1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn quản trị nhân lực Xây dựng mô hình trung tâm hỗ trợ việc làm cho sinh viên khoa Y học cổ truyền - trường Đại học Y khoa Hà Nội

43 539 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 406,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, đề tàinghiên cứu này được thực hiện nhằm xây dựng một trung tâm hỗ trợ việc làmcho sinh viên Y học cổ truyền để tạo điều kiện cho sinh viên phát triển kỹnăng nghề nghiệp của mình

Trang 1

Lời nói đầu

Ở bất cứ nơi đâu của tổ quốc, lớp sinh viên luôn là những người trẻtuổi, nhiệt tình, sáng tạo, năng động đồng thời sẽ là chủ nhân của tương lai đấtnước Lớp sinh viên bây giờ không chỉ có việc học mà đa phần trong số họđều muốn tham gia làm những công việc bán thời gian (part-time) để có kinhnghiệm thực tế bổ sung kiến thức cho việc học ở trường, vừa để có thêm thunhập trang trải cho cuộc sống Do nhu cầu tìm việc làm thêm ngày càng caocủa sinh viên nên đã có rất nhiều trung tâm tư vấn và giới thiệu việc làm dànhcho đối tượng này ra đời Tuy nhiên, công việc phù hợp với chuyên môn màsinh viên đang theo học thì không nhiều, nhất là đối tượng sinh viên đang theohọc ngành Y nói chung và chuyên ngành Y học cổ truyền nói riêng Chính vì

vậy, tôi đã chọn đề tài Xây dựng mô hình trung tâm hỗ trợ việc làm cho sinh viên khoa Y học cổ truyền trường Đại học Y khoa Hà Nội

Với đề tài này tôi mong muốn nghiên cứu và xây dựng một trung tâm hỗtrợ việc làm mang tính đặc thù dành riêng cho sinh viên chuyên ngành Y học

cổ truyền nhằm tạo điều kiện cho các bác sĩ Y học cổ truyền tương lai có điềukiện tiếp xúc với thực tế nhiều hơn để có kinh nghiệm và nâng cao kỹ năngnghề nghiệp Đồng thời, tôi mong muốn có thể đưa được mô hình này vàothực tiễn nhằm kế thừa và phát triển nền Y học cổ truyền dân tộc, nâng caohiệu quả bảo vệ sức khoẻ cộng đồng

Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Vũ Thị Maigiảng viên bộ môn Quản trị nhân lực và bộ môn Tổ chức lao động khoa họccùng các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế lao động và dân số - Trường Đại họcKinh tế quốc dân đã giúp tôi hoàn thành đề tài này

Trang 2

Tôi xin được cảm ơn sự giúp đỡ từ phía Ban giám hiệu Trường Đại học

Y khoa Hà Nội và Ban chủ nhiệm khoa Y học cổ truyền đã cho phép và tạođiều kiện cho tôi nghiên cứu, hoàn thành đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Phó giáo sư - Tiến

sĩ Nguyễn Nhược Kim - Trưởng khoa Y học cổ truyền cùng toàn thể các thầy

cô giáo của khoa Y học cổ truyền

Xin cảm ơn anh Nguyễn Tuấn Lượng - bí thư chi đoàn lớp Y5 chuyênkhoa Y học cổ truyền đã giúp tôi tiếp cận với các sinh viên và bệnh nhân củakhoa Y học cổ truyền

Tôi còng xin được cảm ơn sự cộng tác của các bệnh nhân đang điều trị ởkhoa Y học cổ truyền bệnh viện Bạch Mai và các bạn sinh viên chuyên khoa

Y học cổ truyền - trường Đại học Y khoa Hà Nội

Ngoài ra, tôi xin cảm ơn phòng Hành chính - tổng hợp, Trung tâm thôngtin Thư viện Trường Đại học Kinh tế quốc dân và Thư viện quốc gia đã giúptôi trong quá trình nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của gia đình và bạn bè - nhữngngười đã động viên giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu

BẢNG CHÚ GIẢI NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

Trang 3

CK Chuyên khoa

DVVL Dịch vụ việc làm

ILO Tổ chức Lao động quốc tế

NCKH Nghiên cứu khoa học

Trang 4

tư cách là cầu nối giữa người sử dụng lao động và người lao động Trong cácloại hình trung tâm dịch vụ việc làm đó, có một số trung tâm chủ yếu thựchiện chức năng dịch vụ việc làm cho đối tượng là sinh viên với các công việcbán thời gian Tuy nhiên, hầu hết các công việc này không phù hợp vớichuyên môn của sinh viên, đặc biệt là các sinh viên một số ngành đặc thù nhngành Y, nhất là các sinh viên chuyên ngành Y học cổ truyền Vì vậy, đề tàinghiên cứu này được thực hiện nhằm xây dựng một trung tâm hỗ trợ việc làmcho sinh viên Y học cổ truyền để tạo điều kiện cho sinh viên phát triển kỹnăng nghề nghiệp của mình.

Mục đích của đề tài nhằm:

- Hệ thống lý luận hoá về việc làm, tạo việc làm cho người lao động; trên

cơ sở đó vận dụng vào phân tích các điều kiện và cơ hội tạo việc làm cho sinhviên khoa Y học cổ truyền

- Phân tích thực trạng tham gia làm việc trong quá trình học tập của sinhviên khoa Y học cổ truyền

- Xây dựng mô hình trung tâm hỗ trợ việc làm cho sinh viên khoa Y học

cổ truyền nhằm kế thừa và phát triển nền Y học cổ truyền dân tộc, nâng caohiệu quả phòng và chữa bệnh bằng Y học cổ truyền trong việc bảo vệ sức khoẻcho nhân dân

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ sinh viên chuyên khoa Y học

cổ truyền và các bệnh nhân đang điều trị bằng Y học cổ truyền tại bệnh việnBạch Mai và viện Y học cổ truyền Trung ương

Đề tài sử dụng các phương pháp chủ yếu là phương pháp phỏng vấn trực

tiếp và sử dụng phương pháp điều tra dựa trên các bảng câu hỏi; phương phápphân tích, tổng hợp từ tài liệu và phương pháp quan sát

Trang 5

Các số liệu, hình ảnh sử dụng trong đề tài là số liệu, hình ảnh đã đượccông bố của khoa Y học cổ truyền - trường Đại học Y khoa Hà Nội.

Kết cấu của đề tài bao gồm ba chương:

- Chương mét: Cơ sở lý luận về tạo việc làm cho người lao động và vận

dụng vào phân tích tạo việc làm cho sinh viên khoa Y học cổ truyền - trườngĐại học Y khoa Hà Nội

- Chương hai: Phân tích thực trạng tham gia làm việc bán thời gian của

sinh viên khoa Y học cổ truyền - trường Đại học Y khoa Hà Nội

-Chương ba: Xây dựng mô hình trung tâm hỗ trợ việc làm cho sinh viên khoa

Y học cổ truyền - trường Đại học Y khoa Hà Nội.

CHƯƠNG MỘT: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ VẬN DỤNG VÀO PHÂN TÍCH TẠO VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN KHOA Y HỌC CỔ TRUYỀN - TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA HÀ NỘI.

1.Các khái niệm:

1.1 Các khái niệm về việc làm:

Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp hiện nay là bài

toán khó của mọi quốc gia Nó có ý nghĩa quan trọng đối với kinh tế, chính trị,

Trang 6

xã hội của mỗi quốc gia Chính vì vậy, mỗi quốc gia thường có các chính sáchgiải quyết việc làm một cách phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của nướcmình Để xây dựng các chính sách việc làm, vấn đề quan trọng trước tiên cầnthống nhất các khái niệm về việc làm, để lấy đó làm chuẩn mực cơ bản để xácđịnh, thống kê, đánh giá và thông tin về tình trang việc làm và thất nghiệp Từ

đó, hoạch định chính sách, tìm giải pháp tác động, hướng dẫn và điều tiết thitrường lao động trong nước và quốc tế Vì vậy, tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13(năm 1983) Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra khái niệm về việc làm

để mỗi quốc gia dựa trên đó để thống nhất khái niệm việc làm cho phù hợp với

hoàn cảnh nước mình Đó là mọi hoạt động được trả công bằng tiền và hiện vật đều được coi là việc làm.

Trước đây, ở nước ta, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, baocấp, người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận, trântrọng là người làm việc trong thành phần kinh tế quốc doanh, khu vực Nhànước và kinh tế tập thể Trong cơ chế đó, người lao động được Nhà nước bố trícông việc từ A đến Z, do vậy các khái niệm thất nghiệp, thiếu việc làm làkhông tồn tại Ngày nay, nước ta đã chưyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần nên quan niệm về việc làm đã thay đổi một cách căn bản Trên cơ

sở vận dụng khái niệm việc làm của ILO vào điều kiện cụ thể của nước ta, Bộluật Lao động Việt Nam tại điều 13 chương II (luật sửa đổi, bổ sung năm2002) quy định: “ Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bịpháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” Như vậy, theo Bộ luật Laođộng Việt Nam, hoạt động lao động được coi là việc làm phải đảm bảo hai

điều kiện : một là, hoạt động đó phải tạo ra thu nhập - đây được coi là điều kiện cần; hai là, hoạt động đó phải đảm bảo tính pháp lý, nghĩa là hoạt động

Trang 7

đó được pháp luật cho phép hoặc không cấm - đây được coi là điều kiện đủ đểhoạt động lao động đó trở thành việc làm

Về bản chất của khái niệm việc làm theo chủ nghĩa Marx- Lenin, đó là

phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động (tức v) và những điều kiện cần thiết nh: vốn, tư liệu sản xuất, dây chuyền công nghệ (tức c) để sử dụng sức lao động đó.

Việc làm là hoạt động lao động được thể hiện ở một trong ba dạng sau:

- Làm các công việc không bị pháp luật cấm để nhận tiền công, tiềnlương bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật cho các công việc đó

- Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân, bao gồm sản xuấtnông nghiệp trên đất do chính bản thân người lao động sở hữu, quản lý hay cóquyền sử dụng; hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp do chính người laođộng làm chủ toàn bộ hoặc một phần

- Làm các công việc hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dướihình thức tiền công, tiền lương cho công việc đó, bao gồm sản xuất nôngnghiệp trên đất của chủ hộ hay một thành viên trong hộ làm chủ sở hữu, quản

lý hay có quyền sử dụng; hoặc một hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp dochủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý

Việc làm được phân ra thành việc làm chính, việc làm phụ Việc làm chính là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất so với các công việc khác Việc làm phụ là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời

gian nhất sau công việc chính Nếu cả hai công việc đều có thời gian bằngnhau thì công việc nào có thu nhập cao hơn thì đó sẽ là việc làm chính

Như vậy, người có việc làm là những người làm một việc gì đó có được

trả công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật, hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi Ých hay vì

Trang 8

thu nhập gia đình không được nhận tiền công hặc các hiện vật.Đó cũng là khái

niệm được nêu ra tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 của ILO năm 1983 và được

áp dụng ở nhiều nước

1.2 Các khái niệm liên quan đến việc làm:

Sau khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa,

xã hội nước ta mới thừa nhận hiện tượng thất nghiệp, thiếu việc làm, lao động

dư thừa Hiện tượng này đã được chủ nghĩa Marx - Lenin đã sử dụng kháiniệm cấu tạo hữu cơ để giải thích nh sau:

Trước hết, cấu tạo hữu cơ là cấu tạo giá trị phản ánh tình trạng của cấutạo kĩ thuật do cấu tạo kĩ thuật quyết định, ký hiệu là c v Trong đó:

C: khối lượng tư liệu sản xuất (hay tư bản bất biến)

V: số lượng công nhân ( hay tư bản khả biến)

Trong quá trình phát triển, do khoa học kĩ thuật công nghệ ngày cànghiện đại làm cho c v tăng Tuy nhiên, về lượng tuyệt đối, c tăng nhanh hơn vnên chi phí sản xuất k (k = c + v) vẫn tăng, nghĩa là khoa học ngày càng pháttriển, trình độ cơ khí hoá, hiện đại hoá ngày càng cao thì số lượng lao động sẽngày càng giảm Do đó dẫn đến tỉ trọng tương đối giữa khối lượng tư liệu sảnxuất - c và chi phí sản xuất - k là c c v

 tăng; trong khi đó, tỉ trọng tương đốigiữa số lượng công nhân - v và chi phí sản xuất - k là c v v

 giảm Các tỉ trọngnày cho chóng ta thấy số lượng công nhân thừa tương đối dẫn đến hiện tượngthiếu việc làm

Hơn nữa, trong quá trình tái sản xuất có một lượng giá trị thặng dư - mđược đầu tư để mở rộng sản xuất làm tăng c,v theo tỉ lệ của cấu tạo hữu cơ làm

Trang 9

cho c tiếp tục tăng nhanh hơn v, dẫn đến trạng thái không phù hợp giữa c và vngày càng tăng dẫn đến hiện tượng giãn thải lao động và thất nghiệp.

Nh vậy, thất nghiệp có nghĩa là hiện tượng người lao động không có việclàm do trạng thái không phù hợp của cấu tạo hữu cơ Còn hiện tượng thiếuviệc làm là trạng thái trung gian giữa việc làm đầy đủ ( khi có trạng thái phùhợp của c và v ) và thất nghiệp Người thiếu việc làm là những người làm việckhông hết thời gian theo luật định do những nguyên nhân khách quan nằmngoài ý muốn của họ, hoặc làm những công việc với mức thu nhập không đủsống, muốn tìm việc làm thêm

Về thất nghiệp, người ta chia ra làm ba loại thất nghiệp chính:

- Thất nghiệp tạm thời: phát sinh là do sù di chuyển không ngừng của conngười giữa các vùng, các công việc hoặc là các giai đoạn khác nhau của cuộcsống (ví dụ nh nghỉ sinh con)

- Thất nghiệp có tính cơ cấu xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung vàcầu đối với người lao động

- Thất nghiệp chu kỳ phát sinh khi mức cầu chung về về lao động thấp Thông thường, thất nghiệp do bốn nguyên nhân sau:

- Do bị mất việc

- Chủ động bỏ việc để đi tìm việc mới

- Những người mới bước vào lực lượng lao động nhưngchưa có việc làm

- Một bộ phận trước đây rời khỏi lực lượng lao động nayđang quay lại tìm việc làm

Từ định nghĩa và nguyên nhân gây thất nghiệp trên, ta có khái niệm về

người thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang tích cực

tìm việc hoặc đang chờ được trở lại làm việc Nh vậy nghĩa là người thất

Trang 10

nghiệp là những người có đủ ba điều kiện: có khả năng làm việc; không cóviệc làm; tích cực đi tìm việc làm.

2 Các mâu thuẫn chủ yếu của vấn đề việc làm cho người lao động:

Do hoàn cảnh kinh tế nước ta và thực trạng về nguồn lao động nên hiệnnay vấn đề việc làm cho người lao động hiện nay đang tồn tại một số mâuthuẫn cơ bản sau:

Một là, mâu thuẫn giữa nhu cầu việc làm của người lao động ngày càng

lớn với khả năng giải quyết việc làm còn hạn chế Đây là mâu thuẫn tồn tạichung của nhiều quốc gia trên thế giới,kể cả những nước phát triển Tuy nhiên,

ở nước ta hiện nay trong khi khả năng phát triển kinh tế, tạo mở việc làm cũng

là rất lớn nhưng lại chưa được khai thác hiệu quả Nước ta có nhiều nguồn lực,nếu khai thác tốt có thể tạo ra một khối lượng lớn công ăn, việc làm ví dụ như:huy động vốn trong dân để phát triển sản xuất, phát huy các ngành nghề thếmạnh, các ngành nghề truyền thống như thủ công mỹ nghệ có sử dụng khốilượng lớn lao động, các doanh nghiệp đang phát triển Vấn đề đặt ra ở đây làphát huy hiệu quả của hệ thống chính sách về việc làm để thúc đẩy sự pháttriển của thị trường lao động và giải quyết việc làm

Hai là, mâu thuẫn trong sự không phù hợp giữa cơ cấu lao động cũ và cơ

cấu của nền kinh tế đã chuyển đổi Khi nước ta tiến hành chuyển dịch cơ cấukinh tế cho phù hợp với quy luật khách quan và xu thế chung của thế giới,đồng thời nước ta phải chuyển dịch cơ cấu lao động cho phù hợp với sự pháttriển của nền kinh tế Điều đó dẫn đến một số bộ phận lao động do khôngthích nghi kịp với sự thay đổi nên bị tách ra khỏi công việc và trở nên dư thừa.Mâu thuẫn này chỉ có thể giải quyết được thông qua việc phổ cập, đào tạo lạinghề, tuy nhiên nó cần có thời gian

Trang 11

Ba là, mâu thuẫn trong bản thân vấn đề việc làm vì nó là vấn đề kinh tế

vừa có tính chiến lược lâu dài, vừa có tính cấp bách, trước mắt Tính cấp bách

vì bản thân vấn đề việc làm là vấn đề có tính xã hội, chúng ta cần giải quyếtviệc làm cho thanh niên đến tuổi lao động, những lao động thôi việc từ khuvực kinh tế Nhà nước, bộ đội xuất ngũ Tính chiến lược của vấn đề là chúng

ta cần có kế hoạch định hướng, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực để có thểtạo điều kiện tiền đề cho sự phát triển kinh tế Vì vậy, muốn giải quyết đượcmâu thuẫn này chung ta cần phải cùng lúc thực hiện tốt hai nhiệm vụ này

Bốn là, mâu thuẫn giữa nhu cầu giải quyết việc làm rất lớn với trình độ

tổ chức quản lý về mặt Nhà nước trong lĩnh vực này thể hiện ở sự yếu kém của

hệ thống sự nghiệp giải quyết việc làm, một phần do trình độ cán bộ quản lýchưa đáp ứng được nhu cầu của công việc Mâu thuẫn này cản trở khá lớntrong việc giải quyết việc làm và sự phát triển của thị trường lao động Để giảiquyết mâu thuẫn này cần phải tăng cường năng lực quản lý của Nhà nướcthông qua hệ thống pháp luật, chính sách việc làm , phát triển mạng lướidịch vụ việc làm, đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng của cán bộ quản lý và làmviệc trong lĩnh vực này

3.Các nguyên nhân chủ yếu của vấn đề việc làm:

Một là, nước ta có điểm xuất phát kinh tế thấp, thiếu những điều kiện vậtchất cần thiết để thay đổi nhanh chóng cơ cấu kinh tế Về trình độ dân trí cònthấp, dân số lại tăng nhanh dẫn đến lượng người tham gia lực lượng lao độngmỗi năm tăng nhanh, lao động trình độ cao Ýt

Hai là, trong cơ chế cũ, chúng ta đã khuyến khích người lao động tìmviệc trong khu vực quốc doanh và thực hiện chính sách bao cấp nặng nề làmtriệt tiêu động lực cố gắng của người lao động trong việc tự nâng cao trình độcủa mình

Trang 12

Ba là, hệ thống chính sách giải quyết việc làm còn nhiều bất cập, mạnglưới dịch vụ việc làm chưa hoạt động rộng rãi

4 Các chính sách giải quyết việc làm:

Chính sách việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhấtcủa quốc gia, góp phần bảo đảm an toàn, trật tự xã hội Chính sách việc làmđược thể chế bằng văn bản Pháp luật của Nhà nước thể hiện một hệ thống cácquan điểm, chủ trương, phương hướng và biện pháp để giải quyết việc làmcho người lao động giúp ổn định và phát triển xã hội

Đối tượng của chính sách việc làm là những người lao động chưa có việclàm, thất nghiệp, hoặc thiếu việc làm

Với mục tiêu là chống thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động,nâng cao mức sống cho người dân, giảm đói nghèo Từ đó xã hội sẽ ổn định,

an toàn xã hội được đảm bảo, tạo tiền đề cho sự phát triển và tiến bộ xã hội

Về mặt kinh tế, chính sách việc làm sẽ góp phần làm tăng trưởng kinh tế, tăngnăng suất lao động và tăng GDP, từ đó lại tạo điều kiện tái sản xuất xã hội tạothêm nhiều việc làm cho người lao động, tiếp tục nâng cao mức sống củangười dân và thực hiện công bằng xã hội

Hiện nay, các chính sách chủ yếu dựa vào các đối tượng cụ thể cần giảiquyết: người đến tuổi lao động, bộ đội xuất ngũ, đối tượng lao động đặc biệtnhư người tàn tật để có thể cụ thể hoá các chiến lược, phương hướng, thựchiện các chương trình dự án cho phù hợp Để thực hiện chính sách việc làmđúng mục tiêu, đúng đối tượng, cần có cơ chế và quy trình vận hành riêngquacác chương trình quốc gia về việc làm với hàng loạt các dự án có các mụctiêu, đối tượng cụ thể, làm có trọng tâm, trọng điểm, quy định nguồn tài chính,

cơ chế hình thành nguồn cho các chương trình, các dự án như: quỹ quốc gia vềgiải quyết việc làm, ngân sách đầu tư cho chương trình việc làm, sự trợ giúp

Trang 13

quốc tế, các quỹ xã hội khác và phát triển sâu rộng hệ thống đào tạo, dạynghề, mạng lưới dịch vụ việc làm

5 Vận dụng lý luận tạo việc làm cho người lao động vào vấn đề tạo việc làm cho sinh viên khoa Y học cổ truyền - trường Đại học Y khoa Hà Nội:

Còng nh sinh viên nói chung, sinh viên khoa YHCT là những người trẻtuổi đầy lòng nhiệt tình, hăng say và tâm huyết với nghề Họ là những người

có khả năng tham gia làm những công việc thuộc về chuyên môn của mình.Tuy nhiên, hiện nay, vấn đề việc làm cho sinh viên khoa YHCT còn nhiều hạnchế nên chưa khai thác hết được tiềm năng từ đối tượng này do tồn tại một sốmâu thuân cơ bản sau:

- Việc làm cho sinh viên khoa YHCT cũng tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản

như người lao động nói chung là: thứ nhất, mâu thuẫn giữa nhu cầu việc làm

của sinh viên và khả năng giải quyết việc làm hạn chế mặc dù nhu cầu và tiềm

năng của dịch vụ phòng và chữa bệnh bằng YHCT là rất lớn; thứ hai, mâu

thuẫn giữa nhu cầu giải quyết việc làm và tổ chức quản lý về mặt Nhà nước

- Ngoài ra còn tồn tại mâu thuẫn giữa khả năng làm việc của sinh viênvới những quy định hành nghề của Bộ y tế (Về mâu thuẫn này, tôi xin phéptrình bày ở phần sau ở chương hai )

Sinh viên khoa YHCT - những người có nhu cầu làm việc (làm thêm)cũnglà những người lao động và họ được xếp vào nhóm những người thiếuviệc làm Do vậy, họ cũng thuộc đối tượng của chính sách việc làm Chínhsách việc làm của Nhà nước thể hiện qua những văn bản, hệ thống Pháp luật

và cụ thể hoá thông qua các chương trình quốc gia, các dự án về việc làm,trong đó với đối tượng là sinh viên có thể tham gia chương trình quốc gia vềviệc làm như: tham gia các chương trình đào tạo, học nghề, phát triển nguồn

Trang 14

nhân lực, tham gia làm việc tại các trung tâm theo mô hình tạo việc làm thôngqua các dự án nhỏ

Sau khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, Nhà nướcxoá bỏ bao cấp, chuyển sang quản lý bằng Pháp luật, do vậy vai trò của Nhànước là tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi để cho mọi người dân, mọi tổchức kinh tế tự tạo việc làm và thu hót lao động Nhà nước cũng có tráchnhiệm hỗ trợ một phần tài chính thông qua Quỹ việc làm quốc gia, hỗ trợ,hướng dẫn của các cơ quan có chức năng, thẩm quyền để giúp các mô hình tạoviệc làm nói chung và các dự án nhỏ nói riêng Nội dung của mô hình tạo việclàm thông qua các dự án nhỏ là tạo quỹ tín dụng quay vòng cho vay với lãisuất nâng đỡ, phát triển các cơ sở (trung tâm) dạy nghề và dịch vụ việc làm,gọi chung là các trung tâm xúc tiến việc làm, đầu tư các cơ sở hạ tầng nhỏ Vìvậy, mô hình trung tâm hỗ trợ việc làm dành cho sinh viên khoa YHCT nhằmtạo điều kiện làm việc cũng như hướng nghiệp cho sinh viên là một loại hìnhtrung tâm xúc tiến việc làm nên cũng nằm trong sự hỗ trợ này

Trang 15

CHƯƠNG HAI: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG THAM GIA LÀM VIỆC BÁN THỜI GIAN CỦA SINH VIÊN KHOA Y HỌC CỔ TRUYỀN - TRƯỜNG

ĐẠI HỌC Y KHOA HÀ NỘI.

1.Vấn đề tham gia làm việc bán thời gian của sinh viên hiện nay:

Mỗi năm, trên cả nước có 160.000 người trở thành sinh viên trung bìnhkhoảng và con số này sẽ tăng lên cao hơn nữa Nó luôn lớn hơn con sè sinhviên ra trường của cả nước vì theo thời gian, do yêu cầu của nền kinh tế – xãhội dưới sự tác động của khoa học công nghệ phát triển có nhiều lĩnh vực mới

ra đời Do đó nảy sinh nhiều ngành nghề mới cần có một lực lượng lao động

có trình độ cao, muốn vậy chỉ có duy nhất một cách tối ưu nhất là phải đầu tưvào giáo dục, đào tạo nhất là những ngành nghề mới nên lực lượng sinhviên ngày càng đông đảo hơn Họ là những người có ảnh hưởng ngày càng lớnđối với xã hội Tinh thần, bản lĩnh và nhất là năng lực hoạt động xã hội củasinh viên đã tạo cho họ một chỗ đứng, một uy tín vững chắc trong cộng đồng.Sinh viên ngày nay đã mạnh dạn hơn, năng động hơn, họ luôn mình được tựtin với những kinh nghiệm được tích luỹ từ ngay những năm tháng ngồi trêngiảng đường Đại học Chính vì vậy, lượng sinh viên tham gia các công việcbán thời gian ngày càng nhiều lên Sinh viên tham gia các công việc đó dướinhiều hình thức như: làm các công việc liên quan đến chuyên môn của mình,tham gia các công việc không có tính chuyên môn hoặc có thể tham gia cáccông tác xã hội, khai thác nguồn lực này đã đem lại nhiều lợi Ých cho xã hội,theo ước tính những công trình do sinh viên tham gia làm như công trìnhđường mòn Hồ Chí Minh, tình nguyện viên Sea Games, tiêu diệt nạn cúm giacầm vừa qua làm lợi cho ngân sách Nhà nước hàng chục tỉ đồng Với sinhviên, tham gia các công việc bán thời gian đó sẽ đem lại cho họ những kinhnghiệm thực tế - đó là cái mà các nhà tuyển dụng sẽ đánh giá cao ở họ

Trang 16

Các công việc bán thời gian của sinh viên tuy có nhiều loại hình côngviệc nhưng đa số các công việc có liên quan đến chuyên ngành đang học trongtrương Đại học là không nhiều Trong số các công việc bán thời gian đó, ướctính gần 60% số công việc là gia sư, công việc này phù hợp với sinh viên Sưphạm để bổ sung và thực hành khả năng mô phạm của mình, tuy nhiên hầu hếtsinh viên các trường Đại học khác đều đã và đang làm với một tỉ lệ không nhỏbởi vì công việc này không bị bó hẹp về thời gian cũng như không đòi hỏi quácao về kỹ năng, kinh nghiệm Ngoài ra 40% còn lại là các công việc khác như:tiếp thị, bán hàng, đi hát và đóng phim đối với các sinh viên sân khấu điệnảnh, trông coi các công trình, phụ vẽ bản thiết kế đối với sinh viên các ngành

kỹ thuật như kiến trúc, xây dựng, giao thông , một số Ýt khác tham gia cáccông trình nghiên cứu khoa học, hoặc tự mình kinh doanh Thu nhập của sinhviên thường di động trong khoảng từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng, trungbình là vào khoảng 300.000 - 400.000 đồng Việc đi làm thêm của sinh viênkhông những đem lại kinh nghiệm, vốn thực tế mà còn giúp cho sinh viên cóthu nhập, trang trải cho những chi phí trong quá trình học tập Chính vì vậy,

mà ngày càng có nhiều sinh viên tham gia làm thêm hơn

Tuy nhiên, bên cạnh những cái tốt đó thì việc sinh viên đi làm thêm cũng

có những mặt hạn chế cần chú ý về mặt thời gian tham gia làm thêm để khôngảnh hưởng đến học tập, và chú ý về tính chất công việc để tránh vi phạm quychế của Nhà trường cũng như quy định của Pháp luật như: việc thiết kế các đồ

án của sinh viên ngành kỹ thuật, việc chép tranh của sinh viên ngành mỹthuật Nhiều sinh viên đã bất chấp tất cả để làm những việc quy định củapháp luật không cho phép, điều này không những không đem lại lợi Ých cho

xã hội mà còn làm thiệt hại cho xã hội

Trang 17

Ngoài ra các công việc làm thêm của sinh viên phần đông vẫn chỉ là gia

sư, công việc này chỉ hợp nhất với sinh viên Sư phạm, còn đa phần công việc

là không phù hợp với chuyên môn Như vậy, đôi khi do những trục trặc khiếncho sinh viên vừa mất thời gian, chi phí, đặc biệt là không bổ sung thêm kinhnghiệp công việc, không nâng cao được kỹ năng nghề nghiệp Vì thế mà côngviệc này không hể kéo dài thời gian và bền vững được

Nh vậy, để có thể tận dụng tốt nguồn lực về thể lực, trí lực, các kỹ năngđược đào tạo tại trường Đại học, nâng cao kinh nghiệm nghề nghiệp cho sinhviên thì có thể thực hiện một số hướng sau:

- Xây dựng các chương trình giúp sinh viên tiếp cận với thực tế ví dụ

như: chương trình liên kết giữa trường Đại học với các doanhnghiệp để sinh viên có thể liên hệ thực tập và làm công việc bánthời gian tại doanh nghiệp, phù hợp với chuyên ngành tận dụng sựsáng tạo của sinh viên đồng thời tạo thu nhập chính đáng cho sinhviên

- Tổ chức các phong trào nghiên cứu khoa học tạo điều kiện để sinh viên

tham gia nâng cao kiến thức, khả năng nghiên cứu, thu thập xử lýthông tin, lập kế hoạch làm việc và đem lại một chút thu nhập chosinh viên cả về vật chất lẫn tinh thần

- Xây dựng và mở rộng các trung tâm DVVL tư vấn, giới thiệu việc làm

theo đúng chuyên môn phù hợp với khả năng của sinh viên

2.Thực trạng của các trung tâm dịch vụ việc làm:

Dịch vụ việc làm có thể hiểu là toàn bộ các hoạt động nhằm sắp xếp việclàm có hiệu quả cho người lao động thông qua quá trình chắp nối cung - cầulao động hoặc tư vấn, trợ giúp để người lao động có thể tự tạo việc làm.DVVL đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình vận hành của thị

Trang 18

trường lao động Nó không chỉ là yếu tố trung gian chủ chốt trong mắt xíchchắp nối ngưòi tìm việc với chỗ làm việc trống, mà còn cung cấp các thông tin

và tư vấn liên quan đến việc làm và các cơ hội đào tạo nghề nghiệp

Hàng năm, nước ta có vài triệu người đến tuổi lao động, số học sinh, sinhviên tốt nghiệp ra trường cũng có tới hàng vạn và còn rất nhiều người muốnchuyển chỗ làm việc cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình Do vậy,nhu cầu tư vấn, giới thiệu việc làm là rất lớn và cần thiết, nó có ý nghiã cấpbách với mỗi người lao động và toàn xã hội Nắm được nhu cầu đó, nên cáctrung tâm, các công ty tư vấn, giới thiệu việc làm đã ra đời hàng loạt phù hợpvới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đáp ứng quy luật khách quan củathị trường lao động Theo thống kê của Tổng LĐLĐVN tại Hội nghị tổng kết

5 năm hoạt động của các trung tâm DVVL và dạy nghề trong hệ thống côngđoàn trên các lĩnh vực dạy nghề, tư vấn, cung ứng và giới thiệu việc làm, tínhđến hết tháng 9/ 2001, tại Hà Nội, ngoài 13 trung tâm DVVL được thành lậptheo NĐ72/CP của Chính phủ, còn có gần 200 doanh nghiệp được thành lậptheo luật doanh nghiệp có chức năng hoạt động DVVL Tại thành phố Hồ ChíMinh, cũng có trên 600 trung tâm và công ty hoạt động DVVL, trong đó có tới70% là công ty tư nhân Ngoài ra, trong hệ thống công đoàn có 38 trung tâmDVVL và 3 TT dạy nghề hoạt động tại 39 tỉnh, thành phố trong cả nước Hệthông các TT này ngày càng được củng cố và phát triển với nhiều hình thứchoạt động khác nhau Hiện nay, nằm trong lĩnh vực hoạt động này còn có cáctrung tâm gia sư cũng là một hình thức nhỏ của hoạt động DVVL và nó có ýnghĩa khá quan trọng đối với sinh viên

Theo báo cáo của Vụ chính sách Lao động - việc làm thì kết quả hoạtđộng của hệ thống DVVL của Nhà nước và các tổ chức đoàn thể quần chúng(gọi tắt là DVVL công) thời kỳ 1997 - 2001 nh sau:

Trang 19

Bảng 1: Kết quả hoạt động của DVVL công

4 Chuyển giao công nghệ, hướng

dẫn kỹ thuật cho nông dân 4.043 36.575 2.900 32.490

Như vậy, nếu tổng hợp kết quả hoạt động của hệ thống DVVL công thời

kỳ này, ta có: về tư vấn dạy nghề và việc làm đạt khoảng 1,8 triệu lượt người;đào tạo nghề cho khoảng gần 80 vạn người; giới thiệu việc làm, cung ứng laođộng khoảng gần 1 triệu lượt người; chuyển giao công nghệ, hướng dẫn kỹthuật cho gần chục vạn nông dân Tuy kết quả chưa cao nhưng đã góp phầnvào xoá đói giảm nghèo, giảm tỉ lệ thất nghiệp, giúp ổn định một phần đờisống xã hội

Bên cạnh những kết quả đó thì hệ thống DVVL nói chung ở nước ta cònnhiều tồn tại sau:

- Hầu hết các cán bộ làm việc tại các TT này đều chưa qua đào tạo vềnghiệp vụ DVVL Theo bà Nguyễn Kim Lý - phó giám đốc Sở Lao động -thương binh - xã hội Thành phố Hồ Chí Minh thì chỉ có 24,58% nhân sự trong

hệ thống DVVL Nhà nước có nghiệp vụ, còn ở các đơn vị tư nhân đều chưaqua đào tạo vì vậy hiệu quả hoạt động không cao, hầu hết các cơ sở đều hoạtđộng đơn giản, nặng về cảm tính

- Sự quản lý của Nhà nước về lĩnh vực này còn lỏng lẻo, chưa có sựthống nhất về thu lệ phí đối với doanh nghiệp được cung ứng lao động cũngnhư đối với người lao động được giới thiệu việc làm Điều này dẫn đến hiệntượng nhiều TT DVVL lừa người lao động để cướp không lệ phí của người lao

Trang 20

động bằng những giấy hẹn liên tục kéo dài, hoặc thu lệ phí quá cao, hoặc trừ lệphí thu của người lao động khi người lao động không được tuyển dụng từ 20 -30%.

- Hiện nay, còn tồn tại hiện tượng khai thác nguồn của nhau một cáchkhông lành mạnh Có nơi sử dụng người đóng giả người lao động đến các TTkhác để tìm việc làm Sau khi lấy được địa chỉ do các TT này giới thiệu, họliền dùng để giới thiệu cho các khách hàng của mình

- Ngoài ra, còn có hiện tượng móc nối giữa các TT với người sử dụng laođộng đưa ra nhu cầu nhiều hơn thực tế, nâng mức lương thông báo cao hơnmức lương thật để cơ sở giới thiệu thu phí cao hơn hoặc được cấp nhiều giấygiới thiệu tìm việc làm hơn

Hiện nay, một số TT có đối tượng khách hàng là sinh viên cũng có nhữnghành vi không tốt nh vậy Ví dụ, vừa qua tại thành phố Hồ Chí Minh đã có vàichục sinh viên đến kiếm việc làm mùa hè tại công ty cổ phần giấy Vĩnh Tiếntheo giấy giới thiệu của một TT DVVL trên đường Cách Mạng Tháng Támvới lệ phí phải mất chi TT là 80.000đồng/người (theo tin trên trangweb:www.google.com) Nhưng khi đến đó thì công ty đã hết nhu cầu tuyểndụng và cũng không xác nhận không tuyển dụng với lý do công ty không nhờ

TT giới thiệu Do vậy nhiều người phải trở về với hai bàn tay trắng Ngoài ra;một số TT gia sư đã tăng giá trên mức thực thế để thu phí cao hơn

Đó là một số tồn tại mà chúng ta cần có biện pháp để khắc phục để xâydựng một thị trường lao động có hiệu quả

Trang 21

3.Thực trạng tham gia làm việc bán thời gian của sinh viên khoa YHCT trường Đại học Y khoa Hà Nội.

-3.1.Khái quát về khoa YHCT - trường Đại học Y khoa Hà Nội:

3.1.1.Lịch sử phát triển:

Khoa YHCT được thành lập từ năm 1961, tiền thân là Bộ môn Đông ythuộc Trường Đại học Y khoa Hà Nội với các nhiệm vụ:

- Đào tạo bác sĩ đa khoa và chuyên khoa YHCT

- Đào tạo sau Đại học và trên Đại học

- Điều trị bệnh bằng các phương pháp cổ truyền dân tộc và thực hiệnnghiên cứu khoa học về YHCT

- Xuất bản các tài liệu giảng dạy và sách chuyên khoa YHCT bằng tiếngViệt và bằng tiếng nước ngoài

- Hợp tác khoa học, đào tạo trong và ngoài nước

Về tổ chức, khoa YHCT hiện có ban chủ nhiệm và các tổ chức chính trị,

đoàn thể Ban lãnh đạo khoa hiện tại có PGS.TS Nguyễn Nhược Kim - quyềnchủ nhiệm khoa (là phó chủ nhiệm khoa tạm thời thay thế GS.TS Trần Thuý -chủ nhiệm khoa trong quá trình thầy Thuý điều trị bệnh và sẽ chính thức trởthành chủ nhiệm khoa sau khi thầy Thuý nghỉ hưu) và TS Phạm Văn Trịnh -phó chủ nhiệm khoa Cơ cấu tổ chức của khoa YHCT được thể hiện theo sơ

đồ sau:

Ngày đăng: 26/06/2015, 20:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Kết quả hoạt động của DVVL công - luận văn quản trị nhân lực  Xây dựng mô hình trung tâm hỗ trợ việc làm cho sinh viên khoa Y học cổ truyền - trường Đại học Y khoa Hà Nội
Bảng 1 Kết quả hoạt động của DVVL công (Trang 19)
Sơ đồ II.1.1.Sơ đồ tổ chức khoa YHCT - trường Đại học Y khoa Hà Nội - luận văn quản trị nhân lực  Xây dựng mô hình trung tâm hỗ trợ việc làm cho sinh viên khoa Y học cổ truyền - trường Đại học Y khoa Hà Nội
1.1. Sơ đồ tổ chức khoa YHCT - trường Đại học Y khoa Hà Nội (Trang 22)
Bảng 3: Các nguyên nhân dẫn đến vấn đề sinh viên khoa YHCT không tham gia làm thêm (xếp theo mức độ quan trọng): - luận văn quản trị nhân lực  Xây dựng mô hình trung tâm hỗ trợ việc làm cho sinh viên khoa Y học cổ truyền - trường Đại học Y khoa Hà Nội
Bảng 3 Các nguyên nhân dẫn đến vấn đề sinh viên khoa YHCT không tham gia làm thêm (xếp theo mức độ quan trọng): (Trang 30)
Bảng 3: Cơ cấu sinh viên tham gia làm thêm phân theo tính chất công việc (tỉ lệ %): - luận văn quản trị nhân lực  Xây dựng mô hình trung tâm hỗ trợ việc làm cho sinh viên khoa Y học cổ truyền - trường Đại học Y khoa Hà Nội
Bảng 3 Cơ cấu sinh viên tham gia làm thêm phân theo tính chất công việc (tỉ lệ %): (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w