Tài liệu tham khảo So sánh một số giống lúa có triển vọng trong vụ đông xuân 2004 - 2005 tại trại giống lúa Phúc lý - Bố Trạch - Quảng Bình
Trang 1PHẦN I MỞ ĐẦU 1.Đặt vấn đề
Trong tất cả các nhu cầu của con người từ xưa đến nay, nhu cầu về lương thực là thiết yếu nhất Thời đại nào con người cũng cần có lương thực Từ buổi bình minh của loài người, khi con người phải từng ngày, từng giờ tìm kiếm cái
ăn, cho đến thời đại ngày nay, thời mà có thể nói đa phần nhân loại được đảm bảo về lương thực thì nó vẫn là đòi hỏi cấp bách nhất Nói như vậy để thấy được vai trò to lớn của cây lúa - một loại cây cung cấp lương thực quan trọng của loài người
Theo thống kê của Tổ chức nông lương Liên hợp quốc (FAO) năm 2001 sản lượng lúa gạo có thể duy trì sự sống cho 3260 triệu người, chiếm trên 53% dân số thế giới Điều đó chứng tỏ vai trò của lúa gạo trong cơ cấu lương thực của thế giới và trong đời sống kinh tế quốc tế Tuy sản lượng thấp hơn sản lượng lúa mì một ít nhưng nó đang nuôi sống hơn một phần hai dân số thế giới, gần một nửa dân số thế giới được đảm bảo bằng lúa mì và các loại lương thực khác
Việt Nam là một nước nông nghiệp có truyền thống trồng lúa nước lâu đời Cây lúa đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội cũng như ghi đậm dấu ấn trong nền văn hoá của cư dân nước Việt Ngay từ thời đại Hùng Vương, nghề trồng lúa nước đã đóng vai trò quan trọng, được thể hiện lên trống đồng Ngọc Lũ với hình ảnh người con trai và người con gái đang giã gạo Theo năm tháng nghề trồng lúa nước Việt Nam phát triển dần từ thấp đến cao Đến nay vào đầu thế kỷ XXI nó đã đạt đến trình độ hiện đại với năng suất, chất lượng và hiệu quả vượt bậc so với trước đây Cây lúa tiếp tục phát huy vai trò của mình, tạo ra một mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam Lúa gạo là mặt hàng duy nhất vừa có kim ngạch xuất khẩu lớn, vừa có tính chất truyền thống lâu đời Bắt đầu xuất khẩu trở lại từ năm 1989, Việt Nam từ một nước nông nghiệp thiếu đói phải nhập khẩu gạo triền miên đã đột biến trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ ba thế giới Kể từ năm 1997 trở
Trang 2lại đây Việt Nam là nước xuất khẩu gạo thứ hai thế giới, chỉ sau Thái Lan Có được thành tựu đó là do sự kết hợp nhiều yếu tố: chính sách Nhà nước, sự áp dụng khoa học kỹ thuật, sự nổ lực và cố gắng của người nông dân một nắng hai sương trên đồng ruộng
Với sự mở đường của các chính sách phát triển nông nghiệp của Nhà nước, các biện pháp kỷ thuật được ứng dụng một cách sâu rộng trong sản xuất đã góp phần vào việc nâng cao năng suất, chất lượng lúa gạo Trong đó giống và công tác giống là khâu then chốt tạo nên bước đột phá, kéo theo sự thay đổi nhanh chóng cơ cấu giống lúa ở nước ta
Như chúng ta đã biết, giống là tư liệu sản xuất sống có vị trí đặc bịêt quan trọng trong sản suất nông nghiệp - là điều kiện cần để tạo ra năng suất cao, chất lượng tốt, từ đó mới mang lại hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp nói chung và nghề trồng lúa nói riêng Với sự đóng góp của đội ngũ các nhà khoa học đông đảo, nhiều giống lúa mới ra đời với năng suất cao, phẩm chất tốt đáp ứng thị hiếu tiêu dùng ngày một nâng cao của thị trường trong và ngoài nước
Việc tạo ra giống lúa mới là bước đầu trong quá trình đưa giống vào thực tiển sản xuất Muốn khẳng định được
ưu thế của giống lúa mới so với giống lúa hiện có, cũng như khả năng thích nghi của nó với từng tiểu vùng sinh thái khác nhau thì phải thông qua công tác khảo kiểm ngiệm giống tại địa phương Thực chất của công tác khảo kiểm nghiệm chính là so sánh đánh giá các giống và rút ra kết luận Quảng Bình là một tỉnh thuần nông, diện tích trồng lúa khá nhỏ hẹp 474.000 ha, so với khu vực Bắc Trung Bộ là 6.946.000 ha (2003) Năng suất lúa của tỉnh vẫn còn thấp so với năng suất bình quân khu vực Bắc Trung Bộ (46,3 tạ/ha) và cả nước Nguyên nhân của tình trạng trên một phần là do điều kiện thời tiết khí hậu bất thường ở miền Trung, sự thiếu phổ biến tiến bộ kỷ thuật vào canh tác ở nhiều vùng, nhưng quan trọng hơn cả là hạn chế trong công tác giống Mặc dù đã có nhiều đầu tư cho công tác giống, nhưng hiện tại công tác này vẫn còn thiếu và yếu về nguồn lực, cơ sở vật chất Nhiều nơi bà con nông dân vẫn trồng đi trồng lại một hay hai giống trong thời gian dài Cho nên vấn đề đặt ra là phải đẩy mạnh
Trang 3hơn nữa công tác du nhập, khảo nghiệm, đưa vào sản xuất những giống mới có năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn, tính chống chịu khá, phù hợp với điều kiện sinh thái địa phương, đáp ứng được lòng mong mỏi của người nông dân.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: "So sánh một số giống lúa có triển vọng trong vụ đông xuân 2004-2005 tại trại giống lúa Phúc Lý- Bố Trạch-Quảng Bình".
2 Mục đích
Tiến hành so sánh, đánh giá các đặc trưng, đặc tính về sinh trưởng, phát triển, năng suất, phẩm chất và khả năng chống chịu các điều kiện bất thuận một số giống lúa trong vụ đông xuân 2004-2005 nhằm chọn ra giống tiêu biểu có năng suất cao, khả năng chống chịu tốt và phẩm chất khá phù hợp với điều kiện sinh thái tại đây để áp dụng vào sản xuất
ở địa phương và các vùng có điều kiện sinh thái tương đồng
Trang 4PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Nguồn gốc và phân bố của cây lúa
Hiện nay phần lớn các nhà khoa học đều có ý kiến thống nhất rằng: Oryza fatua là tổ tiên trực tiếp của loài Oryza Sativar L Nơi phát nguồn của Oryza fatua là vùng Đông Nam Aï Hiện nay còn gặp loài này trong phạm vi vĩ độ 18015' Nam đến 250 Bắc Theo Bùi Huy Đáp [1,516]:'' những thổ dân
của bán đảo Đông Dương có thể là những người đầu tiên gieo hạt Oryza fatua quanh nơi cư trú '' Chiến tranh, trao đổi,
kết hợp giữa các bộ lạc và việc hình thành nhà nước sơ khai đã làm hỗn tạp với mức độ khác nhau, những loại hình trong Oryza fatua đã thuần hoá Từ đó làm nảy sinh vô số các loại hình và giống lúa khác nhau mà theo phân loại của C Linne đầu thế kỷ XVIII đã được gọi tên chung là O.Sativar Có nhiều ý kiến xung quanh việc xác định thời gian và địa điểm xuất hiện cây lúa trồng châu Aï Solheim và Wilheim G vào
1966 đã phát hiện dấu vết vỏ trấu Oryza Sativar ở Non Nok Tha (Thái Lan) có tuổi 4000 năm trước công nguyên
Trang 5Tác giả M Gee (1984) cho rằng O.Sativar đã xuất hiện
4500 năm trước công nguyên ở châu Aï Dựa trên những kết quả nghiên cứu về sinh lý và lịch sử phát sinh cây lúa Erygin P.S cho rằng tổ tiên của lúa trồng đã sinh trưởng ở vùng châu
Á gió mùa nơi có những hồ nước không sâu, haòng năm có một vụ khô hạn Khi lúa chín hạt rụng trên đất đã khô, người
ta thu hoạch đầu mùa khô Đến đầu mùa mưa, do có đầy đủ điều kiện về nhiệt độ và ánh sáng các hạt lúa trên đất nảy mầm, lớn lên rồi đơm bông kết hạt trong mùa mưa và kết thúc mùa mưa thì lúa chín
Erygin P.S[1,25] cũng cho rằng lúa được trồng trọt ở nhiều vùng địa lý khác nhau ở châu Aï như phía đông bán đảo Đông Dương và vùng Đông Nam Trung Quốc hiện nay Nhà nông học Nhật Bản Sasato trong cuốn "Ngiên cứu tổng hợp về lúa" cho rằng lúa từ ấn Độ, Việt Nam, Miến Điện truyền lan sang bốn phương [1,26]
Như vậy lúa trồng châu Aï Oryza Sativar đã xuất hiện đầu tiên ở Âún Độ, nhiều nước Đông Nam Aï và vào khoảng
4500 năm trước công nguyên Từ cái nôi này cây lúa đã lan toả
ra khắp các châu lục
2.1.2 Phân bố
Cây lúa có khả năng thích nghi với nhiều vùng sinh thái khác nhau Lúa châu Aï (Oryza Sativar) đã sớm phát triển đến châu Mỹ, châu Phi, châu Đại Dương và cả châu Âu Lúa châu Phi (Oryza Glaberrima) chỉ trồng ở Tây Phi và Guyana (Nam Mỹ) và có xu hướng thu hẹp dần Ngay cả ở vùng xuất xứ của nó cũng nhường chỗ cho sự phát triển của lúa châu Á
Cây lúa phát triển trong nhiều điều kiện sinh thái khác nhau từ nhiệt đới, á nhiệt đới cho đến ôn đới, trải dài từ bắc
Trang 6chí nam trong khoảng 490 Bắc (Tiệp Khắc) đến 350 Nam (Châu Đại Dương).
Tại các châu lục, lúa trồng hình thành nên nhiều loại hình sinh thái khác nhau Đầu thập kỷ 90, sưu tập các mẫu giống lúa trên thế giới của Viện lúa quốc tế (IRRI) bao gồm 81.000 giống Trong 81.000 mẫu lúa này có 76.000 mẫu lúa châu Aï, Lúa châu Phi chỉ khoảng 3.000 mẫu, còn lại là mẫu lúa dại Riêng ở Việt Nam đã có hàng ngàn giống lúa khác nhau, thích hợp với những vụ trồng, những chân ruộng, những điều kiện sản xuất và kinh tế khác nhau
2.2 Phân loại
Cây lúa thuộc chi Oryzeae Kunth, họ hoà thảo Gramineae, họ phụ Oryzoideae Chi Oryzeae gồm 15 loại, tất cả đều sống ở miền nhiệt đới, đa số thuộc loại hình cây ưa ẩm, ưa đầm lầy hay cây hồ ao
Loại Oryza thuộc chi Oryzeae bao gồm 28 loài trong đó có Oryza Sativar và Oryza glaberrima là hai loại lúa trồng nhưng phổ biến là Oryza sativar, còn Oryza glaberrima chỉ trồng với diện tích nhỏ như đã nói trên
Theo Gustehin [13, 23] cây lúa Oryza Sativar thuộc hệ thống phân loại sau:
Lúa thuộc Bộ : Graminales hay Poales
Họ : Gramineae hay Poaceae
Họ phụ : Pooi deae
Loài : Oryza Sativar (lúa trồng)Loài phụ : O.S Subsp Conmanis
Trang 7Nhánh : O.S Subsp conmanis proles indica.
Thứ (biến chủng) : MuticarCây lúa (O Sativar) trong quá trình phát triển đã xuất hiện hai loại hình khác nhau là Indica (lúa tiên) và Japonica (lúa cánh) Lúa Việt Nam thuộc loại hình thứ nhất (Indica)
2.3 Vị trí cây lúa trong đời sống kinh tế và xã hội
Cây lúa có sản phẩm chính là gạo - một loại ngũ cốc có giá trị dinh dưỡng cao, với các thành phần protein, lipit, gluxit, vitamin và một số khoáng chất Tính trung bình trong gạo có 75% gluxit trong đó 70% là tinh bột cao cấp Protein tuỳ theo giống có khoảng 5-12% , gồm 3 loại chính: protein hoạt tính (men), protein cấu tạo và protein dự trữ Protein trong gạo có nhiều gluten, tiếp đến là prolamin, glubulin và anbumin với nhiều axít amin không thay thế được Lipit trong gạo chiếm 2,2
- 2,64% , tập trung nhiều ở lớp cám ngoài Trong gạo còn có nhiều nhóm vitamin nhóm B, một số khoáng chất như P, K,
Mg, Si, Na, Cu, Fe ở phần vỏ lụa 1000g gạo cung cấp trung bình 348 kcal
Do đặc điểm cấu tạo đó, lúa gạo đoúng vai trò không thể thiếu được trong khẩu phần dinh dưỡng của người dân
ở nhiều nước Theo khảo sát của FAO, ở nhiều nước đang phát triển, tỷ lệ calo được cung cấp từ lúa gạo đạt tới mức
50 - 60% ( như Việt Nam, Thái Lan, Malayxia ) Ởí nhiều nước tiêu dùng lúa gạo chủ yếu như Âún Độ, Bangladet bản thân lúa gạo đã cung cấp tới 60 - 70% calo từ khẩu phần lương thực Ngay ở Nhật Bản - nước công nghiệp phát triển thứ hai sau Mỹ, riêng lúa gạo cũng đã cung cấp 40 - 50%û calo cho 125 triệu dân Như vậy, tỷ lệ năng lượng cần thiết để đảm bảo
Trang 8cuộc sống cho con người ở nhiều quốc gia, nhất là những nước đang phát triển ở châu Aï, trên thực tế vẫn dựa phần lớn vào lúa gạo.
Gạo ngoài mục đích chủ yếu là cung cấp lương thực cho con người, còn được sử dụng làm thưc ăn cho gia súc, chế biến bánh kẹo, bia rượu trong công nghệ thực phẩm Những sản phẩm phụ sau khi thu hoạch và chế biến lúa được dùng làm thức ăn gia súc (cám, rơm rạ) hay nguyên liệu sản xuất các loại nấm ăn
Ởí Việt Nam - nước nông nghiệp - nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới, trồng lúa vẫn là nghề quan trọng bậc nhất trong xản xuất nông nghiệp, thu hút gần 70% lao động xã hội cả nước Lúa gạo vừa đảm bảo an ninh lương thực, vừa mang lại lợi ích kinh tế khá lớn đồng thời giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước
Trên thế giới, lúa gạo cũng có ý nghĩa kinh tế - xã hội
to lớn Riêng ở ba nước có dân số chiếm gần nữa dân số toàn cầu là Trung Quốc, Âún Độ và Indonesia, lúa gạo là loại lương thực chính được tiêu dùng lâu đời Lúa gạo chi phối đến đời sống chính trị - xã hội ở nhiều nước, vì thế chúng
ta cũng dễ dàng hiểu được tại sao nhiều năm qua nước Mỹ coi lúa gạo là nông sản chính trị lợi hại và họ vẫn duy trì xuất khẩu gạo theo "Công luật 450" của mình
2.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ gạo trên thế giới
2.4.1 Tình hình xản xuất gạo trên thế giới
2.4.1.1 Tình hình sản xuất chung
Bảng 1: Sản lượng lúa gạo của thế giới (1990-2003)
Trang 9Năm Tổng sản lượng toàn cầu (triệu
Nguồn: FAO: Production Year Book 2005
Do đặc thù của nền sản xuất nông nghiệp, sản xuất lúa gạo phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên Đồ thị phát triển của sản xuất lúa gạo trên thế giới không phải là một đường đồng biến liên tục theo mức tăng dân số mà có những đoạn lõm nhỏ Sản lượng lúa gạo toàn cầu tăng không ổn định trong thời gian qua vì tình hình canh tác của các nước sản xuất phụ thuộc nhiều vào biến động của thiên tai như: lũ lụt, hạn hán, sâu bệnh
2.4.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở các khu vực
Có thể xem xét tình hình sản xuất lúa gạo ở các khu vực trong những năm gần đây thông qua bảng 2
Trong các châu lục, thì châu Aï đoúng góp chủ yếu vào sản lượng gạo thế giới Số liệu thống kê của FAO cho thấy sản lượng lúa của châu Aï chiếm tới 91,8% trong năm 2003 Sản lượng lúa của các khu vực còn lại chỉ chiếm gần 8,2% Trong số đó phải kể đến châu Mỹ, tiếp đến là khu vực châu Phi, tập trung chủ yếu ở vùng hạ sa mạc Xahara Châu Âu và Châu Đại Dương có sản lượng lúa gạo không đáng kể
Trang 10Sản xuất lúa gạo ở châu Aï tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển Do vậy trình độ sản xuất và khả năng thâm canh nói chung bị hạn chế so với các nước phát triển Kết quả là có sự khác biệt rõ rệt về năng suất lúa giữa hai nhóm nước này Những năm gần đây năng suất trung bình của nhiều nước phát triển như Mỹ đạt 64 - 67 tạ/ha, Nhật Bản là 62 - 64 tạ/ha, thì con số này ở các nước đang phát triển thường đạt mức thấp, cụ thể Campuchia 13 tạ/ha, Thái Lan là 21 - 24 tạ/ha, Âún Độ 26 - 28 tạ/ha, Pakistan 26 - 27 tạ/ha Có thể thấy năng suất lúa trung bình ở các nước phát triển cao gấp từ 2 đến 3 lần năng suất lúa bình quân của các nước đang phát triển.
Hiện nay trên thế giới diện tích trồng lúa ở hầu hết các quốc gia đều có xu hướng bị thu hẹp, do đất trồng lúa
bị chuyển đổi thành đất sản xuất và đất ở trong điều kiện công nghiệp hoá và bùng nổ dân số hiện nay Vì thế để tăng sản lượng lúa, hàng loạt nước đã đẩy mạnh sản xuất lúa gạo theo hướng thâm canh tăng vụ và thu được nhiều tiến bộ đáng kể
Bảng 2: Sản lượng lúa gạo theo khu vực (1998 - 2003)
thóc
1998 1999 2000 2001 2002 2003 Tỷ
trọng 2003(%)Toàn thế
544,4
522,1 533,
3
91,8Châu Phi 15,1 16,8 16,9 16,6 16,9 11,4 2,0Bắc Mỹ 9,0 10,0 9,2 12,2 12,2 11,1 1.9Mỹ La tinh 21,9 20,6 20,9 22,2 22,3 21,6 3,7
Trang 112.4.2 Tình hình tiêu thụ gạo trên thế giới
Mức tiêu thụ gạo trên thế giới hiên nay luôn phụ thuộc sâu sắc vào tình hình sản xuất và khả năng cung cấp của các nước sản xuất gạo Theo thống kê của FAO trong 7 năm (1989 - 1995) mức tiêu thụ gạo của thế giới đã tăng từ 346 triệu tấn lên 376 triệu tấn, tăng gần 8% , trong khi đó mức tăng dân số là 11,5% Theo các chuyên gia FAO, để đảm bảo tình hình tiêu thụ ổn định thì mức tăng sản xuất lúa gạo hàng năm, phải gấp từ 1,5 đến 2 lần mức tăng dân số Như vậy, mức tiêu thụ gạo của thế giới tăng chậm, do bị khống chế bởi khả năng sản xuất
Xét theo từng châu lục, mức tiêu thụ gạo là rất khác nhau Có thể thấy được một phần tình hình tiêu thụ lúa gạo qua bảng 3
Bảng 3: Tình hình tiêu thụ gạo của các khu vực trong năm
Nguồn: FAO: Year Book Statistics 1996
Nét bao trùm nhất là lượng tiêu thụ gạo tập trung chủ yếu ở châu Aï - quê hương, đồng thời cũng là nơi sản xuất và tiêu thụ lúa gạo nhiều nhất, chiếm trên 90% tổng lượng tiêu thụ thế giới Các châu lục khác như châu Mỹ, châu Phi, châu
Trang 12Âu và châu Đại Dương mức tiêu thụ gạo xem như không đáng kể Với dân số 3.720 triệu người, chiếm 60,9% tổng dân số toàn thế giới (năm 2001), châu Aï thực sự là một thị trường tiêu thụ gạo rộng lớn của thế giới Riêng Trung Quốc và Âún Độ hai nước đã chiếm gần 38% về dân số đã tiêu hết 54% lượng gạo toàn cầu Tiếp đó là quốc gia Đông Nam Aï - Indonexia mức tiêu thụ lúa gạo gần bằng tổng lượng gạo tiêu thụ của bốn châu lục còn lại Ngoài các nước châu Aï, Braxin với dân số 162 triệu dân là quốc gia tiêu thụ gạo đáng kể của châu Mỹ Châu Phi có Nigieria và Ai Cập cũng là hai nước tiêu thụ gạo lớn.
2.5 Tình hình sản xuất lúa trong nước
Trước khi đề cập đến tình hình sản xuất lúa gạo hiện tại, việc điểm qua quá trình phát triển của ngành sản xuất này trong quá khứ sẽ giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn về vấn đề này
+ Thời kỳ Pháp thuộc ( 1884 - 1945):
Ởí thời kỳ này sản xuất lúa - nghề nông nghiệp độc tôn lâu đời ở nước ta nằm trông kế hoạch khai thác thuộc địa Đông Dương của thực dân Pháp Lợi ích của nó gắn chặt với tầng lớp thực dân, phong kiến
Tầng lớp bần cố nông chiếm trên 80% dân số nhưng chỉ sở hữu 13,2% tổng số ruộng đất Họ lại phải chịu mức tô thuế nặng nề, mức tô thuế thường chiếm trên một nửa sản phẩm thu hoạch Đây là thời kỳ khó khăn nhất của người nông dân Việt Nam Trình độ sản xuất còn thấp kém, chủ yếu bằng phương pháp quảng canh, nên năng suất thấp chỉ từ 10 đến 12 tạ/ha Tuy nhiên do sức ép dân số chưa lớn, nên vào năm hưng thịnh (1930) sản lượng lúa bình quân đầu người đã
Trang 13đạt 296 kg/người/năm Sản lượng lúa 1930 đạt 5,2 triệu tấn chiếm 90% tổng sản lượng lương thực Diện tích trồng lúa thời kỳ này đã gần 5 triệu ha Nhìn chung sản xuất lúa gạo vẫn phát triển.
+ Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1945 - 1975):
Đây là thời kỳ sản xuất lúa gạo gặp nhiều khó khăn, do nước ta phải tập trung sức người, sức của phục vụ cho kháng chiến Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, diện tích canh tác lúa bị thu hẹp rõ rệt so với trước Cách mạng tháng tám Năm 1950, diện tích chỉ còn ở mức 3,8 triệu ha, sản lượng 4,49 triệu tấn thóc, năng suất chỉ đạt 11,8 tạ/ha
Bước vào giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, miền Bắc xã hội chủ nghĩa tiến hành cải cách ruộng đất và Hợp tác hoá nông nghiệp Số liệu thống kê (bảng 4) cho thấy từ năm
1955 - 1974 sản lượng lúa tăng 66% , chủ yếu là do thâm canh tăng vụ, diên tích tăng rất ít, do điều kiện đất nước có chiến tranh Năng suất có được cải thiện nhưng không đáng kể Năm 1974, năng suất tăng nhưng vẫn còn ở mức thấp, năm
1974 đạt 24,8 tạ/ha tăng 51% so với năm 1955 Thêm vào đó dân số tăng, sản lượng thóc bình quân đầu người không tăng mà còn giảm sút Nói chung trong giai đoạn này sản xuất lúa miền Bắc với công nghệ sản xuất lạc hậu, phát triển chậm và trì trệ kéo dài Còn ở miền Nam, sản xuất lúa tăng theo xu hướng TBCN Tuy diện tích trồng lúa đạt trên 3 triệu ha nhiều hơn miền Bắc 20 - 30% nhưng sản lượng không cao hơn là bao, tính trung bình từ năm 1955 đến 1974 chỉ hơn 10 - 15% , và sản xuất trong tình trạng trì trệ
Bảng 4: Tình hình sản xuất lúa của miền bắc 1955 - 1974
Năm Sản Diện Năng Mức lương Riêng thóc
Trang 14(1000 tấn)
(1000 ha) (tạ/ha)
quân (kg/người)
+ Thời kỳ sau thống nhất đất nước đến năm 1989:
Sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, miền Bắc tiếp tục sản xuất lúa theo hình thức hợp tác xã, miền Nam thực hiện hợp tác xã hoá nông nghiệp Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến tình hình sản xuất lúa ở nước ta Có thể thấy rõ tình hình sản xuất lúa giai đoạn 1975 - 1989 qua bảng 5
Bảng 5: Sản xuất lúa ở nước ta từ năm 1975 - 1989
Năm Sản lượng
(1000 tấn)
Diện tích(1000 ha)
Năng suất(tạ/ha)
Khối lượng thóc/người
Trang 15nhất, chỉ đạt 190,1 kg Giai đoạn (1981 - 1986) sản lượng lúa tăng chậm và không ổn định.
Về diện tích: Thời kỳ này diện tích có tăng nhưng tăng chậm, trong suốt 14 năm chỉ tăng được 18% Cho đến năm
1988 chỉ đạt 5,7 triệu ha
Về năng suất: Năng suất lúa có tăng nhưng không đáng là bao, nó vẫn còn ở mức thấp 29,7 tạ/ha vào năm 1988 Điều đó chứng tỏ trình độ canh tác lạc hậu, trong điều kiện hạn chế về chính sách, về mặt tổ chức, quản lý nông nghiệp thời kỳ này
+ Lúa gạo Việt Nam từ năm 1989 đến nay:
Tình hình sản xuất lúa gạo Việt Nam từ năm 1989 đến nay có những thay đổi được thể hiện qua bảng 6
Bảng 6: Sản xuất lúa Việt Nam từ 1989 - 2004.
Năm Sản lượng
(1000 tấn)
Diện tích(1000 ha)
Năng suất(tạ/ha)
Sản lượng bình quân (kg/người)
Nguồn: Niên giám thống kê qua các năm.
Từ những số liêu trên, chúng ta thấy tình hình sản xuất lúa gạo của Việt Nam đã phát triển hơn hẳn thời kỳ trước cả về sản lượng, diện tích và cả về năng suất Suốt 14 năm sản lượng lúa có xu hướng tăng nhanh và ổn định Năm 2003 sản lượng đạt hơn 3,4 triệu tấn tăng 81% so với năm 1989 Trong động thái phát triển chung đó, tốc độ tăng trưởng từ năm 1992 trở đi càng nhanh chống và vững chắc hơn Năm 1989
Trang 16đã mở đầu cho xuất khẩu gạo Việt Nam, với số lượng ngày một lớn Tính trung bình tốc độ tăng trưởng hàng năm là 5,5% vượt xa so với tất cả các thời kỳ trước.
Xu hướng tăng diện tích cũng liên tục và đều đặn qua các năm Năm 2003 diện tích canh tác đạt hơn 7,4 triệu ha, tăng 26% so với năm 1989 Có được lượng tăng này chủ yếu là do thâm canh tăng vụ, nhất là vụ hè thu, thứ đến là vụ đông xuân
So với sản lượng và diện tích thì xu hướng tăng năng suất ở thời kỳ này có thấp hơn đôi chút Do thiên tai nên năm 1990 và
1991 năng suất bị dảm sút, nhưng có thời kỳ vẫn tăng 43% Năng suất lúa Việt Nam nói chung vẫn còn thấp so với nhiều nước châu Aï như: Trung Quốc 64 tạ/ha, Hàn Quốc 69 tạ/ha (năm 1999)
Nhìn chung sản xuất lúa của Việt Nam từ năm 1989 đến nay trên đà phát triển nhanh và ổn định Kết quả đó có được là nhờ sự đổi mới trong cơ chế quản lý của Nhà nước, biểu hiện qua Nghị quyết 10 của bộ nông nghiệp (4/1988), đã phát huy mạnh mẽ quyền tự chủ của người nông dân Ngoài đảm bảo vững chắc mục tiêu an ninh lương thực, còn đưa Việt Nam lên vị trí xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới Chúng ta có thể tham khảo quá trình xuất khẩu gạo của Việt Nam từ năm 1989 đến 2003 qua bảng sau:
Bảng 7: Số lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo của
Việt Nam qua các năm.
Trang 17Hiện nay trình độ sản xuất lúa gạo của Việt Nam đã được nâng cao rõ rệt, do được ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ sinh học Nhiều giống lúa mới có năng suất cao, phẩm chất đáp ứng nhu cầu, khả năng thích nghi tốt được đưa vào sản xuất thay thế dần các giống cũ, kém ưu việt Một số giống lúa như
IR 7027, IR 64, IR 59606 (hay OM 94), OM 996 - 6 và OM 1327 - 14 được trồng ở đồng bằng sông Cửu Long vừa có năng suất khá, vừa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Giống luá mùa cao sản
IR 42 hay NN 4 được trồng ở đồng bằng sông Hồng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, được nông dân ưa thích, vì có khả năng chịu phèn, chịu mặn tốt, đạt năng suất cao mà thời gian canh tác ngắn từ 140 ngày đến 150 ngày
Giống lúa ngắn ngày X21 và giống lúa lai hệ 3 dòng HR
1 cũng được trồng phổ biến Bên cạnh những giống lúa trồng thường, một số giống lúa đặc sản như lúa Tám, Nếp cái hoa vàng, Nàng hương đang được chú trọng, mở rộng diện tích phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng
Ngoài lĩnh vực sinh học, nghề trồng lúa Việt Nam được thúc đẩy bởi cơ giới hoá, công tác thuỷ lợi, phân bón, bảo vệ thực vật Việc áp dụng gieo sạ cho phần lớn diện tích, thay thế cho cấy vừa giảm bớt công sức của người nông dân, vừa tiết kiệm được chi phí đầu vào (thóc giống) Trong điều kiện hiện nay, tiềm năng phát triển của ngành sản xuất lúa nước ta còn rất lớn Theo dự tính nếu năm 2010 nếu năng suất lúa đạt 53 tạ/ha thì sản lượng lúa của Việt Nam sẽ vượt 4 triệu tấn thóc [14, 293]
2.5.2.Các vùng sản xuất lúa gạo của Việt Nam
Sản xuất lúa gạo của nước ta trải dài 7 vùng sinh thái từ Bắc đến Nam Bảng sau cho thây khả năng sản xuất lúa của từng vùng
Trang 18Bảng 8: Sản lượng lúa gạo theo 7 vùng của Việt Nam
Đơn vị tính: 1000 tấn.Vùn
ĐBSH BTB DHNTB
Tây Nguyê n
ĐNB ĐBSCL
2001 32.529,
5 2690,6
6419, 4
2966,
9 1707,1 646,2
1680, 7
15997, 5
2002 34.447,
2 2832,1
6752, 2
3156,
9 1711,0 606,6
1679, 7
17709, 6
2003 34.518,
6 2947,7
6488, 8
3218,
3 1867,4 734,2
1738, 1
17524, 1
Nguồn: Niên giám thôïng kê 2004
+ Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL):
Đây là vựa lúa lớn nhất nước ta Diện tích và sản lượng lớn gấp 3 lần đồng bằng sông Hồng Năm 2003 dân số vùng ĐBSCL có 16,4 triệu dân chiếm 21,1% dân số toàn quốc, nhưng chiếm tới 51,3% về sản lượng và 51,4% về diện tích cả nước Trong vùng có 3 tỉnh sản xuất lúa lớn, sản lượng trên 2 triệu tấn là An Giang, Đồng Tháp và Kiên Giang Khả năng mở rộng sản xuất đảm bảo cho an ninh lương thực và xuất khẩu gạo của vùng rất lớn
+ Vùng đồng bằng sông Hồng(ĐBSH):
Vùng đồng bằng sông Hồng là vựa lúa lớn thứ 2 của cả nước Năm 2003 chiếm 20,3% sản lượng và 15,8% diện tích lúa cả nước Độ phì nhiêu của hai vùng là tương đương nhau, nhưng khả năng cho năng suất lúa của ĐBSH cao hơn ĐBSCL Do dân số vùng tăng nhanh, diện tích đất trồng lúa đang bị thu hẹp, nên khả năng tăng sản lượng trong tương lai bị hạn chế
+ Vùng trung du miền núi phía Bắc:
Trang 19Vùng này có những cánh đồng phẳng, rộng như hai châu thổ trên, đất đai kém phì nhiêu hơn và khó khăn về nước tưới Sản lượng và diện tích của vùng chiếm 9,4% và của cả nước12%, là vùng có sản lượng lúa đứng thứ 3 cả nước.
+ Vùng Bắc Trung Bộ :
Vùng khu Bốn cũ có sản lượng lúa chiếm 8,7% và diện tích chiếm 9,1% toàn quốc Sản lượng lúa của vùng này những năm gần đây tăng tương đối đều, năng suất lúa cũng cao hơn vùng Trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên
+ Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ:
Hiện chiếm 5,5% về diện tích, và 5,2% về sản lượng lúa cả nước đứng thứ 3 về năng suất sau ĐBSCL và ĐBSH
+ Vùng Đông Nam bộ và Tây Nguyên:
Vùng này chiếm 9,2% về diện tích và chiếm 7,0% về sản lượng lương thực cả nước Diện tích trồng lúa của vùng không đáng kể, năng suất lại thấp Nóï có điều kiện thuận lợi trong phát triển các loại cây công nghiệp hơn là lúa
2.5.2 Tình hình sản xuất lúa của tỉnh Quảng Bình trong những năm gần đây
Trong những năm gần đây, hoà mình vào công cuộc đổi mới chung của đất nước, nông nghiệp của tỉnh Quảng Bình đã có những thay đổi đáng kể Về cơ chế quản lý, tỉnh coi chuyển đổi hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo kiểu mới là nhiệm vụ quan trọng nhằm thiết lập lại quan hệ sản xuất ở nông thôn, tạo điều kiện để đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Bên cạnh việc đổi mới cơ chế quản lý, nhiều chính sách mới cũng được ban hành, như chính sách phát triển hàng hoá nông sản xuất khẩu, chính sách trợ giá cho sản xuất lương thực cùng với luật đất đai, luật HTX của Nhà nước đã thực sự là động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là nghề trồng lúa phát triển
Trang 20Bảng 9 cung cấp cho chúng ta một số thông tin về tình hình sản xuất lúa ở Quảng Bình từ năm 1995 trở lại đây:
Bảng 9: Diện tích và năng suất lúa vùng Bắc Trung Bộ và
Nguồn: Niên giám thống kê 2004
Các số liệu trên cho thấy từ năm 1995 đến năm 2003 về diện tích, năng suất, sản lượng đều tăng Về diện tích tăng 3,9%, năng suất tăng 57,4%, sản lượng tăng 67,3% Trong khi vùng Bắc trung bộ các chỉ tiêu này lần lượt là 1,8%, 47,5% và 50,3% Tuy nhiên, hiện nay quĩ đất trồng lúa của tỉnh đang
bị thu hẹp Việc tăng sản lượng có được là do thâm canh tăng vụ và tăng năng suất lúa, sản xuất lương thực (đặc biệt là lúa) vẫn mang tính tự cung, tự cấp An ninh lương thực chưa thật sự vững chắc
Tỉnh Quảng Bình đang đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi cơ cấu giống lúa và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, trên cơ sở đầu tư về thuỷ lợi (xây dựng hệ thống hồ đạp chứa nước như đập Phú Vinh, Vực Nồi ), đầu tư về phân bón, bảo vệ thực vật và phát triển hệ thống cung ứng giống, vật tư đồng thời đẩy mạnh hoạt động khuyến nông
Trong công tác giống, đặc biệt là việc xác định cơ cấu giống hợp lý, đã có những tác động lớn đến việc nâng cao năng suất lúa của tỉnh Một số giống như: VN 10, VN 20, X21, Xi23, IR35366 trong vụ đông xuân hay IR 50404, CN 2, HT1, DT122
Trang 21trong vụ hè thu đã tỏ ra có hiệu quả cao Mặc dù vậy, việc đưa những giống lúa mới có năng suất cao hơn, thơm ngon hơn, thích nghi tốt hơn với khí hậu, đất đai của Quảng Bình vẫn luôn là mong muốn thiết thực của người trồng lúa nơi đây.
2.6 Cơ sở khoa học của đề tài
+ Đánh giá đặc điểm, tính trạng cây trồng.
Giống cây trồng là sản phẩm cuối cùng của quá trình tạo giống Mỗi giống có cấu trúc di truyền khác nhau, vì vậy mỗi giống có mỗi đặc trưng riêng và độ đồng đều hình thái riêng Tất cả các chương trình về giống cây trồng đều nhằm tạo ra những giống mới, có tính trạng ưu việt hơn giống đang sử dụng về các mặt: năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu với sâu bệnh và các điều kiện ngoại cảnh bất lợi Mặt khác, một số tính trạng nông học như: độ chín sớm, thích hợp cho thu hoạch cơ giới, chống đổ ngã phải đảm bảovà giống đó phải đáp ứng được số chỉ tiêu thuộc về thị hiếu của người tiêu dùng
+ Đánh giá giống lúa trong thí nghiệm nghiên cứu.
- Đánh giá về thời gian sinh trưởng của cây lúa.
Thời gian sinh trưởng và chu kỳ phát dục ở các giống có
ý nghĩa quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, vì nó quyết định đến việc xác định cơ cấu mùa vụ, các giống cây khác nhau thì có thời gian sinh trưởng, thời kỳ phát dục khác nhau ở cùng một vùng sinh thái có những giống lúa sau 70 đến 80 ngày đã chín, ngược lại có những giống phải sau 200 ngày
Nhân tố ảnh hưởng và có tính quyết định đến thời gian sinh trưởng, phát dục của cây trồng là điều kiện ngoại cảnh, bao gồm; độ dài ngày, nhiệt độ, cường độ chiếu sáng Với cây lúa, các thí nghiệm về mối tương quan giữa thời gian sinh trưởng và năng suất do Viện lúa quốc tế (IRRI) tiến hành trong vụ xuân cho thấy: các giống lúa có thời gian sinh trưởng dài hay ngắn quá đều cho năng suất thấp Trong khi các giống
Trang 22từ 120 ngày đến 135 ngày, có khả năng cho năng suất cao hơn Theo Khush G.S (1990)với thời gian sinh trưởng dài, tỷ lệ sản xuất chất khô lớn, nhưng tỷ lệ hạt/rơm rạ lại thấp, riêng các giống lúa có thời gian sinh trưởng từ 130 ngày đến 150 ngày thì tỷ lệ này đạt cao nhất.
- Đánh giá tính chống chịu của các giống lúa với điều kiện ngoại cảnh bất thuận.
Tính chống chịu của cây là khả năng thích ứng với điều kiện môi trường biến đổi ở một giai đoạn sinh trưởng nào đó, so với môi trường chuẩn và khả năng chống chịu lại sự tấn công của sâu bệnh hoặc khả năng phục hồi, bù đắp những thiệt hại do sâu bệnh hay yếu tố ngoại cảnh bất lợi gây ra và khả năng phục hồi của giống lúa
- Đánh giá năng suất của các giống lúa.
Năng suất là yếu tố tổng thể quan trọng nhất, quyết định giống lúa có được sử dụng rộng rãi hay không Với cây lúa, năng suất lý thuyết trên một đơn vị diện tích được xác định bằng số bông, số hạt chắc trung bình và P1000 hạt Tuy nhiên, giống những cây trồng thường gắn liền với môi trường sinh thái và có sự thay đổi trong trong một khoảng thời gian nhất định theo từng năm, nên ngoài tiêu chuẩn đánh giá năng suất cuối cùng, người ta còn quan tâm đến yếu tố cấu thành năng suất Một giống lúa thường đạt được năng suất tối đa trong môi trường sống thuận lợi nhất, năng suất đó gọi là năng suất lý thuyết tính theo đơn vị kg/ha
Việc đánh giá vật liệu chọn giống theo năng suất rất phức tạp, do tính trạng số lượng tạo thành năng suất biến động mạnh Các chỉ tiêu: số nhánh hữu hiệu, số hạt trên bông và P1000 hạt biến động rất nhiều dưới những ảnh hưởng của những biến động canh tác khác nhau và sự thay đổi của khí hậu thời tiết hoặc môi trường Kết quả là năng suất cá
Trang 23thể của cùng một giống thay đổi, vượt trội hoặc thấp hơn năng suất trung bình của chính giống đó.
Để các số liệu về năng suất thu thập được chính xác hơn, trong thí nghiệm quy định một ô thí nghiệm cần có diện tích không nhỏ hơn 5 m2 và bố trí tối thiểu lặp lại 3 lần Năng suất thực tế của các thí nghiệm cần được tính toán ở một điều kiện chuẩn với ẩm độ hạt là 14% và đơn vị tính là kg/ha
Giống ổn định là giống có năng suất gần như không thay đổi trong nhiều điều kiện môi trường sống khác nhau (điểm thí nghiệm/năm thí nghiệm) Độ ổn định của giống biểu thị phản ứng trung bình của giống đối với sự thay đổi của môi trường sinh thái mà giống đó được gieo trồng
Trang 24+ Đánh giá chất lượng lúa gạo của các giống lúa.
- Hình thức bên ngoài của hạt: Dạng hạt, màu sắc,độ trong và độ bóng
- Chất lượng xay xát: Tỷ lệ gạo xát trắng và tỷ lệ gạo nguyên
- Chất lượng cơm: Hàm lượng amyloza, nhiệt hoá hồ, độ bền thể gen và độ nở của cơm
- Chất lượng dinh dưỡng: Hàm lượng protein, ảnh hưởng của môi trường đến chất lượng gạo
- Đối với độ bạc bụng: Tuy không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cơm nhưng độ bạc bung làm giảm chất lượng xay xát và vẽ đẹp bên ngoài của hạt Độ bạc bụng có thể giảm bớt bằng cách thay đổi độ rộng của hạt và thay đổi tình trạng của cây trên đồng ruộng Nhiệt độ cao và biên độ ngày đêm chênh lệch nhiều (35/25 0C) trong quá trình sinh trưởng phát triển của cây lúa đã làm tăng tỷ lệ bạc bụng ở gạo ( Bangwaek và cộng sự , 1994)
- Đối với chất lượng cơm: Tinh bột chiếm trên 80% trong hạt gạo, nó được hình thành do hai đại phân tử amyloza (mạch thẳng) và amylopletin (mạch nhánh) Hàm lượng amyloza được xem là thành phần quan trọng nhất khi xét về phẩm chất cơm bởi vì nó quyết định đến độ mềm hoặûc cứng của hạt cơm Càng nhiều amyloza thì cơm càng cứng, ít amyloza nhiều amylopetin thì cơm càng dẻo
- Đối với chât lượng dinh dưỡng: Hàm lượng protein là một trong những thông số quan trọng của giá trị dinh dưỡng của hạt gạo Ngoài ra chất lượng gạo còn có thể bị ảnh hưởng bởi các đặc tính giống, phân bón, thời điểm thu hoạch và công nghệ sau thu hoạch
+ Mối quan hệ giữa điều kiện khí hậu và cây trồng.
Trong thực tiễn sản xuất, cây trồng chịu tác động rất lớn bởi điều kiện khí hậu, thời tiết Tiềm năng năng suất của
Trang 25giống cũng như hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật chỉ phát huy đầy đủ trong điều kiện thuận lợi về thời tiết trong các mùa vụ và các vùng lãnh thổ khác nhau Các yếu tố thời tiết cụ thể như nhiệt độ, số giờ nắng, cường độ bức xạ, lượng mưa, lượng bốc hơi nước thay đổi thì hiệu ứng đối với cây trồng như: thời gian sinh trưởng, sự quang hợp, hô hấp, tích luỹ chất khô, thụ phấn và cả phẩm chất của sản phẩm cũng thay đổi theo
Xét về quan điểm sinh lý thực vật, thì các đặc tính sinh lý, sinh hoá, cũng như năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của cây trồng đều chịu sự tác động của yếu tố khí hậu, thời tiết Cho nên đối với cây lúa, mỗi giống được trồng ở các vùng có điều kiện khí hậu, thời tiết khác nhau thì có những phản ứng không giống nhau
Việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa cây cây lúa và điều kiện thời tiết, khí hậu là cơ sở khoa học để bố trí cơ cấu giống, cơ cấu mùa vụ hợp lý tại một vùng sản xuất cụ thể
Trang 26PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG
NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu.
- Thí nghiệm gồm 6 giống lúa: PD314; CH206; TB12; TL3; CH208 và Xi23 trong đó Xi23 là đối chứng
- Nguồn gốc và một số đặc điểm của các giống
Bảng1: Nguồn gốc và một số đặc điểm của các giống
Thời giansinh trưởng(ngày)
Chiều cao
cây(cm)Xi23(đ.c) Viện KHKTNN Việt Nam 154 100,1
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới han trong nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển, khả năng chống chịu, khả năng cho năng suất và một số chỉ tiêu về phẩm chất hạt gạo
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn RCB gồm 6 công thức 3 lần nhắc lại Sơ đồ:
BẢO VỆ
Trang 27BẢO VỆ Chữ số La Mã kí hiệu các công thức thí nghiệm:
Khoảng cách giữa các ô thí nghiệm (hàng công tác): 0,3m
Tổng diện tích thí nghiệm : 313,72 m2
3.3.2 Điều kiện thí nghiệm
* Điều kiện đất đai:
Thí nghiệm được bố trí trên đất chuyên lúa một năm 2 vụ của trại giống lúa Phúc Lý thuộc huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình Đất có thành phần cơ giới nhẹ, độ phì trung bình, hơi chua và chủ động về tưới tiêu
* Điều kiện thời tiết khí hậu:
Một số yếu tố thời tiết khí hậu trong vụ đông xuân 2004-
2005 ở Quảng Bình được thể hiện qua bảng sau:
Bảng2: Diễn biến thời tiết khí hậu trong vụ Đông Xuân
2004-2005 ở Quảng Bình.
Chỉ tiêu
Tháng
Nhiệt độ không khí (0C)
Âøm độkhông khí(%)
Lượng mưa (mm)
Số giờ nắng (h)
Trang 28Qua số liệu ở bảng 2 chúng tôi nhận thấy:
+ Về nhiệt độ : Nhiệt độ tháng 12 - 2004 khá ấm áp thuậnlợi cho giai đoạn hạt nảy mầm và sự xuất hiện những lá đầu tiên Sang tháng 1 nhiệt độ giảm xuống kéo dài giai đoạn cây lúa ở ruộng mạ, sau đó tăng lên vào tháng 2 thuận lợi cho giai đoạn bén rễ hồi xanh và đẻ nhánh của lúa Vào tháng 3 nhiệt độ giảm xuống chút ít, tháng 4 nhiệt độ tăng là điều kiện tốt cho lúa trổ bông vào chắc và chín
+ Về ẩm độ không khí: Âøm độ không khí tăng dần từ tháng12 - 2004 đến tháng 1- 2005, có giảm xuống chút ít vào tháng 3 sau đó giảm hẳn vào tháng 4 Nhìn chung diễn biến của ẩm độ không khí thuận lợi cho qua trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa
+ Về lượng mưa: Lượng mưa giảm dần từ tháng 12 -
2004 đến 2- 2005, sang thnág 3 lượng mưa tăng thuận lợi cho quá trình phân hoá đòng Tháng 4 lượng mưa giảm (37,0 mm) cũng là lúc lúa trổ làm hạt Nhìn chung diễn biến lượng mưa khá thuận lợi cho quá trình lúa sinh trưởng phát triển.+ Về số giờ nắng: Số giờ nắng cao nhất vào tháng 12 -2004 (132 giờ) sau đó giảm dần và gần tương đương nhau trong các tháng 1, 2, 3 (97, 92, 94 giờ) Số giờ nắng trong 3 tháng này thấp đã kéo dài giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng và hạn chế hiệu suất quang hợp của cây lúa Sang tháng 4 số giờ nắng tăng cao đồng nghĩa với việc cung cấp một
Trang 29lượng nhiệt lớn thuận lợi cho quá trình đồng hoá và tích luỹ chất dinh dưỡng vào hạt
3.3.3 Quy trình kỹ thuật
- Làm đất: Đất được tiến hành cày bừa nhuyễn, bằng
phẳng, sạch cỏ dại Trước khi cấy sử dụng thước và dây chia ô thí nghiệm
- Thời vụ: Bắc mạ 17/12/2004, cấy 24/01/2005.
- Mật độ cấy: 64 khóm/m2
* Cách bón: Chia làm 4 lần
+ Bón lót: Toàn bộ phân chuồng và vôi
13kg lân Lâm Thao/sào
7kg NPK/sào
+ Bón thúc đợt 1(sau cấy 19 ngày): 4,5 kg Urê/sào
+ Bón thúc đợt 2 (sau cấy 30 ngày): 2kg Urê/sào
+ Bón thúc đợt 3(trước trổ 25 ngày): 1kg Urê/sào
- Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh:
+ Làm cỏ: Làm cỏ sục bùn lần 1 khi lúa bén rễ hồi xanh và lần 2 sau lần 1 khoảng 12 ngày kết hợp với 2 lần bón thúc
+ Tưới tiêu: Từ cấy đến kết thúc đẻ nhành giữ mức nước 4 - 6 cm, kết hợp rút nước phơi ruộng Các giai đoạn sau mực nước không quá 10 cm
+ Phòng trừ sâu bệnh: Định kỳ theo dõi kịp thời phát hiện sâu bệnh Không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nếu chưa đạt đến ngưỡng gây hại
Trang 30+ Thu hoạch: Trước khi thu hoạch mỗi công thức 10 khóm đem vào phong theo dõi các chỉ tiêu cần thiết Gặt kịp thời khi có khoảng 85% số hạt/bông đã chín Thu riêng từng ô và phơi cho đến khi độ ẩm đạt 14%, cân khối lượng (kg/ô).
3.4 Nội dung theo dõi
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi
3.4.1.1 Thời gian sinh thưởng và phát triển của các giống (ngày)
Thời gian từ khi gieo đến:
- Cấy
- Bén rễ hồi xanh
- Bắt đầu đẻ nhánh
- Kết thúc đẻ nhánh
- Làm đòng
- Bắt đầu trổ (10% số bông trổ)
- Kết thúc trổ ( 80- 85% số bông trổ)
- Chín
3.4.1.2 Các chỉ tiêu về sinh trưởng
- Chiều cao cây qua các giai đoạn:
+ Giai đoạn mạ
+ Giai đoạn đẻ nhánh rộ
+ Giai đoạn đứng cái
+ Giai đoạn trổ
+ Giai đoạn chín hoàn toàn
- Số lá trên cây (hay tuổi lá)
- Tốc độ ra lá (số lá/ngày) = số lá theo dõi lần sau - số lá theo dõi lần trước/ thời gian giữa 2 lần theo dõi
- Khả năng đẻ nhánh của các giống:
+ Số nhánh ban đầu
+ Số nhánh tối đa
+ Tỷ lệ nhánh hữu hiệu = số nhánh thành bông/ số nhánh cao nhất
Trang 31+ Hệ số đẻ nhánh = số nhánh cao nhất/ số nhánh ban đầu.
3.4.1.3 Một số chỉ tiêu về đặc tính hình thái
- Chiều cao cây cuối cùng
- Chiều dài bông
- Diện tích lá đòng
- Goúc độ lá đòng
- Dạng cây
- Đặc điểm của bông
3.4.1.4 Một số chỉ tiêu theo dõi về sâu bệnh
*Sâu:
- Sâu cuốn lá: Tính tỉ lệ cây bị sâu ăn phần xanh của lá hoặc
lá bị cuốn thành ống.Theo dõi trong giai đoạn từ đẻ nhánh đến chín
- Sâu đục thân: Tính tỉ lệ dãnh chết ở giai đoạn đẻ nhánh,
làm đòng và bông bạc ở giai đoạn vào chắc đến chín
*Bệnh:
Bệnh đạo ôn, bệnh khô vằn, bệnh đốm nâu
Tình trạng bị sâu, bệnh được đánh giá theo thang điểm gồm 9 cấp của viện lúa quốc tế IRRI
3.4.1.5 Đánh giá khả năng chống đổ.
Đánh giá tính chống đổ theo thang điểm sau:
+ Điểm 0: không đô ø
+ Điểm 1: đổ nhẹ ( <20% diện tích bị ảnh hưởng)
+ Điểm 3: 20-40% diện tích bị ảnh hưởng
+ Điểm 5: 41-60% diện tích bị ảnh hưởng
+ Điểm 7: 61-80% diện tích bị ảnh hưởng
+ Điểm 9: >80% diện tich bị ảnh hưởng
3.4.1.6.Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
- Số bông/m2
- Số hạt chắc/bông
- Tỉ lệ lép(%)
Trang 32- P1000 hạt(g)
4 10
hạt 1000 P
x chắc/bông hạt
số
x 2 bông/m
Số
- Năng suất thực thu (tạ/ha)
- Hệ số kinh tế = NăngNăngsuất suất thựsinh vật c thuhọc
3.4.1.7 Phẩm chất của các giống
- Tỷ lệ gạo xay(%)
- Tỷ lệ gạo giã (%)
- Tỷ lệ bạc bụng (%)
- Độ nở của cơm
- Mùi thơm
- Độ dẻo
3.4.2 Phương pháp theo dõi
- Các chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển theo dõi 7 ngày/ lần, theo phương pháp cố định cây: cứ một ô thí nghiệm chọn ngẫu nhiên 10 cây
- Tình hình sâu bệnh: theo dõi 5 ngày/lần
+ Sâu hại: chọn mỗi ô 1m2 để đếm từng loại sâu hại
+ Bệnh: chọn 5 điểm trên 2 đường chéo góc, 1 điểm điều tra lấy 10 dãnh ngẫu nhiên Điểm điều tra cách bờ 2 m
- Số liệu thu thập được xử lí theo phương pháp thống kê sinh học trên máy tính cầm tay và máy vi tính
Trang 33dụng đất và hiệu lực phân bón nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất.
Nói về mối liên quan giữa thời giai sinh trưởng và phát triển với năng suất cây trồng Shouichi Youshida [13,143]cho
rằng: " Các giống có thời gian sinh trưởng quá ngắn có thể
không cho năng suất cao vì sự sinh trưởng dinh dưỡng hạn chế Những giống có thời gian sinh trưởng quá dài có thể không cho năng suất cao vì sự sinh trưởng dư có thể gây đổ ngã Khoảng 120 ngày từ khi gieo đến khi chín dường như tối hảo cho năng suất tối đa ở mức đạm cao trong vùng nhiệt đới".
Bảng 1: Thời gian sinh trưởng và phát triển của các giống
T
Thời gian từ gieo đến (ngày)
Cấ y
Bén rễ hồi xan h
Bắt đầu đẻ nhánh
Kết thúc đẻ nhánh
Là
m đòn g
Bắ
t đầ
u trổ
Kế
t thú
c trổ
Tổng T.G.S.T