoàn kháng thuốc
Trang 18- Gây hại trầm trọng cho người nông dân khi dùng thuốc hoặc các vi sinh vật không
là đối tượng phải kiểm soát sống trong cùng một môi trường cũng bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp
- Những đối tượng gây hại do việc áp dụng những kỹ thuật mới không riêng gì đối với cây lúa Tuy nhiên, để giải quyết một đối tượng gây hại, giải pháp trước mắt thường là xịt lại nhiều lần các loại nông dược Quan điểm kiểm dịch ngày nay đã thay đổi, cùng với việc phát minh ra những nông dược tổng hợp tiên tiến Những loại thuốc này không mắc tiền và dễ
sử dụng, cho kết quả ngay, suốt kỷ nguyên nông dược này, quan điểm về xử lý dịch hại có nghĩa là diệt trừ tận gốc, phát hiện để diệt hết các loài dịch hại Quan điểm loại trừ này đã được thay thế bằng quan điểm kiểm soát hợp lý, ở đây mục đích là kiểm soát dịch hại đến mức độ nếu xử lý tiếp tục sẽ không mang lại hiệu quả kinh tế Mật số thiên địch có thể chấp nhận được
Mục tiêu cuối cùng của thuốc hoá học là tiêu diệt dịch hại, bảo vệ cây trồng Hiệu quả thuốc tức là hạn chế dịch hại tốt nhất bảo đảm năng suất cây trồng mà lại ít tốn kém chi phí nhất Nếu dùng thuốc mà để lại các hậu quả xấu thì rõ ràng hiệu quả đã bị hạn chế, lợi bất cập hại Để sử dụng thuốc BVTV có hiệu quả phòng trừ dịch hại cao giảm bớt chi phí cần phải thực hiện theo nguyên tắc 4 đúng:
- Đúng thuốc: mỗi loại thuốc có hiệu quả cao đối với một loại dịch hại nhất định Cần
biết loài dịch hại nào cần trừ để chọn đúng thuốc nhằm đạt hiệu quả phòng trừ cao với loài dịch hại đó
- Đúng lúc: trong quá trình phát sinh, phát triển của dịch hại, có những giai đoạndễ bị thuốc tiêu diệt, đó thường là lúc dịch hại mới phát sinh, tuổi phát dục còn non Trong nhóm thuốc trừ bệnh có loại thuốc tác dụng phòng bệnh là chính, cần phun khi bệnh mới hoặc sắp phát sinh Tránh phun thuốc lúc trời nắng gắt, sắp có mưa, có gió lớn, lúc hoa đang trổ rộ đặc biệt đối với các loại thuốc trừ cỏ tiền hoặc hậu nẩy mầm phải sử dụng đúng thời gian qui định
- Đúng liều lượng và nồng độ: liều lượng là lượng thuốc thành phẩm cần dùng cho
một đơn vị diện tích Còn nồng độ là lượng thuốc cần pha trong một lượng nước nhất định Cần phải pha đúng nồng độ và sử dụng đúng liều lượng để bảo đảm thuốc bao phủ hết diện tích cây trồng đủ để diệt sâu bệnh, cỏ dại mà không gây hại cho con người Không nên pha đậm đặc để ít nước đi
- Đúng cách: cần phun thuốc vào chỗ sâu bệnh thường phát sinh, tập trung nhiều
Dùng thuốc trừ cỏ cho ruộng lúa cần phun trải đều trên mặt ruộng, tránh phun trùng lắp, chế
độ nước theo yêu cầu Pha thuốc cho tan đều trong bình (Võ Văn Á và ctv, 1998)
Theo Chi Cục BVTV An Giang (2004) chương trình IPM trên lúa được triển khai ở
An Giang từ năm 1992-1997 với nguồn kinh phí do FAO tài trợ, qua chương trình này nông dân đã hiểu được tầm quan trọng của hệ sinh thái đồng ruộng và trong thái độ của họ về cách quản lý dịch hại đã có sự thay đổi rõ nét nhất là với côn trùng gây hại, sử dụng thuốc trừ sâu thận trọng hơn Tuy nhiên cốt lõi của chương trình IPM là “cân bằng sinh thái” nặng về quản
lý sâu hơn là bệnh và cũng từ đó bộc lộ một số khuyết điểm cần được cải thiện Và một trong những bước đột phá trong quản lý dịch hại trên lúa về sau đó là chương trình FPR (chương trình nông dân tham gia thí nghiệm)
1.3 Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây ăn trái
Sử dụng biện pháp tổng hợp để quản lý dịch hại cây ăn quả trên cơ sở sinh thái học sẽ làm tăng năng suất, cải thiện phẩm chất, bảo vệ sinh thái, giảm độc hại do sử dụng thuốc quá đáng và giảm chi phí đầu tư Quản lý dịch hại tổng hợp bằng cách tăng cường biện pháp sinh
Trang 19học và các biện pháp kỹ thuật chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật khi thật cần thiết, sử dụng đúng và có hiệu quả An toàn cho người tiêu dùng, không làm hại quá đáng thiên địch, hạn chế sự kháng thuốc của các loài sâu bệnh
Theo Nguyễn Văn Kế (2001) thì một số các biện pháp chính về quản lý dịch hại tổng hợp cho cây ăn quả sau:
1.3.1 Biện pháp sinh học
Nhằm giúp các thiên địch (côn trùng có ích) phát triển và tấn công sâu hại Đây là một giải pháp rất hữu ích nhằm tạo sự cân bằng trong thiên nhiên Rất nhiều loài thiên địch đã bị huỷ hoại do thiếu hiểu biết Chim, tắc kè, rắn mối, ếch, nhái,… ăn nhiều loại côn trùng Kiến vàng kiểm soát khá hiệu quả bọ xít xanh trên cây họ cam quýt Nhiều vườn cây nuôi kiến vàng đã hạn chế nhiều sâu bệnh hại Một số côn trùng, nấm, vi khuẩn, virus,… ký sinh làm chết sâu hại
Riêng côn trùng có ích có thể chia thành 2 nhóm:
Nhóm ăn thịt: Chuồn chuồn, bọ ngựa, kiến vàng, bọ rùa, nhện, giòi ăn rệp,…
Nhóm ký sinh: Trưởng thành đẻ trứng vào cơ thể sâu hại, ấu trùng nở ra dùng ngay cơ thể của ký chủ làm thức ăn (thí dụ các loại ong ký sinh )
Để giúp các thiên địch phát triển, nên hạn chế việc sử dụng các thuốc trừ sâu phổ rộng Nên xen canh, giữ một số loài cỏ vì chúng cung cấp phấn hoa làm thức ăn, cung cấp chỗ ấn núp, sinh sôi cho côn trùng có ích
1.3.2 Biện pháp kỹ thuật
1.3.2.1 Chọn giống
Chọn giống chống chịu sâu bệnh, chọn ở vùng ít bệnh Trong mỗi loài cây có loài dễ bị nhiễm bệnh, có loài chống chịu bệnh rất tốt
- Cây thơm (Ananas comosus) nhóm Cayenne dễ bị bệnh wilt hơn nhóm Queen, “thơm
cam” thuộc nhóm Abacaxi chống chịu wilt rất tốt Tại một số vườn ở Đức Hoà (Long An) rệp sáp bu đầy thơm cam nhưng không hề thấy dấu hiệu bệnh wilt
- Cây chuối: nhóm chuối già dễ bị nhiễm bệnh đốm lá Sigatoka hơn chuối sứ, chuối lá Ngay trong nhóm chuối già có chuối già Laba (Đà Lạt) dễ nhiễm bệnh Sigatoka hơn chuối già Bến Tre
- Bưởi “đường da láng” trồng tại Tân Uyên (Bình Dương) dễ bị nhiễm bệnh xì mủ gốc, thân cành hơn giống bưởi “đường lá cam” trồng tại Tân Triều,…
Khi chọn vật liệu trồng (cây giống) nên tránh chọn ở các vùng đang bị nhiễm bệnh nặng Thí dụ thơm Cayenne ở Đà Lạt bị nhiễm wilt nặng, thơm Queen ở một số vùng miền Bắc bị nhiễm bệnh thối lõi Cam quýt tránh chọn ở các vùng dễ bị nhiễm bệnh Greening,…
1.3.2.2 Nhân giống
- Chọn gốc ghép
Các cây nhân giống bằng phương pháp ghép thì cần chú ý đến gốc ghép, vì gốc ghép truyền tính trạng của nó cho cả cây ghép Đặc tính của gốc ghép là có thể truyền tính chống chịu sâu bệnh, tính dễ bị nhiễm một loại bệnh nào đó, nhất là virus cho cây ghép; tính chống chịu với môi trường như hạn, úng, mặn, phèn cũng như khả năng cho năng suất cao hay thấp, phẩm chất quả ngon hay dở,…
Trang 20Tại Nam Bộ trên các vùng phèn mặn, úng,… dọc theo bờ mương người trồng mãng cầu
xiêm thường phải dùng gốc ghép là bình bát (Annona glabra) Đối với cây họ cam quýt khi
ghép trên gốc bưởi dễ bị bệnh xì mủ gốc Ở cây họ cam quýt người ta rất sợ nhóm bệnh virus, một trong những bệnh đó là bệnh Tristeza đã tàn phá hàng chục triệu cây cam cam quýt ở
châu Mỹ Cây cam đắng hay cây cam chua (C aurantium) một loại gốc ghép một thời nổi
tiếng vì cho năng suất cao, phẩm chất tốt, rồi một thời “mang tiếng ” vì dễ nhiễm bệnh Tristeza
Gốc ghép có tầm quan trọng như vậy nên việc chọn gốc ghép thích hợp cho cây lâu năm
là một việc tối quan trọng Tại Nam Bộ nhiều nhà vườn cho là những cây hoang dại hay bán hoang dại có đặc tính chống chịu sâu bệnh tốt nên thường chọn những cây này làm gốc ghép, chẳng hạn chọn cây xoài “cà lăm” làm gốc ghép cho xoài cát, chọn táo rừng làm gốc ghép cho táo Taiwan, táo Hồng xanh, Ở nhiều nước trên thế giới nhất là Mỹ, Pháp, người ta nghiên cứu chọn lựa gốc ghép thậm chí lai tạo cả những cây chỉ để làm gốc ghép chẳng hạn Citrange Troyer, chúng được đánh giá chống chịu với bệnh Tristeza rất tốt
Nhưng cũng cần lưu ý thêm sự tương hợp giữa các thành phần của cây ghép, khả năng cho năng suất và phẩm chất quả sau này
- Chọn cành ghép
Cây mẹ, nhất là cây họ cam quýt cần được trắc nghiệm (test) để xem có mang mầm bệnh virus hay không Sử dụng cây chỉ thị bệnh để phát hiện sớm Như chanh Mexique để giúp kiểm tra Tristeza; Citron 684 – S1 để kiểm tra exocortis sớm,…
Đối với các loài cây không bị các bệnh nguy hiểm như cây họ cam quýt, cành ghép hay cành chiết cũng phải được lựa chọn từ những cây khoẻ mạnh (đã được indexing) và lấy từ vườn tốt Lấy ở vị trí ngoài tán
- Chọn phương pháp nhân giống
- Mỗi loài cây có nhiều kiểu nhân giống, hãy chọn kiểu nhân giống thuận lợi nhất
- Một số loài cây có hiện tượng đa phôi và nhờ đặc tính này một số bệnh không truyền qua hạt nên người ta dùng phôi tâm để nhân giống nhằm tránh một số bệnh virus
- Nuôi cấy mô các đỉnh chồi mầm sẽ tránh được bệnh virus và một số bệnh khác
- Tránh nhiễm bệnh khi ghép: khử trùng dao ghép và dụng cụ ghép
- Môi trường nhân giống: đất, vật liệu cho vào bầu đất như phân chuồng, xơ dừa,… hay những kỹ thuật giâm cành cần xem xét vì có những trường hợp cây con bị nhiễm, nhất là
Rhizoctonia sp., tuyến trùng,… Sự khử đất bón vôi sẽ làm bớt nguy cơ bị nhiễm bệnh
- Các dụng cụ như dao, kéo,… cần phải được sát trùng, rửa sạch trước và sau khi sử
dụng nhằm tránh lây lan bệnh như trường hợp bệnh virus Psorosis, Exocortis,…
- Thao tác ghép, chiết cần nhanh gọn, chỗ ghép chiết tránh để bị úng, nấm bệnh sẽ xâm nhập gây bệnh sau này
- Chăm sóc cây ghép, chiết: Nhiều trường hợp cây đã bị nhiễm bệnh ngay trong vườn ươm nhưng chưa bộc lộ ra ngoài Ngay cả những cây nhân giống bằng chồi như thơm đã bị rệp sáp truyền virus gây bệnh wilt nhưng bệnh chỉ lộ sau từ 2 tuần đến 6 tháng tuỳ theo giống Chồi thơm sau khi nhân, nên bó lại từng 10 con một, để gốc lên trên ngọn xuống dưới cho khô gốc, sự ẩm ướt dễ làm bệnh thối lõi và bệnh thói mềm phát triển nhanh Những cây như chuối khi bứng cây con không nên để dưới tán lá cây chuối bệnh, bệnh Sigatoka truyền do nước mưa hoặc sương rất có thể bào tử từ lá cây lớn bị nước mưa kéo xuống lá cây con
Trang 211.3.3 Biện pháp canh tác
1.3.3.1 Khử giống trước khi trồng
Một số trường hợp cần khử giống trước khi trồng để hạn chế bệnh bộc phát sau này Thí
dụ ngâm hay nhúng các chồi dứa vào dung dịch thuốc trừ sâu để giết rệp sáp, kiến, phòng thối lõi,…
1.3.3.2 Cải thiện môi trường nơi trồng
- Tránh để vườn bị úng, hạn cây sinh trưởng yếu sẽ bị nhiễm bệnh
- Tránh để vườn ẩm quá nấm bệnh sẽ phát triển nhanh Tránh trồng dày đặc, cây xen quá nhiều sẽ tạo độ ẩm cao, làm nấm phát triển mạnh
- Hãy chú trọng bón vôi, tro,… nhất là trên đất có pH thấp, để nâng cao pH Mỗi loại cây trồng cần một pH thích hợp khác nhau, như: nấm gây bệnh héo rụi Panama trên cây chuối phát triển mạnh ở pH thấp
- Tưới nước đầy đủ và đúng phương pháp sẽ làm cây sinh trưởng tốt hơn, giảm sâu bệnh đáng kể
1.3.3.3 Chọn mật độ thích hợp
Mật độ tối ưu sẽ làm năng suất cao Trồng thưa quá cỏ dại phát sinh nhiều Trồng dày
quá năng suất giảm, quả bé, sâu bệnh nhiều, tỉ lệ quả đạt tiêu chuẩn xuất khẩu thấp
1.3.3.4 Tỉa thoáng tán
Cần tạo tán thoáng để ánh sáng có thể lọt vào bên trong tán Công việc tạo tán cần làm ngay từ đầu và theo dõi sửa cành hàng năm Ở các vườn thiếu ánh sáng không những bệnh phát triển (như bệnh đốm rong,…) mà nhiều loài sâu đục cành cũng sẽ phát triển vì dạng trưởng thành ưa tìm chỗ râm mát để đẻ trứng
1.3.3.5 Xen canh
Xen canh hợp lý là một giải pháp lấy ngắn nuôi dài, hoặc ngay cả khi xen canh giữa các cây ăn quả với nhau sẽ giúp phân tán ký chủ (như: bọ xít cam sẽ bị phân tán trong các vườn cam xen lẫn nhãn Rệp sáp bị phân tán trong vườn xoài xen lẫn mãng cầu ta Sâu vẽ bùa phát triển ít khi xen bưởi với nhãn,…) Một số nông dân có sáng kiến trồng những cây xua đuổi côn trùng (chẳng hạn như: dây thuốc cá trồng dưới gốc xoài,…)
1.3.3.6 Bón phân cân đối, đầy đủ
Bón phân cân đối và đầy đủ sẽ giúp cây trồng khoẻ mạnh, tăng cường sức chống chịu của cây đối với sâu bệnh và các điều kiện khắc nghiệt của môi trường Bón phân đúng lúc sẽ giúp sự ra chồi, ra quả tập trung hơn Như vậy việc phòng trừ sâu bệnh sẽ dễ hơn
1.3.3.7 Bao quả
Bao quả bằng giấy, nylon,… sẽ làm mã quả đẹp hơn, sâu bệnh ít tấn công hơn Hiện nay trên thế giới nhiều loại quả được bao như chuối, xoài, cam, bưởi, ổi,… Tập quán bao quả mới được thực hiện bước đầu ở nước ta
1.3.3.8 Vệ sinh vườn
Thu dọn các tàn dư thực vật, các quả rụng, cắt bỏ các cành, lá sâu bệnh rồi từng loài sâu bệnh mà huỷ đi Công tác vệ sinh thực vật sẽ làm giảm nguồn lây lan
Trang 221.3.3.9 Bẫy dẫn dụ và diệt côn trùng
Tuỳ từng loài côn trùng có thể đặt bẫy đèn, bẫy màu vàng, bẫy sử dụng kích dục tố,…
sẽ giúp giảm thiểu việc sử dụng thuốc hoá học
1.3.4 Biện pháp hoá học
1.3.4.1 Nguyên tắc chung
Sử dụng thuốc là biện pháp phải chọn lựa khi thật cần thiết Nguyên tắc chung là:
- 4 đúng: Đúng thuốc: phải đọc kỹ nhãn thuốc trước khi sử dụng, tuỳ theo đối tượng gây hại mà chọn thuốc cho phù hợp Đúng lúc (bệnh ghẻ lá xoài phải phun khi lá còn non, thrips trên chuối phải phun vào tiêm khi bắp vừa nhú ra,…) Đúng liều (không đặc quá sẽ gây phí thuốc và gây độc cho người, không loãng quá vì không trị được sâu bệnh Sử dụng thuốc theo đúng nồng độ khuyến cáo ghi trên nhãn, không sử dụng nồng độ cao hơn qui định Trường hợp sâu bệnh kháng thuốc thì thay thuốc khác chứ không tăng liều lượng Đúng phương pháp (côn trùng ở mặt dưới lá phải phun vào mặt dưới,…)
- Chọn các loại thuốc chuyên biệt, phổ hẹp, ít độc cho côn trùng có ích
- Luân phiên các loại thuốc để tránh hiện tượng kháng thuốc
- Chỉ sử dụng thuốc sau khi điều tra dự báo và biết chắc mật số sâu vượt ngưỡng kinh tế cho phép
- Ngưng thuốc để đảm bảo thời gian cách ly, an toàn cho người tiêu dùng
1.3.4.2 Điều tra dự báo
Luật pháp góp phần tích cực vào việc phòng ngừa dịch bệnh Luật kiểm dịch ở các
nước tiên tiến rất gắt gao Nước ta nên kiểm kỹ các loại cây ngoại nhập để bảo vệ cây trồng trong nước
1.4 Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên xoài
1.4.1 Sử dụng kỹ thuật canh tác
Đây là một biện pháp có hiệu quả rất cao trong công tác đối phó và ngăn ngừa các loại dịch hại trên xoài Biện pháp này chủ yếu sử dụng các kỹ thuật canh tác khác nhau nhằm tạo điều kiện cho cây phát triển tốt nhất, ngăn ngừa và khống chế sự bộc phát và lây lan của dịch
Trang 23hại cũng như tạo môi trường không thuận lợi cho sự phát triển của dịch hại đồng thời phát huy hiệu quả các quần thể thiên địch có sẵn trong tự nhiên, tạo sự cân bằng sinh thái và an toàn cho môi trường Trên vườn cây ăn trái, các biện pháp này bao gồm việc:
- Sử dụng các cây giống sạch, khoẻ, không bị nhiễm dịch hại, chống chịu dịch hại tốt
- Vệ sinh vườn, nhằm loại bỏ nguồn dịch hại, cắt đứt sự lây nhiễm
- Xén tỉa cành tạo điều kiện cho vườn thông thoáng, không thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loại dịch hại, khống chế độ cao của cây để dễ dàng chăm sóc, thu hoạch…
- Bón phân hợp lý, sử dụng phân hữu cơ, không sử dụng phân bón lá định kỳ
xoài như sâu đục trái (Deanolis albizonalis), bọ đục cành (các loại), rầy bông (Idioscopus spp.), bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporioides), bệnh đốm vi khuẩn (Xanthomonas
campestris), bệnh đốm rong (Cephaleuros virescens), bệnh mốc hồng (Corticium salmonicolor), bệnh phấn trắng (Oidium mangiferae) và một số bệnh hại khác trên xoài Khi
tán cây trong vườn đã giao nhau, việc xén bớt cành có thể làm gia tăng năng suất đến 45,5% (FFTC – Practical technology – 2002) và làm phẩm chất trái tăng lên Việc xén tỉa, tạo tán khống chế độ cao của cây xoài cũng là một điều kiện cần thiết cho việc áp dụng thành công IPM trên xoài, đỡ chi phí phun thuốc, giúp cho nhà làm vườn dễ chăm sóc, thu hoạch và theo dõi tình hình dịch hại cũng như thu hoạch
1.4.2 Biện pháp cơ học và vật lý
+ Bao trái: Ngoài các biện pháp xén tỉa cành, biện pháp bao trái để ngăn ngừa sự xâm nhiễm, gây hại của các dịch hại trên trái như sâu đục hột, giòi đục trái, bệnh thán thư, bệnh đốm vi khuẩn,… là một biện pháp rất có hiệu quả, hiện nay đang được nhiều nông dân trồng cây ăn trái nói chung và trồng xoài nói riêng áp dụng Biện pháp này bảo đảm được công nghệ sản xuất trái cây “sạch”, “đẹp”, “chất lượng cao” do ngăn ngừa được dịch hại và hạn chế được việc sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật trực tiếp trên trái
+ Tưới nước: Bên cạnh biện pháp bao trái, biện pháp tưới nước lên chồi lá non, bông (chưa nở) với áp lực cao trong mùa nắng có thể hạn chế được sự bộc phát của bù lạch và các loại sâu ăn lá
+ Bẫy hấp dẫn: Sử dụng methyl eugenol (hoặc É Tía, Hương Nhu,…) để phòng trị ruồi đục trái, bẫy “màu vàng” để phát hiện và phòng trị bù lạch gây hại trên xoài Bẫy hấp dẫn còn được sử dụng để phát hiện dịch hại và theo dõi sự biến động mật số nhằm xác định thời gian phòng trị thích hợp như
1.4.3 Thuốc bảo vệ thực vật
Có thể nói hiện nay, không chỉ ở Việt Nam mà hầu hết các nước trồng xoài trên thế giới, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật vẫn là biện pháp chủ lực để đối phó với các loại dịch hại trên xoài Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của thuốc bảo vệ thực vật nói chung và biện pháp hoá học nói riêng trong công tác bảo vệ thực vật trên xoài hiện nay và trong thời gian sắp đến Điều quan trọng là sử dụng thuốc gì? Và như thế nào để bảo đảm không những hiệu quả kinh tế, hiệu quả kỹ thuật của thuốc mà còn đảm bảo được sự an toàn sinh thái, hạn chế
Trang 24được tác động xấu của thuốc đến con người và môi trường Đa số các loại thuốc có mặt trên thị trường hiện nay đều thuốc nhóm độc II, tuy nhiên, như phần trên đã trình bày, điều này không có nghĩa là sẽ an toàn khi sử dụng thuốc Điều này cũng đòi hỏi rất nhiều kiến thức của nhà vườn, tuy nhiên để sản xuất sản phẩm “sạch”, an toàn sinh thái, biện pháp sử dụng hoá chất là biện pháp cuối cùng, chỉ sử dụng khi thật cần thiết và chỉ sử dụng những loại thuốc ít độc hoặc không độc đối với môi trường Tại Florida, hầu hết các loại thuốc nông dân sử dụng trên xoài đều có tính an toàn đối với con người và môi trường khá cao Trong 14 loại sản phẩm được đăng số sử dụng để phòng trừ côn trùng và nhện gây hại trên xoài tại Florida, ngoài sulfur thì chỉ có 4 loại thuốc là thuộc nhóm thuốc trừ sâu có độ độc thuộc nhóm II, còn
lại là 9 sản phẩm thuộc nhóm an toàn như thuốc trừ sâu sinh học (Bacilllus thuringiensis,
Beauveria bassiana), thuốc thảo mộc (azadirachtin, pyrethrin, rotenone), dầu thực vật và một
số sản phẩm an toàn khác Kết quả điều tra của Trường Đại Học Florida năm 1999-2000 ghi nhận có đến 50% nhà vườn (trồng xoài) sử dụng các loại dầu (crop oils) đề phòng trị nhện, rầy mềm và rệp sáp gây hại trên xoài (Mossler và Nesheim, 2003, trích dẫn từ Nguyễn Thị Thu Cúc, 2003)
1.4.4 Biện pháp sinh học
Thành phần thiên địch của dịch hại trên xoài khá phong phú và giữ vai trò khá quan trọng trong việc khống chế nhiều loại dịch hại trên xoài Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2003) tại
Đài Loan Chou KC và Chou Ly (1990) đã ghi nhận vào giai đoạn trứng, rầy bông I clypealis
bị 5 loại ký sinh tấn công Golez (1991) cũng phát hiện có hai loại ong ký sinh
(Trichogramma chilonis và T chilotrae) tấn công trứng của sâu đục hột Deanolis albizonalis
và một loại ong ăn mồi vespid (Rhychium attrisimum) tấn công ấu trùng của sâu đục hột Có
thể bảo tồn, phát huy và gia tăng số lượng thiên địch trong tự nhiên bằng nhiều biện pháp khác nhau như hạn chế tối đa thuốc bảo vệ thực vật nói chung và thuốc trừ sâu nói riêng, tạo điều kiện môi trường thuận lợi cho thiên địch phát triển,… Đây là những biện pháp hiện đang được qua tâm nghiên cứu và áp dụng tại nhiều nước trồng xoài trên thế giới Nếu có thể, không nên phun thuốc vào giai đoạn trổ bông, vào giai đoạn này có rất nhiều thiên địch đến
ăn mật hoa và phấn hoa Mặc dù xoài là một loại cây tự thụ phấn tuy nhiên nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy thụ phấn chéo sẽ làm gia tăng sự đậu trái Một khảo sát tại Viện nghiên cứu Tandojam - Ấn Độ vào những năm 1990 (Abbasi, 1999) ghi nhận có 16 loại côn trùng hiện diện trên bông xoài vào giai đoạn trổ bông, trong đó chỉ có 4 loại là gây hại, các loài còn lại là thiên địch hoặc côn trùng thụ phấn cho cây trồng Ở nhiều nước, để phòng trị côn trùng và nhện gây hại, ngoài việc sử dụng các biện pháp khác nhau, người ta còn nuôi và
thả thiên địch vào vườn Tại ĐBSCL, nuôi kiến vàng Oecophylla smaragdina là một ví dụ
điển hình của việc gia tăng thiên địch trên nhiều vườn cây ăn trái Trên xoài, kiến vàng có thể khống chế rất cao sự gây hại của các loại sâu ăn lá và đục chồi non Có thể gia tăng nhóm ong
ký sinh (Hymenoptera) bằng cách trồng chung quanh hoặc một bên trong vườn một số loại cây thuộc họ Solanaceae và Malvaceae phấn hoa của các loại cây này thường tiết nhiều trên mật ngọt nên hấp dẫn rất nhiều loại ong ký sinh Nhiều loại ong ký sinh rất cần thức ăn này để phát triển trứng Kết quả khảo sát của Delvare và Genty (1992) (theo trích dẫn của Mariau và ctv, 1996) ghi nhận trong các loại côn trùng hấp dẫn bởi các loại cây này có 43% ong ký sinh
thuộc loại ong nhỏ Chalcididae, 14% thuộc loại ong kén nhỏ Braconidae và 9% là ong ký sinh thuộc họ Eulophida
1.5 Một số khó khăn trong việc áp dụng IPM trên xoài hiện nay
1.5.1 Xoài là ký chủ ưa thích của nhiều loài dịch hại
Có thể nói xoài là ký chủ của rất nhiều loại dịch hại Có trên 492 loài côn trùng, 17 loại nhện gây hại và 26 loại tuyến trùng và hàng trăm loại bệnh khác đã được ghi nhận trên xoài tại nhiều vùng trên thế giới (Rajans, 2000, trích dẫn từ Nguyễn Thị Thu Cúc, 2003) Tại miền
Trang 25Nam Việt Nam, kết quả điều tra trong nhiều năm liên tiếp (1992-2000) cũng đã phát hiện có trên 70 loại côn trùng và nhện gây hại và trên 15 loại bệnh trên xoài trong đó có gần 20 loại gần như hiện diện rất thường xuyên Kết quả điều tra khảo sát cũng đã cho thấy năng suất và chất lượng xoài bị ảnh hưởng rất lớn do các loại dịch hại gây ra
1.5.2 Xoài có thể bị dịch hại tấn công ở khắp các giai đoạn phát triển
Trong suốt giai đoạn phát triển từ lúc ra chồi, lá, hoa, trái… xoài điều bị dịch hại tấn công Đặc biệt vào giai đoạn ra chồi, ra hoa, trổ bông và tượng trái, giai đoạn quyết định rất lớn cho năng suất, xoài thường xuyên bị tấn công bởi rất nhiều loại gây hại quan trọng và khó
trị như rầy bông Idiocerus, bù lạch Scirtothrips dorsalis, các loại sâu ăn bông, bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporioides), sâu đục hột (Deanolis albizonalis), bệnh đốm vi khuẩn (Xanthomonas campestris) và bệnh da ếch (Chaetothyrium sp.), dòi đục trái (Bactrocera sp.)
vào giai đoạn ra chồi, lá và cành non, xoài cũng là ký chủ của hàng chục loại dịch hại
1.5.3 Đối tượng gây hại khó phòng trị
Hầu hết các đối tượng gây hại quan trọng như sâu đục trái Deanolis albizonalis, rầy
bông Idiocerus spp, bù lạch Scirtothrips dorsalis, các loại ăn bông và đục cành, bệnh thán
thư, bệnh đốm vi khuẩn,… đều rất khó phòng trị Các loại côn trùng gây hại đều có chu kỳ sinh trưởng ngắn, khả năng nhân mật số rất nhanh Nhiều loài có khả năng kháng thuốc rất
cao như Idiocerus spp, Scirtothrips dorsalis hoặc thuộc nhóm đa ký chủ như Thalassodes
falraria, Comibaena, Autoba abrupta, Autoba versicolor, Aporandria specularis,… Bên cạnh
đó nhiều loại gây hại bên trong trái, trên bông (giai đoạn rất khó sử dụng thuốc để phòng trị vì
có thể tác động đến thiên địch, côn trùng thụ phấn cho xoài và có thể ảnh hưởng đến sự thụ phấn) hoặc bên trong chồi hoặc cành, rất khó phát hiện
1.5.4 Điều kiện thời tiết khí hậu thuận lợi
Thời tiết khí hậu tại miền Nam Việt Nam rất thuận lợi cho sự phát triển của xoài cũng như của nhiều loại dịch hại trên xoài Điều kiện ẩm ướt của mùa mưa đặc biệt thích hợp cho nhiều loại bệnh phát triển, chỉ cần có thức ăn hiện diện là dịch hại gần như có thể phát triển suốt năm Bên cạnh đó nắng nóng và khô hạn rất thích hợp cho các đối tượng gây hại quan trọng khác như bù lạch, rầy bông,…
1.5.5 Kỹ thuật canh tác xoài
Song song với những nguyên nhân nêu trên thì việc canh tác xoài như hiện nay cũng là những yếu tố góp phần tạo điều kiện cho sự bộc phát cho nhiều loại dịch hại trên xoài Có thể
kể một số kỹ thuật canh tác có thể tác động đến sự bộc phát của các loại dịch hại trên xoài
như sau:
1.5.5.1 Áp dụng không đúng một số thành tựu khoa học trên xoài
Tình trạng canh tác cho xoài trái vụ hiện nay là một vấn đề phổ biến, đây là một thành tựu rất có ý nghĩa trong việc gia tăng giá trị kinh tế của xoài tuy nhiên nhiều nơi, nông dân đã không nắm bắt được hết kỹ thuật cần thiết nên đã sử dụng thuốc kích thích ra hoa không đúng
kỹ thuật Điều này không những làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cây mà còn
có thể tạo điều kiện cho dịch hại có thức ăn liên tục quanh năm Bên cạnh đó, tình trạng sử dụng phân bón lá quá liều lượng, không đúng cách cũng tạo điều kiện lây lan và bộc phát rất nhanh
1.5.5.2 Vấn đề tạo tán, tỉa cành
Rất nhiều vườn xoài hiện nay không được tạo tán, tỉa cành, mọc quá cao nên việc chăm sóc, theo dõi điều tra dịch hại khó khăn Khi bị dịch hại tấn công, việc áp dụng các biện pháp
Trang 26phòng trị cũng khó khăn cho các nhà làm vườn Các vườn xoài không được tỉa cành cũng là môi trường thuận lợi cho mầm dịch hại lưu tồn, phát triển và lây lan từ vụ này sang vụ khác
1.5.5.3 Giống xoài
Về giống, có thể nói là các nhà làm vườn đã có chuyển biến rất nhanh trong việc chọn
và canh tác những giống xoài có chất lượng và giá trị kinh tế cao Hai loại xoài như cát Hoà Lộc và cát Chu đã và đang được canh tác trên một diện rộng và ngày càng có khuynh hướng gia tăng diện tích Tuy nhiên 2 giống cây này cũng như những giống xoài khác hiện đang được trồng tại ĐBSCL như xoài Bưởi, xoài Thanh Ca, xoài Đu Đủ,… đều rất mẫn cảm với các loại dịch hại Đặc biệt là xoài Bưởi, một giống xoài có năng suất trái rất cao, lại rất dễ bị nhiễm rất nhiều loại sâu hại
1.5.5.4 Tiến bộ khoa học kỹ thuật về canh tác xoài
Các thành tựu và tiến bộ khoa học kỹ thuật có liên quan về kỹ thuật canh tác xoài nói chung và bảo vệ thực vật trên xoài nói riêng còn quá giới hạn và chỉ mới bắt đầu trong khoảng 10 năm trở lại đây Các nghiên cứu trong thời gian vừa qua tập trung chủ yếu vào công tác điều tra, đánh giá, thu thập giống, kỹ thuật canh tác, xử lý ra hoa trái vụ, điều tra, đánh giá về tình hình dịch hại trên xoài,… Các nghiên cứu có liên quan đến các đặc điểm sinh thái, quy luật diễn biến về mật số quần thể dịch hại và các biện pháp đối phó với dịch hại theo hướng an toàn sinh thái vẫn chưa được chú trọng Hầu hết các biện pháp đối phó với dịch hại hiện nay đều dựa vào thuốc hoá học nhưng với thuốc hoá học, biện pháp sử dụng thuốc đúng,
an toàn và hiệu quả vẫn là một dấu chấm hỏi rất lớn cho các nhà vườn
1.5.5.5 Tay nghề của các nhà vườn
Do rất nhiều vườn xoài hiện nay là các vườn mới thành lập, bà con có rất ít kinh nghiệm trồng xoài và về dịch hại trên xoài nên việc phòng trị không đúng, không mang lại hiệu quả cao Nhiều bà con chưa phân biệt được các tác nhân gây hại và thường lẫn lộn giữa tác nhân gây bệnh với những tác nhân có ích Kết quả điều tra tại ĐBSCL (Trần Văn Khải,
2000) ghi nhận để phòng trị do bọ đục cành Sybulus sp gây ra trên xoài (chết đọt), bà con
thường sử dụng cá loại thuốc trừ bệnh Hoặc như trường hợp bù lạch gây hại trên bông xoài,
bà con cũng thường nhằm lẫn với triệu chứng (bông rụng) do bệnh thán thư gây ra nên việc
sử dụng thuốc cũng đã không mang lại hiệu quả Kết quả điều tra tại Cần Thơ, Đồng Tháp và Tiền Giang năm 1999 (Mele et al., 2001) ghi nhận chỉ có một số ít nhà vườn là nhận diện được một số ít loài gây hại chính như rầy bông xoài, bọ ăn lá,… tuy nhiên hầu hết không phân biệt được triệu chứng cũng như các đặc điểm sinh học sinh thái có liên quan đến sự gây hại
1.5.5.6 Sử dụng thuốc trừ dịch hại
Kết quả điều tra trên 93 hộ tại Cần Thơ, Đồng Tháp và Tiền Giang (Mele et al., 2001) ghi nhận có đến 97% hộ đã phải dựa hoàn toàn vào thuốc bảo vệ thực vật để đối phó với dịch hại trên xoài, số lần sử dụng thuốc trong năm biến động từ 10 - 46 lần (trung bình là 13,4 lần/năm) Tổng cộng có 36 loại thuốc trừ sâu (thuộc 26 hoạt chất khác nhau) được sử dụng Khoảng 20% loại thuốc trừ sâu sử dụng thuộc nhóm độc I (WHO), các loại thuốc còn lại thuộc nhóm độc II Nhóm được sử dụng nhiều nhất là nhóm cúc tổng hợp (57%), kế đó là lân hữu cơ (25%) và carbamates (15%) Tuy vậy vẫn có trên 12% hộ sử dụng những thuốc đã bị cấm sử dụng (Methyl Parathion, Azodrin, Monitor) Các loại thuốc trừ sâu thuộc nhóm cúc tổng hợp nhìn chung có nhiều ưu điểm so với các nhóm thuốc trừ sâu khác (gốc chlor, lân hữu
cơ và carbamate) do lượng thuốc dùng trên đơn vị diện tích rất thấp (10 – 40 g a.i./ha), phân huỷ nhanh trong môi trường và ít độc đối với động vật máu nóng (hầu hết thuộc nhóm độc II), tuy nhiên nhóm thuốc này có tính độc cao với thiên địch, cá, ong mật và dễ gây ra sự bộc phát tính kháng thuốc vì vậy sử dụng nhiều và không đúng cũng có thể gây ra những kết quả ngược lại Việc sử dụng thuốc như vừa nêu trên được thực hiện trong tình trạng hầu hết bà
Trang 27con trồng xoài chưa phân biệt được một cách rõ ràng giữa nhóm thuốc này và nhóm thuốc khác, và ngay trong cùng một nhóm thuốc, việc phân biệt các loại thuốc cũng không đơn giản đối với nhiều bà con nhà vườn Với trình độ tay nghề nói chung còn giới hạn của nhiều bà con trồng xoài như hiện nay, rõ ràng việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật như vậy vẫn còn là một thách thức rất lớn Đối với thuốc trừ bệnh, kết quả điều tra cũng ghi nhận có 73% hộ điều tra
có sử dụng thuốc trừ nấm với số lần phun biến động từ 8 – 21 lần trong một năm (trung bình 11,6 lần/năm) Có tất cả 18 loại thuốc trừ nấm (thuộc 11 hoạt chất tác động khác nhau) được
sử dụng Nhiều nhất là carbendazim (nhóm benzimidazole) (28,7%), kế đó là thiophanate – methyl (10,2%), mancozeb (14%) và propioneb (8,9%), Chlorothanil (9,6%) và metalaxyl (9,6%) Ngoại trừ metalaxyl thuộc nhóm độc III (WHO), tất cả những thuốc khác thuộc nhóm độc V Nhìn chung hầu hết các loại thuốc trừ nấm sử dụng hiện nay trên vườn xoài đều có tính độc thấp đối với động vật máu nóng tuy nhiên điều đó không có nghĩa là thuốc hoàn toàn
an toàn đối với môi trường Hiện tượng kháng các loại thuốc trừ nấm lưu dẫn của nhiều loại nấm gây bệnh trên cây trồng đã được ghi nhận ngày càng nhiều kể từ những năm 1960 (khi các nhóm thuốc trừ nấm lưu dẫn xuất hiện phổ biến trên thị trường), điển hình nhất là tính kháng thuốc trừ nấm nhóm Benzimidazoles và Thiophanates (Deckker, 1993) Bên cạnh đó nhiều loại thuốc trừ nấm cũng có thể gây độc cho các sinh vật có ích khác vì vậy việc lạm dụng thuốc trừ bệnh có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện IPM trên vườn cây ăn trái nói chung
và xoài nói riêng
1.5.5.7 Phương tiện và kỹ thuật áp dụng thuốc bảo vệ thực vật
Cho đến nay, hầu hết các kỹ thuật sử dụng thuốc được khuyến cáo cho các nhà vườn trồng cây ăn trái chỉ tập trung chủ yếu vào các vấn đề như loại thuốc, nồng độ thuốc sử dụng,
số lượng thuốc (+nước) cho một diện tích trồng nhất định hoặc cho từng cây… tuy nhiên việc
sử dụng loại thuốc nào cho hợp lý và cho từng loại cây nhất định để không gây ra những hậu quả tai hại thì hầu như chưa được đề cập đến Bên cạnh đó việc nghiên cứu nhằm giúp đỡ nhà vườn trồng xoài chọn lựa các dụng cụ, vật tư phun thuốc thích hợp cũng như kỹ thuật phun thuốc trên cây xoài (cây cao) nhằm hạn chế được sự thất thoát thuốc, cũng như hạn chế được
sự tiếp xúc của người trực tiếp phun thuốc với thuốc, hạn chế được thời gian phun thuốc đồng thời nâng cao được hiệu quả kỹ thuật của thuốc cũng là một việc rất cần thiết cho việc áp dụng IPM thành công trên vườn xoài
1.6 Tình hình dịch hại trên xoài
Việc nghiên cứu khảo sát về dịch hại, đặc biệt là nhóm côn trùng và nhện gây hại trên xoài cũng như các biện pháp phòng trị thích hợp là một việc làm rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay, đáp ứng cho nhu cầu sản xuất những loại cây ăn trái có giá trị cao đồng thời đảm bảo được vấn đề an toàn sinh thái và môi trường (Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), trích dịch)
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2003) ghi nhận thành phần côn trùng gây hại trên xoài
rất phong phú, gồm 11 loại côn trùng trong đó quan trọng nhất là sâu đục trái (Deanolis
albizonalis) và rầy bông xoài (Idioceus spp)
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Phạm Hoài An (2003) ghi nhận 2 loài gây hại quan
trọng trên xoài là: rầy bông xoài (I Niveospararas) và sâu đục ngọn (Spyllis sp)
Theo kết quả điều tra Trần Văn Khải (2000) ghi nhận trên xoài có 15 loài gây hại trong đó quan trọng nhất là sâu đục trái, rầy bông xoài, sâu đục cành, sâu đục ngọn
Theo Dương Minh và ctv (1997) côn trùng gây hại trên xoài có: rầy bông xoài, có 2
loại Idioscopus clypcilis và I Nivesparus, ruồi đục trái, sâu đục thân, sâu ăn bông, bọ đục cành (2 loài Nipbonoclea albata và N capito) rệp sáp và rệp dính
Trang 28So với điều tra 1994-1995 (Nguyễn Thị Thu Cúc và Nguyễn Văn Hùng, 1998) thì điều tra năm 1998-1999 ghi nhận thêm một số tác nhân gây hại quan trọng như: bọ cắt lá, sâu
ổ, sâu đục cành (2 loài), sâu đục chồi, bù lạch và nhện
Dịch hại về bù lạch chỉ mới bộc phát khoảng 3 năm vừa qua nhưng trở thành đối
tượng gây hại hàng đầu cho nhà vườn ở ĐBSCL Deanolis (noorda) abizonalis là loại sâu hại
quan trọng đối với cây xoài vì chúng tấn công trực tiếp lên trái gây thiệt hại nặng sau thu hoạch
Theo Đồng Chiến Thắng (2003) đã xác định được bù lạch gây hại trên xoài gồm 2
loài có tên là Scitothrips và Thrips sp Còn bù lạch gây hại trên dưa hấu là loài Thrips palmi
Theo Đồng Chiến Thắng (2003) khẳng định sự bộc phát bù lạch tại ĐBSCL không phải là do bù lạch trên dưa hấu lây lan sang mà nguyên nhân chính có thể là sự bộc phát tính kháng thuốc và do thiên địch bị huỷ diệt đồng thời thức ăn liên tục và thời tiết thuận lợi là nguyên nhân chính dẫn đến sự bộc phát và gây hại của bù lạch trên xoài
Theo Ngô Thanh Cường (2003) ghi nhận có 7 bệnh gây hại trên xoài: thán thư
(Colletotrichum gloeosporioides), đốm lá (Pestalotia mangiferae, cháy lá (Macrophoma
mangiferae), đốm bồ hóng (Meliola mangiferae), thối trái (Botryodiplodia theobrmae), đốm
da ếch (Chaetothyrium sp.), đốm đen vi khuẩn (Xanthomonas campestris pv Mangiferae)
Bệnh gây hại nặng nhất là đốm đen vi khuẩn và thán thư trên xoài ra hoa trái vụ
1.6.1 Sâu hại trên xoài
1.6.1.1 Sâu đục trái (hột) xoài Deanolis albizonalis
* Tầm quan trọng kinh tế:
D albizonalis được xem là đối tượng gây hại quan trọng trên xoài tại Ấn Độ (Butani,
1993) Loại này có thể làm thiệt hại đến 50% sản lượng xoài tại Guimaras (Golez, 1986) và là loài phổ biến tại Phi Luật Tân (Golez, 1986)
Vào năm 1995 thì sâu đục trái là đối tượng gây hại quan trọng trên các vườn xoài Tiền Giang, Đông Tháp và Cần Thơ, hiện diện đến 98,6%, có thể tấn công 100% số cây trong vườn, có thể thiệt hại năng suất 100% (Nguyễn Thị Thu Cúc và Nguyễn Văn Hùng, 1998)
* Đặc điểm sinh thái và cách gây hại:
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000) thành trùng là một loại bướm đêm, có kích thước trung bình, chiều dài sãi cánh khoảng 25 – 28 mm.Thân có những khoang trắng, đỏ xen kẽ nhau rất đặc biệt Rất khó phát hiện trứng của chúng, trứng được đẻ trên trái non ở phần chóp trái, giai đoạn trứng kéo dài 3 - 4 ngày trứng nở, sau đó ấu trùng ăn hết phần thịt trái rồi tấn công ăn hết phần hột
Theo Nguyễn Danh Vàn (2004) con trưởng thành là loài bướm tương đối lớn, sãi cánh rộng đến gần 3 cm, thân mình màu nâu đỏ, có khoảng trắng đỏ xen kẽ Cánh trước màu nâu, cánh sau màu sáng trắng hoạt động về ban đêm Chúng đẻ trứng trên trái xoài, sau đó sâu non đục vào bên trong để gây hại, ăn hết phần thịt rồi đến phần hột, khi ăn hết phần hột chúng chui ra ngoài đục trái khác
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Võ Thanh Hoàng (1995) trứng có hình bầu dục lúc mới
đẻ có màu trắng ngà, Đường kính trứng khoảng 0,2 - 0,3 mm, trứng được đẻ ở những nơi khuất ánh sáng Ấu trùng từ tuổi 1 đến tuổi 2 đều có những khoang trắng đỏ xen kẽ nhau, khi phát triển đầy đủ, sâu dài khoảng 20 – 22 mm Nhộng có kích thước 11-12 mm
Trang 29Theo Golez (1986) trứng hình bầu dục, có kích thước 0,51 x 0,69 mm Màu sắc của chúng thay đổi từ sáp trắng khi mới nở đến nâu nhạt, màu trên vỏ trở nên sậm hơn khi trứng sắp nở
Theo Golez (1991), trứng được đẻ thành từng khối trên phần chóp trái, trứng có hình bầu dục, trắng sáp
Theo Dori (do Nguyễn Thị Thu Cúc trích dẫn, 2000) trứng có thể được đẻ từ 1 - 4 trứng trên trái ở vị trí gần cuống trái hoặc trong những khe nứt của trái, sau khi nở, ấu trùng sẽ
di chuyển về phía chóp trái và đục vào trái xoài
Theo Manoto (1981) ấu trùng ăn vào phần hột, đục thành đường hầm trong trái có thể ăn xuyên ra ngoài và đục phá trái khác cho đến hết giai đoạn ấu trùng Chúng rời khỏi trái rơi xuống đất hoá nhộng
Theo Trần Văn Hai và Phạm Hoàng Oanh (2003) khi xoài bị đục, phần chớp trái có thể bị biến dạng, phần này có thể bị cong lại Nếu bị nhiễm nặng, năng suất có thể bị giảm 50% Khi bị tấn công vào giai đoạn trái nhỏ, trái sẽ bị rụng Vào giai đoạn trái lớn, mặc dù bị thối ở phần chóp của trái và phần thối này có thể chiếm trên phân nửa trái nhưng trái vẫn có thể vẫn còn dính trên cây
1.6.1.2 Rầy bông xoài:
* Tầm quan trọng kinh tế:
Rầy bông xoài là đối tượng gây hại quan trọng trên xoài ở Việt Nam và kể cả các nước trên thế giới như Philippines, Thái Lan, Ấn Độ Chúng gây hại trầm trọng vào giai đoạn
ra hoa, năng suất có thể thất thu từ 20-100% (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
* Đặc điểm sinh thái và cách gây hại:
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000) cả hai loài đều có hình dạng tương tự nhau, với đầu tròn, rộng, cơ thể có dạng cái nêm Thành trùng có màu xanh nâu hay xanh nhạt, dài khoảng 4 mm, chiều dài của ấu trùng mới nở khoảng 0,90 mm Ấu trùng tuổi cuối có chiều dài cơ thể 3,7 - 3,8 mm Trứng mới đẻ có kích thước khoảng 0,86 - 0,3 mm Chúng thường xuất hiện vào lúc xoài trổ bông, chích hút bông và lá non làm cho bông bị nâu, khô sau đó rụng và không đậu trái
Rầy bông xoài là đối tượng gây hại rất nguy hiểm, chúng thường sống ở lá xoài, chích hút nhựa của đọt non, mặt dưới của lá non và phát hoa làm hoa bị rụng, trái non rụng hoặc không đậu trái Nguyễn Danh Vàn (2004)
1.6.1.3 Sâu đục ngọn, chồi và cành non Dudua aprobola (Meyrick):
Trong 4 loài cánh cứng đục ngọn xoài thì 2 loài vòi voi 1, vòi voi 2 (chưa định danh)
là gây hại quan trọng
* Tầm quan trọng trọng kinh tế:
Gây hại phổ biến tại Đồng Tháp, Tiền Giang, Cần Thơ Chúng có thể tấn công đến 100% số cây trong vườn và 80% số chồi trên cây, làm ảnh hưởng quan trọng đến sự đậu trái
và năng suất xoài (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
* Đặc điểm sinh thái và cách gây hại:
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2001) thành trùng là loài bọ cánh cứng chiều dài thân khoảng 4 – 5 mm, chiều ngang 2 - 2,5 mm, cơ thể màu nâu trên lưng có hai chấm màu đen, có vòi dài gây hại ở giai đoạn ấu trùng là chủ yếu Chúng thường đẻ trứng vào ban đêm, rải rác
Trang 30trên các chồi non, lá non, sâu mới nở đục vào gân chính cuống lá non hoặc chồi non làm cho chúng bị héo khô Nếu tấn công trên bông làm cho bông bị khô và rụng
Thành trùng giống Bọ Vòi voi loại 1, nhưng chiều dài cơ thể 8 - 8,5 mm, vòi hơi cong làm thành góc 30 - 35, phần roi râu dài khoảng 3,2 - 3,6 mm Thành trùng đục nhiều lổ vào cành non trên chồi và đẻ trứng vào đường đục Sau đó trứng nở thành ấu trùng đục vào chồi, ăn phần mô bên trong chồi, sau đó héo khô rồi chết
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2001) cả hai loài vòi voi đều phá hại cành và chồi non,… Chúng gây hại chủ yếu là thành trùng
Theo Vũ Khắc Nhượng (2000) (do Nguyễn Thị Thu Cúc (2001) trích dẫn) thì đây là
những loài gây hại đáng kể trên xoài tại miền Bắc, tại ĐBSCL, Penicillaria jocosatrix được
ghi nhận gây hại phổ biến trên lá xoài non và trên hoa
1.6.1.4 Bọ cắt lá Deporaus marginatus (Pascoe)
* Tầm quan trọng kinh tế:
Gây hại trên xoài tại nhiều nước trên thế giới như: Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Thái Lan, Malaysia, Sri lanka, Singapore, Myanmar Chúng cũng hiện diện trên các vườn xoài tại Tiền Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, gây hại quan trọng trên giống xoài Bưởi Trong nhiều vườn có thể gây hại lên đến 90% số chồi non (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
* Đặc điểm sinh thái và cách gây hại:
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000) thành trùng thường đẻ trứng vào các mô của lá dọc theo gân chính của lá và cắt những lá còn non, đẻ trứng xong chúng cắt ngang lá ngay trên vị trí đẻ trứng làm cho lá rơi xuống đất, ấu trùng sau khi nở ăn hết phần lá non rồi chui vào đất làm nhộng sau đó vũ hoá thành trùng tiếp tục cắn phá gặm nhấm lá non, làm cho lá
hư, cành non trụi lá, ảnh hưởng sự phát triển, ra bông và năng suất Nếu không có biện pháp phòng trị kịp thời thì 80% lá có thể bị tấn công
1.6.1.5 Sâu ăn bông xoài Thalassodes falsaria (Geometridae – Lepidoptera)
* Tầm quan trọng kinh tế:
Là đối tượng gây hại quan trọng trên xoài hiện nay, chúng hiện diện trên các vườn xoài ĐBSCL, tập trung cao tại Cần Thơ, Đồng Tháp và Tiền Giang Trong một thời gian ngắn chúng có thể ăn trụi bông, sâu có thể làm thiệt hại từ 70 - 100% số bông trên cây (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
* Đặc tính sinh thái và cách gây hại:
Thành trùng có sãi cánh dài khoảng 2,5 mm, thân và cánh có màu xanh, ấu trùng dạng sâu đo kích thước khoảng 25-30 mm Nhộng có kích thước khoảng 16 mm, sâu có thể ăn trụi các nhánh bông, chúng có thể tấn công lúc nhú cựa gà cho đến giai đoạn đậu trái
1.6.1.6 Sâu ăn lá:
Các loài này gây hại chủ yếu trên lá lụa, khả năng ăn phá mạnh, bao gồm 2 loài phổ
biến: Penicillaria jocosatrix và Acrocercops sp
* Tầm quan trọng kinh tế:
Thiệt hại không đáng kể, khi mật số sâu cao có thể sử dụng các loại thuốc trừ sâu thuộc nhóm lân và cúc tổng hợp
* Đặc điểm sinh thái và cách gây hại:
+ Sâu ăn lá Penicillaria jocosatrix (Guenee)
Trang 31Thành trùng có màu nâu xám, phân nửa cánh sau có màu trắng Giai đoạn nhộng khoảng 10-11 ngày, ấu trùng dài khoảng 25 mm Sâu làm nhộng trong đất và hoá nhộng dễ dàng trong hộp nuôi sâu Loài này ăn phá rất mạnh, làm rụi lá non, bông xoài, nó còn có khả năng đục ngọn xoài nên còn được gọi là Sâu đục ngọn xoài
+ Sâu ăn lá Acrocercops sp:
Thành trùng là loài ngài kích thước rất nhỏ, sãi cánh dài khoảng 12 mm, thân dài 5
mm, màu nâu, râu đầu hình sợi chỉ dài Gây hại chủ yếu trên lá non, ấu trùng cắt lá thành vòng tròn rất đặc trưng, tạo thành phao sau đó chui ra khỏi phao gây hại
1.6.1.7 Ruồi đục trái Bactrocera:
* Tầm quan trọng kinh tế:
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2001) sự gây hại của ruồi đục trái trên xoài hiện nay tại vùng ĐBSCL có thể nói là chưa đáng kể Có thể do nông dân vùng ĐBSCL thường có tập quán không để trái chín trên cây và có thể do tại vùng ĐBSCL, ký chủ rất phong phú lại phụ thuộc vào các nhóm cây cho trái quanh năm như mận và ổi nên sự gây hại của rầy trên xoài được hạn chế
* Đặc điểm sinh thái và cách gây hại:
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000) trên xoài có 2 loại ruồi Bactrocera dorsalis và
Bactrocera cucurbitea được ghi nhận
1.6.1.8 Bù lạch:
* Tầm quan trọng kinh tế:
Bù lạch chỉ xuất hiện mấy năm gần đây nhưng chúng gây thiệt hại đáng kể cho các nhà làm vườn ở ĐBSCL, chúng gây hại trên bông và trái làm cho trái bị da cám mất giá trị thương phẩm Trong điều kiện thời tiết khô chúng phá hại có thể làm giảm sản lượng nghiêm trọng và đôi khi làm mất trắng
Theo kết quả điều tra của Đồng Chiến Thắng (2003) thiệt hại do bù lạch gây ra là 80% ở Cần Thơ, 50-100% ở Tiền Giang, 60-100% ở Đồng Tháp Tỉ lệ mất trắng là 15%, chưa
30-kể thiệt hại giá trị thương phẩm (xoài bị da cám)
* Đặc điểm sinh thái và cách gây hại:
Theo Lê Thị Sen (1999) bù lạch có kích thước rất nhỏ, khoảng 1 mm miệng phát triển cho việc chích hút, chân bù lạch rất đặc biệt là đốt bàn không có móng mà tận cùng bằng một mảnh nhỏ
Theo Đồng Chiến Thắng (2003) trứng bù lạch hình bầu dục, màu trắng ngà, đẻ rải rác trong mô lá non, gần gân lá Đẻ trên toàn bộ lá khi mật số cao, ấu trùng tuổi 1 có cơ thể màu trắng và trong suốt, ấu trùng tuổi 2 phần lớn sẽ rơi xuống đất hoá nhộng, một số khác chui vào khe nứt của cây hoặc trong lá cuốn lại để tiếp tục giai đoạn tiếp theo
Theo Đồng Chiến Thắng (2003) sự thiệt hại của bù lạch gây ra là sự ăn phá trên lá, trái non và hoa Thiệt hại gây ra do sự chích hút nhựa cây, đặc biệt gây hại nặng vào thời tiết khô, chúng làm cho trái bị sẹo và méo mó làm giảm giá trị nông sản và sản phẩm khó tiêu thụ
Scirtothrips dorsalis gây hại trên chồi non lá bông và trái non Trên chồi non, chúng
chích hút trên các rìa lá làm lá phát triển không bình thường, cong queo, chồi không cho lá và trái Trên bông mật độ cao làm cho bông bị rụng Trên trái non làm trái biến dạng và rụng, trái lớn cũng có thể bị biến dạng và da trái bị đen Chúng hiện diện với mật số cao vào lúc xoài ra hoa và trổ, thời tiết khô hạn và nóng là điều kiện thích hợp cho chúng sinh sản và gây hại
Trang 321.6.2 Bệnh hại trên xoài:
1.6.2.1 Bệnh thán thư (Anthracnose)
* Tầm quan trọng kinh tế:
Bệnh nặng làm đọt non héo, quăn queo Bệnh gây hại và phát triển mạnh nhất vào mùa mưa (Dương Minh và ctv, 1997)
* Đặc điểm gây hại:
Bệnh xuất hiện trên tất cả các giai đoạn sinh trưởng của xoài, vết bệnh đầu tiên nhỏ
có hình mũi kim châm trên các lá non, màu nâu đến màu sẫm đen, có hình tròn hoặc hình bầu dục Bệnh nặng thì giữa lá bị khô làm lá biến dạng và mất khả năng sinh trưởng Theo Dương Minh và ctv (1997) bào tử nấm hình bầu dục hay viên trụ trong suốt kích thước thay đổi 7 - 20
x 2,4 – 5 mm, đính bào tử kết hợp lại thành khối màu nâu hay đen trên bề mặt phần hoại tử của vết bệnh
Bệnh do nấm Colletotrichum gloesporiodes gây ra, trên lá non vết bệnh có đốm nhỏ
hình tròn hay góc cạnh, màu nâu đỏ kích thước khoảng 3 – 5 mm Bệnh nặng làm cho phiến lá
có nhiều vết thủng rồi rụng, trên bông phát triển mạnh làm cho bông bị rụng, bị nặng bông rụng hàng loạt Bệnh làm cho trái bị chín háp hoặc làm trái bị hư trong thời gian bảo quản, vận chuyển sau thu hoạch Đây là bệnh quan trọng nhất làm cháy hoa và thối trái ở vùng nhiệt đới, bệnh phát triển mạnh khi ẩm độ cao, nấm tấn công từ lúc ra hoa đến khi đậu trái Chúng làm rụng nhiều trái non còn trái già có những đốm thâm kim nhỏ làm mất giá trị thương phẩm Theo Ngô Thanh Cường (2003)
1.6.2.2 Bệnh đốm bồ hóng:
* Tầm quan trọng kinh tế và đặc điểm gây hại:
Bệnh này do nấm thuộc bộ Meliolales, Ascomycetes đồng phá hại, chúng tạo thành lớp phấn mịn, màu đen bóng phủ thành từng đốm hay khắp bề mặt trên của lá, gây ảnh hưởng quang hợp của lá hoa và đậu trái Theo Dương Minh và ctv (1997) có loại nấm gây bệnh bồ
hóng hoặc đốm bồ hóng trên xoài quan trọng là Capnodium mangiferae tạo bồ hóng trên bề mặt lá và Meliola mangiferae tạo bồ hóng thành đốm rời nhau
Theo Nguyễn Thị Nghiêm (2001) nấm bệnh phát triển do côn trùng chích hút tiết ra
ở hoa và mặt dưới tạo thành lớp bồ hóng màu đen, thường xuất hiện vào giai đoạn trổ hoa, trên trái khi mật độ rầy lên cao
Bệnh phát triển nặng vào trong mùa mưa (Ngô Thanh Cương, 2003)
1.6.2.3 Bệnh phấn trắng: (Powdery mildew)
Bệnh do nấm Oidium mangiferae gây ra, bệnh thường xuất hiện trên lá non và hoa,
bao phủ một lớp phấn trắng do bào tử nấm gây ra, nấm tấn công sớm khi hoa thụ phấn đến lúc tạo trái làm cho trái biến dạng méo mó và bị rụng (Ngô Thanh Cường, 2003)
Theo Nguyễn Thị Nghiêm (2001) bệnh phủ trên lá 1 lớp màu trắng là bào tử dính phát triển trên nhựa cây, mặt trên lá bệnh có màu vàng sẽ ngã sang nâu rồi sang sậm, khi bệnh nặng lá có thể bị biến dạng, trên trái bị lớp phấn bao phủ làm trái dễ bị rụng
1.6.2.4 Bệnh thối trái:
* Tầm quan trọng kinh tế:
Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1997) bệnh tấn công trái trong giai đoạn tồn trữ vận chuyển và gây hại phẩm chất từ 3-5%
Trang 33* Đặc điểm gây hại:
Bệnh do nấm Botryodiplodia theobromae gây ra, bệnh tấn công qua vết thương ở
cuống trái khi hái (Nguyễn Văn Huỳnh và Võ Thanh Hoàng, 1995) Ở điều kiện nóng ẩm (250C) làm đầu trái bị thối sau đó lan rộng tròn to có màu đen hoặc tím than, thịt bên trong bị mềm có màu nâu Nhiễm nặng có nhiều tơ nấm màu xám phủ khắp bề mặt vết bệnh (Persley, 1993)
Theo Nguyễn Danh Vàn (2004) bệnh thường gây hại nặng khi thời tiết nóng ẩm (nhất
là trong mùa mưa), chúng xuất hiện trên đọt non làm đọt sậm màu sau đó lan dần xuống cành non cuống lá làm cho lá biến màu nâu Cành bệnh có thể bị chảy nhựa Trên trái làm thối phần thịt gần cuống, vùng vỏ trái quanh cuống bị úng, sậm màu có thể lan dần ra thối cả trái, thịt trái bị mềm có màu nâu
1.6.2.5 Bệnh đốm rong lá (Cephaleuros)
* Tầm quan trọng kinh tế:
Đốm rong làm giảm quang hợp ở lá, lá rụng và cây bị suy do thân bị nứt vì sợi nấm
ăn xuyên vào mô cây
* Đặc điểm gây hại:
Bệnh do loại rong xanh Cephaleuros virescens gây ra, bệnh trên lá, cuống lá và cành
non, vết bệnh có kích thước từ 5 – 8 mm và nhô lên, có thể liên kết thành đốm lớn bất dạng
1.7 Một số vấn đề cần thiết cho việc áp dụng IPM trên xoài
Việc phát triển một nền nông nghiệp bền vững, an toàn và có hiệu quả cao đòi hỏi các sản phẩm nông nghiệp không chỉ có giá trị kinh tế cao mà phải là những sản phẩm “sạch” Và IPM với triết lý, quan điểm về môi trường, dựa trên những nguyên tắc về kinh thế và sinh thái
đã đáp ứng được những điều đó Trong gần hai thập kỷ qua, nhiều mô hình IPM đã được áp dụng rất thành công trên nhiều vườn cây ăn trái tại nhiều nước trên thế giới Tại Việt Nam, với tình trạng hiện nay, việc áp dụng thành công IPM trên vườn xoài nói riêng và một số loại cây ăn trái khác nói chung đòi hỏi một sự đầu tư lâu dài và đồng bộ về nhiều mặt trong đó rất cần có sự tham gia nghiên cứu của các nhà khoa học, sự hỗ trợ, đầu tư và quản lý về thuốc bảo vệ thực vật của nhà nước, trình độ và kiến thức của nhà vườn,… Sự đáp ứng về sản phẩm sạch của người tiêu thụ,… Bước đầu cần chuyển giao nhanh những thành tựu đã có đến các nhà vườn như các thông tin về kỹ thuật canh tác, biện pháp phát hiện và nhận diện dịch hại cũng như những qui luật phát sinh và phát triển của dịch hại, biện pháp ngăn ngừa và hạn chế
sự bốc phá của dịch hại, biện pháp sinh học trong đó hướng dẫn bà con biện pháp bảo tồn
thiên địch biện pháp sử dụng kiến vàng Oecophylla smaragdina, biện pháp vệ sinh vườn, xén
tỉa cành nhiễm sâu, bệnh, tạo điều kiện thông thoáng, ngăn chặn sự lây nhiễm….Bên cạnh đó cần nhanh chóng xây dựng các mô hình (vườn) điểm về kỹ thuật canh tác, về sử dụng thuốc đúng kỹ thuật trên xoài, xây dựng các câu lạc bộ nông dân, hội nông dân trồng xoài để có thể phổ biến các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhanh và rộng đến bà con nhà vườn và tạo môi trường cho bà con có thể học hỏi trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau Ngoài vấn đề tìm đầu ra ổn định cho nhà vườn, mang tính chất vĩ mô, có sự tham gia quản lý của nhà nước, trước mắt cần thành lập các công ty bảo hiểm về bảo vệ thực hoặc các công ty dịch vụ về kỹ thuật trồng cây ăn trái
có giá trị kinh tế nói chung và trồng xoài nói riêng để tư vấn, hướng dẫn bà con sản xuất xoài
có hiệu quả kinh tế cao và bền vững (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2003)
Nguyễn Thị Thu Cúc (2003) đã tổng kết một số dịch hại phổ biến và biện pháp quản
lý dịch hại tổng hợp đi kèm theo Bảng 1.1 như sau:
Trang 34Bảng 1.1 Dịch hại phổ biến và biện pháp quản lý tổng hợp trên cây xoài
DỊCH HẠI BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
Sâu đục trái
Deanolis albizonalis
Loại trái nhiễm Sau thu hoạch, cho ngập nước vườn khoảng 36 -
48 giờ để diệt nhộng Bao khi trái 35 - 45 ngày tuổi, trước khi bao trái phun thuốc trừ sâu và bệnh Trường hợp không thể bao trái nếu phát hiện có => 2% trái nhiễm sử dụng luân phiên 2 nhóm thuốc lân và cúc tổng hợp
Rầy bông xoài
Bù lạch
Scirtothrip dorsalis
Phun nước lên chồi, lá non và trái Sử dụng thuốc trừ sâu phổ biến như Comite, Carbosulfan, Phosalone, Benfuracarb, Prothiophos, Confidor, Regent, Trebon, Cypermethrin, Disulfoton, Vertimec,… (luân phiên thuốc) Phun kỹ, sử dụng vòi phun nhuyễn, có thể sử dụng dầu khoáng
Dòi đục trái
Bacirocera dorsalis
Bao trái khi chuẩn bị già (chín sinh lý) cho đến khi thu hoạch Loại trái bị nhiễm – Thuốc hoá học phối hợp với chất hấp dẫn phun trên một số cây giới hạn và chỉ một số điểm trên cây, thành trùng sẽ bị hấp dẫn đến những điểm có thuốc Sử dụng Methyl eugenol, Vizubon-D, Ruvacon, chất trích từ cây é Tía hoặc Hương Nhu để bẫy thành trùng đực
Sâu đục ngọn, chồi
Chlumetia transversa
Dudua aprobola
Huỷ bỏ chồi héo, sử dụng thuốc gốc lân hoặc Cúc tổng hợp khi có
3 chồi héo/ cây – Quan sát sự hiện diện của sâu trong chồi
Châu chấu xanh
Hypomeces squamosus
Rung cây để thành trùng rơi xuống đất xong tiêu diệt Vùng nhiễm nặng, sử dụng các loại thuốc trừ sâu thông thường phun trên lá non Xới đất để diệt ấu trùng sống trong đất
Plocaderus ruficornis Loại bỏ những cành bị nhiễm Khi phát hiện lỗ đục, cần đục khoét
Trang 35Trong tự nhiên Rastrococcus spp bị khống chế bởi nhiều loài
thiên địch của rastrococcus là một việc làm tiên quyết
85 WP, Coc 85 (0,2 - 0,4%), Kasuran 50 WP, Kasumin 2L, Starner 20 WP, Sasa 40 WP, Batocide 12 WP, Cuprimicin 500 81
WP (0,1-0,2%), 7 - 10 ngày/ lần Bao trái
Bệnh da ếch
Chaetothyrium sp
Vườn thường bị bệnh, phun ngừa sau giai đoạn trái rụng sinh lý với Benlate 50 WP, Derosal (Bavistin) 60 WP, Bellkute 40 WP hoặc Chlorine 0,5 - 1%, bao trái lại cũng hạn chế được bệnh này Bao trái sau (35 - 45 ngày sau khi thụ phấn), phun thuốc trừ sâu, bệnh trước khi bao
Bệnh đốm rong
Cephaleuros virescens
Không trồng dày, xén tỉa cành tạo tán, cho vườn thông thoáng Cắt bỏ cành vô hiệu bên dưới, cành già Bón phân cân đối, không nên phun phân bón lá định kỳ Phun thuốc khi cây bị bệnh nặng: mancozeb 80 WP, Kumulus 80 Wp, Microthiol special 80
Bệnh mốc hồng
Corticium salmonicolor
Cắt tỉa cành tạo tán và làm cỏ vườn tạo điều kiện thông thoáng Phun thuốc khi bệnh xuất hiện, Copper B 75 WP, Validacin 5 L, Bonanza 100 SL, Benomyl 50 WP, Nustar 40 EC, Bayleton 250
Trang 36Bệnh phấn trắng
Oidium mangiferae
Cắt tỉa và tiêu huỷ cành bệnh Phun ngừa với Bordeaux 1%, Copper Zine 85 WP, Coc 85 với nồng độ 0,2%, trước khi chồi phát triển, phun Microthiol special 80WP, Kumulus 80 DF, Score 250 EC, Ridomil 60 WP, Bellkute 40 WP với nồng độ 0,1-0,2% phun 7-10 ngày/ lần
Thiếu calcium Lên liếp cao tránh bị ngập úng trong mùa lũ Bón phân hữu cơ
hoai mục cho vườn xoài, bón thêm vôi bột cho vườnsau khoảng
5 năm trồng Nếu cây đang mang trái mà bị nứt, phun CaCl2 (20
- 30 g/ 10 lít), 10-15 ngày/ lần; có thể kết hợp với phân bón lá Bayfolan
Bệnh đốm lá Drechslera
Drechslera sp
Cắt tỉa, tiêu huỷ các lá bệnh Tỉa cành sau vụ thu hoạch cho cây thông thoáng Phun thuốc Copper B 75WP, Benlate 50WP, Derosal 60 WP, Score 250 EC, Ridomil 72 WP với nồng độ 0,1-0,2% phun 10 ngày/lần
Bệnh đốm lá Stigmina
Stigmina mangiferae
Cắt tỉa và tiêu huỷ các lá bị bệnh Thuốc Copper B 75 WP, Benlate 50 WP, Derosal 60 WP, Ridomil 72 WP, 0,1 - 0,2% phun 10 ngày/ lần
Bệnh thối trái khô đọt
Diplodia natalensis
Sau thu hoạch, chừa cuống trái khoảng 5cm, không làm xay xát trái khi thu hoạch cũng như lúc vận chuyển.- Phun thuốc Benomyl 0,1 - 0,2% ở 10 - 15 ngày trước khi thu hoạch, hoặc nhúng trái vào dung dịch nước nóng 52-540C (ba sôi hai lạnh) trong 5 - 10 phút cũng hạn chế được bệnh
Thối gốc cây con
Sclerotium rolfsii
Không dùng phân rác bón cho vườn ươm, nếu sử dụng phân rác phải ủ (nóng) cho hoai mục trước khi bón hoặc trộn vào đất làm liếp ương Sử dụng Anvil 5SC, Validacin 3 L, Rovral 50 WP, Appencarb super 50 FL, Benlate 50 WP, Copper B 75WP, Bonanza 100SL,… nồng độ 0,2-0,5% khi bệnh xuất hiện
Thối gốc xoài lớn
Phytophthora sp
Đất thoát thuỷ tốt, liếp cao hoặc có bờ bao ngăn lũ Dùng Bordeaux 1%, Copper Zine 85 WP, Mancozeb 80 WP, Dithane M45 80 WP, Kocide, Coc 85 pha đặc phết vào gốc cây trước khi mùa lũ đến dùng Curzate M8 80 WP, Manzate 80 WP, Ridomil
72 WP, Metaxyl 25 WP, Aliette 80 WP (50 - 100 g/lít), phết vào gốc cây bị bệnh 7 ngày/lần
Bệnh thối đầu trái
Nguồn: Nguyễn Thị Thu Cúc, 2003
Trang 371.8 Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật
1.8.1 Ảnh hưởng tích cực:
Ba loại thuốc có hiệu lực tốt là: Decis 2,5 EC có hiệu lực cao và nhanh đối với sâu đục trái, Vertimec 1,8 EC có hiệu lực khá cao và Biobit 332 WP có độ hữu hiệu tương đối tốt
Hai loại thuốc Cyperan 10 EC, Supracide 40 EC có tác dụng diệt ấu trùng loài
Aleurodicus dispersus cao nhất Đối với thuốc Cyperan 10 EC nồng độ 1% và 2% có hữu hiệu
diệt ấu trùng rầy phấn trắng cao nhất
Nhiều loại thuốc tỏ ra có hiệu quả cao đối với bù lạch, bao gồm các loại thuốc phổ biến như: Comite, Benfuracarb, Confidor, Regent, Trebon, Cypermethrin, Disulfoton,
1.8.2 Ảnh hưởng tiêu cực:
Thuốc Bassa tỏ ra rất độc đối với nhện Plexippus paykulli và Phintella sp L Ở cả
liều lượng dưới mức được khuyến cáo trên nhãn hiệu thuốc, số chết đạt đến 93% sau 6 giờ
Theo Kirk (1997) (do Đồng Chiến Thắng (2003) trích dẫn) thì tự nhiên, mật số bù lạch thường không cao do sự hiện diện khá phong phú của thiên địch, nhưng chúng rất mẫn cảm với thuốc trừ sâu và trừ bệnh Vì vậy phun quá nhiều thuốc bảo vệ thực vật sẽ giết chết các loại thiên địch có lợi
Khi phun thuốc lên toàn cây để diệt côn trùng và dòi hoặc rãi thuốc hột vào đất để diệt nhộng sẽ làm ảnh hưởng đến môi trường sống của nhiều sinh vật, để lại dư lượng chất độc trong trái, ảnh hưởng đến sức khoẻ của người tiêu dùng và xuất khẩu
1.9 Đặc điểm giống xoài Thanh Ca
Xoài Thanh Ca được trồng nhiều ở Bình Định, Cam Ranh (Khánh Hoà), Bình Chánh (Tp HCM), Bảy Núi (An Giang), hoặc trồng xen trong vườn cây ăn quả và vườn xoài ở các tỉnh ĐBSCL là một trong những giống ngon được người tiêu dùng ưa thích Đặc biệt cây có nhiều đợt quả trái vụ trong năm nên càng có giá trị kinh tế Quả hình trứng dài, nặng trung bình 350 – 580 g, vỏ quả màu vàng tươi, rất bóng nên hấp dẫn Thịt quả màu vàng tươi từ ngoài vào trong, ít xơ, nhiều nước, nhiều bột ăn ngon và thơm (Trần Thế Tục và Ngô Hồng Bình, 2001)
Từ giống Thanh Ca miền Tây Nam bộ có một dòng tách ra có tên là Thanh Ca chùm (Mỹ Tho, Rạch Giá, Cần Thơ) vì thường trên phát hoa có nhiều quả (có phát hoa tới 10 quả) nặng trung bình mỗi quả 200 – 300 g Lúc chín thịt quả có màu vàng tươi không đều Quả mọng nước, ngọt, ít bột, hơi có mùi nhựa thông nên người tiêu dùng không thích bằng xoài Thanh
Ca Giống xoài Thanh Ca ở vùng Bảy Núi có lẽ là Thanh Ca chùm nhưng có vỏ dầy rất thích hợp cho xuất khẩu vì chịu được vận chuyển nhiều ngày mà không hư Tuy nhiên, trái có nhiều xơ nên chất lượng xuất khẩu chỉ ở mức trung bình (Trần Thế Tục và Ngô Hồng Bình, 2001)
Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1997) chi Mangifera có khoảng 40 loài thường phân
bố trong khu vực Ấn Độ và Đông Nam Á trong đó có 26 loài cho trái ăn được với loài
Mangifera indica là loài phân bố rộng nhất Theo Nguyễn Văn Kế (2001) Xoài Thanh Ca có
tên khoa học là Mangifera mekongensis thuộc chi (genus) Mangifera , họ Anacardiaceae (họ
Đào lộn hột) (http://vi.wikipedia.org/wiki) Xoài Thanh Ca thuộc nhóm đa phôi (nhóm Đông Nam Á) mang từ 2-12 phôi vô tính ( là phôi tâm phát triển từ tế bào nội bì của nhân) Hột đa phôi có thể có hoặc không mang phôi hữu tính Nhờ đa phôi hột xoài đem gieo có thể cho 2-5 cây con, thường là vô tính (giống với cây mẹ), hoặc nếu có cây hữu tính thì cây cũng mọc chậm, yếu ớt, dễ bị lấn át hoặc bị đào thải tự nhiên Nhóm xoài đa phôi thường ít bị hiện tượng cho trái cách năm như xoài đơn phôi
Trang 38Thanh Ca là giống xoài thông dụng ở ĐBSCL, dễ xử lý ra hoa trái vụ, trái rất sai, thơm, nhưng hơi nhiều xơ (xơ dài, là phần tế bào của vỏ hột) Đặc biệt cây xoài Thanh Ca có khả năng chịu ngập đến 3 tháng, nên có thể dùng làm gốc tháp tốt cho vùng ngập lũ (1 phần
do gốc xoài Thanh Ca kháng bệnh chảy mủ, gummosis, do nấm Phytophthora sp gây hại khi cây xoài bị ngập, và xoài Thanh Ca chống chịu tốt với nấm bệnh này Tuỳ màu sắc trái, vùng Cao Lảnh hiện có 2 giống xoài Thanh Ca: Trắng và Đen với màu sắc hơi khác nhau một chút Nhờ thịt trái ngon (dù hơi nhỏ trái), dễ ra hoa, xoài Thanh Ca có triễn vọng làm gốc tháp tốt nhất hiện nay cho vùng ĐBSCL (nhờ không làm ảnh hưởng đến ngọn tháp)
http://forum.ctu.edu.vn/viewtopic.php Trái lại, xoài Thanh ca ở vùng Bảy Núi lại chịu được điều kiện khô hạn nên được trồng rất phổ biến ở vùng ruộng trên và chân núi Từ kết quả thí nghiệm về xử lý ra hoa trên xoài Thanh Ca cho thấy: Trọng lượng trung bình 278 gr/ trái (từ
169 - 362 gr/ trái) Thương lái thu mua xoài phân loại theo số trái: loại 1 4 trái 1 kg tức 250 gr/ trái; loại 2 nhỏ hơn 250 gr/ trái (Nguyễn Văn Minh, 2008)
II PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương tiện
Áp dụng phương thức hợp tác nghiên cứu với nông dân tham gia thí nghiệm Nông dân
có đất, có cây nhà khoa học hỗ trợ chi phí và kỹ thuật Thí nghiệm được tiến hành tại 1 điểm thuộc TT Ba Chúc (Hình 1.1) có những đặc điểm như sau:
Hình 1.3: Bản đồ vị trí điểm thí nghiệm xoài tại TT Ba Chúc
NÚI CẤM
NÚI DÀI 1
Đường 955
Hình 1.1: Bản đồ vị trí thí nghiệm về kỹ thuật canh tác IPM trên xoài Thanh Ca
Vườn nhà ông Nguyễn Ngọc Ngởi số nhà 246 Tổ 5 ấp An Bình, thị trấn Ba Chúc có
12 cây xoài tham gia thí nghiệm Tuổi của các cây xoài từ 7 tuổi Tổng diện tích 4.000 m2
nằm sát lộ vào thị trấn
Điểm thí nghiệm
1
Trang 392.2 Phương pháp
2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội: Dựa vào các báo cáo năm của các cơ quan nông nghiệp như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh An Giang, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tri Tôn, Báo cáo kế hoạch sản xuất năm từ 2003 đến năm 2005 của UBND xã Ba Chúc có liên quan đến mô hình trồng xoài
- Bản đồ các loại từ quy hoạch tổng thể của tỉnh An Giang
- Niên Giám thống kê tỉnh An Giang và huyện miền núi Tri Tôn các năm 2005, 2006
2.2.2 Đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA)
Tổ chức một cuộc hội thảo PRA để nắm tình hình tổng quát về hiện trạng canh tác xoài, tình hình sâu bệnh, thiên địch, hiệu quả kinh tế của mô hình vườn xoài, xử lý ra hoa mùa nghịch Quy mô cuộc hội thảo nầy gồm 20 chủ vườn xoài có kinh nghiệm Cán Bộ Nông nghiệp, Chủ tịch Hội Nông dân xã Các công cụ của PRA sau đây được sử dụng nghiên cứu theo Bảng 1.2
Bảng 1-2: Các công cụ của PRA được sử dụng nghiên cứu
Sự kiện lịch sử Tìm hiểu những mốc thời gian phát triển của mô hình vườn xoài Kinh tế, xã hội, tập quán sản xuất, môi trường, thời gian Lịch thời vụ Khảo sát lịch thời vụ, các công đoạn chăm
sóc, bón phân, XLRH, thu hoạch, bán buôn Thời gian canh tác, thu hoạch, thời tiết, lũ Transect Tìm hiểu phân bố của vùng trồng xoài
SWOT
Nhận ra những điểm mạnh - điểm yếu – cơ hội - rủi ro của mô hình trồng xoài qua nhận thức của nông dân
Kinh tế, xã hội, chính sách, môi trường
Biểu đồ Venn Tìm hiểu mối liên hệ giữa nông hộ trồng xoài
2.2.3 Phỏng vấn với bảng câu hỏi
Nhằm tìm hiểu về tình hình canh tác cũng như về tình hình dịch hại trên xoài chúng tôi
đã tiến hành điều tra nông dân trên các vườn xoài, với các hình thức như sau:
- Phương pháp điều tra sử dụng phiếu,
- Hình thức điều tra: Điều tra trực tiếp tại nông hộ có vườn xoài cho trái tối thiểu được 3 năm, ít nhất 50 hộ canh tác xoài trong địa bàn khảo sát
- Phương pháp điều tra: hỏi trực tiếp nông dân theo bảng câu hỏi, không gợi ý nông dân trả lời
2.2.4 Bố trí thí nghiệm về hiệu quả áp dụng phòng trừ dịch hại tổng hợp trên xoài
Thí nghiệm “Đánh giá hiệu quả của biện pháp canh tác và cơ giới của IPM trên 2 loại thuốc XLRH trái vụ (Nitrate Kali và Fotfer) trên cây xoài ở TT Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang” nhằm mục tiêu so sánh trọng lượng trái xoài được áp dụng IPM so với không áp dụng