báo cáo về thực trạng và giải pháp về công tác hướng nghiệp ở 1 số trường THPT An Giang
Trang 1UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
BÁO CÁO KHOA HỌC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CẤP TRƯỜNG
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG TỈNH AN GIANG
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI : THẠC SĨ LA HỒNG HUY
X THÁNG 09 NĂM 2001W
Trang 2
NHÓM NGHIÊN CỨU
• Chủ nhiệm đề tài : Thạc sĩ : LA HỒNG HUY
Giảng viên chính truờng Đại học
AN GIANG
• Cộng tác viên
1 CHU THỊ HÀ, CB trường TH.TKTK An Giang
2 TRẦN HUYỀN, CV Phòng TH - Sở GDĐT - An Giang
3 VÕ THÀNH LONG, TP.TH Sở GDĐT - An Giang
4 LÂM THỊ KIM NGÂN, CV Phòng GDCN Sở GDĐT AG
Trang 3LỜI CÁM ƠN
X< W
Hiện nay có nhiều vấn đề lí luận và thực tiễn nổi bật cần được nghiên cứu để đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục, phát triển đất nước.Một trong những vấn đề đó là việc kết hợp, gắn bó giữa giáo dục văn hoá với giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề kết hợp giữa học và hành ở nhiều cấp độ khác nhau Vấn đề nầy có ảnh hưởng sâu sắc đến việc điều chỉnh, xây dựng lại cấu trúc hệ thống giáo dục quốc dân đảm bảo tính liên thông, tính hiệu quả của giáo dục có điều kiện thực tế gắn kết với quá trình kinh tế – xã hội Song vấn đề này chưa được Ngành giáo dục và Đào tạo An Giang nghiên cứu nên đề tài về lí luận thực tiễn không nhiều.Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã được:
- Hội đồng khoa học trường Đại học An Giang
- Sở giáo dục và đào tạo An Giang
- Sở lao động và thương binh xã hội An Giang
- Các Trường trung học phổ thông ở : TP Long Xuyên; các Huyện Tri Tôn; Phú Tân và Châu Thành
Hết sức nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp kinh phí, số liệu, tài liệu các thông tin cần thiết cho đề tài
Đề tài đã được hoàn thành, bằng vào tấm lòng trân trọng biết ơn của mình; chúng tôi chân thành cảm ơn tất cả những cơ quan, đơn vị, tập thể nêu trên và đặc biệt là cám ơn các cơ quan, nhà nghiên cứu, các tác giả và tập thể tác giả của những tài liệu mà chúng tôi đã tham khảo và trích dẫn
Một lần nữa xin chân thành cám ơn
Chủ nhiệm đề tài: LA HỒNG HUY
Trang 4MỤC LỤC
X < W
CHƯƠNG I :
I
II
CHƯƠNG II :
I
II
III
IV
V
VI
CHƯƠNG III
I
II
MỞ ĐẦU………
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP Lịch sử nghiên cứu ………
Cơ sở lí luận của công tác hướng nghiệp 1 Một số khái niệm cơ bản ………
2 Hệ thống quan điểm chỉ đạo về hướng nghiệp dạy nghề cho học sinh phổ thông ………
3 Cơ sở khoa học của công tác hướng nghiệp………
4 Nội dung hình thức tổ chức công tác hướng nghiệp………
5 Quản lí công tác hướng nghiệp ở trường THPT ………
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP Ở CÁC TRƯỜNG THPT TỈNH AN GIANG Khái quát về công tác hướng nghiệp trước năm 2000 ………
Thực trạng công tác hướng nghiệp năm 2000 - 2001 1 Về thực hiện nôi dung chương trình sinh hoạt hướng nghiệp……
2 Về giảng dạy sinh hoạt hướng nghiệp………
3 Về học tập của học sinh ………
Khái quát về lao động việc làm của tỉnh an giang năm 2000 và dự báo phát triển nguồn nhân lực đến năm 2005………
Dự báo phát triển số lượng học sinh THPT đến năm 2005………
Sự phân luồng của học sinh sau THPT………
Đánh giá chung ………
GIẢI PHÁP VỀ CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG THPT TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2005 Mục tiêu công tác hướng nghiệp đến năm 2005 ………
Giải pháp về công tác hướng nghiệp đến năm 2005 1 Tổ chức nhận thức đúng đắn về công tác hướng nghiệp………
2 Thực hiện có chất lượng nôi dung chương trình sinh hoạt hướng nghiệp ………
Trang
1
5
6
8
8
9
9
13
14
14
16
17
19
21
24
26
27
27
Trang 53 Giáo viên bộ môn lồng ghép hợp lí nội dung hướng nghiệp
qua bài dạy ………
4 Tổ chức thục hiện có chất lượng công tác tư vấn nghề cho học sinh ………
5 Đa dạng hoá các phương pháp và hình thức tổ chức sinh hoạt hướng nghiệp ………
6 Kết hợp chặc chẽ các lực lượng xã hội trong công tác hướng nghiệp ………
7 Xây dựng đội ngũ, tổ chức bộ máy quản lí công tác hướng nghiệp ………
8 Xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ cho công tác hướng nghiệp ………
9 Tăng cường quản lí công tác hướng nghiệp sự phân luồng của học sinh ………
KẾT LUẬN ………
KHUYẾN NGHỊ………
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ………
PHỤ LỤC ( có 13 phụ lục từ trang 47 đến trang 60 )
28
28
31
33
35
37
38
41
43
44
Trang 6MỞ ĐẦU
# "
I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
I.1/ Công tác hướng nghiệp là một trong những nhiệm vụ quan trọng của trường Trung học phổ thông ( THPT ) Luật giáo dục năm 1998 quy định :” Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả giáo dục Trung học cơ sở; hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để có thể tiếp tục học Đại học, Cao đẳng, sống lao động “ (điều 23, chương II)
Như vậy, bậc Trung học sẽ phải chuẩn bị cho một bộ phận học sinh tiếp tục học lên và đa số tốt nghiệp có thể vào đời Nhiệm vụ nầy thật là quan trọng và là một sự đổi mới cơ bản trong mục tiêu đào tạo của trường THPT, để hình thành hhân cách của người lao động thế hệ tương lai, đồng thời cũng là trách nhiệm của Ngành giáo dục đối với xã hội Mỗi học sinh khi rời khỏi ghế nhà trường đều cũng phải vào đời lao động để kiếm sống nếu không họ sẽ là gánh nặng cho gia đình và xã hội Vấn đề hướng nghiệp cho học sinh THPT không riêng gì ở Việt Nam mà hầu hết các nước trên thế giới, đều thực hiện nhiệm vụ này ở nhiều mức độ khác nhau Vì vậy, chủ trương của Nhà nước về công tác hướng nghiệp ở trường trung học mang một ý nghĩa chiến lược cho đất nước phù hợp với xu thế của thời đại Nhà trường THPT cần phải làm tốt công tác hướng nghiệp, thực hiện có chất lượng mục tiêu đào tạo theo quy định của luật giáo dục Đó là lí do đầu tiên nêu rõ vì sao chúng tôi chọn đề tài nầy
II.2/ Theo thống kê gần đây mỗi năm có khoảng 300.000 học sinh tốt nghiệp THPT trong cả nước Hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp chỉ có thể tiếp nhận khoảng 10 đến 20% số học sinh tốt nghiệp THPT Tình hình này dẫn đến áp lực hết sức nặng nề trong các kì thi tuyển sinh Đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp hàng năm, số thí sinh mỗi năm mỗi tăng cao Riêng tỉnh An Giang
cơ cấu đào tạo đạt tỉ lệ chưa hợp lí như sau: 1 đại học – 2,87 trung cấp – 3,67 công nhân
kĩ thuật; còn 900.711 người từ 15 tuổi trở lên không có chuyên môn kĩ thuật [35;173] Như vậy, cơ cấu đào tạo, sự phân luồng của học sinh phổ thông của Tỉnh An Giang chưa hợp lí, chưa đáp ứng được yêu cầu chiến lược phát triển nguồn nhân lực của tỉnh trong những năm trước mắt cũng như lâu dài
Việc nghiên cứu đề tài nầy sẽ cho thấy một bức tranh chung về thực trạng công tác hướng nghiệp, sự phân luồng học sinh THPT và các nhân tố chi phối nó; tìm ra giải pháp hợp lí cho công tác hướng nghiệp, góp phần vào chiến lược phát triển nguồn nhân lực của tỉnh nhà
II/ ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Trang 71/ Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình quản lí công tác hướng nghiệp ở trường THPT
2/ Phạm vi nghiên cứu:
- Công tác hướng nghiệp có nội dung rất rộng, trong đề tài này chúng tôi chỉ nghiên cứu quá trình quản lí, kế hoạch tổ chức hoạt động công tác hướng nghiệp cho học sinh THPT Giải pháp mới cho công tác hướng nghiệp chủ yếu đối với nhà trường và hiệu trưởng trường THPT
- Không đi sâu vào tất cả nội dung giáo dục hướng nghiệp và phương pháp giáo dục hướng nghiệp như một giáo trình về phương pháp bộ môn Chưa đi sâu vào tính toán các thông số về kinh tế học giáo dục
III/ GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Qua kinh nghiệm thực tiễn công tác giáo dục và đào tạo của bản thân, chúng tôi đã nhận biết về thực trạng công tác hướng nghiệp ở các trường THPT tại tỉnh An Giang nhiều năm qua chưa được quản lí chỉ đạo và tổ chức có hệ thống, nội dung phương pháp và hình thức tổ chức còn nhiều hạn chế; chưa đáp ứng được sự phân luồng học sinh THPT theo các yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của Tỉnh An Giang – Điều đó dẫn đến:
- Các cấp quản lí giáo dục, đặc biệt là hiệu trưởng trường THPT tỏ ra lúng túng, thiếu chủ động, thiếu đội ngũ cán bộ, thiếu các phương tiện kinh phí trong quá trình chỉ đạo quản lí công tác hướng nghiệp
- Học sinh còn nhiều băn khoăn lúng túng trong việc chọn nghề, đặc biệt là thiếu thông tin về nghề nghiệp, thị trường lao động, không được tư vấn nghề nghiệp nên việc chọn nghề nghiệp còn nặng về cảm tính chủ quan Do đó, nếu quản lí tốt công tác hướng nghiệp sẽ khắc phục được hạn chế trên, các em khi được hướng nghiệp đúng đắn việc chọn nghề sẽ phù hợp làm tiền đề quan trong cho việc thăng tiến nghề nghiệp tương lai, đáp ứng được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của đất nước
IV/ MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
1/ Mục tiêu nghiên cứu:
Mô tả cụ thể thực trạng quản lí công tác hướng nghiệp ở một số trường THPT tỉnh An Giang Đề ra giải pháp mới cải tiến quản lí công tác hướng nghiệp trong thời gian từ nay đến năm 2005
2/ Nhiệm vụ nghiên cứu:
Công tác hướng nghiệp ở trường THPT là một vấn đề rộng lớn về mặt lí luận cũng như thực tiễn Trong bước đầu nghiên cứu vấn đề này chúng tôi cố gắng giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu lí luận và thực tiễn để khẳng định việc quản lí công tác hướng nghiệp, ở các trường THPT tỉnh An Giang là một công việc bức xúc cần thiết để nâng
Trang 8cao chất lượng đào tạo theo mục tiêu đào tạo của trường THPT, góp phần vào việc xây dựng nguồn nhân lực của tỉnh An Giang
- Đề ra được giải pháp mới về quản lí công tác hướng nghiệp ở trường THPT giai đoạn từ nay đến năm 2005 trên cơ sở lí luận khoa học và thực tiễn
- Bước đầu dề xuất với Ngành giáo dục An Giang, Trường Đại học An Giang về công tác hướng nghiệp cho học sinh THPT đạt hiệu quả
V/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1/ Cơ sở phưong pháp luận:
Các quan điểm của chủ nghĩa Mác LêNin tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ yếu Ngoài ra còn vận dụng các quan điểm hệ thống cấu trúc, quan điểm tiếp cận phức hợp
2/ Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
a) Chọn địa bàn nghiên cứu thực tiễn:
* TP Long Xuyên: Địa bàn Thành Phố, Thị Xã
- Trường THPT Thoại Ngọc Hầu
- Trường THPT Long Xuyên
- Trường THPT Minh Đúc ( Bán công )
- Trường THPT Mỹ Thới
- Trường THPT Khuyến Học
* Huyện Châu Thành:
- Trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm
- Trường THPT Vĩnh Bình
- Trường THPT Tiến Đức ( Bán Công )
* Huyện Phú Tân:
- Trường THPT Chu văn An
- Trường THPT Nguyễn Chí Thanh
- Trường THPT Tiến Bộ ( Bán công )
* Huyện Tri Tôn :
- Trường THPT Nguyễn Trung Trực
- Trường THPT Ba Chúc
- Trường THPT Dân tộc nội trú
- Trường THPT Bán công Tri Tôn
Như vậy, chúng tôi chọn 15 trường thuộc 4 địa bàn tiêu biểu trong tổng số 48 trường ở 11 Huyện, thị, Thành Phố, trong cả tỉnh ( đạt tỉ lệ 31,25% )
b) Các phương pháp đã sử dụng:
Trang 9* Nghiên cứu lí thuyết: đọc các đề tài nghiên cứu, các tài liệu ( theo danh sách tài liệu tham khảo )
* Phỏng vấn sâu các đồng chí trong Ban giám hiệu, một số cán bộ giáo viên và học sinh các trường nêu trên, các đồng chí Sở GDĐT An Giang, Sở lao động và thương binh xã hội Tỉnh An Giang
* Điều tra bằng phiếu hỏi một số đối tượng:
- Giáo viên chủ nhiệm, trực tiếp sinh hoạt hướng nghiệp ở các trường trên Số lượng 80 người ( xem phụ lục 1 Phiếu hỏi ý kiến GVCN )
- Giáo viên bộ môn: 204 người ( xem phụ lục 2 phiếu hỏi ý kiến của GVBM ) của các trường trên
- Học sinh lới 12: 1463 học sinh của các trường trên trong tổng số 10.576 học sinh - đạt tỉ lệ 13,83% ( xem phụ lục số 3 và 4 phiếu hỏi ý kiến học sinh và bảng tổng hợp trả lời )
- Phiếu đều tra về phân luồng học snh 15 trường nêu trên ( xem phụ lục số 5 )
* Nghiên cứu các tài liệu, số liệu tại các trường trên: kế hoạch năm học, báo cáo tổng kết năm học Nghiên cứu các số liệu nghiên cứu ở các phòng ban của Sở GD & ĐT An Giang, Sở lao động và thương binh xã hội tỉnh An Giang, sở GD & ĐT Hồ Chí Minh
* Sử dụng toán thống kê để phân tích tính toán các số liệu, làm luận cứ cho các luận điểm của đề tài
VI/ NỘI DUNG:
Ngoài phần mở đầu, kết luận khuyến nghị, danh mục tài liệu, tham khảo và phụ lục, báo cáo khoa học có 3 chương:
• Chương I : Lịch sử nghiên cứu và cơ sở lí luận của công tác
Trang 10LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ
LUẬN CỦA CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP
X < W
I/ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU:
Công tác hướng nghiệp cho học sinh đã được quan tâm nghiên cứu từ lâu ở trong nước cũng như trên thế giới
1/ Các nghiên cứu ở nước ngoài:
Xem chẳng hạn: Cù Nguyên Hanh [14 , ; Khăm Phan Khăm On [ , ; Đào Trọng Hùng , … Các tác giả đã đề cập đến công tác hướng nghiệp đào tạo nghề ở các nước phát triển ( nhóm G7 ) ở Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc … Các nước nầy rất chú trọng đến công tác hướng nghiệp, giáo dục lao động kĩ thuật và dạy nghề Chẳng hạn ở Bắc Kinh có hơn 200 trung tâm GD KTTH HN & DN, nhờ đó mà phát triển tốt nguồn nhân lực phục vụ có hiệu quả nền kinh tế xã hội của họ Đặc biệt là Cộng hoà Pháp rất chú trọng đến công tác hướng nghiệp
CIO có cán bộ chuyên trách gọi là Cố Vấn hướng học hướng nghiệp do nhà nước đào tạo, người dự thi phải có bằng Đại học đại cương đào tạo 2 năm
Như vậy công tác hướng nghiệp đã từ lâu được nhiều nước rất quan tâm, sự phát triển của những quốc gia giàu mạnh này cho chúng ta thấy muốn phát triển đúng đắn nguồn nhân lực cần phải có bộ phận chuyên trách làm công tác hướng nghiệp, làm cầu nối liên thông giữa giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp, giúp cho học sinh và gia đình của họ chọn lựa sự đào tạo phù hợp với cá nhân và xã hội
2/ Các nghiên cứu trong nước:
Trang 11a) Các nghiên cứu về lí luận:
Chẳng hạn Đặng Văn Aùnh [ ]1,30 , Nguyễn Viết Sự [37,20] , [ … Các tài liệu của Trung tâm hướng nghiệp Bộ GD & ĐT
]
5,33
[ ]18 , [ ]22 , [ ]23 , [ ]36 … Các tác giả trên đã giải quyết cơ bản khái niệm về hướng nghiệp, nội dung phương pháp và hình thức tổ chức hướng nghiệp, sự liên thông giữa giáo dục phổ thông và giáo dục dạy nghề … làm
cơ sở quan trọng giúp cho công tác hướng nghiệp thực hiện đúng hướng Tuy nhiên chưa có đề tài nào đề cập sâu sắc đến quá trình quản lí công tác hướng nghiệp ở trường THPT một cách hệ thống toàn diện và sâu sắc
b) Các nghiên cứu thực tiễn, các báo cáo tổng kết về công tác hướng nghiệp:
Có rất nhiều tác giả nghiên cứu chẳng hạn: Nguyễn Duy [ ,Trần Khánh Đức , Đào Trọng Hùng [ ; Nguyễn Văn Huyên
]
[13,13 16,7 [17,29] , Phan Khang [25,24] ; Đặng Bá Lảm [29,15] … các tác giả đã cho thấy một bức tranh chung về thực trạng công tác hướng nghiệp dạy nghề ở Việt nam và một số địa phương chẳng hạn TP Hồ Chí Minh, Thái Bình … Trong đó đề cập đến nhiều thành tựu, những cố gắng, nhưng cũng có rất nhiều khó khăn hạn chế về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động, trong đó nổi bật nhất là sự phân luồng của học sinh THPT chưa hợp lí , ngày càng có chiều hướng xấu Chiều sâu của thực trạng này là do công tác hướng nghiệp chưa đảm bảo tốt
Các đề tài trên chưa đề cập đến một cách sâu sắc về quản lí công tác hướng nghiệp ở trường THPT, là một đơn vị quan trọng nhất quyết định cho hiệu quả của công tác hướng nghiệp
c/Các nghiên cứu trong tỉnh An Giang:
Có nhiều đề tài nghiên cứu về nguồn nhân lực chẳng hạn: Đặng Hoài Dũng [ ]9 , Thạc sĩ Lê Minh Tùng [ ]38 ; Sở lao động và thương binh xã hội tỉnh
An Giang [ Các tác giả trên đi sâu vào nghiên cứu cơ cấu lao động ngành nghề của Tỉnh An Giang, định hướng xây dựng phát triển nguồn nhân lực đến năm 2010
]
35
Chưa có đề tài nào ở An Giang nghiên cứu sâu về quản lí công tác hướng nghiệp ở trường THPT
II/ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP:
1/ Một số khái niệm cơ bản:
a) Khái niệm hướng nghiệp:
-Theo tác giả Đặng Văn Aùnh :” hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp của nhà nước và của xã hội giúp con người lựa chọn và xác định vị trí nghề nghiệp của mình trong cuộc sống trên cơ sở kết hợp nguyện vọng của cá nhân với nhu cầu xã hội “ [ ]1,30
Khái niệm này được xuất phát từ lí luận và thực tiễn của giáo dục Việt Nam, tuy nhiên chưa xác định cụ thể các mối quan hệ giữa các lực lượng tham gia vào công tác hướng nghiệp
Trang 12Qua nghiên cứu các tài liệu lí luận chúng tôi nhận thấy khái niệm sau đây là tương đối đủ và chính xác nhất
“ Hướng nghiệp cho học sinh phổ thông là hệ thống biện pháp giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội Trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tư tưởng, tâm lí, ý thức, kĩ năng để họ có thể đi vào lao động ở các ngành nghề, tại những nơi xã hội đang cần phát triển đồng thời lại phù hợp với hứng thú, năng lực cá nhân “ [ ]18,5
b/ Khái niệm về quản lí công tác hướng nghiệp:
Xét về bản chất của quản lí giáo dục, thì quản lí giáo dục ( và nói riêng là quản lí trường học ) là :” Hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối nguyên lí giáo dục của Đảng, thực hiện được tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội ụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất “ [33,35]
Như vậy quản lí là hệ thống những tác động của chủ thể quản lí để thực hiện các mục tiêu đã đề ra Hệ thống những tác động được tiến hành theo vịêc tổ chức các hoạt động với các phương pháp quản lí giáo dục
Phương pháp quản lí giáo dục là tập hợp những cách thức tiến hành hoạt động quản lí, tức là tác động giữa hệ quản lí và hệ bị quản lí để thực hiện những nhiệm vụ nào đó nhằm đạt được mục tiêu quản lí
Từ những khái niệm trình bày trên, chúng tôi xác định khái niệm: Quản lí công tác hướng nghiệp ở trường THPT
Quản lí công tác hướng nghiệp ở trường THPT là hệ thống những cách thức cụ thể của hiệu trưởng tổ chức các hoạt động và tiến
hành nhiều tác động đến nhà trường gia đình và xã hội, trong đó nhà
trường đóng vai trò chủ đạo, nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho học
sinh về tư tưởng, tâm lí, ý thức, kĩ năng để họ có thể đi vào lao động ở
các ngành nghề, tại những nơi xã hội đang cần, đồng thời lại phù hợp
với hứng thú năng lực cá nhân của học sinh, thực hiện được mục tiêu
đào tạo của trường THPT
2/ Hệ thống quan điểm chỉ đạo về giáo dục hướng nghiệp dạy nghề cho học sinh phổ thông:
Trang 13- Quyết định 126 / CP của chính phủ “ Về công tác hướng nghiệp và sử dụng hợp
lí học sinh PTCS, PTTH tốt nghiệp ra trường “ đã nêu vấn đề : tiếp theo hướng nghiệp phải dạy nghề cho học sinh phổ thông tạo điều kiện cho các em có có công ăn việc làm khi không được học lên
- Quyết định số 23 ngày 29/03/1989 của Hội đồng Bộ trưởng “ Phải đẩy mạnh giáo dục hướng nghiệp, phát triển hệ thống dạy nghề, kết hợp việc dạy văn hoá với dạy nghề bậc phổ thông trung học “
- QĐ 329 ngày 31/03/1990 ghi : Trường THPT XHCN Việt Nam có tính chất: Phổ thông, lao động, kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và chuẩn bị nghề
- Luật Giáo dục năm 1992 quy định giáo dục THPT phải hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để có thể tiếp tục học Đại học, Cao đẳng, trung học, Chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
- Trong bài nói chuyện tại Hội nghị giáo dục hướng nghiệp toàn quốc Hà Nội ngày 24/8/1999, Phó Chủ Tịch Nước CHXHCN Việt Nam Nguyễn Thị Bình đã chỉ đạo :” Quá trình giáo dục hướng nghiệp phải làm cho học sinh có những hiểu biết cần thiết về thị trường lao động, biết cách lựa chọn nghề nghiệp có cơ sở khoa học, được làm quen với nghề để có hứng thú và thái độ đúng đắn, yêu quý nghề và điều quan trọng là học sinh có được tình cảm, thói quen lao động để tiến tới có thể làm một số nghề truyền thống, nghề thông dụng đang cần duy trì và phát triển ở địa phương “ [ ]4,2
Đây là một tư tưởng chỉ đạo hết sức quan trọng, là một hướng ưu tiên trong đổi mới mục tiêu giáo dục Với những thách thức khi hoà nhập với cộng đồngcác nước trong khu vực và thế giới đòi hỏi chúng ta phải nhanh chóng xây dựng được một đội ngũ cán bộ khoa học kĩ thuật, đặc biệt là lực lượng hùng hậu công nhân kỹ thuật lành nghề có khả năng đáp ứng các yêu cầu của kĩ thuật và công nghệ tiên tiến Do đó cần phải mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục lao động hướng nghiệp
- Ngày 08/08/2001 Bộ giáo dục và ĐT đã ban hành hướng dẫn số 7860 / LĐHN về nhiệm vụ giáo dục lao động hướng nghiệp, năm học 2001 – 2002
Trong đó có một số nội dung quan trọng:
• Cần nâng cao nhận thức của cán bộ quản lí và giáo viên về ý nghĩa, nội dung và biện pháp thực hiện giáo dục kĩ thuật và hướng nghiệp dạy nghề cho học sinh
• Thực hiện nghiêm túc và có kết quả các quy định của Bộ về công tác giáo dục lao động hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông trong địa bàn và trường học của mình đồng thời thực hiện đúng nguyên lí giáo dục của Đảng, góp phần phân luồng học sinh cuối cấp hợp lí [23.1]
3/ Cơ sở khoa học công tác hướng nghiệp:
* Tâm lí học góp phần xác định phù hợp nghề của từng con người cụ thể tương lai, mối tương quan giữa những đặc điểm nhân cách với hệ thống những yêu cầu do từng nghề đặt ra cho con người là đối tượng nghiên cứu của tâm lí học nhân cách Sự phù hợp nghề nghiệp của một người bao giờ cũng bộc lộ ở hai phương diện: năng lực và phẩm chất trong lao động nghề nghiệp theo yêu cầu của nghề đó đặt ra, chúng luôn thống nhất
Trang 14với nhau, chuyển hoá cho nhau, thiếu 1 trong 2 phương diện thì không coi là sự phù hợp nghề được Tùy theo đặc điểm tâm sinh lí riêng biệt các nhà tâm lí chưa thế giới nghề nghiệp thành 5 nhóm nghề: người – thiên nhiên, người – kĩ thuật, người – người, người
- dấu hiệu và người – nghệ thuật
Trên góc độ hướng nghiệp cấu trúc nhân cách bao gồm: Xu hướng nghề nghiệp; kinh nghiệm nghề nghiệp; những đặc điểm của quá trình tâm lí; đặc điểm về tính chất, giới tính lứa tuổi và bệnh lí Mỗi người có đặc điểm nhân cách riêng nên có năng lực khác nhau về các loại hình lao động Vì vậy Công tác hướng nghiệp cho học sinh THPT phải dựa trên cơ sở chẩn đoán tâm lí từng học sinh kết hợp với thị trường lao động để tạo ra sự phù hợp nghề cho từng học sinh
Nói khác đi, công tác hướng nghiệp phải giành lấy quyền chủ động trong việc điều chỉnh sự chọn nghề của học sinh trên cơ sở giáo dục và dạy học, mở ra khả năng sử dụng hợp lí nguồn lao động của đất nước
* Theo quan điểm điều khiển học, bản chất của công tác hướng nghiệp là một hệ thống điều khiển các động cơ chọn nghề của thanh thiếu niên, học sinh Hệ thống này gồm:
- Chủ thể điều khiển: Nhà trường, gia đình, các trung tâm KTTH HN, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các nhóm không chính thức của học sinh
- Các phương tiện và phương pháp điều khiển: Công tác hướng nghiệp trong nhà trường, sự giáo dục định hướng của gia đình, thông tin nghề nghiệp của các cơ quan chuyên môn, các phương tiện thông tin đại chúng, dư luận nhóm và dư luận xã hội, hoạt động tư vấn nghề nghiệp
- Đối tượng điều khiển là động cơ và định hướng nghề nghiệp tương lai của học sinh
Kết quả của hệ thống là sự sẳn sàng tâm lí đi vào lao động nghề nghiệp của học sinh Học sinh có khả năng chọn nghề nghiệp phù hợp với đòi hỏi của nghề, đúng với khả năng nguyện vọng của bản thân phù hợp với yêu cầu xã hội
Ngoài ra tham gia hệ thống nầy còn có các kênh thông tin và liên hệ ngược về thị trường lao động, nhu cầu nhân lực của nền kinh tế quốc dân cũng như thông tin về hiệu quả của những tác động hướng nghiệp
Trong hệ điều khiển này vì nhà trường có vai trò chủ đạo nên vai trò chủ thể điều khiển của hệ thống thuộc về hiệu trưởng
4/ Nội dung, hình thức tổ chức công tác hướng nghiệp
4.1/Nội dung:
Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo của Đảng và nhà nước, cơ sở khoa học của công tác hướng nghiệp Nội dung công tác hướng nghiệp được minh hoạ theo tam giác hướng nghiệp sau đây
Trang 15Hình 1: Tam giác hướng nghiệp 4.2/ Hình thức tổ chức công tác hướng nghiệp:
- Hướng nghiệp thông qua dạy-học các môn văn hoá
- Hướng nghiệp qua dạy học các môn kĩ thuật, dạy nghề phổ thông và lao động sản xuất
- Hướng nghiệp qua tổ chức sinh hoạt hướng nghiệp Hiện nay được xem như một môn học chính khoá do giáo viên chủ nhiệm phụ trách
- Hướng nghiệp qua tổ chức tư vấn nghề nghiệp cho học sinh
- Hướng nghiệp qua các hoạt động tham quan, ngoại khoá, các phương tiên thông tin đại chúng, gia đình và các tổ chức hoạt động xã hội
Để đảm bảo chất lượng công tác hướng nghiệp các hình thức tổ chức hoạt động trên phải được tiến hành cân đối đồng bộ trong kế hoạch chung của toàn trường, một hoạt động nào đó yếu kém, hạn chế sẽ ảnh hưởng nhiều đến kết quả chung Điều cần lưu ý là hướng nghiệp qua các môn học là quan trọng, nếu như giáo viên từng bộ môn biết lồng ghép giáo dục hướng nghiệp qua các bài giảng vừa đảm bảo công tác hướng nghiệp đồng thời nâng cao được chất lượng bài học Về mặt lí luận từ lâu đã có tư tưởng chỉ đạo lồng ghép giáo dục kĩ thuật tổng hợp hướng nghiệp qua bài giảng các môn học nhất là các môn kĩ thuật, khoa học tự nhiên
5/ Quản lí công tác hướng nghiệp ở trường THPT:
Trang 16Quản lí giáo dục là quản lí hệ thống giáo dục quốc dân từ Bộ đến cơ sở trường học, trong đó cần quan tâm trước tiên là quản lí nhà trường Vì nhà trường là đơn vị cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân, là nơi trực tiếp biến các mục tiêu giáo dục hướng nghiệp của Đảng và nhà nước thành hiện thực
Trong câu trúc của nhà trường THPT về mặt xã hội thì có tập thể sư phạm và tập thể học sinh, quản lí trường THPT là quản lí hai tập thể này, nhiệm vụ của người hiệu trưởng là phải vận dụng các chức năng quản lí để xây dựng tập thể sư phạm và tập thể học sinh đoàn kết vững mạnh có tác dụng giáo dục mạnh mẽ các thành viên, động viên mọi năng lực sáng tạo để hoàn thành nhiệm vụ công tác hướng nghiệp, một nhiệm vụ hết sức nặng nề mà trong nhiều năm qua chưa đảm bảo chất lượng
Tổ chức hoạt động giáo dục được quy định trong điều 24 điều lệ trường trung học, gồm có hoạt động giáo dục trên lớp tiến hành qua việc dạy học các môn học và hoạt động giáo dục ngoài giờ bao gồm hoạt động ngoại khoá, hoạt động vui chơi, hoạt động giáo dục môi trường, hoạt động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động từ thiện.Theo như quy định hiện nay hoạt động hướng nghiệp vừa là một hoạt động giáo dục trên lớp thông qua giờ sinh hoạt hướng nghiệp cho giáo viên chủ nhiệm đảm nhận có tính chất như một môn học, đồng thời nhiều hình thức tổ chức hướng nghiệp lại là hoạt động ngoài giờ chẳng hạn tham quan, ngoại khoá …
Vì vậy, công tác hướng nghiệp phải được quản lí một cách toàn diện cả hoạt động trên lớp và hoạt động giáo dục ngoài giờ trong kế hoạch chung của nhà trường
Xuất phát từ mục tiêu, đặc điểm và nội dung của công tác hướng nghiệp thì rõ ràng đây là một lãnh vực công tác cực kì khó khăn phức tạp đối với hiệu trưởng trường THPT Bởi lẽ hướng nghiệp có liên quan rất nhiều đến các lực lượng các hoạt động xã hội Cho nên cần phải có sự tham gia rộng rãi của các lực lượng xã hội chẳng hạn: các
cơ quan đoàn thể, nhà máy, xí nghiệp, các cá nhân có kinh nghiệm và tâm huyết … nhất là trong tình hình kinh tế hiện nay quản lí công tác hướng nghiệp đòi hỏi phải huy động được sự tham gia tích cực đầy đủ các lực lượng trong xã hội, các quá trình trong xã hội, các phương tiện xã hội, thì xây dựng và tổ chức các lực lượng vật chất và tinh thần của địa phương để hình thành nên một quá trình xã hội hoá công tác hướng nghiệp rộng lớn đây là một nội dung đặc biệt quan trọng trong quản lí công tác hướng nghiệp
Quan hệ quản lí trong công tác hướng nghiệp rất phức tạp đa phương, có hàng chục chức năng cụ thể phải thực hiện Hình 2 diễn tả mối quan hệ nầy
HIỆU TRƯỞNG & CÁC
P HIỆU TRƯỞNG
Trang 17Hình 2: Các quan hệ quản lí trong công tác hướng nghiệp
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP
Trang 18Ở CÁC TRƯỜNG THPT TỈNH AN GIANG
X < W
I/ KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP TRƯỚC NĂM 2000:
Kể từ sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất tiến lên XHCN, các trường THPT cũng phát triển theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là các trường thuộc các tỉnh phía Nam đang tích cực chuyển mình để cải tạo và xây dựng nhà trường cách mạng từ trường học của chế độ cũ, trong đó điểm nổi bật nhất là đưa lao động sản xuất vào nhà trường, đẩy mạnh công tác giáo dục lao động hướng nghiệp trong tất cả các trường THPT để nhanh chóng thực hiện nguyên lí giáo dục “ học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội “ Rất nhiều trường THPT vừa học vừa làm được thành lập ở nhiều tỉnh để làm nòng cốt cho chủ trương giáo dục lao động hướng nghiệp
Ngày 19/3/1981 Chính phủ đã ban hành quyết định số 126/CP “ về công tác hướng nghiệp và sử dụng hợp lí học sinh các cấp PTCS, PTTH tốt nghiệp ra trường “ Thực hiện quyết định của chính phủ các trường cố gắng tổ chức thực hiện, nhưng kết quả chưa nhiều
Từ năm 1987 đến 1990 Ban giáo dục hướng nghiệp sáp nhập vào vụ giáo dục phổ thông, không còn đủ sức mạnh để triển khai các hoạt động hướng nghiệp, hậu quả là phong trào giáo dục hướng nghiệp sa sút nghiêm trọng Các trường THPT lúc bấy giờ chỉ còn lo hồ sơ tuyển sinh cho học sinh cuối cấp
Tháng 3 năm 1991 Bộ trưởng Bộ giáo dục Đào tạo Trần Hồng Quân đã quyết định thành lập trung tâm lao động hướng nghiệp trực thuộc Bộ GD và ĐT, nhằm khôi phục lại hoạt động hướng nghiệp ở các trường trung học, để đáp ứng tình hình rất bức xúc về phân luồng học sinh trung học ngày càng bất hợp lí
Từ những năm 1991 đến 1999 Trung tâm lao động hướng nghiệp đã cố gắng biên soạn chương trình sinh hoạt hướng nghiệp từ lớp 6 đến lớp 12 triển khai thí điểm ở một số trường, sau đó triển khai đại trà theo quyết định 329/QĐ của Bộ GD và ĐT Theo tinh thần quyết định nầy mỗi năm học, học sinh được học 9 buổi sinh hoạt hướng nghiệp và mỗi buổi 4 tiết, quỹ thời gian sử dụng các buổi lao động trong biên chế năm học Nhưng thực tế ở An Giang vì tập trung cho học tập văn hoá là chủ yếu, nên chỉ tiến hành sinh hoạt hướng nghiệp một số buổi “ cho có “, chủ yếu là ở lớp 12 nhằm chuẩn bị cho các em làm hồ sơ tuyển sinh Đại học
Thậm chí có trường cả năm chỉ còn 1 buổi sinh hoạt hướng nghiệp
Nội dung và hình thức công tác hướng nghiệp ở các trường quá nghèo nàn, học sinh rất lúng túng, chưa được chuẩn bị những hiểu biết cần thiết trước bước ngoặt cuối cấp, nguyên nhân cơ bản là do:
Trang 19- Chương trình tài liệu sinh hoạt hướng nghiệp được biên soạn cách đây 15 năm nên nội dung nhiều phần không còn phù hợp với định hướng phát triển và thực tiễn kinh tế xã hội nước ta hiện nay
- Thời gian sinh hoạt hướng nhgiệp từ lớp 6 đến lớp 12 so với nội dung cần thiết để thực hiện trong điều kiện hiện nay là quá dài
- Giáo viên và cán bộ giáo dục ít được bồi dưỡng những nội dung và phương pháp tối thiểu để hướng dẫn các buổi sinh hoạt hướng nghiệp
- Nhận thức của các cấp quản lí, giáo viên cán bộ chưa đúng mức về công tác hướng nghiệp
II/ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP NĂM HỌC 2000 – 2001:
II.1/ Về thực hiện nội dung chương trình sinh hoạt hướng nghiệp:
Năm học nầy công tác hướng ntghiệp ở các trường THPT tỉnh An Giang chủ yếu tập trung vào việc thực hiện nội dung chương trình sinh hoạt do Bộ giáo dục và đào tạo ban hành thực hiện ở lớp 11 và lớp 12 ( Hướng dẫn số 61/SHHN ngày 26/7/2000)
Theo hướng dẫn mỗi năm học có 9 chủ đề ( mỗi tháng 1 chủ đề ) do giáo viên chủ nhiệm trực tiếp sinh hoạt Trong mỗi chủ đề có xác định cụ thể mục tiêu, các hoạt động chính
Hầu hết các trường đều thực hiện được các chủ đề: Tìm hiểu nghề: Thầy giáo, nghề y, nông lâm ngư nghiệp, kinh doanh, dịch vụ, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, năng lượng, cơ khí, xây dựng, quân đội an ninh; Tìm hiểu các trường đại học cao đẳng và trung học chuyên nghiệp Các nội dung nầy giáo viên chủ yếu dựa vào tài liệu của Bộ để triển khai lại cho học sinh Trong đó chủ đề hướng dẫn học sinh lập hồ sơ tuyển sinh là trường nào cũng làm khá tốt
Các chủ đề về diễn đàn, hội thảo về “ Thanh niên lập thân lập nghiệp “; “ Những điều kiện thành đạt trong nghề nghiệp “, được tiến hành rất ít, nếu có hiệu quả không cao Đặc biệt là chủ đề tư vấn hướng nghiệp, các trắc nghiệm tâm lí hầu như không có trường nào thực hiện, nguyên nhân là giáo viên không có chuyên môn chẩn đoáùn tâm lí
II.2/ Về giảng dạy sinh hoạt hướng nghiệp:
Giáo viên chủ nhiệm thuộc nhiều bộ môn khác nhau, trong khi nội dung sinh hoạt hướng nghiệp khá phức tạp, nó tích hợp nhiều nội dung của kinh tế học giáo dục, Tâm lí học, giáo dục học … Chủ yếu là tâm lí học lao động và chẩn đoáùn tâm lí, giáo viên cần phải được bồi dưỡng huấn luyện chu đáo mới có thể thực hiện được Thêm vào đó sự quản lí và chỉ đạo về công tác này chưa quan tâm đúng mức, chẳng hạn quy định soạn giáo án, kiểm tra, đánh giá, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ …
Qua mạn đàm trao đổi với giáo viên, cán bộ quản lí dự các buổi sinh hoạt hướng nghiệp, tổng hợp ý kiến của 80 giáo viên chủ nhiệm và 204 giáo viên bộ môn
( xem phụ lục 1, 2 ) chúng tôi nhận thấy:
Trang 20* Đối với giáo viên chủ nhiệm:
- Chỉ có 13,75% tích cực nghiên cứu, tìm thêm tư liệu để đảm bảo chất lượng giờ sinh hoạt hướng nghiệp
- 63,75% cố gắng nghiên cứu tài liệu để sinh hoạt
- Còn 22,5% ngán ngại, không nắm rõ nội dung còn băn khoăn, đọc tài liệu cho xong vì nhiệm vụ cố mà làm
- Tự đánh giá công tác hướng nghiệp ở mức trung bình – khá
- Phần lớn giáo viên chủ nhiệm (98% ) cho rằng công tác hướng nghiệp rất cần thiết bổ ích cho học sinh cần phải quan tâm, nhưng nó chưa thỏa mãn nhu cầu chọn nghề của học sinh cần phải làm sao cho nó hấp dẫn sinh động hơn, ý nầy rất phù hợp với ý kiến của học sinh
Theo giáo viên chủ nhiệm, những người đã trực tiếp sinh hoạt hướng nghiệp 1 năm học qua thì người thích hợp nhất để trực tiếp sinh hoạt hướng nghiệp là: ( thứ tự ưu tiên )
- Giáo viên chủ nhiệm (45%)
- Giáo viên chuyên trách sinh hoạt hướng nghiệp ( 28,75% )
- Ban giám hiệu ( 10% )
- Giáo viên dạy kĩ thuật ( 5% )
- Giáo viên dạy giáo dục công dân ( 3,75% )
- Giáo viên dạy các môn khoa học xã hội (3,75%)
- Cán bộ Đoàn ( 3,75% )
Những thông tin trên cho thấy việc sinh hoạt hướng nghiệp còn nhiều hạn chế Chỉ một bộ phận giáo viên có thể đảm đang được
* Đối với giáo viên bộ môn:
- Còn nhận thức rất hờ mờ về công tác hướng nghiệp rất ít giáo viên nhận ra nó là hoạt động chính khoá có tính chất như một môn học ( 6,37% )
- Rất ít giáo viên nhận thức vai trò quan trọng của giáo viên bộ môn trong việc liên hệ hướng nghiệp qua bộ môn có vai trò chủ yếu (14,70%)
- Theo tự đánh giá có 25% học sinh còn lơ là ít quan tâm đến công tác hướng nghiệp, nhưng đánh giá công tác hướng nghiệp là khá tốt (71%) Có lẽ chưa nhận thức sâu sắc các tiêu chí đối với công tác hướng nghiệp
- Phần góp ý cho công tác hướng nghiệp rất nhiều giáo viên bộ môn cũng đề xuất nên có giáo viên chuyên trách để đảm bảo chất lượng tốt hơn, hình thức tổ chức hoạt động cần phong phú đa dạng hơn
* Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác hướng nghiệp
Ngoài cuốn tài liệu của trung tâm hướng nghiệp ra thì các trường THPT không còn gì để phục vụ cho công tác nầy, chẳng hạn:
- Chưa có một phòng sinh hoạt hướng nghiệp đúng yêu cầu
- Thiếu rất nhiều tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác hướng nghiệp, chẳng hạn như :
- Hoạ đồ nghề, tài liệu về thị trường lao động việc làm, tranh ảnh giới thiệu các ngành nghề, bộ trắc nghiệm chẩn đoán tâm lí …
Trang 21- Không có băng, đĩa hình giới thiệu hoạt động ngành nghề để phục vụ cho sinh hoạt hướng nghiệp sinh động hơn
* Hình thức tổ chức sinh hoạt hướng nghiệp:
- Chủ yếu là hình thức lên lớp, giáo viên đọc lại, giảng lại theo tài liệu của trung tâm lao động hướng nghiệp Còn không ít giáo viên chưa hiểu hết các nội dung của tài liệu Chẳng hạn sự khác nhau giữa kế toán tài chính của Đại học An Giang và Đại học Cần Thơ học như thế nào? ( chế độ học, việc làm … ), còn nhiều ngành nghề ghi trong tài liệu chỉ có tên gọi, bản thân giáo viên không hiểu hết nên chưa giải đáp thoả đáng các thắc mắc của học sinh
- Chỉ có một ít trường THPT có kết hợp với các tổ chức ngoài trường phối hợp hướng nghiệp cho học sinh chẳng hạn như trường THPT dân tội nội trú Tri Tôn kết hợp với phòng GDCN Sở GDĐT sinh hoạt cho học sinh Còn lại phần lớn các trường khác không có tổ chức sinh hoạt thêm như tham quan, mời cá nhân, đơn vị đến trường giới thiệu việc làm …
Có thể nói hình thức tổ chức hướng nghiệp của tỉnh ta còn quá đơn điệu, nghèo nàn
II.3/ Về học tập của học sinh:
Qua trao đổi với nhiều học sinh ở 15 trường, quan sát việc học tập nghiên cứu của các em, tổng hợp 1463 phiếu trả lời của học sinh ( Xem phụ lục 3, 4 ) chúng tôi nhận thấy
- Hầu hết các em đều nhận thức được rằng giờ sinh hoạt hướng nghiệp rất cần thiết bổ ích cho tương lai, nhưng nó chưa thoả mãn nhu cầu chọn nghề cần phải làm sao cho nó hấp dẫn sinh động hơn (95,2%)
- Chỉ có 4,77% học sinh chưa nhận thức được vai trò quan trọng của công tác hướng nghiệp, các em cho rằng có cũng được mà không có cũng chẳng sao, nên để thời gian học văn hoá thì tốt hơn
- Nhân tố có ảnh hưởng nhiều nhất đến chọn nghề của học sinh là:
• Bạn bè lôi cuốn ( 0,88% )
• Giáo viên dạy hướng nghiệp khuyên bảo ( 2,32% )
• Thu nhập của nghề ( 2,46% )
• Gia đình yêu cầu ( 6,9% )
• Năng lực sở trường của bản thân ( 87,42% )
Như vậy việc chọn ghề của học sinh phần nhiều phụ thuộc vào bản thân và gia đình, còn giáo viên hướng nghiệp chưa có ảnh hưởng nhiều
- Quan niệm về nghề nghiệp tương lai của bản thân có 45,11% học sinh nhận thức đúng con người cần phải có nghề nghiệp và cần phải giỏi nghề đó đồng thời biết nhiều nghề Còn nhiều học sinh chưa có quan niệm đúng đắn về nghề nghiệp tương lai
- Về tâm trạng khi đứng trước quyết định chọn nghề chỉ có 43,06% là tự tin phấn khởi vì bản thân hiểu rõ năng lực của mình và nhu cầu lao động của xã hội Bên cạnh đó còn nhiều em rất bi quan chưa thấy nghề nào phù hợp với mình và có triển vọng thành công, từ đó còn nhiều băn khăn chưa biết chọn lựa, như thế nào giữa thế giới nghề nghiệp Điều đáng lưu ý là rất nhiều học sinh đều than phiền là thiếu thốn quá nhiều thông tin về nghề nghiệp làm cho các em không hiểu đặc điểm tính chất các nghề, triển
Trang 22vọng phát triển, nhu cầu xã hội về việc làm tương lai … thực tiễn nhiều đàn anh chưa tìm được việc làm, những điều này làm cho các em vô cùng băn khoăn lo lắng Ngoài ra còn bộ phận học sinh không nhỏ ( 23,85% ), chưa tin ở khả năng của mình mà còn tùy thuộc vào kết quả kì thi tuyển sinh, chứ không thể quyết định chọn nghề một cách dứt khoát Trong thực tế không ít trường hợp muốn chọn nghề nầy nhưng khi thi vào không đậu lại đậu vào trường khác
- Về chọn lựa hướng đi của 1463 học sinh sau khi tốt nghiệp tú tài thể hiện như sau:
• 73,2% thi vào Đại học
• 14,96% thi vào Cao đẳng
• 9,02% thi vào Trung học chuyên nghiệp
• 0,75% không thi vào trường nào về giúp gia đình
• 2,05% không có ý kiến trả lời
- Về nguyện vọng nếu không được học ở các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp sẽ:
• Tiếp tục học luyện thi: 61,92%
• Tìm việc làm và thi lại năm sau: 24,40%
• Học nghề 7,58%
• Đi công an, bộ đội : 2,39%
• Không có ý kiến: 3,69%
Như vậy đa số học sinh ( trên 80% ) đều muốn và quyết tâm vào đại học cao đẳng nếu không sẽ tiếp tục luyện thi chứ không muốn đi học các nghề mà xã hội đang cần
Những thông tin trình bày trên chúng tôi thấy rằng công tác hướng nghiệp ở trường THPT chưa đảm bảo đúng yêu cầu chất lượng đòi hỏi của mục tiêu đào tạo, điều nầy cho chúng ta hiểu được phần nào vì sao áp lực tuyển sinh vào các trường Đại học, Cao đẳng và trung học chuyên nghiệp ngày càng nặng nề, có nhiều học sinh tốt nghiệp đại học còn thất nghiệp
III/ KHÁI QUÁT VỀ LAO ĐỘNG VIỆC LÀM CỦA TỈNH AN GIANG NĂM 2000
VÀ DỰ BÁO PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐẾN NĂM 2005
III.1/ Khái quát về lao động việc làm năm 2000 của tỉnh An Giang:
Tổng số người từ 15 tuổi trở lên ( trong mục III.1 khái niệm người dùng trong độ tuổi nầy ) có 1.004.348 người
- Trình độ văn hoá bình quân đầu người là 4,7 lớp, như vậy An Giang là một trong những tỉnh có bình quân thấp nhất Đồng bằng sông Cửu Long ( xem phụ lục 7 )
- Trình độ chuyên môn kĩ thuật: có 89,68% người chưa có chuyên môn kĩ thuật; 10,31% có sơ cấp nghề trở lên; 6,96% từ công nhân kĩ thuật có bằng trở lên ( xem phụ lục 8 )
- Tình trạng việc làm:
Trang 23• 960.041 người có việc làm
• 44.307 người không có việc làm thường xuyên
• Tỉ lệ thất nghiệp 2,96%
( xem phụ lục 9 và 10 )
* Đáng lưu ý là tình hình thất nghiệp của Đồng bằng sông Cửu Long cần quan tâm nhất là sự thất nghiệp đối với người đã qua đào tạo ngành nghề
Tổng số người thất nghiệp là 10888 trong đó:
- Dạy nghề: 3387 người
- Trung học chuyên nghiệp 2633 người
- Cao Đẳng : 399 người
- Đại học : 2080 người
( Xem phụ lục 11 )
Nghiên cứu tổnghợp các thông tin nêu trên cho chúng ta một bức tranh chung về thực trạng lao động việc làm, có ý nghĩa quan trọng đối với công tác hướng nghiệp, góp phần phân luồng hợp lí học sinh, xây dựng kế hoạch đào tạo thích hợp Hạn chế sự mất cân đối trong cơ cấu lao động việc làm Đây cũng là cơ sở cho chúng tôi liên hệ đánh giá hiệu quả công tác hướng nghiệp gắn với thị trường lao động
II.2/ Dự báo phát triển của nguồn nhân lực đến năm 2005:
Với nguồn nhân lực hiện tại, để cho tỉnh An Giang có thể phát triển kinh tế xã hội mà tỉnh đã đề ra, cần phải có nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho 4 nhóm ngành: nông nghiệp, công nghiệp, văn hoá xã hội và dịch vụ như sau:
Bảng số 1: Dự báo nhu cầu đào tạo đến năm 2005
Trong đó chia ra NĂM NHÓM NGÀNH Tổng số
Sơ cấp Trung cấp Cao đẳng Đại học Đại học Trên Nông nghiệp 16057 8995 5497 1522 43 Công nghiệp 7754 4958 1916 869 11 Dịch vụ 1480 520 491 456 13 Văn hoá xã hội 896 330 225 225 56
2000
Cộng : ( Tỉ lệ ) 26.187 (56,5%) 14803 (31,2%) 8159 (11,8%) 3102 (0,5%) 123 Nông nghiệp 27388 14325 8895 4019 149 Công nghiệp 19663 14171 3784 1679 66 Dịch vụ 1598 551 621 401 25 Văn hoá xã hội 1021 288 338 318 77
2005
Cộng : ( Tỉ lệ ) 49617 (59,1%) 29335 (27,4%) 13602 (12,9%) 6417 (0,6%) 317
* Nguồn : [ ]9,81
Như vậy, năm 2000 cơ cấu lao động là:
1 Đại học CB – 2,5 Trung cấp – 4,5 Sơ cấp
Trang 24Cao đẳng
Năm 2005 cơ cấu lao động là:
1 Đại học Cao đẳng - 2 Trung cấp – 4,37 sơ cấp
Theo Sở lao động và thương binh xã hội tỉnh An Giang thì cơ cấu lao động qua đào tạo năm 1997 là 1 Đại học – 2,87 Trung cấp – 3,67 Công nhân chưa hợ lí, tỉ lệ hợp
lí phải là 1 Đại học – 4 Trung cấp – 10 công nhân kĩ thuật [35,13]
Nếu so với dự báo ở bảng 1 chưa thật tương hợp nhưng hiện nay ở An Giang chưa có dự báo cụ thể nào nên chúng tôi tạm xem đây là cơ sở định hướng cho công tác hướng nghiệp
IV/ DỰ BÁO PHÁT TRIỂN SỐ LƯỢNG HỌC SINH THPT ĐẾN NĂM 2005:
Thống kê số lượng học sinh trung học từ năm 1996 đến năm 2001 ( Xem phụ lục số 12 ) Chúng tôi nhận thấy:
- Tỉ lệ luân chuyển học sinh ở bậc Trung học cơ sở trung bình 90% Tỉ lệ học sinh tốt nghiệp THCS bình quân 81,45%
- Tỉ lệ bình quân học sinh lớp 9 chuyển lên lớp 10 là 80%
- Lập lưu đồ dòng luân chuyển học sinh ( Cohort anilysis ) THPT tỉnh An Giang liên tục 3 năm học 96 – 97; 97 – 98; 98 – 99 của 3 lớp học sinh khối 10 cho thấy: ( Xem hình số 3 )
• Tỉ lệ lưu chuyển học sinh bình quân 95%
• Tỉ lệ tốt nghiệp bình quân 83%
• Hiệu quả đào tạo trong : 74,18%
Dựa vào xu thế phát triển giáo dục, số liệu học sinh tung học từ lớp 6 đến lớp 12 năm 2000 – 2001, các tỉ lệ và hệ số tương quan bình quân trình bày ở trên chúng tôi dự báo số lượng học sinh THPT đến năm 2005 theo bảng số 2
Hình số 3: Lưu đồ dòng luân chuyểnhọc sinh THPT Tỉnh An Giang
( Cohrt anilysis ) Từ 1996 đến 2001
Trang 251999 – 2000
-878 (7,28% ) -535 (6,05% )
7060 Thi hỏng: 1234 (14,97%)
2000 - 2001
-592 (5,3% )
8.378 Thi hỏng : 2198(20,78%)
Bảng số 2: Dự báo số lượng học sinh THPT đến năm 2005
6706
9.326 7.127