1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử việt nam từ năm 1930 đến 1945 ở trường trung học phổ thông (Chương trình chuẩn).

57 924 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 120,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua việc sử dụng tài liệu văn học giáo viên sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn vềkiến thức lịch sử, từ đó làm nảy sinh những tình cảm đúng đắn và hình thành những kỹnăng học tập, làm việc

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Dạy học là một hoạt động đặc thù vì đối tượng dạy học là con người, đòi hỏi giáoviên phải có vốn kiến thức về bộ môn và phương pháp dạy học Phương pháp dạy họclịch sử là con đường, cách thức hoạt động của thầy và trò trong quá trình thống nhấtviệc giảng dạy giáo viên và học tập của học sinh, nhằm truyền thụ và tiếp thu kiến thứclịch sử (cả lý thuyết và thực hành) Trong dạy học lịch sử không phải chỉ có mộtphương pháp đơn nhất mà có cả một hệ thống phương pháp Người giáo viên bên cạnh

sử dụng phương pháp lời nói sinh động, sử dụng đồ dùng trực quan mềm dẻo, linhhoạt…thì việc sử dụng tài liệu văn học để bổ sung vào bài học là không thể thiếuđược Qua việc sử dụng tài liệu văn học giáo viên sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn vềkiến thức lịch sử, từ đó làm nảy sinh những tình cảm đúng đắn và hình thành những kỹnăng học tập, làm việc tương ứng, đặc biệt rèn luyện cho học sinh có phương pháp họctập lịch sử, phát huy năng lực tự học và trình độ tư duy của bản thân

Mặt khác, tại Hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ hai, khoá tám đã đặt

ra nhiều vấn đề quan trọng như: coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, có vai trò quyếtđịnh đối với sự tồn vong, hưng thịnh của đất nước Riêng bộ môn lịch sử phải xâydựng nội dung, chương trình, phương pháp, cấu trúc như thế nào để khắc phục đượcquan niệm chỉ chú trọng lịch sử chính trị quân sự, đấu tranh giai cấp coi nhẹ lịch sửvăn hoá, lịch sử nghệ thuật…Vì thế, việc sử dụng tài liệu văn học đặc biệt là việc sửdụng thơ ca trong dạy học sẽ phần nào khắc phục được quan niệm trên

Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai giảng chào mừng năm học mới, Bác Hồ đã

từng nói: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần nhỏ vào công học tập của các em [1,tr26]

Trong cuốn “Giáo dục học, tập 1” NXBGD, Hà Nội, năm 1978, Hà Thế Ngữ

-Đặng Vũ Hoạt có viết: “Mỗi môn học chỉ có khả năng phản ánh những kết quả nhận

Trang 2

thức của con người về một hoặc một số lĩnh vực nhất định của thế giới khách quan Chính vì thế, trong quá trình dạy học, học sinh cần được học nhiều môn học tương ứng với các khoa học nhất định Các môn học này có mối liên hệ qua lại với nhau rất mật thiết” [6,tr220] Tác giả muốn nhấn mạnh yêu cầu của dạy học liên môn Phương

pháp sử dụng tài liệu văn học được chú trọng sẽ cung cấp học sinh vốn hiểu biết về cáclĩnh vực, góp phần rút ngắn khoảng cách giữa các môn học

Đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói phải “phát huy tính tích cực của học sinh” và

Chủ tịch Hồ Chí Minh (tại Hội nghị tổng kết phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt” ) đã

khuyên người dạy là “tránh lối dạy nhồi sọ” Trên thực tế, mặc dù có nhiều chuyển

biến trong dạy và học nhưng vẫn còn nhiều bất cập Đa số học sinh không hứng thú

học tập lịch sử, học chỉ để “đối phó” Nhiều học sinh không nắm vững kiến thức lịch

sử nhất là về kiến thức lịch sử dân tộc…

Về phía giáo viên, mặc dù đã chú ý đổi mới phương pháp giảng dạy, nhưng nhìn

chung vẫn còn tồn tại lối dạy “thầy đọc,trò ghi”, “dạy chay”…Đây là hệ quả của

nhiều tác nhân trong đó trước hết phải kể đến phương pháp giảng dạy của giáo viên.Điều này đặt ra yêu cầu phải đổi mới phương pháp dạy học, trong đó có vấn đề đổi mớiphương pháp sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử

Lịch sử dân tộc Việt Nam gắn liền với lịch sử của “dựng nước và giữ nước”, trong

đó giai đoạn lịch sử Việt Nam 1930 – 1945 là một trong những trang sử hào hùng, tiêubiểu cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Đây là giai đoạn mười lăm năm vận độngcủa cách mạng tư sản dân quyền ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chèo lái conthuyền cách mạng vượt qua bao thác ghềnh cho đến ngày giành thắng lợi Trong quátrình ấy, Đảng ta đã không những đề ra đường lối chiến lược đúng đắn mà còn tuỳ vàohoàn cảnh cụ thể để đưa ra sách lược kịp thời, giành thắng lợi trọn vẹn mà ít tổn thấtnhất Do vậy, dạy học lịch sử giai đoạn này một mặt giúp học sinh hiểu sâu sắc lịch sửdân tộc nhưng mặt khác cũng củng cố niềm tin yêu vào Đảng, Bác Hồ, vào sự nghiệp

Trang 3

cách mạng nước ta Để làm được điều này thì việc đổi mới phương pháp dạy học, đặcbiệt là việc sử dung tài liệu văn học trong dạy học lịch sử đóng một vai trò quan trọngkhông thể thiếu.

Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945”(Sách giáo khoa lịch sử,lớp 12, chương trình

cơ bản) bài tập lớn của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề sử sụng tài liệu văn học trong dạy họclịch sử ở trường trung học phổ thông nhưng nhưng chủ yếu các công trình này đều tậptrung nghiên cứu một khía cạnh nhỏ của vấn đề hay nghiên cứu các giai đoạn lịch sửkhác nhau, chứ chưa có công trình khoa học nào hoàn chỉnh về việc sử dụng tài liệuvăn học trong dạy học lịch sử ở trường THPT giai đoàn 1930 – 1945

Trong cuốn: “Phương pháp dạy học lịch sử” của Phan Ngọc Liên, (2002).

“Phương pháp dạy học lịch sử” ở THPT của Phan Ngọc Liên, Trần Vĩnh Tường, Đặng

Văn Hồ, (1998) … Các giáo trình này đã trình bày những nguyên tắc cũng như biệnpháp sử dụng TLVH nói chung vào trong quá trình dạy học lich sử

Những công trình mang tính chuyên khảo như: “Ca dao lịch sử” của Phạm Hồng Việt (2007); “Lịch sử dân tộc qua các trang thơ văn” Khoa sử (2002).

Các luận văn Thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp: Luận văn thạc sĩ“Sử dụng tài liệu văn học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 - 1954 ở trường THPT (Chương trình chuẩn)” của Hồ Phi Cường.

Ngoài ra ở nước ta còn có một số bài được đăng tải trên tạp chí nghiên cứu lịch sửcũng đã đề cập đến vấn đề này Tuy nhiên, do mục đích của các công trình cho đến nay

vẫn thiếu vắng một công trình trình bày một cách hệ thống về “Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở trường THPT giai đoạn 1930 – 1945”.

Mặc dù vậy những công trình trên là nguồn tư liệu quý báu để tác giả tham khảo vàhoàn thành đề tài này

Trang 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình sử dụng tài liệu văn học để dạy họclịch sử Việt Nam từ 1930 – 1945 ở trường THPT (Chương trình Chuẩn)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Với đối tượng nghiên cứu xác định như trên, đề tài đi sâu nghiên cứu việc lựachọn, sử dụng tài liệu văn học để dạy học lịch sử Việt Nam từ 1930 - 1945 ở trườngTHPT (Chương trình Chuẩn), bài nội khóa và tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trườngTHPT

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích

Nghiên cứu quá trình sử dụng tài liệu văn học để dạy học lịch sử Việt Nam từ năm

1930 - 1945 ở trường THPT (Chương trình Chuẩn) nhằm tạo hứng thú học tập và pháthuy tính tích cực cho HS, từ đó nâng cao hiệu quả bài học lịch sử

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu trên, đề tài có nhiệm vụ:

- Điều tra cơ bản để tìm hiểu nhận thức và thực tiễn của việc sử dụng tài liệu vănhọc trong DHLSVN ở trường THPT

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc sử dụng tài liệu văn học trong DHLSVN ởtrường THPT

- Xác định nội dung cơ bản của LSVN giai đoạn 1930 – 1945 ở trường THPT(Chương trình Chuẩn)

- Đề xuất nguyên tắc lựa chọn tài liệu văn học để dạy học lịch sử Việt Nam từ 1930

- 1945 ở trường THPT (Chương trình Chuẩn)

- Xây dựng hệ thống tài liệu văn học để DHLSVN giai đoạn 1930 - 1945 ở trườngTHPT (Chương trình Chuẩn)

Trang 5

- Đề xuất nguyên tắc và biện pháp sử dụng tài liệu văn học để DHLSVN giai đoạn

1930 - 1945 ở trường THPT (Chương Trình Chuẩn)

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

Trong phạm vi khuôn khổ bài viết này, tôi tập trung tìm hiểu các tài liệu văn họcgiai đoạn 1930 – 1945, các bài viết, bài nghiên cứu khoa học, khóa luận và các bài luậnvăn thạc sĩ để làm rõ hơn đề tài này

5.2 Phương pháp nghiên cứu.

 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục phổthông nói chung và giáo dục lịch sử nới riêng ở trường THPT

 Để thực hiện đề tài tác giả sử dụng phương pháp lý luận tâm lý, giáo dục học,phương pháp dạy học lịch sử của các nhà giáo dục, giáo dục lịch sử…để rút ra nhữngnhận xét, kết luận cần thiết

6 Đóng góp của đề tài

 Cung cấp hệ thống tư liệu về “Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở

trường THPT giai đoạn 1930 – 1945”

 Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tư liệu tham khảo cho những nhà khoa học

và những ai quan tâm về vấn đề này Giúp người đọc có cảm nhận và hiểu biết sâu sắc

hơn về việc “Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở trường THPT giai đoạn

Chương 2: Hệ thống thơ ca cách mạng để dạy học lịch sử Việt Nam từ 1930-1945

ở trường THPT (Chương trình Chuẩn)

Chương 3: Nguyên tắc và biện pháp sử dụng tài liệu văn học để dạy học lịch sử

Việt Nam từ năm 1930 – 1945 ở trường THPT (Chương trình Chuẩn)

Trang 6

cua-Hoa-thuong-Thich-Quang-Duc-trong-phong-trao-tranh-dau-cua-Phat-giao-

http://www.hoalinhthoai.com/news/detail/news-3470/Anh-huong-tu-cuoc-tu-thieu-Viet-Nam-nam-1963.html

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TÀI LIỆU VĂN HỌC ĐỂ DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ

THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN).

1.1 Cơ sở lý luận của việc sử dụng tài liệu văn học để dạy học lịch sử ở trường 1.1.1 Một số khái niệm

Có rất nhiều định nghĩa về văn học như: Văn học là một tắm gương phản chiếu

cuộc sống; Văn học là nhân học (Mac-xim Goóc-ky); Văn học là một loại hình sángtác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội con người Phương thức sáng tạo củavăn học thông qua sự hư cấu, cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện quangôn ngữ Khái niệm văn học đôi khi có nghĩa tương tự như khái niệm văn chương và

thường bị dung lẫn lộn Theo từ điển tiếng Việt, văn học là “nghệ thuật dung ngôn ngữ và hình tượng để thể hiện đời sống xã hội và con người” Như vậy, dù là định

nghĩa nào thì đối tượng của văn học đều là con người và xã hội trong một không gian

và thời gian cụ thể

Tài liệu là văn bản giúp cho việc tìm hiểu một vấn đề nào đó Như vậy, khái niệm

tài liệu có nội hàm rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xãhội

Tài liệu văn học là những công trình, những tác phẩm văn học được nhà văn sáng

tác nên dưới nhiều hình thức, thể loại khác nhau

Tri thức lịch sử là những hiểu biết của con người về quá trình phát triển của xã hội

loài người cũng như dân tộc Tri thức lịch sử gồm nhiều yếu tố như sự kiện lịch sử, cácniên đại, địa danh, nhân vật, biểu tượng, khái niệm, quy luật lịch sử…[Phan Ngọc Liên(cb), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (2009), Phương pháp dạy học Lịch sử, Tập 1,

Trang 7

Nxb ĐHQG, Hà Nội; tr 138] Trong day học lịch sử, tri thức lịch sử chính là nhữngyếu tố quan trọng nhất để giáo dục tư tưởng chính trị, hình thành thế giới quan khoahọc cho học sinh.

1.1.2 Mối quan hệ giữa tài liệu văn học với tri thức lịch sử.

Tài liệu văn học với tri thức lịch sử có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tuy chứcnăng nhiệm vụ của mỗi bên là khác nhau nhưng cả hai đều có chung đối tượng là conngười, cả hai đều phản ánh mọi hoạt động của xã hội loài người trong lao động, sinhhoạt và cả trong việc chống thiên tai, ngoại xâm

Tài liệu văn học bao gồm nhiều tác phẩm, tác giả và nội dung khác nhau nhưngtrong đó mỗi tác giả đều viết lên nó với những tâm tư của chính bản thân mình Để cóđược những tác phẩm này, các nhà thơ nhà văn đã phải xâm nhập tìm hiểu thực tế,nghiên cứu các tri thức lịch sử liên quan để rồi tìm ra nguồn cảm hứng hay mạch cảmxúc để viết nên tác phẩm của mình

Tuy mỗi tác giả có một phong cách và cách cảm nhận riêng nhưng lại giống nhau

ở chỗ đó là đã mang được hơi thở, tâm hồn thời đại, tinh thần chiến đấu… Những gì họnhìn thấy, cảm giác được đều ghi lại thông qua các tác phẩm của mình Vì thế, tài liệuvăn học cũng là một trong những tri thức lịch sử cụ thể nhất, sinh động nhất

Hơn thế nữa, bản thân các bài thơ, bài văn chính là những tư liệu lịch sử rất hùnghồn, có giá trị, minh chứng cho từng chặng đường mà lịch sử đã đi qua Chẳng hạnnhư: Bảng tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh, Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Vợ nhặt củaKim Lân, Khoảng trời và hố bom của Lâm Thị Mỹ Dạ… Ở những tác phẩm này thì giátrị lịch sử và giá trị nghệ thuật đã hòa quyện vào nhau Tuy nhiên, vì phản ánh lịch sửthông qua nghệ thuật ngôn từ, nên ngoài việc phản ánh sự thật lịch sử nó còn chứađựng những yếu tố chủ quan, nghệ thuật hư cấu của tác giả Do đó, khi sử dụng tài liệuvăn học vào giảng dạy lịch sử, GV cần có sự sàng lọc để lựa chọn những tác phẩm cónội dung phản ánh lịch sử cao nhất

Trang 8

Bên cạnh đó, đặc trưng của lịch sử là tìm hiểu các sự kiện, hình tượng đã diễn ratrong quá khứ Muốn tái hiện lại các tri thức lịch sử phải cần đến các nguồn tư liệu cóliên quan, trong đó có tài liệu văn học Giáo viên có thể sử dụng thơ ca cách mạng đểtiến hành bài giảng nội khóa, ngoại khóa, củng cố kiến thức hay để kiểm tra đánh giá…Như vậy, việc sử dụng tài liệu văn học để DHLS nói chung, LSVN giai đoạn 1930 -

1945 ở trường THPT (Chương trình Chuẩn) nói riêng đã làm cho việc truyền tải trithức đến HS mềm mại hơn, tạo hứng thú học tập cho các em, nhằm đáp ứng yêu cầunâng cao hiệu quả bài học lịch sử

1.1.3 Vị trí và ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở trường THPT.

1.1.3.1 Vị trí của việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở trường THPT.

Trong chiến lược phát triển giáo dục hiện nay thì việc dạy học liên môn để pháthuy tính tích cực cho học sinh được chú trọng Nhờ vậy mà vị trí của tài liệu tham khảonói chung và tài liệu văn học nói riêng ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong dạyhọc ở trường THPT Xét theo nghĩa đó việc sử dụng tài liệu văn học chiếm một vị tríquan trọng và không thể thiếu được trong dạy học lịch sử ở trường THPT Bởi vì lịch

sử không phải là một chuổi sự kiện mà người viết sử ghi lại, rồi người dạy sử đọc vàngười học sử thuộc lòng (Phạm Văn Đồng) Bài giảng của giáo viên không phải là chỉtrình bày những vấn đề chủ yếu then chốt, gợi mở cho người học những vấn đề để hiểu

rõ và vận dụng Bởi vậy giáo viên phải đọc nhiều, hiểu rộng Giáo viên và học sinhngoài bài giảng ở sách giáo khoa thì phải đọc thêm các tài liệu tham khảo nói chung vàtài liệu văn học nói riêng

1.1.3.2 Ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở trường THPT.

- Về mặt kiến thức

Trang 9

Quy luật chung của loài người là “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ

tư duy trừu tượng đến thực tiển đó là con đường nhận thức biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”.

Do đặc trưng của môn Lịch sử là nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng đã diễn ratrong quá khứ, vì thế GV khó có thể tái hiện lại những sự kiện, hiện tượng lịch sử mộtcách chính xác như những gì nó đã diễn ra trong quá khứ như những môn khoa họckhác Chính vì vậy, trong dạy học, GV phải dựa vào những tài liệu Tài liệu càng đầy

đủ, có giá trị bao nhiêu thì tri thức lịch sử càng chính xác, sinh động bấy nhiêu

Nguồn tài liệu có thể sử dụng trong dạy học lịch sử rất đa dạng và phong phú Nó

có thể là tài liệu thành văn, tài liệu hiện vật, tài liệu văn học… Vì vậy, việc sử dụng tàiliệu văn học trong dạy học lịch sử có ý nghĩa vô cùng to lớn Nó không chỉ giúp gópphần tái hiện lịch sử mà còn giúp cho học sinh tiếp thu những kiến thức lịch sử mộtcách sâu sắc và chân thực nhất; bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cũng như phát triển kĩnăng cho các em

Đồng thời, trong dạy học lịch sử giáo viên luôn băn khoăn giải cho được bài toángiữa khối lượng kiến thức và thời giờ lên lớp Với thời lượng một tiết học, dù muốnnhưng GV không thể đi sâu để trình bày hay giải thích một vấn đề, nội dung lịch sử cụthể hay những phần có liên quan đến nội dung bài học; Vậy làm sao để đảm bảo truyềnđạt đủ kiến thức mà thời gian một tiết học quy định? Đó là một vấn đề khó Nhưng vớiphương pháp này, việc sử dụng các nguồn tài liệu cũng như tài liệu văn học sẽ giúpcho giáo viên không chỉ giải được bài toán này mà còn góp phần đa dạng phương phápdạy học, tạo hứng thú cho học sinh trong việc tiếp thu các kiến thức, HS sẽ cảm khôngthấy nhàm chán khi học sử,…

Ví dụ: Khi dạy bài 14 “Phong trào cách mạng 1930 -1935” nhằm khắc sâu địa

danh cách mạng trong thời kì này giaó viên đọc đoạn thơ trong bài thơ cách mạng

“Kìa Bến Thuỷ đứng đầu dậy trước

Nọ Thanh Chương tiếp bước đứng lên

Trang 10

Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên Anh Sơn, Hà Tĩnh một phen dậy rồi”

Đoạn thơ trên giúp học sinh ghi nhớ sâu sắc hơn các địa danh cách mạng trong

phong trào cách mạng 1930-1931” Từ đó năm chắc nội dung và địa điểm của các sự

kiện quan trọng trong giai đoạn này

- Về thái độ:

Tài liệu văn học trong dạy học lịch sử không chỉ góp phần minh họa, cụ thể hóa sựkiện lịch sử cho học sinh mà còn có tác dụng rất lớn đối với việc giáo dục tư tưởng,tình cảm và thái độ hành động đúng cho học sinh Qua đó hình thành cho các em lòng

tự hào dân tộc, tình yêu quê hương đất nước, yêu nhân dân thông qua thơ ca cáchmạng

Ví dụ: Khi dạy Bài 16, Mục III.3 “Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945” giáo

viên có thể sử dụng các câu thơ sau để học sinh hiểu rõ về cuộc đời và vai trò của chủtịch Hồ Chí Minh

“Hồ Chí Minh – Ông già thuyền trưởng

Đã từng qua bốn biển năm châu Sinh cảnh đói nghèo, lớn bước gian lao Lòng sạch, chí cao đã thành thép qua nghìn lửa đạn

Hồ Chí Minh dong buồm về nước Vung cánh tay ngang trời Tổ quốc Kêu gọi nhân dân lớp lớp theo Người

Để thoát kiếp ngựa trâu xây lại cuộc đời

………

Phất cao cờ Việt Minh chói sáng Làm một mùa thu cách mạng Đánh Pháp tan tành, đánh Mỹ đảo điên”

Trang 11

Với đoạn thơ trên học sinh sẽ dễ dàng nhận thấy được những gian khổ và cống hiếncủa chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta Từ đógiáo dục tư tưởng, đạo đức cho học sinh và làm cho các em càng yêu quý, kính trọngcảm phục Người.

Bằng giọng điệu khỏe khoắn, đầy sức sống, tài liệu văn học đã góp phần gieo vàolòng người niềm tin, hi vọng về một tương lai tươi sáng, sự thắng lợi của cách mạng.Đây chính là vũ khí nghệ thuật vô cùng quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giảiphóng dân tộc và đào tạo thế hệ trẻ như hiện nay Như vậy, việc sử dụng tài liệu vănhọc trong dạy học lịch sử sẽ góp phần bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và rèn luyện nhâncách cho HS

- Về kỹ năng:

Thơ ca cách mạng không những cung cấp cho học sinh kiến thức, bồi dưỡng tưtưởng, tình cảm mà còn góp phần phát triển năng lực tư duy và rèn luyện những kỹnăng khác cho các em

Ví dụ: Khi dạy Bài 14, Mục II.2 “Xô Viết Nghệ Tỉnh” giáo viên có thể sử dụng

đoạn thơ sau:

“Không vua, không quan Không hạng người ô uế Không hạng người nô lệ Sống đau sót lầm than.”

Đoạn thơ này sẽ giúp học sinh suy nghĩ, phân tích, tư duy để nhận ra bản chất của

nhà nước sơ khai “Xô Viết Nghệ Tỉnh” Từ đây, học sinh có thể liên hệ kiến thức cũ để

có thể so sánh sự giống và khác nhau giữa nhà nước trước đây của nước ta với XôViết Nghệ Tỉnh Từ đó lý giải những tiến bộ của các Xô Viết lúc bấy giờ , tạo điềukiện cho học sinh phát triển năng lực tư duy, tổng hợp, phân tích…

Trang 12

Tóm lại, sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử có ý nghĩa rất lớn trong việcnhận thức quá khứ, giáo dục tư tưởng, tình cảm cũng như phát triển các kỹ năng đểnhằm cho học sinh phát triển một cách toàn diện hơn.

CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG TÀI LIỆU VĂN HỌC ĐỂ DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1930 – 1945 Ở TRƯỜNG THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN).

2.1 Kiến thức lịch sử cơ bản giai đoạn 1930 - 1945

- Nhiều công nhân bị sa thải, số người làm việc thì đồng lương ít ỏi

- Nông dân phải chịu cảnh thuế cao, vay nặng lãi, nông phẩm làm ra phải bánvới giá thấp., ruộng đất bị bọn địa chủ người Pháp và Việt thu tóm Nông dân ngàycàng bị bần cùng hóa

- Các tầng lớp nhân dân khác cũng không tránh khỏi tác động xấu của cuộckhủng hoảng

- Mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc, trong đó tồn tại hai mâu thuẫn lớn là:Mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp; Mâu thuẫn giữa nôngdân với địa chủ phong kiến

- Đầu năm 1930, cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại Chính quyền thực dân đã tiếnhành đàn áp dã man Việt Nam Quốc dân Đảng và đồng bào yêu nước

=> Mâu thuẫn xã hội càng sâu sắc hơn

Trang 13

2.1.1.2 Phong trào cách mạng 1930 – 1931 với đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tỉnh a) Phong trào cách mạng 1930 – 1931.

- Từ tháng 2-4-1930, nổ ra nhiều cuộc đấu tranh của nông dân và công dân Mụctiêu là đòi cải thiện đời sống, bên cạnh đó cũng xuất hiện những khẩu hiệu chính trị

- Tháng 5, trên phạm vi cả nước bùng nổ nhiều cuộc đấu tranh nhân ngày quốc tếlao động 1/5

- Trong các tháng 6,7 và 8 liên tiếp nổ ra các cuộc đấu tranh của công nhân, nôngdân và các tầng lớp khác trên phạm vi của cả nước

- Sang tháng 9-1930, phong trào đấu tranh dân cao, nhất là ha tỉnh Nghệ An và HàTỉnh Nông dân biểu tình được công nhân Vinh – Bến Thủy hưởng ứng

- Hệ thống chính quyền thực dân, phong kiến bị tê liệt, tan rã ở nông thôn và nhiều

xã Nhiều lý trưởng và chánh tổng bỏ trốn

- Trong tình hình đó, nhiều cấp Đảng Ủy ở nông thôn, xã đã lãnh đạo nhân dânđứng lên tự cai quản đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương, làmchức năng của các chính quyền, gọi là Xô Viết

- Về văn hóa – xã hội:

Trang 14

+ Xóa bỏ các tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, rượu chè, cờ bạc…Trật tự an ninhđược giữ vững Tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau được xây dựng.

 Xô Viết Nghệ - Tỉnh là đỉnh cao của phong trào cách mạng 1930 – 1931 Tuychỉ tồn tại 4-5 tháng nhưng nó à nguồn cổ vũ mạnh mẽ quần chúng nhân dântrong cả nước

- Từ năm 1931, phong trào cách mạng trong cả nước dần dần lắng xuống

c) Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam (10/1930).

- Tháng 10-1930, Ban Chấp hành Trung ương ĐCS Việt Nam họp hội nghị lần thứnhất tại Hương Cảng

- Hội nghị quyết định đổi tên ĐCS Việt Nam thành ĐCS Đông Dương Cử ra BanChấp hành Trung ương chính thức do đồng chí Trần Phú là Tổng Bí thư và thông qualuận cương chính trị của Đảng

- Nội dung của Luận cương chính trị tháng 10-1930

+ Xác định vấn đề chiến lược của cách mạng Đông Dương Cách mạng Việt Namlúc đầu là cuộc cách mạng tư sản dân quyền Sau đó sẽ tiếp tục phát triển, bỏ qua thời

kỳ TBCN, tiến thẳng lên CNXH

+ Hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là đánh đổ phong kiến và đánh

đổ đế quốc Hai nhiệm vụ này có mối quan hệ khăng khít với nhau

+ Động lực của cách mạng là giai cấp nông dân và công nhân

+ Lãnh đạo của cách mạng là giai cấp công nhân với đội tiên phong là Đảng CộngSản

+ Luận cương chính trị nêu rõ hình thức và phương pháp đấu tranh, mối quan hệgiữa cách mạng Đông Dương và cách mạng thế giới

- Hạn chế:

+ Chưa nêu được mấu thuẫn chủ yếu trong xã hội Đông Dương, không đưa ngọn cờdân tộc lên hang đầu và nặng về đấu tranh giai cấp và cách mạng ruộng đất

Trang 15

+ Đanh giá không đúng khả năng cách mạng của các tầng lớp tiểu tư sản, khả năngchống đế quốc và phong kiến ở mức độ nhất định của giai cấp tư sản dân tộc, khả nănglôi kéo một bộ phận trung, tiểu địa chủ tham gia mặt trận dân tộc thống nhất chống đếquốc và tay sai.

c) Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của phong trào cách mạng 1930 – 1931.

- Bài học kinh nghiệm:

+ Phong trào để lại nhiều bài học kinh nghiệm về công tác tư tưởng, về xây dựngkhối liên minh công nông và mặt trận dân tộc thống nhất, về tổ chức, lãnh đạo phongtrào

+ Là cuộc tập dược đầu tiên của Đảng và quần chúng cho Tổng khởi nghĩa thángTám sau này

2.1.2 Phong trào dân chủ 1936 – 1939.

2.1.2.1 Tình hình thế giới và trong nước.

a) Tình hình thế giới.

- Từ đầu những năm 30 của thế kỷ XX, các thế lực phát xít lên cầm quyền ở một số

nước như Đức, Ý, Nhật và ráo riết chạy đua vũ trang, chuẩn bị chiến tranh thế giới

- Tháng 7-1935, Quốc tế Cộng sản tiến hành đại hội lần thứ VII tại Mác-cơ-va Xác

định kẻ thù là chủ nghĩa phát xít và nhiệm vụ trước mắt của giai cấp công nhân là

Trang 16

chống chủ nghĩa phát xít, mục tiêu đấu tranh là giành dân chủ, bảo vệ hòa bình, thànhlập mặt trận nhân dân rộng rãi.

- Tháng 6-1936, chính phủ Mặt trận Nhân dân lên cầm quyền ở Pháp đã thi hành

+ Hàng xuất khẩu chủ yếu là khoáng sản và nông sản

=> Tình hình Việt Nam trong những năm 1936 – 1939 là giai đoạn phục hồi và pháttriển của nền kinh tế Tuy nhiên vẫn còn lạc hậu và phụ thuộc vào Pháp

- Đời sống nhân dân cực khổ do thuế khóa nặng nề; công nhân thất nghiệp vẫn cònnhiều

- Nông dân không có đủ ruộng đất để cày Tư sản dân tộc thì ít vốn nên chỉ lậpnhững công ty nhỏ, phải chịu thuế cao, bị tư bản Pháp chèn ép

Trang 17

- Nhiều người trong tầng lớp tư sản trí thức thất nghiệp Công chức nhận mức lươngthấp Các tầng lớp lao động khác phải chịu thuế khóa nặng nề.

2.1.2.2 Phong trào dân chủ 1936 – 1939.

2.1.2.2.1 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 7-1936.

- Tháng 7-1936, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương dođồng chí Lê Hồng Phong chủ trì, họp ở Thượng Hải Hội nghị đề đường lối và phươngpháp đấu tranh:

+ Về nhiệm vụ: Nhiệm vụ chiến lược của cách mạng tư sản dân quyền Đông Dương làchống đê quốc và phong kiến; nhiệm vụ trực tiếp, trước mắt là đấu tranh chống chế độphản động thuộc địa, chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, dân sinh, dân chủ,cơm áo hòa bình

+ Phương pháp đấu tranh: Kết hợp đấu tranh công khai và bí mật, hợp pháp và bất hợppháp

+ Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất nhân nhân phản đế Đông Dương

- Tháng 3-1938, Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương đổi tên thànhMặt trận Thống nhất dân chủ Đông Dương

2.1.2.2.2 Những phong trào đấu tranh tiêu biểu.

a) Đấu tranh đòi các quyền tự do, dân sinh, dân chủ

- Năm 1936, Quốc hội Pháp cử phái đoàn sang điều tra tình hình Đông Dương Các Ủyban hành động của ta thành lập khắp nới

- Giữa tháng 9-1936, chính quyền thực dân ra lệnh giải tán các Ủy ban hành động, câmnhân dân hội họp

- Đầu năm 1937, Gô-đa sang điều tra tình hình Đông Dương và Brê-vi-a nhận chứcToàn quyền Đông Dương

- Trong những năm 1937 – 1939, các cuộc biểu tình, mít tinh đòi quyền sống của cáctầng lớp nhân dân vẫn tiếp tục diễn ra

Trang 18

- Ngày 1/5/1938, lần đầu tiên trong ngày quốc tế Lao động, các cuộc biểu tình được tổchức công khai ở Hà Nội và nhiều nới khác trong cả nước.

b) Đấu tranh nghị trường

+ Đảng vận động đưa người vào ứng cử trong các cuộc bầu cử vào Viên Dân biểuTrung Kỳ (1937}, Viện Dân biểu Bắc Kỳ , Hội đồng Kinh tế lí tài Đông Dương (1938)

và Hội Đồng Quảng hạt Nam Kỳ (1939)

=> Vạch trần chính sách phản động của bọn thực dân tay sai, bênh vực quyền lợi củanhân dân lao động

c) Đấu tranh trên lĩnh vực báo chí

- Đảng xuất bản nhiều tờ báo công khai ở các thành phố lớn như Tiền Phong, Dânchúng, Lao động, Tin tức…Trở thành mũi xung kích trong cuộc vận động dân sinh,dân chủ thời kỳ 1936-1939

2.1.2.2.3 Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của phong trào dân chủ 1936 – 1939.

- Ý nghĩa lịch sử:

+ Cuộc vận động dân chủ 1936-1939, là phong trào quần chúng rộng lớn, có tổ chức,

có sự lãnh đạo của Đảng Công sản Đông Dương

+ Phong trào dân chủ 1936-1396 đã buộc chính quyền thực dân nhượng bộ một sốyêu sách trước mắt về dân sinh dân chủ

+ Quần chúng nhân dân được giác ngộ về chính trị đã tham gia vào Mặt trận Dân tộcthống nhất và trở thành lực lượng chính trị hung hậu của cách mạng

- Bài học kinh nghiệm

+ Đảng Cộng sản Đông Dương đã tích lũy nhiều bài học kinh nghiệm trong việc xâydựng mặt trận dân tộc thống nhất, kinh nghiệm tổ chức lãnh đạo quần chúng đấu tranhcông khai, hợp pháp

+ Thấy được những hạn ché trong công tác mặt trận, vấn đề dân tộc…

Trang 19

Phong trào dân chủ 1936-1939, như một cuộc tập dượt, chuẩn bị cho cuộc tổng khởinghĩa tháng Tám sau này.

2.1.3 Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939-1945) Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.

2.1.3.1 Tình hình Việt Nam trong những năm 1939 – 1945.

a) Tình hình chính trị.

- Đầu tháng 9-1939, chiến tranh thế giới nổ ra/ Ở châu Âu quân Đức kéo và nướcPháp Chính phủ Pháp đầu hàng

- Ở Đông Dương, Đô đốc Đờ-cu được cử làm toàn quyền thay thế cho Ca-tơ-ru

- Tháng 9-1940, quân Nhật vượt biên giới Việt Trung tiến vào miền Bắc nước ta.Quân Pháp nhanh chống đầu hàng, dâng nước ta cho Nhật

- Đầu năm 1945, phát xít Đức bị thất bại nặng nề ở châu Âu

- Quân Nhật cướp ruộng đất của nông dân, nhổ lúa, ngô để trồng đay, thầu dầu phục

vụ cho nhu cầu chiến tranh

- Các công ty nhật tập trung đầu vào các ngành phục vụ cho quân sự: khai thácmăng-gan, sắt Thái Nguyên, Crôm Thanh Hóa…

- Chính sách bốc lột của Pháp – Nhật làm cho hơn 2 triệu đồng bào ta chết đói

2.1.3.2 Phong trào giải phóng dân tộc từ tháng 9-1939.

Trang 20

2.1.3.2.1 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 11-1939.

- Tháng 11-1939, Hội nghị Ban Chấp hành TW Đảng được triệu tập tại Bà Điểm doTổng bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì

- Hội nghị xác định mực tiêu trước mắt là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóngcác dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn được độc lập

- Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu ruộng đất về đề ra khẩu hiệu tịch thuruộng đất của bọn thực dân đế quốc và bon địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống

tô cao, thuế nặng Khẩu hiệu thành lập chính quyền Xô Viết công nông binh được thaybằng khẩu hiệu lập chính phủ dân chủ cộng hòa

- Về mục tiêu, phương pháp đấu tranh: Chuyển từ đấu tranh đòi dân sinh, dân chủsang đấu tranh đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai; từ hoạt động hợp pháp, nữahợp pháp sang bí mật

- Đảng chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất phản đế Đông Dương thay choMặt trận Đông Dương

2.1.3.2.2 Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành TW ĐCS Đông Dương.

- Ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng ViệtNam

- Ngày 10 đến 19-5-1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấphành TW Đảng tại Bác Bó Khẳng định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng làgiải phóng dân tộc, tiếp tục tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, nêu khẩu hiệugiảm tô, giảm thuế, chia lại ruộng đất công, tiến tới người cày có ruộng

- Hội nghị chỉ rõ sau khi đánh đuổi Pháp – Nhật sẽ thành lập chính phủ nhân dâncủa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hội nghị quyết định thành lập mặt trận ViệtNam độc lập đồng minh thay cho mặt trận Thống nhất phản đế Đông Dương, thay têncác hội phản đế thành hội cứu quốc và giúp đỡ việc lập mặt trận ở Lào và Campuchia

Trang 21

- Ngày 19-5-1941, Việt Nam độc lập đồng minh ra đời Đến tháng 10-1941, tuyênngôn, chương trình, điều lệ của Việt Minh được công bố rộng rãi.

2.1.3.2.3 Chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền.

a) Xây dựng lực lượng cho cuộc khởi nghĩa vũ trang.

- Xây dựng lực lượng chính trị

+ Năm 1942, khắp Cao Bằng đều có hội cứu quốc, trong đó có ba châu hoàn toàn.

Tiếp đó, Ủy Ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng và Ủy ban lâm thời liên tỉnh Cao – Bắc –Lạng được thành lập

+ Năm 1943, Đảng đề ra bản Đề cương văn hóa Việt Nam Năm 1944, Đảng dânchủ Việt Nam và Hội văn hóa cứu quốc Việt Nam được thành lập, đứng trong Mặt trậnViệt Minh

- Xây dựng lực lượng vũ trang

+ Xây dựng nhiều đội du kích ở căn cứ địa Bắc Sơn – Võ Nhai

+ Năm 1941, Trung độ cứu quốc I được thành lập

+ Ngày 15-9-1941, Trung độ cứu quốc quân II ra đời

- Xây dựng căn cứ địa

+ Vùng Bắc Sơn – Võ Nhai được chọn làm căn cứ địa cách mạng.

+ Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc chọn Cao Bằng để xây dựng căn cứ địa dựa trên cơ

sở lực lượng chính trị được tổ chức và phát triển

b) Gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền

- Từ 1943, Chiến tranh thế giới chuyển biến theo hướng có lợi cho nước ta Hồng

quân Liên Xô phản công quân Đức

- Từ ngày 25 đến 28 thánh 2 năm 1943, BTV TW Đảng họp tại Võng La vạch ra kếhoạch chuẩn bị toàn diện cho cuộc khởi nghĩa

- Ngày 25-2-1944, Trung đội cứu quốc quân III ra đời

Trang 22

- Năm 1943, Ban Việt Minh liên tỉnh Cao – Bắc – Lạng lập ra 19 ban “Xung phongNam tiến” để liên lạc với căn cứ địa Bắc Sơn – Võ Nhai và phát triển lực lượng xuốngmiền xuôi.

- Ngày 7-5-1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị cho các cấp “ Sửa soạn khởi nghĩa”.Ngày 10-8-1944, Trung ương Đảng đã kêu gọi nhân dân “Sắm vũ khí đuổi kẻ thùchung”

- Ngày 22-12-1944, theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền giảiphóng quân được thành lập Chỉ sau hai ngày thành lập, Đội đã đánh thắng liên tiếp 2trận ở Play Khắt và Nà Ngần Căn cứ Cao – Bắc – Lặng được củng cố và mở rộng

2.1.3.3 Khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền

2.1.3.3.1 Khởi nghĩa từng phần (Từ tháng 3 đến giữa tháng 8-1945)

- Đầu năm 1945, Hông quân Liên Xô tiến đánh Béc-lin, sào huyệt cuối cùng củaPhát xít Đức – một loạt các nước châu Âu được giải phóng

- 20h ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, quân Pháp nhanh chống đầu hang

- Ngày 13-2-1945, BTV TW Đảng ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành độngcủa chúng ta” Khẩu hiệu đánh đuổi Pháp - Nhật được thay bằng khẩu hiệu đánh đuổiphát xít Nhật

- Ở Cao – Bắc – Lạng, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và cứu quốc quânphối hợp với các lực lượng chính trị giải phóng hàng loạt các châu, xã, huyện

- Ở Bắc và Bắc Trung Kỳ, Đảng đề ra khẩu hiệu “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói”

- Ở Quảng Ngãi, tù chính trị ở nhà tù Ba Tơ nổi dậy, lãnh đạo quần chúng khởinghĩa, thành lập chính quyền cách mạng, tổ chức đội du kích Ba Tơ

- Ở Nam Kỳ, phong trào Việt Minh hoạt động mạnh, nhất là ở Mỹ Tho và HậuGiang

2.1.3.3.2 Sự chuẩn bị cuối cùng trước ngày khởi nghĩa

- Ngày 20-4-1945, BTV TW Đảng triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ

Ủy ban Quân sự Bắc Kỳ được thành lập

Trang 23

- Ngày 14-6-1945, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị thành lập Ủy Ban Dân tộc giảiphóng Việt Nam và Ủy ban Dân tộc giải phóng các cấp.

- Ngày 15-5-1945, Việt Nam cứu quốc quân và VNTTGPQ thống nhất thành ViệtNam giải phóng quân

- Tháng 5-1945, Hồ Chí Minh rời Pác Bó về Tân Trào chỉ đạo cách mạng cả nước

- Ngày 4-6-1945,Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập

2.1.3.3.3 Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945

a) Nhật đầu hàng Đồng Minh, lệnh Tổng khởi nghĩa được ban bố

- Đầu tháng 8-1945, quân Đông minh tấn công mạnh mẽ vào các vị trí của quân đội

Nhật Bản ở châu Á – Thái Bình Dương

- Ngày 6 đến 9-8-1945, Mĩ ném hai quả bom xuống hai thành phố Hirosima vàNagaxaki của Nhật Bản

- Ngày 8-8-1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản Ngày 9-8-1945, Hồng quânLiên Xô tấn công đạo quân Quang Đông của Nhật Bản

- Trưa ngày 15-8-1945, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng đồng minh

- Ngay từ ngày 13-8, TW Đảng và Tổng bộ Việt minh lập tức thành lập Ủy banKhởi nghĩa toàn quốc Đến 23h, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc ban bố “Quân lệnh số1”, chính thức phát lệnh tổng khởi nghĩa trong cả nước

- Từ ngày 14 đến 15-8-1945, Hội nghị Toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, thôngqua kế hoạch lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa

- Từ ngày 16 đến 17-8-1945, Đại hội Quốc dân được triệu tập ở Tân Trào Thôngqua 10 chính sách của Việt minh, cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam do HồChí Minh làm chủ tịch

b) Diễn biến Tổng khởi nghĩa.

- Từ ngày 14-8, Khởi nghĩa đã nổ ra ở nhiều xã huyện thuộc các tỉnh đồng bằng

chân thổ sông Hồng, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh, TT Huế, Quảng Ngãi, KhánhHòa

Trang 24

- Chiều ngày 16-8, một đơn vị Giải Phóng quân do Võ Nguyên Giáp chỉ huy, xuấtphát từ Tân Trào tiến về giải phóng thị xã Thái Nguyên.

- Ngày 18-8, nhân dân Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tỉnh, Quảng Nam giành đượcchính quyền ở tỉnh lị sớm nhất

- Chiều 17-8, quần chúng nội, ngoại thành tổ chức mít tinh ở nhà hát lớn, hô vangkhẩu hiệu :Ủng hộ Việt Minh”, Đả đảo bù nhìn”, “Việt Nam độc lập”

- Ngày 18-8, cờ đỏ sao vàng xuất hiện trên các phố chính của Hà Nội

- Tối ngày 19-8, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội giành thắng lợi

- Ở Huế, ngày 20-8, Ủy ban khởi nghĩa được thành lập, quyết định giành chínhquyền vào ngày 23-8

- Sáng 25-8, các đơn vị xung phong công đoàn, Thanh niên xung phong ở các tỉnhGia Định, Biên Hòa, Mĩ Tho kéo về thành phố Quần chúng chiếm sở mật thám, Sởcảnh sát, nhà ga, bưu điện…giành chính quyền ở Sài Gòn

- Đồng Nai thượng và Hà Tiên giành chính quyền muộn nhất vào ngày 28-8

- Chiều 30-8, vua Bảo Đại thoái vị Chế độ phong kiến Việt Nam sụp đổ

2.1.3.4 Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập

- Ngày 25/8/1945,Chủ tịch Hồ Chí Minh và TW Đảng, UBDT giải phóng Việt Nam từ

Tân Trào về đến Hà Nội

- Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủViệt Nam lâm thời độc bản truyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủcộng hòa

2.1.3.5 Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của cách mạng tháng 8-1945.

2.1.3.5.1 Nguyên nhân thắng lợi

- Nguyên nhân chủ quan

+ Dân tộc ta vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn, từng trải qua những cuộc đấu

tranh kiên cường , bất khuất cho độc lập của dân tôc

Trang 25

+ Cách mạng tháng Tám do Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là chủ tịch Hồ ChíMinh lãnh đạo, dựa trên nèn tản và cơ sở của chủ nghĩa Max Lê-nin vận dụng sáng tạovào thực tiển cách mạng Việt Nam.

+ Đảng có quá trình chuẩn bị lâu dài trong suốt 15 năm, qua các phong trào cách mạng

1930 – 1935, 1936 – 1939, đã đúc rút được nhiều bào học kinh nghiệm quý báu

+ Trong khởi nghĩa toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta luôn một long, không sợ khókhan, gian khổ, mất mát, hy sinh…Cac cấp Đảng bộ từ TW đến địa phương đã linhhoạt, sáng tạo, chớp thời cơ phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền

- Nguyên nhân khách quan

Chiến thắng của Hồng quân Liên Xô và quân Đồng minh trước quân đội của phe phátxít đã cổ vũ tinh thần, niềm tin cho nhân dân ta đứng lên tổng khởi nghĩa

2.1.3.5.2 Ý nghĩa lịch sử

- Cách mạng tháng 8 mở ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc Phá tan xiềng

xích nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm và ách thống trị của phát xít Nhật gần 5năm,lật nhào ngai vàng ngự trị ngót chục thế kỷ ở nước ta, lập nên nước Việt Nam dân chủcông hòa-nhà nước của dân do dân vì dân

- Đanh dấu 1 bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Việt Nam, mở đầu kỷ nguyênmới của dân tộc: kỷ nguyen của độc lập, tư do, kỷ nguyên của nhân dân lao động làmchủ đất nước

- Thắng lợi của cách mạng tháng Tám đã góp phần vào chiến thắng chủ nghĩa phát xíttrong chiến tranh thế giới thứ hai, chọc thủng khâu yếu nhất trong hệ thống thuộc địacủa chủ nghĩa đế quốc, góp phần làm suy yếu chúng, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấutranh ở các nước thuộc địa và phụ thuộc

- Khẳng định sự lãnh đạo của Đảng và chuẩn bị những điều kiện tiên quyết cho nhữngthắng lợi tiếp theo

2.1.3.5.3 Bài học kinh nghiệm

Trang 26

- Đảng phải có đường lối đúng đắng, trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Max

Lê-nin vào nước ta

- Đảng tổ chức tập hợp lực lượng rộng rãi trên cơ sở khối liên minh công – nông, phânhóa và cô lập cao kẻ thù, tiến tới đánh bại chúng

- Trong chỉ đạo khởi nghĩa Đảng linh hoạt kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũtrang, tiến hành khởi nghĩa từng phần, chớp thời cơ phát động Tổng khởi nghĩa

2.2 Hệ thống tài liệu văn học để dạy học lịch sử Việt Nam từ 1930 – 1945.

Biện pháp sử dụng.

Thơ

Bài 14:

II Phong trào cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao Xô Viết Nghệ- Tỉnh.

1.Phong trào cách mạng 1930-1931.

3 Xô Viết Nghệ Tỉnh.

“Kìa Bến Thuỷ đứng đầu dậy trước

Nọ Thanh Chương tiếp bước đứng lên Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên Anh Sơn, Hà Tĩnh một phen dậy rồi”.

Tường thuật kếthợp với các loạibảng đồ và tranhảnh để nhấn mạnhtinh thâng quậtkhởi, kiên cườngbất khuất của nhândân Nghệ - Tỉnh

Trang 27

Không vua, không quan

Không hạng người

ô uế Không hạng người

nô lệ Sống đau sót lầm than.”

Khủng bố trắng, máu dầm mặt đất, Chợt Côn Lôn, Lao Bảo, Sơn La.

Muôn chiến sĩ một lòng bất khuất, Chỉ thương người sương tuyết bôn ba.

Giải thích về bảnchất của các XôViết Nghệ - Tỉnh

để làm sáng tỏ đây

mà một mô hìnhnhà nước sơ khaicủa dân do dân đầutiên ở Việt Nam

Giải thích chínhsách khủng bốtrắng của thực dânPhap trước phongtrào đấu tranh cáchmạng của nhân dân

ta trong nhữngnăm 1930 – 1931

Và tinh thần quậtkhởi, không chịukhuất phục, khôngngại khó khan gian

Trang 28

Chống phát xít cường quyền háo chiến

Khắp năm châu trận tuyến bình dân Trùng trùng cách mạng ra quân, phất cao cờ đỏ, công hân dẫn đầu.

Đố ai tát cạn được dòn nước xuôi [phụ lục 1].

khổ, mất mát và hysinh để đứng lênđấu tranh, khơiphục và củn cốphong trào

Tường thuật, phântích kết hợp vớitranh ảnh để làm sáng tỏ mục tiêu,lực lượng, quy mô,tính chất củaphong trào dân chủ1936-1939

Ngày đăng: 26/06/2015, 13:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w