Việc làm, thu nhập của phụ nữ bán hàng rong qua khảo sát tại Đồ Sơn, Hồng Bàng –Hải Phòng Abstract: Xây dựng cơ sở lý luận cho công trình nghiên cứu bao gồm việc nghiên cứu các tài liệu
Trang 1Việc làm, thu nhập của phụ nữ bán hàng rong qua khảo sát tại Đồ Sơn, Hồng Bàng –Hải Phòng
Abstract: Xây dựng cơ sở lý luận cho công trình nghiên cứu bao gồm việc
nghiên cứu các tài liệu, công trình nghiên cứu đi trước, ứng dụng các cách tiếp cận liên ngành và cách tiếp cận riêng trong nghiên cứu xã hội học để xây dựng mô hình khung phân tích Phân tích, làm rõ bản chất của đối tượng nghiên cứu, cụ thể: tìm hiểu đời sống kinh tế của người nhập cư Bán hàng rong (BHR) ở các khía cạnh như đặc điểm, tính chất công việc; vấn đề thu nhập, chi tiêu, tiết kiệm, điều kiện sống Tìm hiểu đời sống tinh thần của người nhập cư BHR ở các khía cạnh như thời gian rảnh, các hoạt động vui chơi giải trí Tìm hiểu vấn đề chăm sóc sức khỏe và mối quan hệ cộng đồng của người nhập cư BHR Tìm hiểu mối quan hệ giữa người nhập cư BHR với vấn đề nếp sống văn minh và mỹ quan đô thị Tìm hiểu mong muốn và
kỳ vọng tương lai của người nhập cư BHR Đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo vai trò và vị trí của những người nhập cư BHR
Keywords: Xã hội học; Phụ nữ; Bán hàng rong; Việc làm; Thu nhập
Trang 2Luận văn Thạc sỹ - Cao học 2010
MỤC LỤC
Phần: Mở đầu……… 5
1.Lý do lựa chọn đề tài……… …… 5
2.Tổng quan về đề tài nghiên cứu……… ……… 12
3.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn ……… 17
3.1 Ý nghĩa lý luận……… ………… 17
3.2 Ý nghĩa thực tiễn……… …… 17
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu……… ……… 18
4.1 Mục đích……….……… 18
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 19
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu……… ……… 19
5.1 Đối tượng nghiên cứu……… ……… 19
5.2 Khách thể nghiên cứu……… ……… 19
5.3 Phạm vi nghiên cứu……… 19
6 Phương pháp nghiên cứu……… 20
7 Giả thuyết nghiên cứu……… 21
8 Khung lý thuyết……… 22
Phần: Nội dung chính……… 24
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài……….24
1.1.Các lý thuyết sử dụng để nghiên cứu……… 24
1.2.Các khái niệm công cụ……… 27
Trang 3Luận văn Thạc sỹ - Cao học 2010
1.3.Địa bàn nghiên cứu……… 35 Chương 2: Kết quả nghiên cứu……… 37 2.1.Thực trạng việc làm của phụ nữ bán hàng rong tại Đồ Sơn, Hồng Bàng……… 40 2.1.1 Quê quán, độ tuổi và trình độ của những người phụ nữ bán hàng rong tại
2.1.2.Mặt hàng bán chủ yếu của phụ nữ bán hàng rong tại Đồ Sơn và Hồng Bàng……… 58 2.2 Thu nhập của phụ nữ bán hàng rong tại hai quận Đồ Sơn và Hồng Bàng
2.3 Vấn đề an ninh việc làm của phụ nữ bán hàng rong tại Đồ Sơn và Hồng Bàng……… 65 2.3.1.Tâm trạng của người bán hàng rong tại Đồ Sơn, Hồng Bàng……… 65 2.3.2 Trách nhiệm của phụ nữ bán hàng rong tại địa bàn nghiên cứu……… 67 2.3.3 Số tiền những phụ nữ bán hàng rong gửi cho gia đình hàng tháng ở quê……… 63 2.3.4 Vấn đề về sức khỏe của những phụ nữ bán hàng rong
Trang 4Phần I:Mở đầu 1.Lý do chọn đề tài
Trong 10 năm thực hiện Chiến lược 2001 - 2010, mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng khu vực và tác động tiêu cực của khủng hoảng toàn cầu, nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và những biến động phức tạp của kinh tế thế giới, giành được những
Đã từ lâu, bán hàng rong được xem là một “nghề” kiếm sống của những người lao động Thực tế quan sát tại các thành phố,các khu du lịch chúng ta có thể nhận thấy rằng số lượng người bán hàng rong là không nhỏ Người bán rong là những người từ nhiều vùng quê khác nhau tập trung làm nghề bán hàng qua các phố để kiếm sống Với số vốn ít ỏi, họ thường bán những mặt hàng như hàng ăn, sách báo, rau quả Hàng ngày, những người bán rong đi khắp các ngõ, ngách, các tuyến phố ở trung tâm bán hàng để kiếm sống và phụ giúp gia đình Họ luôn phải đối mặt với các nguy cơ như ế hàng, cướp giật, trộm cắp, tai nạn giao thông, bị bắt phạt… khiến cho tâm trạng của họ không khỏi lo lắng Đặc biệt từ khi có lệnh cấm bán hàng rong trên các tuyến phố thì hoạt động bán hàng rong của họ gặp không ít những khó khăn, trở ngại vì không còn được tự do đi bán trên các phố, nếu vi phạm mà công an bắt được thì người bán rong sẽ phải chịu nộp phạt Điều này khiến cho tâm trạng của những người bán rong luôn bất an lo lắng
Con số thống kê của Bộ Xây dựng cho biết: Từ năm 1999 đến 2011, Việt Nam có thêm
126 khu đô thị, nâng tổng số đô thị cả nước lên 755 khu Tỷ lệ đô thị hóa trong hơn 10 năm đã tăng lên 10% Trong đó dân số tăng 42%, từ 18,3 triệu lên 26 triệu người
Hải Phòng còn được gọi là Thành phố Hoa phượng đỏ, là một Thành phố cảng lớn nhất phía Bắc (Cảng Hải Phòng) và công nghiệp ở miền Bắc Việt Nam nằm trong Vùng duyên
Trang 5hải Bắc Bộ Hải Phòng là thành phố lớn thứ 3 của Việt Nam sau TP.Hồ Chí Minh, Hà Nội Hải Phòng còn là 1 trong 5 thành phố trực thuộc trung ương, đô thị loại 1 trung tâm cấp quốc gia, cùng với Đà Nẵng và Cần Thơ Tính đến tháng 12/2011, dân số Hải Phòng là 1.907.705 người, trong đó dân cư thành thị chiếm 46,1% và dân cư nông thôn chiếm 53,9%, là thành phố đông dân thứ 3 ở Việt Nam.Đây là nơi có vị trí quan trọng về kinh tế
xã hội và an ninh, quốc phòng của vùng Bắc Bộ và cả nước, trên hai hành lang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc Hải Phòng là đầu mối giao thông đường biển phía Bắc Với lợi thế cảng nước sâu nên vận tải biển rất phát triển, đồng thời là một trong Theo báo Lao động: Cả thành phố có trên 127 chợ chính thức song lại thiếu chợ đồ cũ và chợ nông sản thực phẩm, đặc biệt là ở khu vực nội thành Trong khi đó, tại tầng 2-3 của một số chợ lớn lại không có người vào kinh doanh, bỏ trống diện tích, dù số hộ buôn bán nhỏ, đặc biệt là những người bán rong trên đường phố vẫn có chiều hướng gia tăng Thống
kê của Sở Thương mại cho thấy đến nay thành phố vẫn có hơn 260 tụ điểm chợ cóc, chợ tạm, chưa kể những người chiếm dụng vỉa hè, lòng đường UBND thành phố đã có kế hoạch chi tiết xóa bỏ, di chuyển các tụ điểm này và sẽ "làm mạnh" ở khu vực trung tâm thành phố cụ thể là sẽ xây và sang sửa mới 39 địa điểm họp chợ trong các quận của thành phố Trong dòng người di chuyển kinh doanh trên phố, những người bán rong từ nông thôn đã góp phần tạo nên một thị trường lao động không chính thức đầy sôi động tại các thành phố lớn, khu du lịch Bán rong một mặt giúp cho việc mua bán hàng hóa của người thành thị trở nên dễ dàng, thuận tiện hơn, mặt khác, những gánh hàng rong ấy là nguồn mưu sinh của bao người dân quê giúp họ trang trải cuộc sống Tuy nhiên, việc một bộ phận những người nông dân di cư ra thành phố bán hàng rong đặt ra nhiều vấn đề cần suy ngẫm Mục đích của nghiên cứu này là một phần làm sáng tỏ chân dung tâm lí - xã hội của những người bán hàng rong, vấn đề cấm bán hàng rong nhìn từ khía cạnh văn hóa, luật pháp Ở châu Á, hiện tượng bán rong được chính phủ các nước đưa vào quy hoạch từ những năm cuối thế kỉ XX Ở Singapore, chính quyền đánh giá cao sự đóng góp của hàng rong vào nền kinh tế của đất nước Tuy nhiên, để bảo vệ người bán rong và giữ gìn trật tự
đô thị, ngay từ năm 1971, chính phủ đã có kế hoạch đối phó với tình trạng người bán hàng rong chiếm lĩnh khắp các đường phố Vào năm này, Singapore bắt đầu thực hiện chương trình xây dựng các khu trung tâm buôn bán thực phẩm, chợ để đưa người bán hàng rong vào buôn bán ở những nơi cố định Sau gần 30 năm, đến năm 1996, tất cả người bán hàng rong của Singapore đều đã có nơi buôn bán, được cấp giấy phép, được dự các khóa học về
vệ sinh cá nhân, vệ sinh thực phẩm và dinh dưỡng Singapore là quốc gia duy nhất trên thế giới nơi mà cả những người bán hàng rong được cấp giấy phép đăng kí kinh doanh Tại đây cũng có một phòng ban chuyên trách quản lý hoạt động bán hàng rong trực thuộc
Trang 6chính phủ, là nơi cấp phép cũng như quản lý những đối tượng bán hàng rong không có giấy phép kinh doanh.Như hầu hết các quốc gia Đông Nam Á khác hàng rong tại đây phát triển từ lâu đời
Còn tại Bangkok (Thái Lan), có khoảng 40.000 người bán rong, họ phần đông là dân nhập
cư sống trong các khu lao động nghèo Việc những người bán rong ở Bangkok tùy tiện xả rác, làm cản trở giao thông và làm mất vẻ mỹ quan của thành phố góp phần gây nên tình trạng bất ổn trong đời sống đô thị.Trong số các quốc gia Châu Á thì Ấn Độ là một nước có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam Giống như nước ta hoạt động bán hàng rong đã hình thành khá lâu tại Ấn Độ số lượng người bán hàng rong chiếm tới 2% dân số và thu nhập của họ đón góp không nhỏ vào GDP của hàng năm của nước này Tại đây hàng triệu người bán hàng rong tập trung tại các thành phố lớn Người bán hàng rong đã góp phần đáng kể vào phát triển nền kinh tế các đô thị Ấn Độ, cũng vì vậy mà một nửa số người dân
đô thị phụ thuộc vào họ Tại Ấn Độ những người làm công việc này gồm cả nam và nữ trong khi các tỉnh phía Nam và Đông Bắc số lượng phụ nữ bán hàng rong chiếm đa số thì tại các thành phía Bắc và các thành phố lớn thì nam giới lại có tỷ lệ lên cao hơn Chẳng hạn như tại Meghalaya phụ nữ chiếm khoảng 70% số người bán hàng rong thì tại Kanpur
tỷ lệ này là khoảng 20% Vì vậy hoạt động bán hàng rong đã góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng của nền kinh tế Ấn Độ
Đề tài:“Việc làm, thu nhập của phụ nữ bán hàng rong qua khảo sát tại Đồ Sơn, Hồng Bàng –Hải Phòng” tập trung nghiên cứu những người phụ nữ lang thang bán hàng rong trên các đường phố của Đồ Sơn, Hồng Bàng bởi một số lý do sau:
Xét từ khía cạnh xã hội Việc một tỷ lệ lớn những phụ nữ nông thôn với trình độ văn hoá trung bình cấp II (phổ thông trung học cơ sở), nghề nghiệp không có (ngay cả làm nông cũng bằng kinh nghiệm) liên tục di chuyển vào đô thị lớn kiếm sống với một số nghề nhất định (chủ yếu là buôn bán đồ ăn, hàng xén, đồng nát), đã góp phần làm biến đổi nhanh quá trình phân tầng xã hội, làm đa dạng hoá các loại hình lao động nữ phổ thông và làm hình thành một hệ thống "dịch vụ xã hội tại nhà" Quá trình chuyển dịch cơ cấu xã hội này là những hiện tượng cần được nghiên cứu
Xét từ khía cạnh luật pháp Công việc bán hàng rong trên đường phố của chị em phụ nữ nông thôn đã gây khó khăn cho công tác an toàn giao thông, an ninh đường phố Các cơ quan, ban ngành có thẩm quyền trong công tác quản lý thị trường cũng gặp không ít trở ngại, phiền toái trong việc sắp xếp ổn định an nịnh trật tự cho người lao động ngoại tỉnh Mặt khác, chính quyền đia phương, công an khu vực (nơi những người phụ nữ bán rong ở
Trang 7trọ) gần như không thể kiểm soát và đảm bảo được an ninh do sự lưu chuyển tự do thường xuyên của họ Ngoài ra, các tệ nạn xã hội đã có dấu hiệu phát triển từ chính nhóm nhóm lao động tự do này ( Theo báo lao động số 18/ 1997, có tới 10- 12% đối tượng hình sự đang ẩn náu sinh hoạt trong số dân lao động ngoại tỉnh) Vì vậy, vấn đề kiểm soát và bảo
vệ phụ nữ nông thôn lang thang kiếm sống ở các đô thị lớn cần được đề cập để nghiên cứu
Đề tài:“Việc làm, thu nhập của phụ nữ bán hàng rong qua khảo sát tại Đồ Sơn, Hồng Bàng –Hải Phòng” tập trung nghiên cứu những người phụ nữ lang thang bán hàng rong trên các đường phố của Đồ Sơn, Hồng Bàng bởi một số lý do sau:
Xét từ khía cạnh xã hội Việc một tỷ lệ lớn những phụ nữ nông thôn với trình độ văn hoá trung bình cấp II (phổ thông trung học cơ sở), nghề nghiệp không có (ngay cả làm nông cũng bằng kinh nghiệm) liên tục di chuyển vào đô thị lớn kiếm sống với một số nghề nhất định (chủ yếu là buôn bán đồ ăn, hàng xén, đồng nát), đã góp phần làm biến đổi nhanh quá trình phân tầng xã hội, làm đa dạng hoá các loại hình lao động nữ phổ thông và làm hình thành một hệ thống "dịch vụ xã hội tại nhà" Quá trình chuyển dịch cơ cấu xã hội này là những hiện tượng cần được nghiên cứu
Xét từ khía cạnh luật pháp Công việc bán hàng rong trên đường phố của chị em phụ nữ nông thôn đã gây khó khăn cho công tác an toàn giao thông, an ninh đường phố Các cơ quan, ban ngành có thẩm quyền trong công tác quản lý thị trường cũng gặp không ít trở ngại, phiền toái trong việc sắp xếp ổn định an nịnh trật tự cho người lao động ngoại tỉnh Mặt khác, chính quyền đia phương, công an khu vực (nơi những người phụ nữ bán rong ở trọ) gần như không thể kiểm soát và đảm bảo được an ninh do sự lưu chuyển tự do thường xuyên của họ Ngoài ra, các tệ nạn xã hội đã có dấu hiệu phát triển từ chính nhóm nhóm lao động tự do này ( Theo báo lao động số 18/ 1997, có tới 10- 12% đối tượng hình sự đang ẩn náu sinh hoạt trong số dân lao động ngoại tỉnh) Vì vậy, vấn đề kiểm soát và bảo
vệ phụ nữ nông thôn lang thang kiếm sống ở các đô thị lớn cần được đề cập để nghiên cứu
2.Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Đã từ lâu vấn đề di đan được nhiều khoa học nghiên cứu Nó được mô tả như một phần không thể thiếu của quá trình nghiên cứu Herry Reempen (1996) đã cho rằng: Di dân nông thôn đến thành thị là nguồn nhân lực chủ yếu cung cấp cho khu vực kinh tế chính thức Ronald Skedon (1997) nhận định rằng: Di dân nông thôn thành thị là yếu tố thực sự
có thể giúp giảm tỉ lệ nghèo đói ở nông thôn Đặc biệt gần dây ông cho rằng: Xu hướng di
Trang 8dân Châu Á- Thái Bình Dương là sự gia tăng dân số ở tất cả loại hình chủ yếu (bao gồm di dân trong nước và di dân quốc tế), ông cho rằng nguyên nhân đằng sau xu thế này là quá trình toàn cầu hóa Lim Oishi Nana (1996) chỉ ra răng di dân quốc tế đang có xu hướng phụ nữ hóa, đặc biệt là ở các nước Châu á Hơn thế nữa phụ nữ đang phải đối mặt với luật
lệ và các cản trở xã hội, phân biệt giới và bóc lột ở cả những nước tiếp nhận và gửi đi
Ph.ăng ghen, trong tác phẩm “Chống Đuy-ring” (1877-1878) đã đề cập đến việc những người lao động nông thôn đi tìm việc làm thêm để kiếm sống Ông đã phân tích tiến trình phát triển của hiện tượng này trong xã hội tiền tư bản và tư bản
Việc bán hàng rong trên các đường phố, khu du lịch hiện là mối quan tâm của đông đảo dư luận Tại Hội thảo quốc tế “Phát triển bền vững thủ đô Hà Nội văn hiến, anh hùng, vì hòa bình”, PGS.TS Trần Thị Minh Đức & ThS Bùi Thị Hồng Thái có tham luận “Vấn đề người bán hàng rong trên các đường phố Hà Nội”
Trần Thị Minh Đức, Nguyễn Thúy Lành, Phác thảo một vài đặc điểm tâm lí xã hội ở người phụ nữ ngoại tỉnh bán hàng rong trên đường phố Hà Nội, Tạp chí Tâm lý học, số 1,
2002
Khi đề câ ̣p đến vấn đề“Đi làm ăn xa – phương thức tăng thu nhập gia đình” , Nguyễn Thị Diễm và Nguyễn Thị Minh Châu đã tìm hiểu về tác động của di cư đến kinh tế hộ gia đình theo hai hướng chính đó là : những đặc trưng chủ yếu của những người đi làm ăn xa như: tuổi, giới tính, học vấn, tình trạng hôn nhân, tình trạng gia đình… và mức độ tác động đến kinh tế hộ gia đình từ việc đi làm ăn xa
Một nghiên cứu gần đây của Lê Văn Thành “Dân nhập cư với vấn đề phát triển kinh tế xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh” Tác giả khẳng định thực tế ở Tp HCM có hai thách thức nổi bật là quy mô dân số quá lớn, ngày càng tăng nhanh và dân nhập cư tiếp tục gia tăng trong những năm gần đây làm nảy sinh rất nhiều vấn đề đối với sự phát triển của thành phố Với một lượng dân nhập cư có trình độ thấp, nguy cơ thất nghiệp cao cũng như
dễ nảy sinh các tệ nạn cho thành phố ở hiện tại cũng như trong tương lai Chính vì thế mà Nhà nước cần có những bài toán quản lý phù hợp đối với dân nhập cư ở các đô thị nói chung và Tp HCM nói riêng
Đề tài về việc làm, thu nhập của phụ nữ bán hàng rong qua khảo sát tại Đồ Sơn, Hồng Bàng –Hải Phòng đi vào nghiên cứu những người phụ nữ làm nghề bán hàng rong tại các quận của thành phố Hải Phòng để tìm hiểu sâu hơn về công việc hàng ngày của họ,tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của họ,xem cuộc sống sinh hoạt của họ như thế nào và những
Trang 9vấn đề về chăm sóc sức khỏe của họ ra sao đặc biệt quan tâm đến vấn đề an ninh việc làm bán hàng rong hiện nay… Từ đó có khuyến nghị để cơ quan chức năng giúp đỡ họ để họ
có công việc ổn định và thu nhập đáp ứng cuộc sống
3.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa lý luận
- Nghiên cứu đề tài này giúp chúng ta có được một cách tiếp cận ở góc độ khoa học của ngành xã hội học khi nghiên cứu một vấn đề xã hội nói chung và vấn đề thực trạng cuộc sống của phụ nữ bán hàng rong trên địa bàn hai quận
- Giúp hoàn thiện hơn nữa những cơ sở khoa học từ nghiên cứu đề tài vì nghiên cứu đề tài chính là vận dụng lý thuyết khoa học vào thực tiễn
4.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.Mục đích
Nghiên cứu phụ nữ lang thang bán hàng rong trên các đường phố Đồ Sơn, Hồng Bàng nhằm phác hoạ chân dung tâm lý - xã hội của họ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị giúp cho các cơ quan chức năng có thể đưa ra các giải pháp quản lý và giúp đỡ có hiệu quả đối với nhóm xã hội này
Nhiệm vụ của nghiên cứu này nhằm cung cấp một cách khách quan, thực trạng cuộc sống của những người nhập cư bán hàng rong tại Đồ Sơn, Hồng Bàng Thông qua đó đưa ra những nhận định, các giải pháp làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các
Trang 10chính sách phù hợp và khả thi nhằm phát huy các yếu tố tích cực và hài hòa, hạn chế tối đa các yếu tố tiêu cực của hiện tượng xã hội này
5.Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Quận Đồ Sơn, Quận Hồng Bàng
- Thời gian nghiên cứu: Năm 2012
6.Phương pháp nghiên cứu
nữ bán hàng rong
6.2.3 Phương pháp thu thập thông tin sẵn có
Trang 11Từ sách, các công trình nghiên cứu khoa học từ trước được xuất bản hoă ̣c đăng tải trên các tạp chí, báo, internet và các tài liệu liên quan đến đề tài Thu thâ ̣p từ các báo cáo tổng kết của quận, phường Các thông tin này được phân tích và ứng du ̣ng vào thực tiễn của đề tài nghiên cứu
6.2.4.Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng việc làm của phụ nữ bán hàng rong tại Đồ Sơn, Hồng Bàng như thế nào?
- Thu nhập từ việc bán hàng rong tại đây có đáp ứng được nhu cầu cuộc sống hàng ngày của họ không?
- Những khó khăn mà họ gặp phải khi bán hàng rong tại Đồ Sơn, Hồng Bàng là gì?
- Vấn đề an ninh việc làm bán hàng rong hiện nay tại hai địa bàn trên ra sao?
7.Giả thuyết nghiên cứu
- Công việc của người phụ nữ bán hàng rong vất vả và gặp khó khăn về nhiều mặt
- Thu nhập từ công việc bán hàng rong của phụ nữ bán hàng rong tại Đồ Sơn, Hồng bàng thấp và không ổn định
- Vấn đề an ninh việc làm bán hàng rong tại hai địa bàn trên chưa được đảm bảo
Trang 12Mặt hàng bán hàng rong
Thuận lợi khó khăn khi bán hàng rong
Điều kiện sinh hoạt của người bán hàng rong
Mong muốn của người bán hàng rong
Sự quan tâm của
cơ quan chức năng với người
bán hàng rong
TÍNH CHẤT CỦA NGHỀ BÁN HÀNG RONG TRONG NỀN KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC
KẾT LUẬN – KHUYẾN NGHỊ