1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới

28 371 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 780,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì những lí do đó, chúng tôi mong muốn qua luận văn này sẽ góp thêm một tiếng nói bằng việc đi vào khảo sát tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh và những truyện ngắn đặc sắc của Bảo Ninh đồ

Trang 1

Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh

văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới

Abstract Bảo Ninh là một trong những nhà văn điển hình xuất sắc của Văn học Việt

Nam giai đoạn sau 1975 Bảo Ninh tham gia kháng chiến từ khi còn rất trẻ và đã phụng sự hết mình cho cuộc chiến đấu thần thánh của dân tộc Hòa bình lập lại, ông bắt tay vào sự nghiệp viết văn Sáng tác của Bảo Ninh không nhiều, nhưng Bảo Ninh đã có được thành công cả trong đời sống văn học trong nước và quốc tế Vậy mà, cho đến nay, việc nghiên cứu sáng tác của Bảo Ninh, dù đã đạt được những kết quả quan trọng nhưng vẫn mới chỉ được tiến hành một cách cục bộ, bị giới hạn bởi thể loại hoặc đề tài Có thể nói, luận văn là một trong những nghiên cứu đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu toàn bộ sáng tác của Bảo Ninh một cách có hệ thống Điều này chắc chắn sẽ góp phần nhìn nhận sáng tác của Bảo Ninh một cách toàn diện

và sâu sắc hơn

Keywords Tự sự; Văn xuôi Việt Nam; Bảo Ninh

Content

Trang 2

Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 3

3.PHẠM VI NGHIÊN CỨU 10

4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10

5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 11

NỘI DUNG 11

CHƯƠNG 1: BẢO NINH TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI 12

1.1 Những biến chuyển của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới 12

1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử - xã hội 12

1.1.2 Những đổi mới của văn xuôi từ sau 1975 13

1.1.3 Những khuynh hướng mới của văn xuôi 19

1.1.3.1.Khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử kiểu mới 19

1.1.3.2 Khuynh hướng nhận thức lại hiện thực 22

1.1.3.3 Khuynh hướng triết luận 24

1.1.3.4 Khuynh hướng thực huyền ảo 27

1.2 Bảo Ninh và văn học Việt Nam đương đại 30

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp văn chương 30

1.2.2 Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh 33

1.2.3 Những truyện ngắn đặc sắc 38

CHƯƠNG 2: SÁNG TÁC CỦA BẢO NINH – MÔT CÁI NHÌN MỚI VÈ HIỆN THỰC 42

2.1 Nỗi ám ảnh quá khứ trong tác phẩm của Bảo Ninh 42

2.1.1 Kí ức về chiến tranh 42

2.1.1.1 Khúc ca bi tráng về một thế hệ người Việt Nam anh hùng thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước 43

2.1.1.2 Chiến tranh khốc liệt, tàn bạo và hủy diệt 45

2.1.2 Hiện thực bất cập thời hậu chiến 50

Trang 3

Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới

2.2 Thế giới nhân vật trong sáng tác của Bảo Ninh 56

2.1.1 Hình tượng người lính khiếm khuyết 56

2.1.2 Hình tượng người phụ nữ 58

2.1.3 Hình tượng người trí thức, người nghệ sĩ 65

2.3 Những suy tư mới mẻ về hiện thực 70

2.3.1 Chiến tranh được nhìn từ góc độ nỗi buồn 70

2.3.2 Số phận của con người trong lịch sử 76

2.3.3 Ước mơ về hòa bình, hòa giải dân tộc 80

CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐỔI MỚI NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC TỰ SỰ CỦA BẢO NINH 83

3.1 Đổi mới về kết cấu 83

3.1.1 Khái niệm kết cấu 83

3.1.2 Kết cấu dòng ý thức trong Nỗi buồn chiến tranh và những truyện ngắn đặc sắc 84

3.2 Đổi mới về giọng điệu 97

3.2.1 Giọng điệu trần thuật 97

3.2.2 Giọng ngậm ngùi buồn thương 99

3.2.3 Giọng mỉa mai chua xót 106

3.2.4 Giọng tra vấn 110

3.3 Đổi mới về phân tích tâm lý trong Nỗi buồn chiến tranh và một số truyện ngắn đặc sắc 112

KẾT LUẬN 121

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 124

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Văn xuôi Việt Nam sau 75 đổi mới trên nhiều phương diện trong đó có đổi mới quan niệm về văn chương, về con người Những thay đổi ấy bao giờ cũng được soi sáng trong những sáng tác cụ thể và được chuyển hoá thành nghệ thuật thực thụ chứ không chỉ là lý thuyết suông Văn chương khi đã trút bỏ vai trò chính trị trở lại với bản chất nghệ thuật đích thực của mình thì nhà văn có nhiều cơ hội trong việc nghiền ngẫm hiện thực Các vấn đề về cuộc sống, giá trị đạo đức, ý thức dân chủ, ý thức về cái tôi đã trở thành chủ đề nổi bật khiến cho văn học càng đổi mới mạnh

mẽ Người ta hình dung lại con người, thay đổi cách miêu tả, sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu mới Tất cả những điều này chúng ta đều bắt gặp trên những trang viết của các nhà văn Họ trăn trở tìm hướng đi mới cho con thuyền văn chương của mình Có người lặng lẽ đối chứng lại với những quan niệm sơ lược hoặc phiến diện một thời về thế sự, để từ đó nhằm đấu tranh cho sự hoàn thiện của mỗi con người trong thời đại mới như Nguyễn Minh Châu Có người suy ngẫm về quá khứ để nắm bắt nhịp thở hiện tại như Dương Thu Hương Có người tìm đề tài trong những cái bộn bề phức tạp của hiện thực cuộc sống, đối thoại cùng người đọc để tìm ra biện pháp tháo gỡ như Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Huy Thiệp Và cùng chung dòng chảy ấy ta bắt gặp Bảo Ninh - một trong những cây bút đã góp phần không nhỏ vào sự thay đổi nhanh chóng bộ mặt nền văn học Việt Nam từ sau 1975 Có thể không nói quá rằng ông là người viết về chiến tranh, viết về những năm tháng chiến đấu của người lính, về kẻ thù bên kia chiến tuyến, về những khó khăn của cuộc sống thời kỳ đất nước chia cắt và viết về những khó khăn của cuộc sống thời hậu chiến môt cách sâu sắc nhất, cảm động nhất, để lại nhiều ấn tượng nhất trong lòng người đọc Những điều ông viết có thể xem như là một sự tri ân cho những cuộc đời mà tuổi trẻ của họ kinh qua dấu ấn

thời đại của dân tộc, dấu ấn mà sau này dù có nỗi khổ nào của ngày hôm nay cũng

không sánh bằng những nỗi đau khổ đã trải qua và trái lại mai đây dù được sống sung sướng tới thế nào cũng chẳng hạnh phúc nào bằng hạnh phúc ngày đã qua

Trang 5

Tên tuổi của Bảo Ninh gắn liền với cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh -

giải thưởng Hội nhà văn năm 1991 Những năm gần đây có rất nhiều báo cáo khoa học, luận văn thạc sỹ, cũng như những luận văn tốt nghiệp viết về tác phẩm nổi

tiếng này Tuy vậy, Bảo Ninh không chỉ có một tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh, mà ông còn sáng tác truyện ngắn và trong đó có những truyện cự kỳ đặc sắc như: Mùa

khô cuối cùng, Lá thư từ Quí Sửu, Hà Nội lúc không giờ, Rửa tay gác kiếm, Thời tiết của kí ức, Khắc dấu mạn thuyền, Vô cùng xưa cũ, Tiếng vĩ cầm của quân xâm lăng, Ba lẻ một, Thách đấu Bội phản,v.v, với phong cách viết cô đọng và những

khúc vĩ thanh đầy cuốn hút Thế nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn

bộ sáng tác của Bảo Ninh Vì những lí do đó, chúng tôi mong muốn qua luận văn

này sẽ góp thêm một tiếng nói bằng việc đi vào khảo sát tiểu thuyết Nỗi buồn chiến

tranh và những truyện ngắn đặc sắc của Bảo Ninh đồng thời có so sánh với văn

xuôi Việt Nam thời kì đổi mới để thấy những nét riêng, vị trí riêng của nhà văn

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Trong phạm vi vấn đề nhằm tìm hiểu những đóng góp của tác giả Bảo Ninh vào quá trình phát triển văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới trên phương diện đề tài

và những cách tân nghệ thuật, chúng tôi quan tâm tới những công trình nghiên cứu

về lý luận thể loại, những đánh giá tổng kết về văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, đặc biệt là các bài viết về nhà văn Bảo Ninh và sáng tác của ông

Bảo Ninh được văn đàn biết đến sau truyện ngắn Trại bảy chú lùn in năm

1987, nhưng chỉ thực sự tạo ra làn sóng phê bình khen chê với tác phẩm Nỗi buồn

chiến tranh - Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam 1991 Từ khi ra mắt độc giả Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đã trở thành một “hiện tượng có vấn đề” của văn

học nước nhà Cuốn tiểu thuyết ngay sau khi xuất bản (với tên gọi Thân phận tình

yêu do Hội Nhà văn in) đã trở thành tâm điểm của cuộc thảo luận do tuần báo Văn

nghệ tổ chức Trong cuộc thảo luận ban tổ chức có đưa ra nhận định: “Đây là một trong số ít tác phẩm được dư luận bạn đọc hết sức chú ý và đã gây ra nhiều luồng ý kiến nhận xét khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Âu đó cũng là lẽ thường tình và

là điều đáng mừng với một tác phẩm văn học”

Trang 6

Về hướng khẳng định giá trị của cuốn tiểu thuyết người đầu tiên mà chúng ta

không thể bỏ qua là Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến Trong bài “Những nghịch lý của

của cuộc chiến tranh”, ông đã nhiệt liệt cổ vũ cho một lối nghĩ mới, một lối viết

mới, xuất phát từ nhận xét cho rằng văn học ta từ 1945 - 1975 chủ yếu nói bằng

“thuận lý” một nghĩa Bộ mặt “gớm guốc” tàn bạo của chiến tranh được Bảo Ninh

mô tả rất hiện thực nhưng không phải không có sự thăng hoa, ông đã khẳng định giá trị tích cực của tác phẩm là đem đến cho người đọc một cái nhìn mới, sâu sắc về chiến tranh

Các ý kiến tham gia thảo luận của các tác giả Trần Đình Sử, Cao Tiến Lê, Phạm Tiến Duật, Nguyên Ngọc, Vũ Quần Phương, Hồ Phương, Chu Lai, Nguyễn Phan Hách, Đỗ Đức Hiểu, Ngô Văn Phú, Tôn Phương Lan, Nguyễn Trọng Tân, đưa ra đều sâu sắc và thuyết phục xong đều nhất trí ở giá trị khẳng định: “Một tác phẩm văn chương đích thực, văn đẹp lắm, cực kỳ đẹp, chi tiết tuyệt vời gây ấn

tượng không thể nào quên Những chi tiết gợi bóng dáng một tác phẩm lớn.”

(Nguyễn Phan Hách) Sau đó các ý kiến này đều được đăng tải trên báo văn nghệ số

37, 43, 44, 47 năm 1991 Tiêu biểu là các bài viết “Đôi điều quanh ba cuốn tiểu

thuyết vừa được giải của Nguyễn Khắc Phê; “Về một xu hướng tiếp cận tác phẩm”

của Đỗ Ngọc Thống (bút chiến với Đỗ Văn Khang); “Những nhịp mạnh của tiểu

thuyết Nỗi buồn chiến tranh” của Đỗ Đức Hiểu in trong Tạp chí Tác phẩm mới

tháng 1/1992.v.v

Về hướng phủ nhận giá trị của tác phẩm, người chính thức phủ nhận hoàn toàn tác phẩm của Bảo Ninh là tiến sỹ Mỹ học Đỗ Văn Khang trên báo Văn nghệ

ngày 26/10/1991 với bài “ Nghĩ gì khi đọc Thân phận tình yêu” ông đã phủ nhận

không thương tiếc giá trị của tác phẩm :"Tác phẩm có cảm hứng chủ đạo là dối bời,

bất định, tư tưởng rõ ràng hoang mang, dễ rơi vào phủ định” Những cảnh tàn khốc

của chiến tranh trong tác phẩm bị gọi là “chủ nghĩa tự nhiên trong văn học” Nhân vật trong tác phẩm bị “thiết kế sai, chẳng có ý tưởng nào cả” Cách tiếp cận như thế

đã bị một số nhà phê bình lên tiếng phản bác một cách gay gắt Tiếp đó là ý kiến

phê phán không kém phần quyết liệt đó là Trần Duy Châu trên tạp chí Cộng Sản số

Trang 7

10/1994 đã cho rằng: “Tác giả đã không thể lập luận được đã cố ý sử dụng những yếu tố tâm thần không bình thường để được “ miễn truy cứu trách nhiệm” trước tòa

án lương tâm của thời đại, đây là “bài ai điếu của kẻ lạc loài xúc phạm những người

đang sống” Về nghệ thuật của tiểu thuyết thì ông cho là : “Thuần túy là kỹ thuật - một sự khéo tay nếu có” Đã có rất nhiều ý kiến không đồng tình với ý kiến nhận

xét của Trần Duy Châu

Sau đó là một khoảng thời gian dài tác phẩm bị lãng quên, vắng bóng trong các công trình nghiên cứu, các tác phẩm phê bình và các chuyên luận về văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới Mãi đến năm 2003, cuốn sách của Bảo Ninh lặng lẽ

được tái bản và xuất hiện trong đời sống văn học Việt Nam với tiêu đề Nỗi buồn

chiến tranh (NXB Hội Nhà văn) và Thân phận tình yêu (NXN Hội phụ nữ) Trong

những bài viết đánh giá về tác phẩm trong những năm gần đây đáng chú ý phải kể

đến bài viết của TS Phạm Xuân Thạch với nhan đề Nỗi buồn chiến tranh viết về

chiến tranh thời hậu chiến - từ chủ nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới bút pháp

đăng trong cuốn Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy

do Nguyễn Văn Long - Lã Nhâm Thìn chủ biên - NXB GD - 2006 Bài viết đã đưa

ra những lí giải sâu sắc về những cách tân trong cấu trúc tác phẩm, đổi mới về đề tài, đổi mới về xây dựng nhân vật từ đó đưa tác giả đưa ra một đề nghị một cách đọc mới – “đọc sâu”, “đọc liên văn bản” để có thể chạm đến mọi tầng nghĩa của tác

phẩm Sau đó là các bài viết: Phép lặng với việc đổi mới một số nét về nghệ thuật

trong Thân phận của tình yêu - Báo cáo khoa học năm 2004 của Nguyễn Ngọc

Bích, Kết cấu không gian trong Thân Phận của tình yêu - Báo cáo khoa học năm

2002 của Khương Thị Thu Cúc, Nghệ thuật trần thuật của Bảo Ninh qua thân phận

của tình yêu - Báo cáo khoa học năm 2001 của Đỗ Văn Hiểu Từ đại học Paris TS

Đoàn Cầm Thi có bài viết “Chiến tranh, tình yêu, tình dục trong văn học Việt Nam

đương đại” Trên các website chính thức của Bộ Thông tin và Truyền thông cũng

đăng tải nhiều bài viết về tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh cũng như những bài phỏng

vấn tác giả Qua đây người đọc có thể hiểu rõ hơn về quan niệm văn chương của nhà văn cũng như những yếu tố tác động tới nghề văn của Bảo Ninh:

Trang 8

http://www.vietnamnet.vn;http://www.vannghesongcuulong.org.vn;http://tuoitre.vn;

http://evan.vnepress.net Ngoài ra Nỗi buồn chiến tranh cũng trở thành đề tài

nghiên cứu của nhiều học viên cao học, sinh viên tại các trường đại học, Viện

nghiên cứu chuyên ngành tiêu biểu: Thân phận tình yêu - Nhìn từ góc độ thi pháp

tiểu thuyết Luận văn tốt nghiệp, ĐHSP Hà Nội, 2002 của Nguyễn Thị Phương

Thanh; Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh

Luận văn thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội, 2006 của Nguyễn Thị Thanh; v.v

Như vậy đã có một dòng chảy phê bình, đánh giá về tác giả Bảo Ninh nhưng

chủ yếu thông qua tiếp cận tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh mà chưa có tác giả nào

tiếp cận toàn bộ sáng tác của tác giả Chính vì thế, trong phạm vi nghiên cứu của mình chúng tôi muốn góp thêm một tiếng nói tri ân đối với quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc của nhà văn với mong muốn xác định những đóng góp của nhà văn vào sự Đổi mới văn xuôi Việt Nam trong toàn bộ sáng tác của mình chứ

không tập trung vào một tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh

Trên đây là những trình bày tổng quan của chúng tôi về tình hình nghiên cứu văn xuôi Việt Nam thời kì Đổi mới, những bài viết, những công trình khoa học về tác giả Bảo Ninh và sáng tác của ông có liên quan đến đề tài

3.PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, ba tập truyện ngắn Chuyện xưa, kết đi

được chưa?, Lan man trong lúc kẹt xe và Truyện ngắn của Bảo Ninh Nghiên cứu

trên các bình diện: đề tài, hệ thống nhân vật, đặc điểm nghệ thuật để thấy được những đổi mới của Bảo Ninh trong sáng tác, từ đó có những đánh giá đúng đắn về những đóng góp của tác giả vào văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới

4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục đích nghiên cứu của mình chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp sau:

4.1 Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Vấn đề vị trí của một tác giả trong một

giai đoạn văn học có liên quan đến nhiều lĩnh vực khoa học như văn học sử, lý luận văn học, ngôn ngữ học Chúng tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu của các

Trang 9

ngành khoa học liên quan để hỗ trợ và làm sáng tỏ các khía cạnh của vấn đề nghiên cứu

4.2 Trên cơ sở của đề tài đặt ra và tiếp thu những lí thuyết nghiên cứu văn học hiện

đại một cách tích cực, luận văn sử dụng phương pháp luận: Phương pháp thi pháp

học kết hợp lí thuyết tự sự học được chúng tôi sử dụng như một phương pháp nòng

cốt của luận văn nhằm thể hiện cụ thể và nổi bật được những giá trị về mặt thẩm mỹ trong sáng tác của Bảo Ninh cũng như các sáng tác và khuynh hướng văn học thời kì Đổi mới Ngoài ra, trong quá trình tiến hành đề tài nghiên cứu, luận văn của chúng tôi còn phối kết hợp các thao tác phân tích, so sánh, tổng hợp, v.v cũng như vận dụng một số nghiên cứu của lịch sử văn học (sưu tầm, thống kê tư liệu về tác giả, sự nghiệp sáng tác…)

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận luận văn có cấu trúc như sau:

Chương1: Bảo Ninh trong đời sống văn học đương đại

Chương 2: Sáng tác của Bảo Ninh – Một cái nhìn mới về hiện thực

Chương 3: Những đổi mới nghệ thuật trong sáng tác tự sự của Bảo Ninh

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: BẢO NINH TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI

1.1 Những biến chuyển của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới

1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử - xã hội và văn học

Cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân ta giành được chủ quyền sau hơn tám mươi năm bị thực dân Pháp đô hộ Chưa kịp bắt tay vào xây dựng đất nước thì chúng ta đã phải tiến hành cuộc kháng chiến trường kì gian khổ chống Pháp kéo dài suốt chín năm Sau đó lại là cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ và tay sai Mãi tới ngày 30 tháng Tư năm 1975, cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm kéo dài suốt ba mươi năm mới thực sự chấm dứt Tuy vậy từ năm 1978 đến năm 1979 chúng ta vẫn còn phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh ở biên giới Tây – Nam và biên giới phía Bắc để bảo vệ chủ quyền Tổ quốc Biết bao xương máu đã đổ xuống, biết bao trí tuệ, sức người, sức của đã hóa thân cho một dải non sông hòa bình thống

Trang 10

nhất Hoàn cảnh lịch sử có nhiều biến động dữ dội ấy đã tác động trực tiếp tới nền

văn học Việt Nam vốn đã bề bộn đa dạng phức tạp và không ít thăng trầm biến động Nhưng bao quát ta vẫn có thể nhận thấy một khuynh hướng vận động bao trùm chi phối một cách sâu sắc mọi mặt của nền văn học từ tư tưởng, cảm hứng chủ

đạo đến các phương thức nghệ thuật, đó là xu hướng văn học vận động theo

hướng dân chủ hóa, tinh thần nhân bản và sự thức tỉnh ý thức cá nhân

1.1.2 Những đổi mới của văn xuôi từ sau 1975

Quan sát sự vận động của văn học Việt Nam từ sau 1975, chúng ta dễ dàng nhận thấy lĩnh vực văn xuôi nghệ thuật có sự biến đổi thật sự mạnh mẽ và sâu sắc Nhìn trên những nét lớn có thể thấy tập trung ở những phương diện sau: mở rộng quan niệm về hiện thực đi liền với đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, đổi mới nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ, giọng điệu

1.1.3 Những khuynh hướng mới của văn xuôi

1.1.3.1.Khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử kiểu mới

Quan sát các sáng tác thuộc khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử kiểu mới có thể nhận thấy “một hiện tượng có tính chất phổ quát: quá trình cá nhân hóa hư cấu” [83] Ở đây, nhà văn không chịu sự chi phối và lệ thuộc từ các quan niệm của cộng đồng mà hoàn toàn đưa ý kiến chủ quan của mình vào trung tâm các sáng tác tự sự Thông qua sự kiện và nhân vật lịch sử, nhà văn thiếp lập một cái nhìn hoàn toàn mang tính dấu ấn cá nhân về lịch sử, những bài học lịch sử có liên quan trực tiếp đến đời sống hôm nay Và như vậy, lịch sử đã trở thành một phương tiện, một chất liệu để nhà văn thể hiện những suy tư mang tầm khái quát về cuộc đời và con

người (Hội thề của Nguyễn Quang Thân, Sắc đẹp khuynh thành của Kiều Thanh Tùng, Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh, Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác, Khúc khải hoàn dang dở của Hà Ân, bộ sách 4 tập mang tên: Bão táp cung đình, Thăng Long nổi giận, Huyền Trân công chúa và Vương

triều sụp đổ của Hoàng Quốc Hải )

Trang 11

1.1.3.2 Khuynh hướng nhận thức lại hiện thực

Khuynh hướng này phát triển sôi nổi vào những năm đầu của thời kỳ đổi mới, nó ra đời đáp ứng yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật, nhiều cây bút đã nhìn lại hiện thực của thời kỳ vừa qua, phơi bày những mặt trái còn bị che khuất, lên án những lực lượng, những tư tưởng và thói quen đã lỗi thời, trở thành vật cản trên

bước đường phát triển của xã hội (Thời xa vắng của Lê Lựu, Bến không chồng của Dương Hướng, Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng, Những thiên

đường mù của Dương Thu Hương, Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh, Mùa trái cóc ở miền Nam và Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, Thân phận tình yêu của Bảo

Ninh, Chim én bay của Nguyễn Trí Huân, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai )

1.1.3.3 Khuynh hướng triết luận

Chiêm nghiệm, triết lý đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu và không chỉ ở những nhà văn có nhiều từng trải như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, mà còn là một đặc điểm của nhiều cây bút thuộc các thế hệ sau như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hòa Vang

1.1.3.4 Khuynh hướng chủ nghĩa hiện thực huyền ảo

Huyền thoại hay thần thoại với tư cách là ý thức nguyên hợp của các cộng đồng người nguyên thủy Từ những mảnh vỡ còn sót lại của ý thức nguyên thủy, huyền thoại đã đi vào ý thức sáng tạo văn học Tiêu biểu cho những sáng tạo này là

sự bùng nổ văn xuôi Mỹ La tinh vào những năm 60 của thế kỷ XX Những sáng tác này tạo thành trào lưu văn học theo “chủ nghĩa hiện thực huyền ảo” Và như vậy, trong tác phẩm văn học, huyền ảo được xem là một yếu tố nghệ thuật Huyền ảo bao giờ cũng có sự pha trộn giữa cái thực và cái ảo Việc sử dụng yếu tố huyền ảo trong tác phẩm văn học sẽ giúp cho tác phẩm trở nên lạ hóa, đa nghĩa, tạo ấn tượng mạnh

trong lòng người đọc (Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh; Cõi người rung chuông tận thế của Tạ Duy Anh; Những đứa trẻ chết già, Bả

giời, Người đi vắng, Trí nhớ suy tàn, Thoạt kỳ thủy Ngồi của Nguyễn Bình Phương;

Sự trở lại của vết xước của Trần Nhã Thụy

1.2 Bảo Ninh và văn học Việt Nam đương đại

Trang 12

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp văn chương

Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương sinh ngày 18 tháng 6 năm 1952 tại Diễn Châu, Nghệ An Quê gốc ở xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình nhưng lớn lên ở Hà Nội Sinh ra trong một gia đình trí thức, cha là một vị giáo sư ngôn ngữ nổi tiếng Việt Nam – GS Hoàng Tuệ Anh vào bộ đội năm 1969, chiến đấu ở mặt trận B3 – Tây Nguyên, tại tiểu đoàn 5, trung đoàn 24, sư đoàn 10 Năm

1975 anh giải ngũ Rời quân ngũ cùng bộ đồ lính bạc phếch trên người, Bảo Ninh lang thang kiếm sống đâu đó với những công việc chẳng lấy gì làm vui vẻ Chỉ đến khi ba của anh, Giáo sư ngôn ngữ Hoàng Tuệ dắt anh đến tận nhà người bạn thân là Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến (Trường viết văn Nguyễn Du) thì cuộc đời Bảo Ninh

mới thực sự gắn chặt với nghệp văn và trở thành nhà văn nổi tiếng

1.2.2 Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh

Năm 1991 có ba cuốn tiểu thuyết được trao giải nhất của Hội nhà văn là:

Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Bến không chồng của

Dương Hướng, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh Trong đó, Mảnh đất lắm người

nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Bến không chồng của Dương Hướng là

những tác phẩm sớm được dư luận khẳng định còn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo

Ninh lại có một số phận đặc biệt sóng gió Sau 15 năm vắng bóng trong đời sống

văn học Việt Nam, hiện nay Nỗi buồn chiến tranh đã khẳng định được giá trị của

mình, được đánh giá là cuốn tiểu thuyết về chiến tranh đặc sắc nhất

1.2.3 Những truyện ngắn đặc sắc

Ngoài cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Nỗi buồn chiến tranh được giải

thưởng Hội nhà văn, các tác phẩm của Bảo Ninh chủ yếu là truyện ngắn (khoảng 40

truyện được in trong 3 cuốn: Chuyện xưa kết đi, được chưa? (2009), Lan man trong

lúc kẹt xe (2005), Truyện ngắn Bảo Ninh (2002), với chủ đề đa dạng: có truyện về

chiến tranh, có truyện về hậu chiến, có truyện về Hà Nội thời thuộc địa,v v, Có thể

nói, truyện ngắn là những lát cắt của tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh (tiêu biểu nhất là truyện Mùa khô cuối cùng), trong sự thống nhất đến gần như trọn vẹn của

những vấn đề được đề cập: nỗi buồn hậu phương Truyện ngắn của Bảo Ninh tuy

Trang 13

nhỏ bé hơn so với thành tựu của tiểu thuyết nhưng nó vẫn là một phần quan trọng làm nên thân phận nghiệp văn của Bảo Ninh, nó là câu chuyện cuộc đời, nhưng được triển khai trên một mảnh đất khác, nên không hề bị cớm bóng tiểu thuyết, mà với số lượng nhiều hơn, sẽ đem đến được nhiều thể nghiệm hơn Đó là điều chúng

ta ghi nhận và trân trọng những đóng góp của tác giả vào sự phát triển của văn học Việt Nam

CHƯƠNG 2: SÁNG TÁC CỦA BẢO NINH - MỘI CÁI NHÌN MỚI VỀ HIỆN THỰC

2.1 Nỗi ám ảnh quá khứ trong tác phẩm của Bảo Ninh

2.1.1 Kí ức về chiến tranh

Trong hầu hết truyện ngắn và tiểu thuyết của Bảo Ninh chiến tranh không được miêu tả trực tiếp mà đều được tái hiện lại qua qua kí ức của nhân vật: ở

Nỗi buồn chiến tranh là dòng hồi ức của nhân vật Kiên; còn trong các truyện ngắn

hầu như đều thống nhất ở dòng hồi ức của người kể chuyện xưng “tôi”: Thời tiết

của kí ức, Hà Nội lúc không giờ, Lá thư từ Quí Sửu, Trại bảy chú Lùn, Mùa khô cuối cùng, Ba lẻ một, Đêm trừ tịch, Ngôi sao vô danh, Rửa tay gác kiếm, Khắc dấu mạn thuyền, Giang, Tiếng vĩ cầm của quân xâm lăng.v.v

2.1.1.1 Khúc ca bi tráng về một thế hệ người Việt Nam anh hùng thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Kiên, Mộc, Quảng, Từ, Tạo “voi”, Tâm, Cừ, Hòa, Hiền, Thịnh “nhớn”, Thịnh “con”, Vượng, Phượng, Trung, Vinh, Ynua, Tý, Hinh, Huy, Khương, Tùng,v.v, và những người đồng đội của họ là đại diện cho cả thế hệ những người cầm súng bảo vệ đất nước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Họ là những “người con ưu tú nhất, tốt đẹp nhất, những người xứng đáng hơn ai hết được quyền sống trên cõi dương này”[100,193] Vậy mà họ đã chấp nhận hi sinh “lẳng lặng chấp nhận quy luật giản đơn của chiến tranh: mình chết thì bạn mình sống!”[100,193]

Họ chính là những “liệt sĩ của lòng nhân”, “những con người tuyệt vời”

2.1.1.2 Chiến tranh khốc liệt, tàn bạo và hủy diệt

Trang 14

Được sống sót trở về, được sống trong hòa bình để nhìn lại cuộc chiến mà cá nhân Bảo Ninh và thời đại ông vừa đi qua, nhà văn đã có một cái nhìn từng trải hơn,

và từ đó có một nhận thức sâu sắc, mang tính trải nghiệm hơn về bản chất của chiến tranh Chiến tranh không chỉ có mặt anh hùng ca, mà khủng khiếp hơn chiến tranh

để lại nỗi đau cả thể xác và tinh thần cho con người không chỉ ở một thế hệ, nó để lại một nỗi đau “truyền kiếp” (Chiến tranh, trước hết là sự hủy diệt, là cái chết, là chấm dứt sự sống; chiến tranh hủy diệt cả tinh thần, nhân tính của con người; )

2.1.2 Hiện thực bất cập thời hậu chiến

Chiến tranh đâu phải sẽ chấm dứt khi có kẻ thắng người bại, hòa bình đâu phải là chiến tranh ngủ yên trong quá khứ, đằng sau hòa bình, chiến tranh vẫn là nỗi nhức nhối đeo bám trong mỗi giấc mơ của những người lính Mọi chuyện của chiến tranh tưởng như đã chấm dứt vào năm 1975, mọi chuyện tưởng như sẽ được “rửa tay gác kiếm”, ấy vậy mà có những người lính bước ra từ cuộc chiến lại bị rơi vào

bi kịch, chủ yếu bởi những chấn thương tinh thần sâu sắc – kết quả của những kí ức không thể phai mờ về cuộc chiến tranh triền miên, khủng khiếp đem lại Họ trở thànhnhững người bị “mắc kẹt” trong thời bình, trở thành những người “ăn mày” kí

ức và mãi mãi không bao giờ họ chữa lành vết thương tâm hồn để sống một cuộc sống bình thường như mọi người

2.1.3 Kí ức về Hà Nội bình yên và những biến động lịch sử

Bảo Ninh không chỉ viết về chiến tranh ông còn đề cập đến nhiều khía cạnh

khác của lịch sử Đó là những biến cố lịch sử trong Thời tiết của kí ức, hình ảnh Hà Nội bình yên và những người Hà Nội xưa cũ (Nỗi buồn chiến tranh, Hà Nội lúc

không giờ, Tiếng vĩ cầm của quân xâm lăng), v.v

2.2 Thế giới nhân vật trong sáng tác của Bảo Ninh

2.2.1 Hình tượng người lính khiếm khuyết

Từ sau 1975, con người trở về với cuộc sống bình thường, cũng có nghĩa là trở về với cuộc sống đời thường phồn tạp, muôn vẻ, lẫn lộn tốt xấu, trắng đen, bi hài,…,các nhà văn lại đề cập đến con người với tư cách là sản phẩm bất toàn Nhưng nhìn chung trong quá trình thể hiện con người khiếm khuyết, ít người kể đến

Ngày đăng: 26/06/2015, 14:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w