1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt luận án tiên sĩ phẫu thuật nội soi sau phúc mạc cắt thận để ghép tại bệnh viện chợ rẫy

27 345 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 330,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về kỹ thuật mổ, đường mổ qua ổ bụng hay đường hông lưng sau phúc mạc được sử dụng trong khoảng thời gian dài, có một số hạn chế: đường mổ dài, xâm lấn nhiều, đau sau mổ, tỷ lệ biến chứng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CHÂU QUÝ THUẬN

PHẪU THUẬT NỘI SOI SAU PHÚC MẠC CẮT THẬN ĐỂ GHÉP TRÊN NGƯỜI CHO SỐNG

TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

Chuyên ngành: Ngoại – Tiết niệu Mã số: 62.72.07.15

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2012

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS TRẦN NGỌC SINH

PGS.TS ĐÀM VĂN CƯƠNG

Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Vào hồi 13 giờ 30 ngày 10 tháng 10 năm 2012

Có thể tìm luận án tại thư viện:

- Thư viện Quốc Gia Việt Nam

- Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh

- Thư viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

Trang 3

GIỚI THIỆU LUẬN ÁN

1 Đặt vấn đề

Ghép thận là một trong những phương pháp điều trị suy thận mạn giai đoạn cuối hiệu quả, mang lại chất lượng cuộc sống cao nhất cho người bệnh Qui trình ghép thận gồm: lấy thận (từ người cho sống, chết não và tim ngừng đập), rửa và bảo quản thận và ghép thận Đối với những trường hợp lấy thận từ người cho sống, vấn đề lựa chọn thận lấy, đánh giá sức khỏe người cho, mức độ an toàn của cuộc mổ cũng như sự thành công của thận ghép là rất quan trọng

Về kỹ thuật mổ, đường mổ qua ổ bụng hay đường hông lưng sau phúc mạc được sử dụng trong khoảng thời gian dài, có một số hạn chế: đường mổ dài, xâm lấn nhiều, đau sau mổ, tỷ lệ biến chứng, di chứng, thẩm mỹ, thời gian nằm viện dài, và chi phí điều trị cao.Với sự tiến bộ của khoa học phẫu thuật nội soi ra đời là một bước ngoặc lớn trong lĩnh vực Ngoại khoa với những ưu điểm như: đường mổ nhỏ, ít xâm lấn, ít đau, đặc biệt có tính thẩm mỹ cao…

Nội soi ổ bụng (NSOB) cắt thận thực nghiệm được thực hiện bởi Clayman RV (1990), năm 1991 ông báo cáo trường hợp cắt thận đầu tiên do bướu Cắt thận để ghép qua NSOB được thực hiện bởi Ratner

LE và Kavoussi LR (1997) Kỹ thuật đã trở thành thường qui tại các trung tâm ghép thận lớn trên thế giới

Nội soi sau phúc mạc (NSSPM) cắt thận được Gaur DD thực hiện (1993) NSSPM cắt thận để ghép được Tanabe K và Hoznek A tiến hành (2001), và kết quả bước đầu đã cho thấy kỹ thuật khả thi, hiệu quả, ít xâm lấn hơn mổ mở và chức năng thận ghép là tương đương với NSOB, nhưng chưa có nhiều những công trình nghiên cứu trên thế giới về vấn đề này Tại Việt Nam ghép thận được thực hiện vào năm 1992 và cho đến nay mới có trên 400 trường hợp đã được ghép Nguồn thận ghép chủ yếu vẫn là từ người cho sống, phẫu thuật lấy thận phần lớn vẫn áp dụng kỹ thuật mổ mở, hoặc một số nơi sử dụng NSOB, chưa có nơi nào thực hiện kỹ thuật NSSPM

Trang 4

Như vậy, NSSPM cắt thận để ghép có thật sự an toàn đối với người cho thận ? Chất lượng quả thận lấy qua nội soi ra sao ? Sự hồi phục chức năng thận sau ghép như thế nào ? Đó thật sự là những vấn đề đáng quan tâm trong điều kiện hiện tại của Việt Nam Vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu áp dụng phẫu thuật NSSPM cắt thận để ghép trên người cho sống trong điều kiện tại nước ta với mục tiêu cụ thể sau:

- Xây dựng qui trình phẫu thuật NSSPM cắt thận để ghép trên người cho sống

- Đánh giá kết quả của phẫu thuật NSSPM cắt thận trên người

cho sống để ghép

2 Tính cấp thiết của đề tài

Ngành ghép thận hiện tại còn khá non trẻ, việc nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật mới phù hợp với sự phát triển của y học thế giới vào điều kiện nước ta là cần thiết

Trên thế giới chưa có nhiều những nghiên cứu về vấn đề này, tại Việt Nam chưa có nơi nào áp dụng NSSPM lấy thận để ghép

3 Những đóng góp mới của luận án

- Lần đầu tiên ứng dụng phẫu thuật NSSPM cắt thận trên người cho sống để ghép

- Xây dựng được qui trình phẫu thuật NSSPM cắt thận để ghép

- Những cải tiến kỹ thuật phù hợp với điều kiện Việt Nam: đơn giản, tiết kiệm, an toàn và hiệu quả cao

4 Bố cục của luận án: Luận án có 125 trang Ngoài phần đặt vấn đề,

kết luận và kiến nghị, có 4 chương: tổng quan tài liệu 36 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 16 trang, kết quả 23 trang, bàn luận

43 trang Có 50 bảng, 9 biểu đồ, 37 hình và 126 tài liệu tham khảo (23

tiếng Việt, 97 tiếng Anh, 6 tiếng Pháp)

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tóm tắt lịch sử ghép thận

Thế giới: Ullman (1902) ghép thận thực nghiệm, Carrel báo cáo kỹ thuật khâu nối mạch máu Jaboulay (1906) ghép thận trên người sử

Trang 5

dụng thận heo Murphy (1914) phát hiện khả năng miễn dịch đào thải mô lạ Voronoy (1933) thành công khi ghép thận cùng loài ở người Murray (1954) ghép thận thành công giữa anh em sinh đôi cùng trứng Murray (1962) sử dụng Azathioprin kết hợp Prednisolone điều trị sau ghép có kết quả khả quan Năm 1972 Borel tìm ra Cyclosporin giúp cải thiện tuổi thọ thận ghép Ngành ghép thận phát triển mạnh mẽ nhờ phát minh nhiều thế hệ thuốc ức chế miễn dịch điều trị sau ghép hiệu quả Việt Nam: Những trường hợp đầu tiên thực hiện vào tháng 6/1992 tại Học viện Quân Y 103 Tháng 12/1992 bệnh viện Chợ Rẫy ghép thành công 2 trường hợp tiếp theo Tháng 5/2004 Viện Nhi Trung Ương ghép thận trên trẻ em Đến nay có 11 trung tâm ghép trong cả nước với hơn 400 trường hợp ghép thận được thực hiện

1.2 Tóm tắt lịch sử phẫu thuật nội soi

Thế giới: Clayman (1991) cắt thận tận gốc qua NSOB Gaur

(1992) NSSPM cắt thận Clayman (1992) nội soi cắt thận- niệu quản Morgan (1992) nội soi cắt chỏm nang thận Schuessler (1993) nội soi tạo hình khúc nối niệu quản- bể thận Winfield (1993) cắt thận bán phần qua NSOB Kavoussi (1995) NSOB cắt thận để ghép Năm 2001 Tanake (Nhật bản) và Hoznek (Pháp) NSSPM cắt thận để ghép

Việt Nam: Năm 2003 Nguyễn Hoàng Bắc (ĐHYD) và Vũ Lê

Chuyên (BVBD) cắt thận qua NSOB Trần Ngọc Sinh (2004) cắt thận bán phần qua NSOB Ngày 28/05/2004 Christophe Vaessen và Trần Ngọc Sinh NSOB cắt thận để ghép đầu tiên Ngày 09/08/2005 Trần

Ngọc Sinh NSSPM cắt thận trên người cho sống để ghép đầu tiên 1.3 Nhắc lại giải phẫu học ứng dụng thận và niệu quản

1.3.1 Giải phẫu học thận:

Thận là cơ quan nằm sau phúc mạc, mỗi người có 2 quả thận hình hạt đậu, bề mặt trơn láng, có 2 mặt trước sau, 2 bờ trong ngoài (bờ trong phần giữa lõm sâu là rốn thận có động mạch đi vào, tĩnh mạch và niệu quản đi ra) và 2 đầu trên dưới Cao khoảng 12cm, rộng 6cm, dầy 3cm Cân nặng khoảng 150g Thận nằm trong góc hợp bởi xương sườn XI và cột sống thắt lưng, ngay trước cơ thắt lưng Thận phải thấp hơn thận trái gần 2cm

Trang 6

Liên quan:

+ Phía trước: Thận phải nằm gần hết trong tầng trên mạc treo kết

tràng ngang sau phúc mạc, đầu trên và phần trên bờ trong liên quan tuyến thượng thận, bờ trong và cuống thận liên quan tá tràng và tĩnh mạch chủ dưới, phần lớn mặt trước liên quan với vùng gan ngoài phúc mạc và phần còn lại liên quan góc kết tràng phải và ruột non Thận trái nằm một nửa ở tầng trên, một nửa nằm ở tầng dưới mạc treo kết tràng ngang, đầu trên và phần trên bờ trong cũng liên quan đến tuyến thượng thận, dưới đó lần lượt liên quan với mặt sau dạ dày qua túi mạc nối, với thân tụy và lách, với góc kết tràng trái, phần trên kết tràng xuống và ruột non

+ Phía sau: mặt sau là mặt phẫu thuật của thận Xương sườn XII nằm chắn ngang thận ở phía sau chia thận làm 2 tầng: tầng ngực ở trên (liên quan xương sườn XI, XII, cơ hoành và màng phổi), tầng thắt lưng ở dưới (liên quan với cơ thắt lưng, cơ vuông thắt lưng và cơ ngang bụng)

+ Phía trong: Từ sau ra trước mỗi thận liên quan với cơ thắt lưng, bó mạch thận, bể thận và phần trên niệu quản, bó mạch tinh hoàn hay buồng trứng, tĩnh mạch chủ dưới (thận phải) và động mạch chủ bụng (thận trái)

- Động mạch thận: Xuất phát từ động mạch chủ bụng, động mạch

thận phải dài hơn và hơi thấp hơn động mạch thận trái Mỗi động mạch nằm sau tĩnh mạch tương ứng Ở người Việt Nam, vị trí đối chiếu nguyên ủy của động mạch thận thay đổi từ đốt sống thắt lưng I đến đốt sống thắt lưng III và nhiều nhất là ở đốt sống thắt lưng II Động mạch thận phải dài 55mm, động mạch thận trái 48,36mm và đường kính của mỗi động mạch từ 4,2-4,34mm Động mạch bất thường, thường xuất hiện ở cực trên thận nhiều hơn là cực dưới Có 25-40% bất thường về số lượng động mạch và tĩnh mạch thận (từ 1-5 động mạch), xuất phát từ động mạch chủ, thường gặp bên trái nhiều hơn bên phải, có thể vào rốn thận hoặc và thẳng trực tiếp chủ mô thận

- Tĩnh mạch thận (TM): bắt nguồn từ vỏ và tủy thận Các TM ở cả 2

vùng thận sau đó đều đổ vào các TM cung, rồi tập trung về TM gian thùy, TM thận và cuối cùng đổ về TM chủ dưới

Trang 7

1.3.2 Giải phẫu học niệu quản:

- Niệu quản là ống dẫn nước tiểu từ bể thận xuống bàng quang, nằm dọc 2 bên cột sống sát vào thành bụng sau Chiều dài của NQ thay đổi theo chiều cao cơ thể, giới tính Trung bình từ 25-28cm và chia làm 2 đoạn: đoạn bụng và đoạn chậu hông, mỗi đoạn dài khoảng 12.5-14cm Bên trái dài hơn bên phải vì thận trái cao hơn Niệu quản

ở nam dài hơn ở nữ

- Động mạch: nhánh động mạch thận cấp máu bể thận và phần trên niệu quản, nhánh động mạch sinh dục cấp máu phần trên niệu quản bụng, nhánh của động mạch chậu chung nuôi phần dưới niệu quản bụng, nhánh động mạch bàng quang dưới hoặc trực tràng giữa nuôi phần niệu quản đoạn chậu

- Tĩnh mạch: máu từ niệu quản đổ vào các tĩnh mạch tương ứng đi kèm động mạch

1.4 Tổng quan về các phương pháp mổ cắt thận để ghép

1.4.1 Phẫu thuật mở cắt thận từ người cho sống

1.4.1.1 Kỹ thuật mổ với đường mổ thắt lưng sau phúc mạc

Được xem là kỹ thuật cắt thận tiêu chuẩn để so sánh với những kỹ thuật mới khác, tránh được những biến chứng và di chứng do không đi qua phúc mạc Nhưng đường mổ dài 15cm, dài hơn đường rạch da cần thiết để lấy thận ra trong phẫu thuật nội soi, đau sau mổ nhiều hơn, nằm viện kéo dài, chi phí điều trị cao… cắt nhiều cơ vùng hông lưng nên có thể gây biến chứng tê bì kéo dài do cắt dây thần kinh dưới

sườn hoặc thần kinh sinh dục đùi

1.4.1.2 Mổ mở qua phúc mạc cắt thận

Được sử dụng trong thập niên 80-90 thế kỹ trước, đường mổ giữa hay dưới sườn, hiện nay ít thực hiện trên người cho sống, nhưng còn chỉ định trong những trường hợp người cho chết não hoặc tình huống chuyển mổ mở khi NSOB thất bại

1.4.1.3 Mổ mở cắt thận với đường mổ nhỏ sau phúc mạc

Đường mổ ngắn 8cm xâm lấn tối thiểu, giúp ít đau sau mổ, nhưng phải dùng kính phóng đại và dụng cụ đặc biệt Bookwalter, không trình

Trang 8

bày toàn bộ phẫu trường, không gian thao tác hẹp, thận bị lôi kéo nhiều, thì cột cuống thận phải dùng dụng cụ đẩy chỉ, dễ tổn thương màng phổi, rách phúc mạc và khó quan sát được hết các nhánh bên TM

1.4.2 Phẫu thuật nội soi ổ bụng cắt thận để ghép

Trường hợp đầu tiên thực hiện bởi Ratner (1995), NSOB trở thành kỹ thuật tiêu chuẩn tại nhiều trung tâm ghép trên thế giới với nhiều ưu điểm: ít xâm lấn, dùng thuốc giảm đau ít, thời gian nằm viện và trở lại làm việc ngắn hơn Nhưng có khuyết điểm dễ chạm thương các tạng trong ổ bụng, di chứng lâu dài (dính ruột, bán tắc ruột…)

1.4.3 Phẫu thuật nội soi sau phúc mạc cắt thận để ghép

Phát triển nhờ phát minh tạo khoang sau phúc mạc của Gaur và cắt thận qua NSSPM (1992) Cắt thận để ghép thực hiện đầu tiên bởi Tanake (Nhật) và Hoznek (Pháp) vào năm 2001, sau đó được triển khai tại một số nước ở Châu Á Những báo cáo so sánh đầu tiên giữa NSOB và NSSPM cho thấy sự hồi phục chức năng thận ghép không có sự khác biệt, lợi thế ít xâm hại hơn chưa được khẳng định Vị trí lấy thận ra chưa thống nhất giữa các tác giả Phẫu trường hẹp khó thao tác cho phẫu thuật viên cũng như nhận dạng cấu trúc sau phúc mạc hạn chế nếu chưa có nhiều kinh nghiệm và kỹ năng NSSPM

1.4.4 Phẫu thuật nội soi với bàn tay hỗ trợ

Duy trì được cảm giác xúc giác, thuận lợi khi bóc tách nếu có viêm dính, xử lý nhanh khi có biến chứng chảy máu, thời gian thiếu máu nóng ngắn Nhược điểm là phải sử dụng Handport, đường mổ lấy thận bất định tùy thuộc kích thước bàn tay phẫu thuật viên và những di chứng giống như NSOB

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tiêu chuẩn lựa chọn: Tất cả những người tự nguyện hiến 1 quả

thận cho người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối Đáp ứng đúng tiêu

chuẩn chọn lựa các cặp cho – nhận thận của Bộ Y tế

- Tiêu chuẩn loại trừ: Tất cả những trường hợp áp dụng kỹ thuật

lấy thận khác như: mổ mở, nội soi qua ổ bụng có hay không có bàn

Trang 9

tay hỗ trợ Có chống chỉ định nội soi sau phúc mạc như: không thể gây mê toàn thân (bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, suy tim…) hay có vết mổ cũ vùng hông lưng bên lấy thận

2.2 Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu mô tả hàng loạt ca

2.3 Các biến số trong nghiên cứu: Tuổi người cho, quan hệ giữa

người cho và người nhận, BMI, GFR, đối chiếu chụp động mạch thận trước và trong lúc mổ, thời gian thiếu máu nóng, thời gian thiếu máu lạnh, thời gian thiếu máu ấm, đánh giá chất lượng quả thận lấy để ghép sau khi rửa (bao thận, chủ mô, mạch máu, bể thận, niệu quản),

đo kích thước mạch máu thận, biến chứng trong mổ, biến chứng sau mổ, đánh giá chức năng thận người cho sau mổ và thời gian hồi phục chức năng thận ghép, thời gian nằm viện, thời gian trở lại làm việc, biến chứng xa, biến chứng sau ghép liên quan đến phẫu thuật lấy thận

2.4 Nội dung nghiên cứu:

2.4.1 Qui trình mổ nội soi sau phúc mạc cắt thận để ghép

- Chọn người cho thận (đặc điểm của mẫu nghiên cứu):

* Tiêu chuẩn chung: Người cho thận hoàn toàn tự nguyện, khỏe

mạnh, tuổi từ 18-60, phù hợp 57 tiêu chuẩn chọn lựa của Bộ Y Tế, có thể không cùng huyết thống, hòa hợp miễn dịch ghép (ABO, HLA, phản ứng chéo, tiền mẫn cảm), đánh giá vai trò và vị trí của người cho trong gia đình và xã hội, không có cao huyết áp, BMI < 35, tổng GFR

của 2 thận >80 mL/phút

* Tiêu chuẩn chọn bên thận lấy để ghép: chọn một trong 2 thận

có chức năng tốt qua khảo sát: sinh hóa, siêu âm, UIV, xạ hình xạ ký thận, chẩn đoán hình ảnh… Chọn theo quan điểm để lại thận tốt hơn cho người hiến thận, lấy thận có chức năng kém hơn qua GFR hoặc lấy thận có chức năng tương đương nhau (UIV, GFR) nhưng có yếu điểm như: sỏi nhỏ, nang thận lành tính… Chọn theo tiêu chuẩn về chức năng là chính, không tùy thuộc vào bên phải hay trái, không tùy thuộc vào tình trạng thuận lợi của mạch máu (bất thường về mạch máu không phải chống chỉ định)

Trang 10

* Tiêu chuẩn xuất viện của người cho thận: Sinh hiệu ổn định

Vết mổ lành tốt Rút hết các ống dẫn lưu Người cho thận đi lại và tự sinh hoạt bình thường Xét nghiệm kiểm tra sau mổ: công thức máu và

chức năng thận bình thường (creatinine-HT≤ 1.5mg/dL)

* Tiêu chuẩn xuất viện của người nhận thận: Lâm sàng ổn

định: vết mổ lành tốt, rút hết các ống dẫn lưu Bệnh nhân đi lại và tự sinh hoạt bình thường Lượng nước tiểu/ 24 giờ bình thường Xét nghiệm chức năng thận ghép trở về bình thường (creatinine-HT≤

1.5mg/dL)

- Chuẩn bị bệnh nhân trước mổ: Như một trường hợp phẫu

thuật cắt thận thường qui: Thụt tháo đại tràng Vệ sinh, sát trùng bằng bétadin 10% vùng mổ, băng vô khuẩn Vệ sinh răng miệng trước khi đi ngủ, thuốc an thần (Diazepam, Bromazepan), uống 1 viên seduxen 5mg

- Dụng cụ và trang thiết bị mổ nội soi: Dàn máy nội soi ổ bụng

của Karl-Storz, máy cắt đốt siêu âm và dụng cụ thường quy của NSOB

- Kỹ thuật mổ được áp dụng: Sử dụng một kỹ thuật NSSPM qua

8 bước cho tất cả những trường hợp mổ cắt 1 thận để ghép trên người cho sống trong loạt nghiên cứu

- Tiêu chuẩn chỉ định chuyển mổ mở: Qua đường thắt lưng hay

đường giữa trên dưới rốn nếu có biến chứng xảy ra (chảy máu không cầm được, tổn thương tạng trong ổ bụng hay sau phúc mạc)

2.4.2 Đánh giá kết quả phẫu thuật NSSPM cắt thận để ghép

- Đánh giá tính an toàn đối với người cho thận: Thời gian mổ

Biến chứng trong lúc mổ phải chuyển mổ mở Biến chứng sau mổ Công thức máu và chức năng thận sau mổ Thời gian có trung tiện, rút ống dẫn lưu, dùng thuốc giảm đau hậu phẫu Thời gian nằm viện Thời gian trở lại công việc bình thường sau khi xuất viện Di chứng sau mổ: đau vết mổ, bán tắc ruột, tắc ruột, thoát vị thành bụng Theo dõi sức khỏe định kỳ đánh giá tình trạng sức khỏe chung và chức năng thận còn lại

Trang 11

- Đánh giá chất lượng thận khi thận được lấy để ghép: Thời

gian thiếu máu nóng Sự nguyên vẹn về giải phẫu thận sau khi rửa (bao thận, chủ mô thận, mạch máu cuống thận, niệu quản) Đo kích thước mạch máu thận tiên lượng thuận lợi hay khó khăn cho kỹ thuật ghép vào cơ thể người nhận

- Đánh giá chức năng thận và biến chứng sau ghép về phương diện phẫu thuật cắt thận: Tình trạng thận ngay sau khi mở kềm mạch máu, diễn tiến hồi phục chức năng thận sau ghép.Thận ghép

chậm chức năng do tổn thương mạch máu, hay rò niệu quản sau mổ…

- Đánh giá kết quả phẫu thuật NSSPM qua đường cong học tập: dựa vào 2 biến số thời gian thiếu máu nóng và thời gian mổ 2.5 Xử lý và phân tích số liệu: Bằng phần mềm thống kê Excel,

SPSS 16.0 So sánh trung bình của các biến với các nghiên cứu khác dùng phép kiểm t và chi bình phương ( 2) Khác biệt được xem là có ý nghĩa thống kê khi giá trị p<0,05

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm người cho thận

3.1.1 Tổng số người cho thận: 106 TH được chỉ định mổ từ tháng

8/2005 đến tháng 5/2011, phân bố theo từng năm, nhiều nhất vào năm

2009 và 2010 (biểu đồ 3.1)

3.1.2 Tuổi, giới tính của người cho thận:Tuổi người cho thận lúc

mổ: nhỏ nhất 29 tuổi, lớn nhất 60 tuổi, trung bình 44,27 ± 9,25 tuổi Giới tính: Nam 46/106 TH (43,40%), nữ 60/106 TH (56,60%) Người cho thận nữ nhiều hơn nam (biểu đồ 3.2)

3.1.3 Nghề nghiệp: Buôn bán 36/106 TH (33,96%), công nhân viên

20/106 TH (18,87%)và nội trợ 21/106 TH (19,81%), nông dân 16/106

TH (15,09%), công nhân 11/106 TH (10,38%), tu sĩ 2/106 TH (1,89%) (biểu đồ 3.3)

3.1.4 Địa phương cư trú: Miền Tây Nam bộ 39/106 (36,79%), thành

phố Hồ Chí Minh 25/106 (23,58%), Miền Đông Nam bộ 17/106

Trang 12

(16,04%), Miền Trung 11/106 (10,38%), Tây Nguyên 8/106 (7,55%) và Miền Bắc 6/106 TH (5,66%) (biểu đồ 3.4)

3.1.5 Quan hệ giữa người cho và người nhận: Chiếm đa số là mối

quan hệ ruột thịt có cùng huyết thống: 103/106 TH (97,17%) Các TH không cùng huyết thống có 3 TH (2,82%) gồm: cha nuôi cho con trai, vợ cho chồng và tu sĩ cho phật tử (bảng 3.1)

3.2 Các yếu tố liên quan đến tiêu chuẩn chọn bệnh

3.2.1 Siêu âm thận: đo kích thước thận 3 chiều, kết quả minh họa

trong bảng 3.4

3.2.2 BMI (chỉ số cơ thể): BMI trung bình là: 22,23 ± 3,0 kg/m2

Bảng 3.5: Chỉ số BMI người cho thận

3.2.3 Độ thanh lọc cầu thận và vị trí thận chọn lấy

Bảng 3.7: Độ thanh lọc cầu thận và vị trí thận lấy để ghép GFR ml/phút Thấp nhất Cao nhất Trung bình Số TH

3.2.4 Vị trí thận chọn để lấy và lý do chọn

- Vị trí thận được chọn lấy: theo tiêu chuẩn của qui trình lựa chọn thận lấy để ghép Bên phải 38 TH (35,85%) chiếm khoảng 1/3 số trường hợp, bên trái 68 TH (64,15%) (biểu đồ 3.5)

- Kết quả chọn lựa thận lấy để ghép

Trang 13

Bảng 3.8: Lý do chọn bên lấy thận ở người cho

GFR đồng vị phóng

xạ thấp hơn

3.2.5 Khảo sát mạch máu thận qua chẩn đoán hình ảnh (CĐHA)

Bảng 3.9: Đối chiếu CĐHA khảo sát mạch máu thận

Bảng 3.10: Bất thường động mạch thận

Bảng 3.11 Bất thường tĩnh mạch thận

3.3 Kết quả phẫu thuật

Ngày đăng: 26/06/2015, 20:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.8: Lý do chọn bên lấy thận ở người cho - tóm tắt luận án tiên sĩ phẫu thuật nội soi sau phúc mạc cắt thận để ghép tại bệnh viện chợ rẫy
Bảng 3.8 Lý do chọn bên lấy thận ở người cho (Trang 13)
Bảng 3.13: Thời gian mổ - tóm tắt luận án tiên sĩ phẫu thuật nội soi sau phúc mạc cắt thận để ghép tại bệnh viện chợ rẫy
Bảng 3.13 Thời gian mổ (Trang 14)
Bảng 3.17: Kẹp cắt tĩnh mạch thận - tóm tắt luận án tiên sĩ phẫu thuật nội soi sau phúc mạc cắt thận để ghép tại bệnh viện chợ rẫy
Bảng 3.17 Kẹp cắt tĩnh mạch thận (Trang 15)
Bảng 4.11: Chiều dài tĩnh mạch thận và vị trí thận lấy để ghép - tóm tắt luận án tiên sĩ phẫu thuật nội soi sau phúc mạc cắt thận để ghép tại bệnh viện chợ rẫy
Bảng 4.11 Chiều dài tĩnh mạch thận và vị trí thận lấy để ghép (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w