1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của việc ứng dụng quy trình đánh giá sự phù hợp theo TBT trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm nhựa tại các tỉnh phía Nam

9 258 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 598,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của việc ứng dụng quy trình đánh giá sự phù hợp theo TBT trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm nhựa tại các tỉnh phía Nam Lê Mộng Lâm Trường Đại học Khoa học Xã

Trang 1

Vai trò của việc ứng dụng quy trình đánh giá

sự phù hợp theo TBT trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm nhựa tại các

tỉnh phía Nam

Lê Mộng Lâm

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội

Luận văn ThS Kinh doanh và Quản lý: 60 34 72 Người hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Văn Kim

Năm bảo vệ: 2013

86 tr

Abstract Hiện nay, với việc phát triển như vũ bảo các công nghệ chế tạo trong ngành

nhựa thì như nhận định của các doanh nghiệp họ không hề thua kém về chất lượng sản phẩm so với các nước khác Tuy nhiên, doanh nghiệp nhựa của chúng ta luôn đối mặt với rất nhiều khó khăn đặc biệt về các vấn đề thâm nhập thị trường Điều này là do hiện nay các doanh nghiệp vẫn chưa có nhận thức đầy đủ về các khó khăn, các qui định mang tính bắt buộc trong TBT khi sản phẩm nhựa muốn có mặt tại một thị trường quốc tế.Qua khảo sát các doanh nghiệp cho thấy một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc các doanh nghiệp nhựa Việt Nam hiện vẫn loay hoay với thị trường trong nước chính là chất lượng và mẫu mã Nói chi tiết hơn, sản phẩm các doanh nghiệp sản xuất tuy đã được chấp nhận tại Việt Nam những vẫn còn khó khăn trong việc xuất khẩu ra nước mgoaif do yêu cầu về các chỉ tiêu chất lượng và mẫu mã chưa đáp ứng được yêu cầu của các nước nhập khẩu Thêm vào đó, các doanh nghiệp Việt Nam chưa quan tâm nhiều đến việc thử nghiệm, giám định và chứng nhận các sản phẩm nhựa trước khi xuất khẩu, do đó không có thông tin cho việc cải tiến và đổi mới chất lượng sản phẩm.Về thực trạng các Trung tâm kiểm định và đánh giá sự phù hợp thì cho đến nay ở phía Nam có hai Trung tâm thực hiện các hoạt động chuyên nghành nhựa liên quan đến chất dẻo thuộc Sở Công thương Tp.Hồ Chí Minh và Trường đại hịc Bách Khoa Tp.Hồ Chí Minh Nhiệm vụ chính của hai Trung tâm này trước mắt tập trung đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, giảng dậy với các nhiệm vụ chính như thử nghiệm phục vụ nghiên cứu sản phẩm mới, công nghệ mới, quá trình sản xuất, công thức phối

Trang 2

chộn nguyên liệu Bên cạnh đó còn có một số phòng thử nghiêm của Việt Nam và nước ngoài đầu tư có khả năng thử nghiệm các chỉ tiêu riêng biệt của củ sản phẩm và nguyên liệu nhựa song không chuyên sâu và chưa đồng bộ Việc thử nghiệm, giám định và chứng nhận chất lượng sản phẩm nhựa chưa được quy hoạch và tổ chức một cách bài bản, chuyên nghiệp theo các chuẩn mực quốc tế để phục vụ riêng cho cho việc sản xuất và kinh doanh xuất khẩu của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp nhựa Phần lớn các sản phẩm nhựa xuất khẩu phải gửi mẫu qua Pháp, Đức, Đài loan hoặc Singapore để thử nghiệm và chứng nhận theo yêu cầu của nhà nhập khẩu.Đồng thời, luận văn thông qua việc phân tích một số yếu tố và chỉ tiêu chung được áp dụng rộng rãi trong ngành nhựa đã đưa ra được tầm quan trọng trong việc tuân thủ các nguyên tắc này để nâng cao năng lực cạnh tranh Trong đó tập trung vào các chỉ số ISO.Từ tất cả các phân tích và khảo sát, luận văn đã đưa ra một loạt các khuyến nghị khác nhau cho nhà nước, hiệp hội nhựa, bản thân doanh nghiệp để qua đó có thể hoàn thiện và thúc đẩy việc tuân thủ và thực thi TBT của các doanh nghiệp nhựa qua

đó nâng sức cạnh tranh trên thị trường

Keywords.Quản lý khoa học; Năng lực cạnh tranh; Sản phẩm nhựa; Quy trình đánh

giá

Content

1 Lý do chọn đề tài

Ngành công nghiệp nhựa Việt Nam có mức tăng trưởng hàng năm từ 15% - 20% Trong hơn 10 năm qua, ngành nhựa đã đẩy mạnh xuất khẩu, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động Hiện nay ngành nhựa cả nước có khoảng 2000 doanh nghiệp, trong đó hơn 80 % tập trung ở các tỉnh thành phía Nam và chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân nhỏ, quy mô gia đình với năng lực cạnh tranh yếu

Sản phẩm nhựa của Việt Nam đã xuất hiện trên nhiều thị trường quốc tế như: Châu Âu, Châu Mỹ và một số nước châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc v.v Tuy nhiên, sản phẩm nhựa của Việt Nam vẫn chưa có được một chỗ đứng thực sự vững mạnh trên thị trường quốc tế Nguyên nhân chính cho vấn đề này là do sản phẩm nhựa Việt Nam vẫn chưa đạt được những yêu cầu chất lượng chặt chẽ và khắt khe của thị trường nước ngoài

Trang 3

Góp phần không nhỏ cho điều này là việc kiểm tra, phân tích và chứng nhận chất lượng sản phẩm nhựa chưa được quy hoạch và tổ chức một cách bài bản, chuyên nghiệp để phục vụ cho các doanh nghiệp trong ngành nhựa Phần lớn các sản phẩm nhựa xuất khẩu phải gửi mẫu qua Đài Loan hoặc Singapore để thử nghiệm và chứng nhận theo yêu cầu của nhà nhập khẩu

Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của ngành nhựa các yêu cầu về kiểm tra chất lượng sản phẩm, nguyên liệu ngành công nghiệp nhựa cũng như chứng nhận chất lượng sản phẩm phục vụ cho việc xuất khẩu cũng như sản xuất, tiêu thụ trong nước trở nên rất lớn Điều quan trọng và có tính quyết định hơn là phải tổ chức hoạt động đánh giá sự phù hợp theo tập quán và chuẩn mực quốc tế nhằm phải tiến tới việc công nhận, thừa nhận kết quả chứng nhận, giám định hoặc kết quả thử nghiệm sản phẩm nhựa xuất khẩu phải được thừa nhận tại các nước nhập khẩu Chỉ có như vậy mới đảm bảo cho việctiêu thụ nội địa và xuất khẩu hàng nhựa Việt Nam được thuận lợi, tiết kiệm chi phí và mang lại hiệu quả kinh tế cao trước bối cảnh cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt

Bên cạnh đó với tư cách là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)vào năm 2007, Việt Nam có trách nhiệm thực hiện các quy định trong Hiệp định Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) Điều này đã tạo ra nhiều thách thức song cũng không ít cơ hội cho các doanh nghiệp trong cả nước nói chung và doanh nghiệp trong ngành nhựa nói riêng Theo đó Việt Nam phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết liên quan đến Tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật và đánh giá sự phù hợp khi xây dựng và thực thi các biện pháp kỹ thuật trong hoạt động thương mại của mình

Từ cơ sở lý luận thực tiễn trên đây, tôi chọn đề tài "Vai trò của việc ứng dụng quy trình đánh giá sự phù hợp theo TBT trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm nhựa tại các tỉnh phía Nam”để nghiên cứu, hy vọng đưa những hoạt

động thuộc lĩnh vực KH&CN vào phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh việc xuất khẩu và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong ngành nhựa tại các tỉnh phía Nam nói riêng, cả nước nói chung

Trang 4

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Việt Nam đã chính thức hội nhập với tổ chức Thương mại thế giới (WTO) từ

2007, cùng với các ngành kinh tế khác, ngành công nghiệp Nhựa Việt Nam đã có nhiều tiến bộ đáng ghi nhận và được đánh giá là một trong những ngành kinh tế năng động nhất Hiện nay số lượng doanh nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận như Đồng Nai, Bình Dương và Long An chiếm 80% tổng số lượng DN nhựa trên

cả nước trong khi miền Bắc và miền Trung chỉ là 15% và 5%

Theo thống kê năm 2011, giá trị tổng sản lượng ngành nhựa Việt Nam đạt 3.290.000 tấn tương đương 4.593 tỷ USD, tăng 10 lần so với năm 1996 Với tốc độ phát triển 15%/năm, ngành công nghiệp nhựa Việt Nam là ngành công nghiệp có tốc

dộ phát triển mạnh và là ngành công nghiệp phụ trợ quan trọng cho các ngành công nghiệp khác của Việt Nam như ngành điện, điện tử, điện tiêu dùng, ôtô, xe máy, chế biến thục phẩm, công nghệ phẩm… Một số chuyên ngành kỹ thuật mũi nhọn cạnh tranh quốc tế chiếm ưu thế như: cáp quang, bao bì cao cấp (màng ghép phức hợp BOPP; chai 4 lớp; chai PET …); vi mạch điện từ bằng PP dẫn điện; Panel pin mặt trời; quạt phát triển; nhựa Nano …

Ngành Công nghiệp nhựa Việt Nam có 8 ngành kỹ thuật được phân tích theo vốn đầu tư (vốn đầu tư theo thứ tự ưu tiên phát triển) gồm có các chuyên ngành:

- Ngành sản xuất nguyên liệu nhựa

- Ngành sản xuất giày dép nhựa xuất khẩu

- Ngành nghề chế biến Cao su – Nhựa

- Ngành Nhựa Dân dụng

- Ngành nhựa kỹ thuật cao

- Ngành Bao bì Nhựa

- Ngành Vật liệu xây dựng Nhựa

- Ngành chế tạo máy – khuôn mẫu

Trong 8 chuyên ngành, ngành sản xuất nguyên liệu nhựa là ngành phát triển mạnh nhất Trong tổng sản lượng nhựa hàng năm, sản phẩm nhựa bao bì chiếm khoảng 36% trong khi nhựa vật liệu xây dựng, đồ gia dụng và các loại dành cho các ngành công nghiệp khác như điện tử, điện, giao thông vận tải lần lượt chiếm khoảng 16%,

Trang 5

36% và 12% Cho đến nay, các nhà máy liên doanh với nước ngoài đã sản xuất được nguyên liệu PVC Resin, dầu hóa dẻo DOP, PET Resin với sản lượng 400.000 tấn/năm

Ba trung tâm hóa nhựa, hóa dầu của Việt Nam tại Dung Quất (Miền Trung); Nghi Sơn (phía Bắc); Long Sơn (phía Nam) dự kiến sẽ thu hút thêm 8 tỷ USD vốn đầu tư, từ đó nâng tổng năng suất nguyên liệu nhựa của Việt Nam lên 2 triệu tấn/năm từ năm 2015

Chuyên ngành kỹ thuật bao bì nhựa là ngành phát triển năng động nhất, với 5 mảng sản xuất chuyên sâu là: màng ghép phức hợp cao cấp BOPP (3, 4, 5 lớp) thay thế hoàn toàn bao bì cao cấp nhập khẩu trước đây, xuất khẩu tại chỗ phục vụ các ngành công nghiệp gia công, chế biến khác; chai 4 lớp, chai PET; túi xốp xuất khẩu; bao bì thức ăn nhanh … với tốc độ phát triển từ 40 – 50%/năm Chuyên ngành nhựa kỹ thuật cao phát triển bền vững với các sản phẩm tiêu biểu như: cáp quang, composite, nano nhựa, pin mặt trời … Ngành kỹ thuật thứ 8 là chế tạo máy - khuôn mẫu đã phát triển tương đối, cho đến nay Việt Nam đã sản xuất được máy nhựa, robot tay máy và khuôn mẫu công nghiệp

Hiện nay, sản phẩm nhựa nhựa của ta đã xuất khẩu đến 55 quốc gia trên thế giới với giá trị kim ngạch đạt trên 1 tỷ USD/2011 và tổng cộng sản phẩm có hàm lượng nhựa như cáp điệu, túi xách đạt 1,6 tỷ USD, tốc độ phát triển sản phẩm nhựa xuất khẩu đạt 40%/năm trong thời điểm này Sản phẩm nhựa là mặt hàng đạt doanh thu và mức

độ tăng trưởng xuất khẩu cao trong 5 năm trở lại đây (năm 2005 tăng 42%, năm 2006 tăng 44%, năm 2007 tăng gần 47%, năm 2008 tăng 31,5%, năm 2009 tăng 48%), mức tăng bình quân cả giai đoạn là 39%/năm Trong thời gian tới dự kiến mặt hàng nhựa tiếp tục là mặt hàng có tốc độ tăng trưởng cao về doanh thu và lợi nhuận

Một trong những yếu tố để thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm nhựa ra quốc tế trong bối cảnh hiện nay chính là nghiên cứu về hiệp định TBT Đối với các nước trên thế giới thì việc nghiên cứu về hiệp định TBT đã được thực hiện rất nhiều ở nhiều mặt hàng khác nhau như:

 SPS and Thailand’s Exports of Processed Food của Nidhiprabha, Bhanupong năm 2002 đành cho sản phẩm thực phẩm của Thailand

Trang 6

 Tariff and Nontariff Barriers to New Zealand’s Exports of Wood-Based Products to China của Turner, J., F Maplesden, B.Walford và S Jacob năm

2005 cho các sản phẩm gỗ xuất tới Trung Quốc

Hay như tại Việt Nam có những nghiên cứu về TBT nhưng mang tính tổng quan như:

 Thực thi hiệp định SPS/TBT – những kinh nghiệm từ các nước và bài học cho Việt Nam của Hồ Ngọc Thủy, Nguyễn Hà Ngọc và Ngân Kim Vũ (3/2012)

 Vượt qua các rào cản SPS để thúc đẩy xuất khẩu sang Liên minh Châu Âu của Gascoine D và Nguyễn Tự Cường (2009)

Hay một số sản phẩm riêng như:

 An toàn thực phẩm và việc thực thi Hiệp đinh SPS/TBT: Kinh nghiệm quốc tế

và giải pháp đối với Việt Nam cua Phạm Thị Hoàng Yến (2011)

Mặc dù có những nghiên cứu tại Việt Nam về TBT nhưng hầu hết các nội dung nghiên cứu lại tập trung nhiều về mặt văn bản và luật hóa Hầu như hiện nay không hề

có nghiên cứu nào về quy trình thực thi TBT đặc biệt trong lĩnh vực Nhựa Chính vì

thế, việc lựa chọn luận văn “Vai trò của việc ứng dụng quy trình đánh giá sự phù hợp theo TBT trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm nhựa tại các tỉnh phía Nam” có ý nghĩa quan trọng

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu

Làm rõ vai trò của việc ứng dụng quy trình đánh giá sự phù hợp theo TBT để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm nhựa tại các tỉnh phía Nam

3.2 Nhiệm vụ

- Khảo sát thực trạng tình hình sản xuất, kinh doanh và các hoạt động đánh giá sự phù hợp ( thử nghiệm, giám định, chứng nhận) của các doanh nghiệp nhựa phía Nam

- Khảo sát thực trạng hệ thống tiêu chuẩn có liên quan và việc áp dụng các loại tiêu chuẩn đối với sản phẩm nhựa trong nước và xuất khẩu

- Khảo sát thực trạng các đơn vị đánh giá sự phù hợp sản phẩm nhựa;

Trang 7

- Tổng hợp, phân tích, đánh giá nhằm làm rõ vai trò và sự cần thiết của việc ứng dụng quy trình đánh giá sự phù hợp theo TBT đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành nhựa phía Nam

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung vào việc làm rõ và chứng minh sự cần thiết của việc ứng dụng quy trình đánh giá sự phù hợp theo TBT cho hai đối tượng nghiên cứu chính là các doanh nghiệp sản xuất nhựa và các đơn vị cung cấp dịch vụ phân tích, thử nghiệm và giám định và chứng nhận Hai đối tượng này được khảo sát, phân tích và đánh giá trong bối cảnh hiện tại ở phía Nam

5 Mẫu khảo sát

Khảo sát năng lực phân tích, thử nghiệm, giám định và chứng nhận của các đơn

vị cung cấp dịch vụ đánh giá sự phù hợp đối với sản phẩm và nguyên liệu nhựa trong nước và Khảo sát thực trạng việc áp dụng quy trình đánh giá sự phù hợp sản phẩm nhựa của các doanh nghiệp nhựa;

6 Câu hỏi nghiên cứu

Ứng dụng quy trình đánh giá sự phù hợp theo TBT đóng vai trò gì trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm nhựa?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Ứng dụng quy trình đánh giá sự phù hợp theo TBT sẽ đáp ứng được yêu cầu của thị trường xuất khẩu đối với sản phẩm nhựa

Kết quả của các hoạt động đánh giá sự phù hợp sẽ tạo điều kiện cho việc thừa nhận lẫn nhau Trên cơ sở đó sẽ giúp doanh nghiệp giảm được các chi phí cho việc thử nghiệm, giám định và chứng nhận trong giao lưu thương mại Việc này sẽ dẫn đến giảm giá thành sản phẩm và góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Để sản phẩm đạt được chất lượng theo TBT các doanh nghiệp ngành nhựa phải nâng cao năng lực sản xuất thông qua đổi mới công nghệ, tổ chức các hoạt động nghiên cứu và phát triển các sản phẩm mới, sản phẩm có các chỉ tiêu an toàn, vệ sinh

và chất lượng đáp ứng các yêu cầu theo tiêu chuẩn quốc tế và tiêu chuẩn của các nước nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam

Trang 8

8 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu:

- Gởi phiếu khảo sát tình hình TBT tại các doanh nghiệp nhựa và trung tâm kiểm định nhựa ở các tỉnh phía Nam

- Gởi phiếu khảo sát và bảng câu hỏi chuyên sâu cho các lãnh đạo các doanh nghiệp

- Phân tích các dữ liệu thống kê về ngành nhựa được công bố và so sánh với dữ liệu khảo sát được

9 Kết cấu của Luận văn

PHẦN MỞ ĐẦU

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP THEO TBT CỦA DOANH NGHIỆP NHỰA PHÍA NAM

CHƯƠNG III VAI TRÒ CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU QUI TRÌNH ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP THEO TBT ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM NHỰA

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGH

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1 Colm Halloran, Phạm Thị Kim Yến, Trần Việt Nga (2009), Hỗ Trợ Thực Hiện Các Cam Kết WTO Về SPS/TBT, Triển Khai Các Hoạt Động Nâng Cao Nhận Thức Và Tăng Cường Năng Lực, Hỗ Trợ Các Nhà Xuất Khẩu Việt Nam Tuân Thủ Các Yêu Cầu Của Eu Về SPS/TBT - Báo cáo 2: Vượt Qua Các Rào Cản TBT Để Thúc Đẩy Xuất Khẩu Sang Liên Minh Châu Âu, Hà Nội

2 Chính phủ (2012), Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ, Phê duyệt Chiến lược phát triển Khoa học và Công nghệ giai đoạn 2011-2020,

Hà Nội

Trang 9

3.Nguyễn Thị Vân Anh (6/5/2011), Báo cáo Triển Vọng Ngành Nhựa, Khối phân tích

& đầu tư, SME securities

4 TBT Việt Nam (2012),Hiệp định TBT và điều khoản minh bạch hóa, Bản tin TBT Việt Nam, số 7/2012, tr 1-2

5 TBT Việt Nam (2012),Tìm hiểu khái niệm, Bản tin TBT Việt Nam, số 7/2012, tr

4-6

6.TBT Việt Nam (12/2008), Tiêu Chuẩn, Đo Lường Đánh Giá Sự Phù Hợp Và Hiệp

Định TBT,Sổ tay TBT Tiếng Việt, Hà Nội

7 Vũ Cao Đàm (2005), Phương pháp luận nghiên cứu Khoa học Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội

Tiếng Anh

8 Disdier, Fekadu, Murillo and Wong (2008) Trade Effects of SPS and TBT measures

on tropical products, international Center for Trade and Sustainable development, pg

12

9 Maskus, Keith, Tsunehiro Otsuki, and John S Wilson (2000), Quantifyingthe Impact of Technical Barriers to Trade: A Framework for Analysis, Policy Research

Working Paper 2512, World Bank, Washington, DC

Website

10 Ho Quoc Thanh (2013), Law on technical standards - in harmonization with international standards, TBT Lam Dong, available at

http://www.dalat.gov.vn/web/tdc/tabid/568/Add/yes/ItemID/15505/categories/0/Defaul t.aspx

11 WTO, Agreement on Technical Barriers to Trade

http://www.wto.org/english/tratop_e/tbt_e/tbt_e.htm

Ngày đăng: 26/06/2015, 14:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w