Kể từ khi luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm 1987, không ai có thể phủ nhận những đóng góp to lớn mà nguồn vốn FDI đã mang lại cho sự phát triển kinh tế Việt Nam
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ khi luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm
1987, không ai có thể phủ nhận những đóng góp to lớn mà nguồn vốn FDI đãmang lại cho sự phát triển kinh tế Việt Nam Nó không chỉ góp phần thúc đẩy
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH, đẩy mạnh xuất khẩutạo dự trữ ngoại tệ cho nhà nước, mà còn dẫn nhập những công nghệ và kinhnghiệm quản lý tiên tiến vào việc phát triển kinh tế, tạo nhiều việc làm chongười lao động…
Mặt khác, Đại hội lần thứ IX của Đảng đã coi kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài là một thành phần kinh tế, là một bộ phận cấu thành của nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN được khuyến khích phát triển, hướng vàoxuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội Đại hội cũng đề ra nhiệm
vụ cải thiện nhanh môi trường kinh tế và pháp lý để nâng cao vai trò của vốnđầu tư nước ngoài
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, đặc biệt làkhi nước ta đã là thành viên thứ 150 của WTO, nền kinh tế Việt Nam nóichung và hoạt động đầu tư nước ngoài nói riêng đang đứng trước những cơhội và thách thức mới Việc đánh giá những cơ hội và thách thức này có ýnghĩa hết sức quan trọng trong việc tìm ra các giải pháp nhuằm nâng cao vaitrò của FDI đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam
Vì những lý do trên nên tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010” nhằm
làm rõ vấn đề lý luận và thực tiễn về FDI ở Việt Nam Được sự hướng dẫnnhiệt tình của TS Phạm Ngọc Linh cùng các thầy cô trong thư viện, tôi đãhoàn thành bài viết này Song do lượng kiến thức có hạn nên bài viết cònnhững thiếu sót và hạn chế, tôi mong bạn đọc cùng các thầy cô góp ý để bàiviết được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 2NỘI DUNG Chương I Những vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tưnước ngoài bỏ vốn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, để trực tiếp hoặc cùngvới đối tác nước sở tại điều hành đối tượng bỏ vốn đầu tư, hưởng lợi nhuậm
và chia sẻ rủi ro
Tổ chức thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa về FDI như sau:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI = Foreign Direct Investment ) xảy rakhi một nhà đầu tư từ một nước ( nước chủ đầu tư ) có được một tài sản ở mộtnước khác ( nước thu hút đầu tư ) cùng quyền quản lý tài sản đó Phương diệnquản lý là thứ để phân biệt FDI với công cụ tài chính khác Trong phần lớntrường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các
cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đượcgọi là ”công ty mẹ”và các tài sản được gọi là ”công ty con” hay ” chi nhánhcông ty”
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài được hình thành từ nhiều thành phầnkinh tế: chính phủ, doanh nghiệp và tư nhân Đặc điểm của nguồn đầu tư này
là ngoài việc mang vốn nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) còn mang vào nướctiếp nhận đầu tư khoa học, kỹ thuật, bí quyết công nghệ và kinh nghiệm quản
lý Nhà đầu tư trực tiếp sở hữu, sử dụng, quản lý vốn của mình, do vậy không
có quan hệ vay mượn giữa nhà đầu tư và nước tiếp nhần đầu tư Bù lại, họnhận được lợi nhuận do doanh nghiệp mang lại tùy thuộc vào kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh
Hình thức tiếp nhận vốn này có tác dụng lớn đối với nước tiếp nhận đầu
tư về chuyển dịch cơ cấu, thúc đẩy các ngành nghề mới phát triển, góp phầnvào quá trình CNH -HĐH và tăng trưởng kinh tế đất nước Tuy vậy, hiệu quảmang lại của nhà đầu tư nước ngoài đối với nước nhận đầu tư nước ngoài
Trang 3ngoài việc phụ thuộc vào nhà đầu tư còn phụ thuộc vào cách thức huy động,quản lý, sử dụng vốn của chính nước nhận đầu tư.
2 Đặc điểm.
- Chủ đầu tư phải tuân thủ những quy định pháp luật mà nước sở tại đề
ra đối với các hoạt động đầu tư của mình
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư bằng vốn của chínhphủ, doanh nghiệp hoặc tư nhân nước ngoài Nhà ĐTNN trực tiếp quản lý, sửdụng, quyết định quá trình sản xuất và hoàn toàn chụi trách nhiệm về hiệu quảhoạt động của đồng vốn bỏ ra
- Tỷ lệ vốn góp sẽ quyết định đến quyền quản lý, lợi nhuận được hưởng
và trách nhiệm khi dự án gặp rủi ro
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường tập trung vào những ngành, nhữnglĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận cao vì mục tiêu của nhà ĐTNN là tìm kiếm lợinhuận
- Tồn tại hai chiều trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, mộtnước vừa nhận đầu tư nước ngoài, vừa thực hiện đầu tư ra nước ngoài
3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Ngày nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành một tất yếu kinh tếtrong điều kiện quốc tế hóa sản xuất và lưu thông Không một quốc gia nào,
dù lớn hay nhỏ, dù phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủnghĩa lại không cần đến nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Tuy nhiên,tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia mà từng nước sẽ hình thànhcác hình thức đầu tư khác nhau, ở Việt Nam có những hình thức sau:
- Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinhdoanh
Đây là hình thức hợp tác kinh doanh giữa bên trong nước và nướcngoài trên cơ sở các văn bản ký kết giữa các bên, trong đó quy định tráchnhiệm và phân chia kết quả hoạt động kinh doanh Sự liên kết này không tạo
Trang 4nên một tư cách pháp nhân mới mà các bên vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhâncủa mình.
Loại hình này có đặc trưng là:
+ Các bên cùng nhau hợp tác kinh doanh trên cơ sở phân định quyềnlợi, trách nhiệm và nghĩa vụ thông qua các văn bản và hợp đồng được ký kếtgiữa các bên
+ Không thành lập pháp nhân mới
+ Mỗi bên thực hiện nghĩa vụ với chủ nhà theo quy định riêng
- Hình thức doanh nghiệp liên doanh
Là mô hình liên kết kinh doanh quốc tế giữa nhà đầu tư trong nước vànhà ĐTNN trên cơ sở cùng góp vốn, cùng quản lý, cùng phân chia lợi nhuận
và chia sẻ rủi ro trong các hoạt động sản xuất kinh doanh theo sự thỏa thuậngiữa các bên đước ký kết trong hợp đồng
Là doanh nghiệp được thành lập ở nước chủ nhà trên cơ sở hợp đồngliên doanh ký giữa 2 bên Việt Nam với nước bên ngoài để đầu tư kinh doanh
ở nước chủ nhà
Đặc trưng của loại hình này:
+ Cho ra đời một doanh nghiệp mới với tư cách pháp nhân ViệtNam và doanh nghiệp được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn
+ Vốn pháp định do các bên đóng góp tối thiểu bằng 30% tổng vốnđầu tư
+ Thời gian hoạt động của doanh nghiệp không quá 50 năm vàtrường hợp đặc biệt không quá 70 năm
+ Mỗi bên thường chụi trách nhiệm với bên kia hoặc bên liên quantheo tỷ lệ góp vốn Các bên phải phân chia lợi nhuận và rủi ro theo tỷ lệ vốngóp
- Hình thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Là doanh nghiệp do nhà ĐTNN đầu tư 100% vốn, đây là doanh nghiệpthuộc sở hữu và chụi sự điều hành, quản lý của nhà ĐTNN Tuy nhiên doanh
Trang 5nghiệp này vẫn là pháp nhân của nước sở tại, do đó chụi sự điều chỉnh củapháp luật nước sở tại.
Đặc trưng của loại hình này là:
+ Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, thành lập và hoạt động dướidạng công ty trách nhiệm hữu hạn, tuân thủ pháp luật nước sở tại
+ Do nhà đầu tư nước ngoài sở hữu toàn bộ
+ Chủ đầu tư nước ngoài tự quản lý, điều hành hoạt động sản xuấtkinh doanh và tự chụi trách nhiệm đối với toàn bộ hoạt động sản xuất kinhdoanh của mình
- Các hình thức đầu tư khác:
+ Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT): Là vănbản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam với các nhàĐTNN để xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng trong một thời gian xác định.Hết thời hạn, nhà ĐTNN chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nhànước Việt Nam
+ Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO): Là vănbản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam với nhàĐTNN để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, sau khi xây dựng xong, nhàđầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam, chínhphủ Việt Nam dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong mộtthời gian xác định để thu hút vốn và lợi nhuận hợp lý
+ Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT): Là văn bản ký kết giữa
cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà nước với nhà ĐTNN để xây dựngcông trình kết cấu hạ tầng Sau khi xây dựng xong, nhà ĐTNN chuyển giaocông trình đó cho nhà nước Việt Nam, chính phủ Việt Nam tạo điều kiện chonhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý
+ Hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC): Là văn bản ký kết giữapháp nhân Việt Nam với nhà ĐTNN để xây dựng các công trình nhằm tìmkiếm và khai thác dầu mỏ và các khoáng sản theo ủy quyền của chính phủ,
Trang 6nếu phát hiện dầu mỏ hay khoáng sản thì được phép liên kết với cơ quan nhànước có thẩm quyền hoặc pháp nhân kinh tế được ủy quyền khai thác và phânchia sản phẩm trong khoảng thời gian xác định theo hợp đồng.
Các hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh tại Việt Nam ngày càng đadạng, đảm bảo tính thông thoáng phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm tạo điềukiện thu hút ngày càng nhiều và sử dụng hiệu quả vốn FDI tại Việt Nam
4 Vai trò của nguồn vốn FDI.
4.1 Vai trò của FDI đối với nước đi đầu tư.
- Thông qua đầu tư FDI, các nước đi đầu tư tận dụng được những lợithế về chi phí sản xuất thấp của nước nhận đầu tư ( giá nhân công rẻ, chi phí
về khai thác tài nguyên, vật liệu tại chỗ) để hạ giá thành sản phẩm, giảm chiphí vận chuyển đối với việc sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu Nhờ đó,nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư
- Đầu trực tiếp ra nước ngoài cho phép các công ty kéo dài thời giansống của sản phẩm đã được sản xuất và tiêu thụ ở thị trường trong nước.Thông qua FDI, các công ty của các nước phát triển có thể chuyển được mộtphần các sản phẩm công nghiệp ở giai đoạn cuối của chu kỳ sống sản phẩmsang các nước nhận đầu tư, từ đó tạo thêm lợi nhuận cho nhà đầu tư
- Giúp các công ty chính quốc tạo dựng được thị trường cung cấpnguyên liệu, vật liệu dồi dào, ổn định với giá rẻ
- Cho phép chủ đầu tư bành trướng về sức mạnh kinh tế, tăng cườngkhả năng ảnh hưởng của mình trên thị trường quốc tế, nhờ mở rộng được thịtrường tiêu thụ sản phẩm, lại tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của nướcnhận đầu tư, tăng sức cạnh tranh với hàng hóa nhập từ các nước khác
4.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư ( chủ yếu là các nước đang phát triển).
- FDI góp phần tăng nguồn vốn cho phát triển kinh tế xã hội: do tíchlũy nội bộ thấp, cản trở đầu tư và đổi mới kỹ thuật trong điều kiện khoa học,
kỹ thuật thế giới phát triển mạnh Các nước NICS trong gần 30 năm qua, nhờ
Trang 7nhận được trên 50 tỷ USD của FDI đã cùng với chính sách kinh tế năng động,hiệu quả đã trở thành những con rồng Châu Á.
- FDI thúc đẩy chuyển giao công nghệ và học tập kinh nghiệm quản lý:thông qua FDI các công ty nước ngoài đã chuyển giao công nghệ từ nướcmình hoặc nước khác sang cho nước tiếp nhận đầu tư, do đó các nước tiếpnhận đầu tư có thể nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến hiện đại ( thực tế,công nghệ không thể mua được bằng quan hệ thương mại đơn thuần)
- FDI góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường:đầu tư FDI làm cho các hoạt động đầu tư trong nước phát triển, thúc đẩy tínhnăng động và khả năng cạnh tranh trong nước cũng như trên thị trường quốc
tế Điều này tác động mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướngtích cực
- FDI góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, FDIgóp phần tăng thu ngân sách cho nhà nước thông qua đánh thuế vào các công
ty nước ngoài
Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của các nước tiếp nhận đầu tư, bên cạnhnhững ưu điểm thì FDI cũng có những hạn chế nhất định Đó là, nếu đầu tưvào nơi có môi trường bất ổn về kinh tế và chính trị, thì nhà đầu tư nướcngoài dễ bị mất vốn Còn đối với nước sở tại, nếu không có quy hoạch đầu tư
cụ thể thì sẽ dẫn đến đầu tư lan tràn, kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bịkhai thác quá mức và nạn nhiễm môi trường nghiêm trọng
Trang 8Chương II Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
giai đoạn 1988-2006.
1 Tác động của FDI vào tăng trưởng chung ở Việt Nam giai đoạn 2006.
1988-1.1 Tác động của FDI về mặt kinh tế.
- Sử dụng FDI đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấukinh tế:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện ở nhiều lĩnh vực, trong
đó nhà đầu tư tự bỏ vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh và tìm mọi cách
để tối đa hóa lợi nhuận Vì vậy, các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoàithường mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần duy trì và thúc đẩy sự tăngtrưởng kinh tế của một quốc gia Chúng ta sẽ thấy rõ điều này qua bảng 1dưới đây
Bảng 1: Cơ cấu đóng góp trong giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực
tế phân theo ngành kinh tế giai đoạn 1996-2005.
Đơn vị: (%)
nước
Kinh tế ngoàinhà nước
Kinh tế có vốnnước ngoài199
Trang 9Đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng,nguồn vốn FDI có vai trò hết sức quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế.Điểm mấu chốt của các nước này là vấn đề huy động, tập trung vốn cao độ đểthay đổi cơ cấu kinh tế, từ cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn giữ vai trò chủ đạosang cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa với tỷ trọngcông nghiệp và dịch vụ cao Hơn nữa, FDI tác động tới cơ cấu ngành kinh tế
và tác động tới cơ cấu vùng kinh tế
Một là: FDI tác động tới cơ cấu ngành kinh tế:
+ FDI ngày càng tỏ rõ vai trò động lực trong quá trình CNH - HĐH nền
kinh tế Việt Nam Nếu như trong những năm trước đây, các ngành nghề đầu
tư tập trung vào lĩnh vực khách sạn – du lịch thì càng về sau này các nhà đầu
tư nước ngoài càng tập trung đầu tư vào các ngành công nghiệp và dịch vụ
Số doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài trong công nghiệp tính đến31/12/1998 mới có 881 doanh nghiệp thì đến 1/7/2002 đã có 1.539 doanhnghiệp ( gồm 1.137 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, 284 doanh nghiệpnhà nước liên doanh với nước ngoài )
Trang 10+ Tính đến hết năm 2005, vốn FDI trong khu vực công nghiệp và xâydựng chiếm tỷ trọng lớn nhất Lĩnh vực này có 4.053 dự án với tổng số vốnđăng ký là 31.040 triệu USD, chiếm 67,5% về số dự án và 60,6% tổng vốnđầu tư đăng ký Vốn FDI trong lĩnh vực dịch vụ đứng thứ 2 với 1.188 dự án
và vốn đăng ký là 16.202 triệu USD, chiếm tỷ trọng 19,5% về số dự án và32,1% về vốn đăng ký Cuối cùng là lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp với 789
dự án và 3.774 triệu USD, chiếm 13% số dự án và 7,3% số vốn đăng ký.Hai là: FDI tác động tới cơ cấu vùng kinh tế:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài với vai trò là nguồn vốn đóng vai trò quantrọng trong cơ cấu chuyển dịch cơ cấu giữa các vùng Vì vậy, Chính phủ đã
có những chủ trương, chính sách và biện pháp để khuyến khích các nhà đầu tưnói chung và các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng đầu tư vào nhữngvùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa…Nhưng cho đến nay, các nhà đầu tư chủyếu đầu tư vào những vùng, địa phương có cơ sơ hạ tầng kinh tế xã hội tươngđối tốt, lực lượng lao động tay nghề cao, các điều kiện sản xuất kinh doanhthuận lợi… tiêu biểu hơn cả là tập trung vào các vùng kinh tế trọng điểm.Chúng ta có thể thấy rõ hơn qua bảng 2 sau đây:
Bảng 2: Đầu tư FDI vào các vùng tính đến 30/11/2002
Số dựán
Tổng vốnđăng ký
Vốn thựchiện
Tỷ trọng
về dự án(%)
Tỷ trọngvốn đăng
Trang 11Qua bảng số liệu ta thấy: Có sự mất cân đối khá lớn giữa các vùng, vùngkinh tế trọng điểm Nam Bộ chiếm một khối lượng khá lớn cả về vốn đầu tư,
cả về số dự án ( chiếm 69,3% về dự án và 61,6% tổng vốn đầu tư cả nước), làđịa bàn kinh tế năng động nhất cả nước và cũng thu hút được lượng vốn FDIlớn nhất cả nước Tại vùng này, các dự án FDI chủ yếu tập trung vào lĩnh vựccông nghiệp với 1652 dự án và gần 13 tỷ USD, chiếm 70% số dự án gần62% tổng FDI vào vùng Lĩnh vực dịch vụ có 407 dự án và gần 6,59 tỷ USD,lĩnh vực nông – lâm nghiệp có 233 dự án với 1,236 tỷ USD vốn đầu tư đăng
ký Tiếp theo sau là vùng kinh KTTĐ Bắc Bộ và các vùng khác
Số liệu trên cho thấy phần nào vấn đề sử dụng đầu tư trực tiếp nướcngoài theo vùng lãnh thổ và vấn đề kết hợp hoạt động này với việc khai tháctiềm năng trong nước đạt kết quả chưa cao Đây cũng chính là vấn đề rất cầnđược quan tâm trong thời gian tới
- Sử dụng FDI góp phần tăng thu ngân sách và cải thiện cán cân thanhtoán:
+ Hoạt động FDI trên bình diện tổng thể nền kinh tế đã góp phần quantrọng đối với vấn đề đẩy mạnh xuất khẩu và cải thiện cán cân thanh toán.Xuất khẩu là một trong những giải pháp tăng trưởng kinh tế, góp phần tăngthu nhập cho nền kinh tế để từ đó giải quyết các vấn đề xã hội Theo quy luậtcác nước đang phát triển, cán cân thanh toán của các nước này luôn ở tìnhtrạng thâm hụt Do vậy, hoạt động FDI đã góp phần vào việc hạn chế phầnnào đó tình trạng thâm hụt thông qua thặng dư xuất khẩu và chuyển vốn đầu
tư vào nước tiếp nhận FDI Thông qua FDI, hoạt động xuất khẩu của nướcchủ nhà được kích hoạt, trở nên sôi động Khởi đầu là việc xuất khẩu các sảnphẩm nông, lâm, ngư nghiệp và khai khoáng, tiếp đến là các sản phẩm thuộcngành công nghiệp cần nhiều lao động như dệt may, công nghiệp chế biến vàsau đó là sản phẩm có hàm lượng tư bản cao như sản phẩm điện, điện tử, cơkhí,…Có thể nói FDI đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện chiến lượccông nghiệp hóa theo hướng xuất khẩu của Việt Nam FDI đã đóng góp phần
Trang 12tăng thu ngân sách của Nhà nước thông qua việc trực tiếp đóng thuế và cáckhoản phí có tính chất thuế, nếu thời kỳ 1991-1995 nước ta đạt trên 1,12 tỷUSD, thời kỳ 1996-2000 đạt trên 10,6 tỷ USD, tăng hơn 8 lần so với 5 nămtrước và chiếm 23% kim ngạch xuất khẩu cả nước Cụs thể ta có bảng 3 sauđây:
Bảng 3: Cơ cấu giá trị xuất khẩu hàng hóa theo khu vực kinh tế
( kể cả xuất khẩu dầu thô )
Đơn vị: (%)
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 Khu vực
1.2 Tác động của FDI về mặt xã hội.
- Sử dụng FDI góp phần tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho ngườilao động
Vấn đề việc làm cho người lao động hiện đang được xã hội quan tâm vàcoi đây là nhân tố góp phần làm cho xã hội phát triển công bằng và bền vững.Mọi người có việc làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, các vấn đề xã hội được giảiquyết, nâng cao đời sống cho mọi tầng lớp dân cư
Trang 13Cùng với việc làm lao động được hưởng tiền công mà các doanh nghiệpchi trả Thông thường mức tiền công do các doanh nghiệp đầu tư trực tiếpnước ngoài trả cao hơn mức tiến lương trung bình của xã hội, do đó người laođộng trong các doanh nghiệp này sẽ có thu nhập cao hơn, kéo theo mức tiêudùng và tiết kiệm lớn hơn so với người lao động ở một số khu vực khác Đây
là yếu tố thúc đẩy mặt bằng tiền công trong nước tăng lên, tạo điều kiện chocác ngành kinh tế phát triển
Ở Việt Nam, số lao động làm trong khu vực này tăng lên rõ rệt Cụ thể sốlượng lao động trực tiếp trong khu vực FDI đã tăng lên nhanh chóng qua từngnăm, từ trên 21 vạn lao động vào năm 1995 lên 38 vạn lao động và năm 2000( tăng 72% so với 5 năm trước), và từ 45 vạn lao động năm 2001 lên 59 vạnlao động 2002 (tăng 31% so với năm trước) Đến nay, khu vực này đã thu húttrên 80 vạn lao động trực tiếp và hơn 1 triệu lao động gián tiếp khác Khu vựcnày không chỉ thu hút được nhiều lao động trực tiếp mà còn thu hút hàng chụcvạn lao động gián tiếp trong xây dựng, cung ứng dịch vụ…và một số lượnglao động lớn hơn thế trong ngành công nghiệp phụ trợ, các dịch vụ đầu vào vàđầu ra Để cụ thể ta có bảng 4 như sau:
Bảng 4: Số lượng việc làm do khu vực FDI tạo ra giai đoạn 1991-2005.
và đầu tư năm 2003, lương bình quân lao động Việt Nam trong các dự án FDI
là 70-80USD/tháng, của kỹ sư là 220-250 USD/tháng, của cán bộ quản lýkhoảng 490-510 USD/tháng Tổng thu nhập của người lao động của các dự ánFDI hàng năm trên 500 triệu USD
Trang 142 Đánh giá những thành tựu và hạn chế của FDI ở Việt Nam thời gian qua.
2.1 Một số thành tựu chủ yếu.
- FDI bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển
Trong 20 năm qua, FDI đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng cơ
sở vật chất kỹ tuật cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn Tính đến cuốinăm 2005, cả nước đã cấp phép cho hơn 7000 dự án FDI với tổng số vốnđầu tư đăng ký tới 65,2 tỷ USD (kể cả vốn đầu tư tăng thêm mở rộng sảnxuất), nếu tính các dự án còn hiệu lực thì thì có 6030 dự án với tổng vốnđầu tư trên 51 tỷ USD
Theo số liệu thống kê hàng năm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thời kỳ1991-1995, vốn FDI chiếm 30% tổng vốn đầu tư xã hội, thời kỳ 1996-2000vốn FDI thực hiện chiếm 23,9%, từ 2001- 2005 chiếm 17,7% Mặc dù sựđóng góp dòng vốn FDI có xu hướng giảm do sự gia tăng của đầu tư tưnhân nhưng nó đã góp phần tích cực vào việc khai thác và nâng cao hiệuquả sử dụng các nguồn lực trong nước, tạo tiền đề quan trọng trong quátrình thực hiện CNH, HĐH đất nước
Bảng 5: Tỷ trọng FDI trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội
Trang 15Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
- FDI đóng góp tích cực vào tăng thu ngân sách nhà nước và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Kinh tế Việt Nam trong những năm qua có tốc độ tăng trưởng cao,liên tục một phần là do có sự đóng góp tích cực của vốn FDI FDI đã gópphần tăng thu ngân sách của Nhà nước thông qua việc trực tiếp đóng thuế
và các khoản phí có tính chất thuế, nếu thời kỳ 1991-1995 chưa đến 400triệu USD, thì thời kỳ 1996-2000 gần 1,5 tỷ USD, gấp 4,5 lần 5 năm trước
đó Trong những năm gần đây mức tăng bình quân hàng năm các khoảnnộp ngân sách của doanh nghiệp FDI là 24% Năm 2001 số thu ngân sáchcủa khu vực FDI chiếm 7%, năm 2002 chiếm 8% năm 2003 chiếm 9%,năm 2004 là 800 triệu USD, chiếm 10% tổng thu ngân sách cả nước
Tỷ lệ vốn FDI đóng góp vào GDP cũng không ngừng được tăng lênqua các năm Năm 1992, tỷ lệ đóng góp của FDI vào GDP là 2% thì đếnnăm 1996 là 7,4% tăng gấp hơn 3 lần Cũng năm 1996, tốc độ tăng trưởngkinh tế ở Việt Nam đạt 9.5%, cao nhất từ trước đến nay Sự tăng trưởngnày có sự đóng góp của FDI Từ năm 2000-2005, tỷ lệ đóng góp của FDItrong GDP ngày càng tăng (năm 2004 là 15,2% và năm 2005 là 15,9%), và
Trang 16tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn này cũng tăng cao Giữa vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế luôn có mối quan hệ tác độngqua lại lẫn nhau Đầu tư nhiều và có hiệu quả sẽ có tác động thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế nhanh và bền vững Ngược lại, khi tăng trưởng kinh tếnhanh sẽ tạo được lòng tin đối với các chủ đầu tư.
Số liệu trong bảng 6 dưới đây cho thấy tỷ trọng FDI trong GDP ngàycàng tăng có ý nghĩa quan trọng trong việc đóng góp vào tăng trưởng kinh tế