Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại Bắc Kạn Abstract: Phân tích vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HI
Trang 1Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại Bắc Kạn
Abstract: Phân tích vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt
động phòng, chống HIV/AIDS tại địa bản tỉnh Bắc Kạn Chỉ ra những thuận lợi và khó khăn của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại địa bàn tỉnh Bắc Kạn Đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả hoạt động của các CBO trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại Bắc Kạn
Keywords: Xã hội học; Dịch vụ xã hội; AIDS; Tổ chức xã hội; Phòng
chống
Content
Trang 23 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu và mẫu nghiên cứu 12
Trang 31.3 Những khái niệm công cụ 29
1.3.4 Thao tác hóa khái niệm vai trò của các CBO 32
1.3.5 Khái niệm người sống chung với HIV/AIDS/người có H 33
1.3.6 Khái niệm người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS/trẻ OVC 33
1.3.7 Khái niệm người có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV cao 33
1.4 Tổng quan các nghiên cứu về vai trò của các tổ chức xã hội dân sự và
1.5 Sơ lược về vị trí địa lý, tình hình kinh tế, văn hóa và xã hội và dịch
Trang 42.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và vai trò của các
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
HIV/AIDS hiện nay đang là một vấn đề cấp thiết mang tính toàn cầu HIV/AIDS không chỉ
là một vấn đề mang tính bệnh lý mà đó còn là một vấn đề mang tính xã hội sâu sắc HIV/AIDS đã
và đang là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như tâm lý học, công tác xã hội, xã hội học, y học xã hội Ngày 20/11/2012, chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS đã công bố “Báo cáo toàn cầu về HIV/AIDS năm 2011” Theo báo cáo này, trong năm 2011, năm thứ
31 của cuộc chiến chống HIV/AIDS nhân loại vẫn phải “nhận” thêm 2,5 triệu người mới nhiễm HIV (dao động từ 2,2 triệu – 2,8 triệu) và 1,7 triệu người (dao động từ 1,5 triệu – 1,9 triệu) tử vong
do các bệnh liên quan đến AIDS Số người nhiễm HIV/AIDS hiện đang còn sống trên hành tinh này là 34 triệu (dao động từ 31,4 triệu – 35,9 triệu)[33] Theo nhận định của Liên hiệp quốc trong Tuyên bố Chính trị về HIV/AIDS – tháng 6 năm 2011, HIV/AIDS vẫn đang tiếp tục lây lan, tạo ra tình trạng khẩn cấp trên phạm vi toàn cầu và là một trong những thách thức lớn nhất đối với sự tiến
bộ, phát triển và ổn định xã hội trên toàn thế giới Đại dịch HIV/AIDS hiện vẫn đang là một thảm họa chưa từng có của loài người HIV không chỉ gây ra nỗi thống khổ to lớn cho các cá nhân, gia đình, cộng đồng mà còn tác động trực tiếp đến sự phát triển đến phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự
và an toàn xã hội của mỗi quốc gia trên khắp hành tinh với hơn 7.000 người nhiễm mới mỗi ngày, hơn 30 triệu người đã chết do AIDS, hơn 34 triệu người nhiễm HIV/AIDS đang còn sống và hơn
16 triệu trẻ em dưới 15 tuổi mồ côi do AIDS [21, tr.2] Do vậy phòng, chống HIV/AIDS đã, đang
và tiếp tục là nhiệm vụ quan trọng, thướng xuyên, đồng thời là lương tâm trách nhiệm của mỗi con người đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại
Kể từ ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện ở Việt Nam năm 1990 đến nay, số lượng người nhiễm HIV được báo cáo lại đã tăng nhanh chóng Theo số liệu báo cáo của Bộ Y tế đến tháng 6 năm 2012 tổng số trường hợp nhiễm HIV hiện đang còn sống là 204.019 người Trong đó, tổng số bệnh nhân AIDS hiện đang còn sống là 58,569 người, tổng số người nhiễm HIV đã tử vong
từ trước đến nay là 61.856 người [5, tr1]
Mặc dù dịch HIV có xu hướng chững lại, không tăng nhanh như những năm trước đây, số người nhiễm HIV/AIDS mới phát hiện đã giảm liên tục 3 năm gần đây, phần lớn người nhiễm HIV mới phát hiện chủ yếu tập trung trong nhóm nguy cơ cao nhưng về cơ bản Việt Nam vẫn chưa khống chế được dịch HIV Số lượng các năm cụ thể như sau: Năm 1990 số người nhiễm HIV là 1 người, năm 2000 số người nhiễm HIV là 8824 người, năm 2001 số người nhiễm HIV là 10.958 người, năm 2002 số người nhiễm HIV là 15.573 người, năm 2003 số người nhiễm HIV là 21.285 người, năm 2004 số người nhiễm HIV là 22.669 người, năm 2005 số người nhiễm HIV là 24.563 người, năm 2006 số người nhiễm HIV là 30387 người, năm 2007 số người nhiễm HIV là 30.846, năm 2008 số người nhiễm HIV là 20.240, năm 2009 số người nhiễm HIV là 16.086, năm 2010 số người nhiễm là 14.267, năm 2011 số người nhiễm là 17.780 [5, tr3] Đây là kết quả của những nỗ
Trang 6lực không mệt mỏi trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS của không chỉ ngành y tế mà còn của rất nhiều các ban ngành, tổ chức xã hội trong đó có các CBO
Vậy thực trạng của các CBO ra sao? Các CBO đã có những có vai trò và đóng góp như thế nào trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS? Với mong muốn trả lời được câu hỏi trên cùng với
sự quan tâm về mảng đề tài HIV/AIDS tác giả tiến hành đề tài nghiên cứu “Vai trò của các tổ chức
dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại Bắc Kạn”
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
2.1 Ý nghĩa khoa học
Các vấn đề liên quan đến HIV/AIDS không chỉ là vấn đề của ngành dịch tễ học, công tác
xã hội, y tế công cộng mà nó là mối quan tâm chung của rất nhiều ngành khoa học, trong đó có xã hội học Việc vận dụng các kiến thức xã hội vào nghiên cứu, phân tích chủ đề trên sẽ góp phần làm phong phú thêm lý thuyết của khoa học xã hội, đặc biệt là khoa học xã hội học
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu về “Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống
HIV/AIDS tại Bắc Kạn” góp phần đưa ra một bức tranh về thực trạng của các CBO cũng như những
đóng góp của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại tỉnh Bắc Kạn Từ đó, nghiên cứu đưa ra một số kết luận và khuyến nghị nhằm giúp các nhà quản lý có thể quản lý và hỗ trợ phát huy những mặt tích cực của các tổ chức dựa vào cộng đồng tại địa phương
góp phần vào sự phát triển của xã hội
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại địa bản tỉnh Bắc Kạn Chỉ ra những thuận lợi và khó khăn của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại địa bàn tỉnh Bắc Kạn Đồng thời đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả hoạt động của các CBO trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại Bắc Kạn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu tìm hiểu sự hình thành, mục đích hoạt động, hình thức, cơ cấu tổ chức, hoạt động, vai trò và việc thực hiện vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng tại tỉnh Bắc Kạn cũng như những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS Tìm hiểu các giải pháp nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả của các tổ chức dựa vào cộng đồng tại tỉnh Bắc Kạn
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu và mẫu nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại Bắc Kạn
4.2 Khách thể nghiên cứu
Trang 7Tổ chức dựa vào cộng đồng của những người đang sống chung với HIV/AIDS và tổ chức dựa vào cộng đồng của những người là bạn tình âm tính của người đang sống chung với HIV và người tiêm chích ma túy tại tỉnh Bắc Kạn
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề HIV/AIDS bao hàm rất nhiều khía cạnh như dịch tễ học; dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS; chăm sóc sức khỏe cho người có HIV/AIDS; kỳ thị liên quan đến HIV/AIDS; vấn để
về quyền của người có HIV/AIDS; tác động của dịch HIV/AIDS đối với sự phát triển kinh tế, xã
hội và con người Trong luận văn này, tác giả chọn nghiên cứu và phân tích một khía cạnh đó là vai
trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, phống HIV/AIDS tại tỉnh Bắc Kạn
4.4 Mẫu nghiên cứu
Đề tài lựa chọn 10 tổ chức dựa vào cộng đồng thuộc 05 địa bàn của tỉnh Bắc Kạn gồm Thị
xã Bắc Kạn, huyện Chợ Mới, huyện Bạch Thông, huyện Chợ Đồn, huyện Ba Bể Tiêu chí lựa chọn
10 tổ chức dựa vào cộng đồng là những tổ chức hiện đang hoạt động tích cực trong phòng, chống HIV/AIDS tại 05 huyện, thị xã nơi có số người đang sống chung với HIV/AIDS cao nhất tỉnh Bắc
từ giai đoạn tháng 7/2007 đến tháng 3/2012
10 tổ chức dựa vào cộng đồng được lựa chọn tại tỉnh Bắc Kạn trong thời điểm nghiên cứu đang được hỗ trợ kinh phí và kỹ thuật bởi Trung Tâm Nghiên cứu Sức khỏe Cộng đồng và Phát
triển (Trung tâm COHED) thuộc Dự án Quỹ toàn cầu vòng 9 – Hợp phần dự án Liên Hiệp Các Hội
Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam (VUSTA)
5 Phương pháp thu thập thông tin
5.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Mục đích của phương pháp phân tích tài liệu là: Xác định được tổng quan của vấn đề
nghiên cứu và là căn cứ khoa học bổ sung cho vấn đề nghiên cứu của đề tài “Vài trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại Bắc Kạn” Trong luận văn này, tác giả sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để có một cơ sở vững chắc nhằm tiếp cận và tìm hiểu về tổ chức dựa vào cộng đồng và vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng dưới góc độ
Trang 8nghiên cứu của khoa học xã hội học Các tài liệu bao gồm: Số liệu thống kê của Bộ y tế về tình hình HIV/AIDS, báo cáo, kế hoạch công tác phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Bắc Kạn; Báo cáo hoạt động của 10 tổ chức dựa vào cộng đồng là nhóm Hy Vọng thị xã Bắc Kạn năm 2011 và 2012; Các
báo cáo nghiên cứu lên quan đến các CBO; Tài liệu và báo cáo từ dự án: “Tiểu dự án thành phần
Trung tâm Nghiên cứu Sức khỏe Cộng đồng và Phát triển (COHED) trực thuộc Hợp phần dự án Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) – Dự án Quỹ toàn cầu phòng, chống HIV/AIDS –” Dự án được triển khai tại 5 tỉnh gồm tỉnh Bắc Kạn, Nghệ An, Bình Dương, thành phố
Hồ Chí Minh và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu từ tháng 10/2011 đến tháng 12/2012; Các cuốn sách liên quan đến xã hội dân sự và tổ chức dựa vào cộng đồng đã được xuất; Các tài liệu tại các hội nghị, hội thảo; Các văn bản pháp luật của Đảng và Nhà nước được ban hành liên quan đến các tổ chức xã hội dân sự và lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS
5.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Mục đích của phương pháp phỏng vấn sâu chủ yếu nhằm tìm hiểu vai trò và việc thực hiện
vai trò của các CBO trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS
Đối tượng phỏng vấn sâu: Gồm 17 người đại diện cho các CBO, đại diện cơ quan quản lý
chuyên môn về phòng, chống HIV/AIDS, cơ quan chính quyền địa phương, người được hưởng lợi
từ các CBO bao gồm người người nhiễm và bị ảnh hưởng bơi HIV/AIDS
5.3 Phương pháp phát phiếu khảo sát thông tin về tổ chức
10 phiếu khảo sát thông tin về tổ chức đã được gửi cho lãnh đạo của 10 CBO tại 5 huyện của tỉnh Bắc Kạn nhằm tìm hiểu về vai trò của các CBO trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại địa phương nói riêng cũng như của tỉnh Bắc Kạn nói chung
5.4 Phương pháp quan sát
Quan sát các hoạt động, cơ cấu, tổ chức của các tổ chức dựa vào cộng đồng và những tác động của các hoạt động của tổ chức dựa vào cộng đồng đối với người hưởng lợi từ các tổ chức dựa vào cộng
đồng
5.5 Phương pháp tiếp cận cùng tham gia
Tác giả của đề tài nghiên cứu đã tham gia trong các hoạt động liên quan của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại tỉnh Bắc Kạn Sự tham gia của tác giả đề tài tùy thuộc vào các cấp độ khác nhau như hỗ trợ thành lập hoặc hoàn thiện cơ cấu ban điều hành của tổ chức Hỗ trợ kỹ thuật thực hiện các hoạt động tiếp cận mở rộng thành viên tham gia sinh hoạt trong tổ chức đồng thời hỗ trợ kỹ thuật trong việc thực hiện cung cấp các dịch vụ về dự phòng HIV và cung cấp các dịch vụ chăm sóc hỗ trợ cho người có HIV và trẻ OVC
6 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Hoạt động chính của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống
HIV/AIDS là gì? Các tổ chức dựa vào cộng đồng tại Bắc Kạn đã có những đóng góp như thế nào vào hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại tỉnh Bắc Kạn?
Trang 9Câu hỏi 2: Những khó khăn của các tổ chức dựa vào cộng đồng thường gặp phải là gì? Nguyên
nhân của những khó khăn đó và phương hướng để giải quyết những khó khăn đó như thế nào?
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Các lý thuyết xã hội học áp dụng trong đề tài
1.1.1 Lý thuyết vai trò xã hội
1.1.2 Lý thuyết phát triển cộng đồng
1.1.3 Áp dụng các văn bản pháp luật liên quan đến vai trò của các tổ chức xã hội
1.2 Những khái niệm công cụ
1.2.1 Khái niệm tổ chức xã hội
1.2.2 Khái niệm cộng đồng
1.2.3 Khái niệm tổ chức dựa vào cộng đồng
1.2.4 Thao tác hóa khái niệm vai trò của các CBO
1.2.5 Khái niệm NCH hoặc người sống chung với H:
1.2.6 Khái niệm người bị ảnh hưởng bởi HIV:
1.2.7 Khái niệm người có hành vi nguy lây nhiễm HIV cao:
1.3 Sơ lược về vị trí địa lý, tình hình kinh tế, văn hóa và xã hội và dịch HIV/AIDS tại tỉnh Bắc Kạn
1.3.1 Điều kiện địa lý
Bắc Kạn là tỉnh miền núi, vùng cao được tái lập từ 01/1/1997 trên cơ sở tách từ 04 huyện, thị
xã của tỉnh Bắc Thái và 2 huyện của tỉnh Cao Bằng
Là tỉnh nằm ở trung tâm nội địa vùng Đông Bắc - Bắc Bộ Việt Nam; phía Bắc giáp các huyện Bảo Lạc, Nguyên Bình, Thạch An tỉnh Cao Bằng; phía Đông giáp các huyện Tràng Định, Bình Gia tỉnh Lạng Sơn; phía Nam giáp các huyện Võ Nhai, Phú Lương, Định Hoá tỉnh Thái Nguyên; phía Tây giáp 3 huyện: Nà Hang, Chiêm Hoá và Yên Sơn của tỉnh Tuyên Quang
Tỉnh gồm 8 huyện, thị xã với 122 xã phường, thị trấn, với diện tích 4868,42 km2, dân số 305.759 người, gồm 7 dân tộc anh em Tày, Kinh, Nùng, Dao, Hoa, H’Mông trong đó dân tộc thiểu
số chiếm trên 80% Cụ thể Tày (chiếm 60%), Kinh (19,3%), Nùng (7,4%), Dao (9,5%), Hoa, H’Mông và Sán chay (chiếm 3,4%)
1.3.2 Tình hình kinh tế, xã hội
Sau khi tái lập tỉnh, được sự quan tâm của Đảng, Quốc Hội, Chính phủ và các Bộ ngành trung ương, đồng thời với sự cố gắng nỗ lực vượt bậc của tỉnh, từ năm 1997 đến nay Bắc Kạn đã có nhiều cố gắng thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, khắc phục mọi khó khăn và đạt được nhiều thành tựu nổi bật Kinh tế phát triển khá, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm tăng nhanh, tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt từ 9-10% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong GDP Lĩnh vực văn
Trang 10hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực An ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo Thu kinh phí hàng năm của tỉnh đạt trung bình 100-110 tỷ đồng
1.3.3 Tình hình tệ nạn ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội liên quan
Tình hình sử dụng ma túy tại tỉnh: Tính đến 31/5/2011, số người sử dụng ma tuý có hồ sơ quản lý là 1130 Đặc điểm của người SDMT: (Nguồn: Số liệu điều tra RAR - 6/2009) Tỷ lệ chích chiếm 97 %, tỷ lệ hít: 3 %; tỷ lệ hút, nuốt bằng 0 Người sử dụng ma tuý tại Bắc Kạn chủ yếu là nam giới và sử dụng ma tuý khi còn trẻ dưới 30 tuổi chiếm tỷ lệ 83.5% Đa số người SDMT tại Bắc Kạn đều đã học qua các cấp học, chỉ có 1% đối tượng sử dụng ma tuý là mù chữ, còn lại đều có trình độ từ tiểu học trở lên, trong đó THCS cao nhất (46%) và 1% có trình độ cao đẳng, đại học Tình hình mại dâm: Số người hoạt động mại dâm trong toàn tỉnh ước tính là 200 người tuy nhiên con số được quản lý là 10 người (Số liệu tính đến hết ngày 31/10/2010- nguồn số liệu phòng PCTN-Sở LĐ-TB và XH) [32, tr1, 2]
1.3.4 Tình hình HIV/AIDS
Tính đến 20/12/2012 tổng số người nhiễm HIV được phát hiện là 2203 người, số người nhiễm HIV còn sống là 1481 người Tổng số bệnh nhân AIDS lũy tích là 909 trong đó số bệnh nhân AIDS còn sống là 391 Theo đánh giá của Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Bắc Kạn vẫn
là một trong 10 tỉnh có số người nhiễm HIV trên 100.000 dân, cao nhất cả nước Toàn tỉnh đã có 108/122 xã, phường, thị trấn: 8/8 huyện thị xã phát hiện có người nhiễm HIV Sô người nhiễm HIV/AIDS cao chủ yếu tập trung tại các huyện có tệ nạn ma túy phức tạp như: Thị xã Bắc Kạn, huyện Chợ Mới, Bạch Thông Dịch có nguy cơ lan rộng ra cộng đồng và ở những vùng sâu xa; Dịch HIV/AIDS vẫn xảy ra chủ yếu trong các nhóm có hành vi nguy cơ, lây truyền chủ yếu là qua đường máu chiếm 62,48% (tiêm chích ma túy chiếm 50,63%) qua đường tình dục chiếm 5,8% và
mẹ truyền sang con là 1,07% Tỷ lệ nhiễm ở nam vẫn chiếm tỷ lệ cao 88,21%; nữ là 11,79% Lứa tuổi nhiễm HIV/AIDS tập trung ở độ tuổi từ 20-39 chiếm 80,28 [28, tr 1]
Chương 2 TỔ CHỨC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI TỈNH BẮC KẠN VÀ CÁC HOẠT
ĐỘNG PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS 2.1 Đặc điểm của các CBO trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại tỉnh Bắc Kạn
2.1.1 Cơ sở hình thành
Các CBO được thành lập trên cơ sở nguyện vọng của các thành viên trong nhóm và bối cảnh chung của chương trình phòng, chống HIV cũng như chương trình hành động về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV đến năm 2012 tại tỉnh Bắc Kạn Cùng với các chương trình can thiệp và dự phòng HIV của các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế tại địa bàn tỉnh Bắc Kạn Thành phần tham gia trong các CBO là những người đang sống chung với HIV/AIDS, người
sử dụng ma túy, người bạn tình âm tính của những NCH và người tiêm chích ma túy hoặc những
Trang 11người thân trong gia đình của người sống chung với HIV đang sinh sống tại địa bàn nhất định như phường, xã hoặc trong cùng huyện
Thời gian thành lập của các CBO tại địa bàn tỉnh Bắc Kạn vào các thời gian khác nhau CBO được thành lập sớm nhất và có thời gian hoạt động lâu dài nhất tại địa bàn tỉnh Bắc Kạn là nhóm tự lực Hy Vọng Thị xã Bắc Kạn được hình thành từ tháng 7/2007 Từ một nhóm tự lực Hy Vọng hoạt động tại thị xã Bắc Kạn đến tháng 3 năm 2012 đã có 21 các nhóm tự lực hoạt động trên trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn và một mạng lưới liên kết giữa các nhóm tự lực tại địa bàn tỉnh Bắc Kạn CBO được thành lập mới nhất tại địa bàn tỉnh Bắc Kạn là nhóm Hy Vọng huyện Ba Bể được thành lập từ tháng 3 năm 2012
Trong quá trình hình thành và hoạt động các CBO trên địa bàn Bắc Kạn đều được hỗ trợ nguồn ngân sách và kỹ thuật từ các dự án của tổ chức phi chính phủ trong nước và ngoài nước nhằm thực hiện các hoạt động để đạt các mục đích mà nhóm đã đề ra
2.1.2 Mục đích và nguyên tắc hoạt động
Trước khi thành lập các CBO đều xây dựng mục đích hoạt động của nhóm Việc xây dựng mục đích hoạt động và nguyên tắc hoạt động của nhóm được các thành viên đóng góp xây dựng ý kiến và thống nhất chung trong cả nhóm Tùy thuộc vào đối tượng người tham gia trong các các nhóm dựa vào cộng đồng khác nhau mà mỗi một CBO xây dựng mục đích và nguyên tắc hoạt động khác nhau tuy nhiên có các CBO đều có những mục đích chung là tập hợp những người có chung cảnh ngộ nhằm chia sẻ, động viên và giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, cùng nhau nói lên tiếng nói của mình, thực hiện các hoạt động nhằm giảm sự phân biệt đối xử đối với người sống chung và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, dự phòng và giảm sự lây nhiễm HIV/AIDS ra cộng đồng Các nguyên tắc hoạt động của CBO là: Tự nguyện, đoàn kết, bình đằng, tôn trọng lẫn nhau,
hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ, các thành viên trong nhóm cùng chấp nhận sự khác biệt của nhau và đặt quyền lợi chung của nhóm lên hàng đầu, không vụ lợi cá nhân, tuyệt đối không lợi dụng danh nghĩa của nhóm cho các hành vi, vi phạm pháp luật
Đối với các nhóm tự lực nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ các dự án thì mục đích, nguyên tắc hoạt động, nội quy sinh hoạt của các nhóm tự lực được trình bày rõ ràng, cụ thể và treo tại địa điểm sinh hoạt của các nhóm tự lực Các thành viên của nhóm đến tham gia sinh hoạt đều có thể đọc được Đối với các nhóm tự lực không nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ các dự án việc trình bày mục đích, nguyên tắc hoạt động và nội quy sinh hoạt không được rõ ràng, cụ thể và không được treo tại địa điểm sinh hoạt của nhóm
2.1.3 Hình thức, cơ cấu tổ chức
Hình thức hình thành các CBO
Sự hình thành của các CBO tại Bắc Kạn thông qua 2 hình thức chính:
Một là: Các CBO được hình thành dưới sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật từ chính quyền, các
ban ngành tại địa phương hoặc do các dự án hỗ trợ phát triển thành lập lên
Trang 12Hai là: Các CBO được hình thành do chính thành viên là những người có H, người có hành
vi nguy cơ lây nhiễm HIV cao như người sử dụng ma túy, người bạn tình âm tính của những người sống chung với HIV và người tiêm chích ma túy hoặc người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS hình thành lên
Để được phép hoạt động tại địa phương mỗi CBO khi thành lập đều phải có đơn gửi chính quyền địa phương nơi đặt địa điểm sinh hoạt của nhóm để xin phép được hoạt động trên địa bàn Trong đơn gửi chính quyền địa phương xin phép hoạt động các nhóm phải trình bày mục đích hoạt động và các thành viên nòng cốt tham gia thành lập nhóm Khi chính quyền địa phương phê duyệt đồng ý các nhóm tự lực mới được phép hoạt động
Cơ cấu tổ chức của các CBO
Mỗi một CBO trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS đều có một bộ máy điều hành hoạt động của tổ chức nhằm đảm bảo các hoạt động của tổ chức hướng đến mục đích đã đề ra Bộ máy điều hành hoạt động của tổ chức được gọi là ban điều hành Điểm chung giữa các CBO được hỗ trợ kỹ thuật và kinh phí bởi các dự án hoặc ban ngành địa phương và các CBO không được hỗ trợ kinh phí và kỹ thuật từ các dự án hoặc các ban ngành địa phương đó là các thành viên trong ban điều hành của tổ chức là những người có kiến thức về HIV và các kiến thức liên quan đến HIV được các thành viên trong nhóm kính trọng và nể phục Ban điều hành của CBO được cơ cấu bao gồm các vị trí sau:
Trưởng nhóm: Là người có uy tín trong cộng động được các thành viên trong nhóm đề cử
làm công việc quản lý, điều hành các hoạt động chung của nhóm, cùng với các thành viên trong nhóm xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm, giám sát hỗ trợ cho các thành viên trong nhóm thực hiện các hoạt động của nhóm đã đề ra, cung cấp thông tin, tư vấn hỗ trợ cho các thành viên trong nhóm, tổng kết và báo cáo các nguồn thu, chi và các hoạt động của nhóm với các thành viên trong nhóm
Phó nhóm: Là người có uy tín trong cộng đồng của nhóm thực hiện công việc hỗ trợ cho
trưởng nhóm quản lý, điều hành các hoạt động của nhóm, hỗ trợ cho các thành viên trong nhóm thực hiện các hoạt động của nhóm, cung cấp thông tin, tư vấn hỗ trợ cho các thành viên trong nhóm
Các thành viên nòng cốt hay còn gọi là tiếp cận viên/Nhân viên chăm sóc: Là những
thành viên tham gia tích cực trong các hoạt động của nhóm, có kiến thức, lòng nhiệt tình được ban điều hành của nhóm phân công thực hiện các hoạt động tiếp cận, mở rộng thêm các thành viên mới cho nhóm đồng thời cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho các thành viên trong nhóm Nhiệm vụ cụ thể như sau: Làm việc chặt chẽ với ban điều hành của nhóm để thực hiện các công việc của ban điều hành giao phó Thực hiện công việc tiếp cận các khách hàng thuộc nhóm đích theo sự phân công của nhóm để phổ biến kiến thức liên quan đến HIV/AIDS/STIs và truyền thông hỗ trợ thay đổi hành vi Phân phát các vật phẩm cần thiết theo nhu cầu của khách hàng, bao gồm bao cao su, bơm
Trang 13kim tiêm và chất bôi trơn, các tài liệu truyền thông có liên quan cho khách hàng Giới thiệu và chuyển gửi khách hàng đến các dịch vụ cần thiết và theo nhu cầu của khách hàng Phối hợp với các thành viên trong nhóm, ngoài tiếp cận cá nhân, tổ chức các hoạt động truyền thông nhóm Tham gia đầy đủ các buổi họp định kỳ, các cuộc tập huấn, chịu trách nhiệm ghi chép sổ sách và báo cáo kết quả hoạt động được phân công theo biểu mẫu quy định của dự án Thực hiện các nhiệm vụ khác trong phạm vi chức trách theo điều lệ quy định của nhóm Làm việc đúng với phạm vi địa bàn và nhiệm vụ được phân công
Ngoài ra đối với các CBO có nguồn kinh phí được hỗ trợ từ các dự án phát triển còn có thêm
vị trí thư ký, trợ lý cho ban điều hành và tư vấn viên nhằm hỗ trợ cho ban điều hành của tổ chức
Vị trí thư ký, trợ lý cho ban điều hành thực hiện các hoạt động theo sự điều hành của ban điều hành
của tổ chức như tổng hợp, ghi chép các hoạt động của nhóm, quản lý số liệu của nhóm Vị trí tư vấn
viên: Là người sẽ giám sát và hỗ trợ trực tiếp cho các thành viên trong ban điều hành của CBO về
kỹ thuật tiếp cận cộng đồng như xác định nhóm đích, tiến hành tư vấn, lập kế hoạch tiếp cận, tư vấn xây dựng kế hoạch hoạt động cho tổ chức Tư vấn viên sẽ báo cáo kết quả với ban quản lý của dự
án, ban ngành địa phương về các công việc hỗ trợ cho CBO Tùy từng địa bàn và sự hỗ trợ của dự
án tư vấn viên có thể là cán bộ Trung tâm y tế xã/phường, quận/huyện hoặc các cán bộ chuyên trách tại địa bàn Hoặc tư vấn viên có thể là những người đã từng là thành viên sinh hoạt trong nhóm, thậm chí là nhóm trưởng của nhóm tiếp cận cộng đồng Tư vấn viên là người có những tiêu chuẩn như: Có nhiều kinh nghiệm trong công tác truyền thông thay đổi hành vi và phòng, chống HIV/AIDS, đặc biệt với nhóm có nguy cơ cao Có năng lực đánh giá, giám sát và hỗ trợ Có kỹ năng truyền đạt kiến thức cho những người khác Có kỹ năng đào tạo “cầm tay chỉ việc” cho các thành viên nòng cốt hoặc tiếp cận viên Tư vấn tại chỗ về kỹ năng tiếp cận và kiến thức về dự phòng HIV, về kỹ năng tiếp cận cho tiếp cận viên, và phát triển nhóm
Đối với các CBO không được hỗ trợ kinh phí và kỹ thuật từ các dự án hoặc các ban ngành địa phương thì sự phân công vai trò và trách nhiệm giữa các thành viên trong ban điều hành của các CBO không thực sự rõ ràng và cụ thể như trong các nhóm tự lực được hỗ trợ kinh phí và kỹ thuật bởi các dự án hoặc ban ngành địa phương Cụ thể các thành viên trong nhóm chỉ bầu trưởng nhóm là người chịu trách nhiệm tất cả các công việc liên quan đến ban điều hành Sự phân công giữa các thành viên trong nhóm là không rõ ràng và thường mang tính tự phát
Trình độ học vấn của các thành viên trong ban điều hành CBO
Trình độ học vấn của các thành viên trong ban điều hành của các CBO nhìn chung đều rất thấp, hầu hết đều chưa học hết phổ thông trung học 10 CBO trong nghiên cứu chỉ có duy nhất 1 CBO là nhóm Hy Vọng thị xã Bắc Kạn là có 01 thành viên trong ban điều hành nhóm có trình độ đại học – Tốt nghiệp hệ đại học tại chức
2.2 Hoạt động phòng, chống HIV/AIDS của CBO
2.2.1 Các hoạt động chính trong phòng, chống HIV/AIDS
Trang 14 Hoạt động tiếp cận, mở rộng thêm thành viên mới
Ngay từ khi bắt đầu được hình thành tất cả các tổ chức dựa vào cộng đồng đều thực hiện các hoạt động này Hoạt động mở rộng thêm thành viên mới được thực hiện bởi các thành viên trong ban điều hành của tổ chức thông qua việc tìm kiếm và tiếp cận những người có H trong cộng đồng cũng như người bạn tình âm tính của người có H và người tiêm chích ma túy đồng thời vận
động họ tham gia sinh hoạt trong tổ chức
Đối với những CBO được hỗ trợ kinh phí bởi dự án Tiểu dự án thành phần Trung tâm
Nghiên cứu Sức khỏe Cộng đồng và Phát triển (COHED) trực thuộc Hợp phần dự án Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật việt nam (VUSTA) – Dự án Quỹ toàn cầu phòng, chống HIV/AIDS thì những
thành viên trong ban điều hành của CBO được dự án hỗ trợ kinh phí để thực hiện hoạt động này
Các thành viên mới được tiếp cận thông qua phương pháp quả tuyết lăn hoặc được giới thiệu bởi
các nhân viên y tế
Mỗi thành viên mới tham gia được các nhân viên tiếp cận ghi lại các thông tin với sự đồng
ý của người tham gia và được lưu trữ tại tủ có khóa tại văn phòng của tổ chức nhằm đẩm bảo tính
bí mật thông tin của người tham gia Chỉ những thành viên trong ban điều hành của của CBO hoặc người giám sát hoạt động tiếp cận mới được quyền xem thông tin của các thành viên mới
Hoạt động giáo dục, truyền thông nâng cao kiến thức và kỹ năng về phòng, chống
HIV/AIDS cho các thành viên tham gia nhóm và người dân tại cộng đồng
Hoạt động giáo dục, truyền thông nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng về phòng, chống HIV/AIDS được thực hiện bởi chính các thành viên của CBO hoặc là những cán bộ thuộc các ban ngành, đơn vị có chuyên môn tại địa phương được các CBO mời đến để thực hiện các nội dung cần truyền thông Những nội dung của hoạt động giáo dục, truyền thông nhằm nâng cao kiến thức về phòng, chống HIV/AIDS gồm:
- Thông tin, kiến thức về HIV/AIDS và cách phòng chống HIV/AIDS
- Kiến thức và kỹ năng chăm sóc tại nhà cho NCH
- Các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV
- Kiến thức về hỗ trợ tuân thủ điều trị ARV cho người nhiễm HIV
- Dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con
- Giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS
- Giới và bình đẳng giới
Hoạt động truyền thông giáo dục nâng cao kiến thức và kỹ năng về phòng, chống HIV/AIDS thường được thực hiện thông qua việc tổ chức các sự kiện truyền thông tại cộng đồng, các buổi nói chuyện chuyên đề hoặc sinh hoạt nhóm hàng tháng Địa điểm của các buổi truyền thông tại cộng đồng thường được các CBO lựa chọn là các nhà văn hóa của thôn, hội trường của ủy ban nhân dân xã/phường hoặc tại địa điểm sinh hoạt của CBO
Hoạt động cung cấp dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho NCH và trẻ OVC
Trang 15Hàng tháng các thành viên nòng cốt /Nhân viên viên chăm sóc của các CBO là những người đã được đào tạo những kiến thức và kỹ năng về chăm sóc hỗ trợ đến tại nhà để thực hiện hoạt động này Dịch vụ chăm sóc tại nhà được cung cấp cho các khách hàng dựa trên nhu cầu thực
tế của khách hàng, mức độ ưu tiên và khả năng đáp ứng của thành viên nòng cốt /Nhân viên viên chăm sóc của CBO Các khách hàng nhận dịch vụ chăm sóc hỗ trợ tại nhà được chia làm 2 nhóm đối tượng chính gồm: NCH và trẻ OVC
Dịch vụ chăm sóc tại nhà dành cho NCH gồm:
Chăm sóc y tế: Các thành viên nòng cốt/nhân viên chăm sóc của các CBO tập trung vào
cung cấp kiến thức cơ bản liên quan đến HIV; Hướng dẫn và hỗ trợ chăm sóc triệu chứng tại nhà; Hướng dẫn cho gia đình cách chăm sóc triệu chứng cho người nhiễm tại nhà; Trong giai đoạn cuối đời, đánh giá các triệu chứng triệu chứng đau, lở loét, thực hiện chăm sóc điều dưỡng để hỗ trợ người nhiễm HIV ra đi nhẹ nhàng và thanh thản; Tư vấn và hỗ trợ tuân thủ điều trị dự phòng và ARV; Tư vấn, cung cấp thông tin và hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thiết yếu; Kết nối với các phòng khám ngoại trú và các cơ sở chăm sóc, điều trị HIV/AIDS để xác định tình trạng của người nhiễm HIV và theo dõi bệnh nhân được chuyển gửi
Hỗ trợ tâm lý và tâm thần: Các thành viên nòng cốt /Nhân viên viên chăm sóc của các
CBO tập trung vào: giúp đỡ, động viên, hỗ trợ tâm lý và hỗ trợ khách hàng vượt qua khủng hoảng;
Hỗ trợ chăm sóc cuối đời, hỗ trợ tang ma và hỗ trợ cho gia đình người mất về tâm lý
Hỗ trợ về kinh tế xã hội: Các thành viên nòng cốt /Nhân viên viên chăm sóc của CBO tập
trung vào: Hỗ trợ về dinh dưỡng bao gồm hỗ trợ cả kiến thức và thực phẩm dinh dưỡng; Hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ giáo dục (hướng nghiệp), tạo việc làm, tạo thu nhập hoặc hỗ trợ vốn vay để phát triển kinh tế hộ gia đình
Hỗ trợ pháp lý và nhân quyền: Các thành viên nòng cốt – tiếp cận viên của các CBO tập
trung vào tư vấn, hướng dẫn và hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ xã hội và pháp lý; Hỗ trợ giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với NCH
Ngoài ra các tiếp cận viên/nhân viên chăm sóc còn cung cấp dự phòng lồng ghép trong dịch vụ chăm sóc như: Đánh giá nhanh các nguy cơ lây nhiễm HIV của người nhiễm HIV và bạn tình, hoặc con của họ Cung cấp kiến thức về các đường lây truyền HIV cho người có HIV và những đường không lây truyền HIV Cung cấp kiến thức, kỹ năng và các vật dụng cần thiết phòng tránh lây HIV cho mình và cho người xung quanh và phòng tái nhiễm thông qua đường máu Cung cấp kiến thức, kỹ năng và các vật dụng cần thiết phòng tránh lây HIV cho người xung quanh và phòng tái nhiễm thông qua đường tình dục Tư vấn hỗ trợ tiếp cận dịch vụ dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con Tư vấn hỗ trợ dự phòng tái nghiện
Dịch vụ dành cho trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV (trẻ OVC) và người chăm sóc trẻ gồm:
Chăm sóc y tế: Các thành viên nòng cốt /Nhân viên viên chăm sóc các CBO tập trung vào
các hoạt động như cung cấp kiến thức cơ bản liên quan đến HIV cho trẻ và gia đình trẻ Đối với trẻ