Nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tư vấn của Công Ty Cổ Phẩn Tư Vấn – Đầu Tư – Công Nghệ Đại Hà
Trang 1MỞ ĐẦU
Ngày nay, khi nền kinh tế thế giới bước vào xu thế toàn cầu hoá với tốc
độ tăng trưởng khá cao thì hoạt động xây dựng cũng tăng cao nhằm đáp ứngnhu cầu cho hoạt động sản xuất kinh doanh và nhà ở cho nhân dân Theo đóhoạt động xây dựng ở nước ta cũng phát triển mạnh mẽ có tốc độ tăng trưởngkhá cao Việc thực hiện xây dựng các công trình nhà ở, các khu công nghiệphay các công trình giao thông có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển củanền kinh tế đến chiến lược phát triển của Chính phủ Do vậy, để thực hiệnmột công trình xây dựng cần phải có dự án cụ thể và tính hợp lý Tầm quantrọng của hoạt động xây dựng là như vậy cho nên việc các tổ chức tư vấn vềđầu tư và xây dựng là phù hợp với thực tế
Trên thế giới hiện nay, tư vấn đầu tư và xây dựng đóng vai trò quantrọng trong nền kinh tế và đang phát triển rất mạnh Ở nước ta, khi đang còntrong chế độ nền kinh tế tập trung thì hoạt động kinh doanh dịch vụ tư vấnđầu tư và xây dựng là hoạt động còn xa lạ, không được nhận thức đầy đủ tầmquan trọng của nó Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà Nướctheo định hướng xã hội chủ nghĩa thì hoạt động kinh doanh dịch vụ tư vấnđang phát triển rất mạnh trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, trong đó cóhoạt động kinh doanh dịch vụ tư vấn đầu tư và xây dựng Sự phát triển mạnh
mẽ của hoạt động kinh doanh này được đánh dấu bằng sự ra đời của hàng loạtcác tổ chức tư vấn đầu tư và xây dựng ra đời
Với những lý do quá trình như vậy mà trong đợt thực tập này, em đã chọn đề tài “ Nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tư vấn của Công Ty Cổ Phẩn Tư Vấn – Đầu Tư – Công Nghệ Đại Hà ” là một ví dụ minh hoạ cho sự phát triển của hoạt động kinh doanh dịch vụ tư vấn đầu tư và xây dựng ở nước
ta hiện nay
Trang 2Đề tài của em bao gồm 3 phần chính:
Chương I: Dịch vụ tư vấn tại các doanh nghiệp xây dựng cơ bản
Chương II: Thực trạng dịch vụ tư vấn tại công ty cổ phần tư vấn – đầu tư– công nghệ Đại Hà
Chương III: Một số giải pháp đẩy mạnh kinh doanh dịch vụ tư vấn tại Công ty cổ phần tư vấn – đầu tư – công nghệ Đại Hà
Trang 3CHƯƠNG I: DỊCH VỤ TƯ VẤN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG CƠ BẢN
1.1 Vai trò, tầm quan trọng của dịch vụ tư vấn tại các doanh nghiệp xây dựng cơ bản
1.1.1 Khái quát về dịch vụ tư vấn
- Tư vấn là một dịch vụ trí tuệ, một hoạt động “chất xám” cung ứngcho khách hàng những lời khuyên đúng đắn về chiến lược, sách lược, biệnpháp hành động và giúp đỡ, hướng dẫn cho khách hàng thực hiện những lờikhuyên, kể cả tiến hành những nghiên cứu soạn thảo dự án và giám sát quátrình thực thi dự án đạt hiệu quả yêu cầu
- Tư vấn là cung ứng những lời khuyên đúng đắn và thích hợp chứkhông phải là những lời khuyên chung Một lời khuyên đúng đắn có thể thíchhợp với một bối cảnh, một tình huống, một thời gian nhất định, nhưng lạikhông thích hợp cho một thực tế khác, vào hoàn cảnh và thời gian khác Tưvấn không chỉ đơn thuần là đưa ra lời khuyên, Mà còn phải chỉ vẽ, hướng dẫnthực hiện lời khuyên đưa ra sao cho có thể đạt được hiệu quả cao nhất
- Tư vấn là một dạng dịch vụ do vậy hoạt động tư vấn dù phải tiếnhành bởi cá nhân hay tổ chức nói chung đều thông qua hợp đồng giữa người
sử dụng dịch vụ và người cung ứng dịch vụ Đây là cơ sở để xác định tráchnhiệm của người cung ứng dịch vụ tư vấn đối với sản phẩm tư vấn của mình
- Dịch vụ tư vấn được hiểu là những hoạt động do một cá nhân và/hoặcbên ngoài thực hiện Dịch vụ tư vấn là các dịch vụ trợ giúp cho các tổ chức,
cá nhân cung cấp trên thị trường nhằm đáp ứng được các yêu cầu của các tổchức các cá nhân khác có nhu cầu Cùng với sự phát triển của thương mạidịch vụ, vấn đề chuyên môn hoá ngày càng cao, và sự ra đời của các Công tychuyên về tư vấn là một tất yếu khách quan
- Đặc điểm dịch vụ tư vấn:
Trang 4 Quá trình tư vấn là một quá trình liên tục chia sẻ thông tin giữa cácnhà tư vấn và khách hàng.
Bối cảnh và mục tiêu của dịch vụ tư vấn luôn luôn cụ thể và xácđịnh “sản phẩm” của tư vấn cần có tính thích và có tính hiệu quả cao
Yếu tố cơ bản được cấp trong quá trình tư vấn là thông tin, trithức, giải pháp xử lý các vấn đề
- Kết quả của một dịch vụ tư vấn luôn là một kết quả kép đối với người
sử dụng, ngoài kết quả trực tiếp giúp giải quyết vấn đề đặt ra, người sử dụng
tư vấn còn được nâng cao năng lực do có cơ hội tiếp cận các thông tin, kiếnthức nhà tư vấn, đặc điểm này kiến cho hoạt động tư vấn đặc biệt hữu ích đốivới quá trình phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chất lượng tronghoạt động sản xuất, kinh doanh
1.1.2 Vai trò của dịch vụ tư vấn ở các doanh nghiệp xây dựng cơ bản
- Dịch vụ tư vấn đã xuất hiện rất sớm tại các nước phát triển Ngay từkhi ra đời nó đã gắn liền với sự phát triển của các doanh nghiệp Dịch vụ tưvấn giúp cho các doanh nghiệp phòng ngừa được các rủi ro có thể xảy ra đốivới doanh nghiệp Mặt khác, khi các doanh nghiệp gặp sự cố, dịch vụ tư vấn
sẽ giúp cho các doanh nghiệp này khắc phục khó khăn, giải quyết sự cố Cácnhà tư vấn thường được ví như là các bác sỹ của doanh nghiệp
- Tư vấn cũng giúp đỡ kỹ thuật, tổ chức điều tra, khảo sát nghiên cứusoạn thảo các văn kiện, dự án quy hoạch, thiết kế và quản lý các dự án xâydựng cho khách hàng
- Với vị trí độc lập và trên cơ sở kiến thức kinh nghiệm phong phú củamình nhà tư vấn đóng vai trò cố vấn, hướng dẫn, xúc tác, đạo diễn và thựchiện chức năng “tham mưu, đốc chiến” cho khách hàng theo từng lĩnh vựcnghề nghiệp chuyên môn
Trang 5- Ngày nay tư vấn đã tham gia vào hầu hết vào các hoạt động kinh tế,chính trị, văn hóa xã hội, các tổ chức kinh tế - xã hội trong và ngoài nước, các
cơ quan quản lý Nhà Nước, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, các tổchức quốc tế đều sử dụng dịch vụ tư vấn trong quá trình hoạt động của mình.Vai trò của các tổ chức tư vấn trong sự phát triển kinh tế - xã hội của cácnước ngày càng phát triển
- Việc sử dụng tư vấn đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu đối vớicác tổ chức, cá nhân trong việc ổn định và phát triển, quan niệm về sử dụng tưvấn đã thay đổi, người ta sử dụng tư vấn không phải khi không giải quyếtđược vấn đề, khi công việc gặp trở ngại… mà sử dụng tư vấn như là mộtthông lệ, biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh
- Thực tế cho thấy việc sử dụng tư vấn đã góp phần đưa ra nhiều ýtưởng hành động và nắm bắt được những cơ hội kinh doanh mới, như vậydịch vụ tư vấn có thể giúp đỡ khách hàng khắc phục khó khăn, cải thiện tìnhhình hiện tại hoặc để tạo ra hướng phát triển mới Việc sử dụng dịch vụ tư vấnđối với tất cả các cơ quan tổ chức đều đem lại những lợi ích cơ bản
- Dịch vụ tư vấn đã và đang phát triển đồng thời chứng tỏ vai trò ngàycàng quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế nói chung điều này đượcthể hiện ở sự mở rộng các lĩnh vực dịch vụ tư vấn, đặc biệt trong bối cảnh hộinhập và phát triển kinh tế thương mại, bên cạnh những dịch vụ truyền thốngnhư thương mại, vận tải, bưu chính, bảo hiểm…, các ngành dịch vụ tư vấnmới đã hình thành và ngày càng phát triển như tài chính, viễn thông, khoa họccông nghệ, tư vấn đầu tư, pháp lý, kinh doanh…sự phát triển đó đã thực sựđưa dịch vụ tư vấn trở thành một ngành kinh tế quan trọng trong sự phát triểnchung của đất nước Với vị trí và vai trò quan trọng của dịch vụ tư vấn cònđược thể hiện ở việc ngày càng có nhiều thành phần kinh tế tham gia kinhdoanh dịch vụ tư vấn hơn
Trang 61.2 Nội dung hoạt động dịch vụ tư vấn tại các doanh nghiệp xây dựng cơ bản
1.2.1 Nghiên cứu thị trường dịch vụ tư vấn
- Thị trường kinh doanh dịch vụ tư vấn hiện nay diễn ra sôi động đểphát triển thực sự và bền vững trong tương lai doanh nghiệp phải tiến hànhnghiên cứu toàn diện về tình hình bên ngoài tại thời điểm đó, nơi đó ở mộtkhoảng thời gian nhất định trong tương lai, nắm chắc những thay đổi củanhân tố hoàn cảnh sẽ có ảnh hưởng tới ưu thế trong phục vụ những nhu cầu tưvấn của các doanh nghiệp, đặc biệt là phải nghiên cứu tình hình và đối sáchcủa các đối thủ cạnh tranh như thay đổi về thực lực, biện pháp, sách lược kinhdoanh của họ, qua việc phân tích kỹ lưỡng, đúng lúc đúng cách những ảnhhưởng có khả năng phát sinh của đối thủ đối với hoạt động kinh doanh củangành tư vấn, từ đó làm căn cứ để quyết định kế sách kinh doanh của Công tymình Từ đó tìm kiếm cơ hội trong những thay đổi của thị trường, đồng thời
cố gắng biến những cơ hội thị trường thành cơ hội của Công ty mình, thôngqua việc đánh giá những cơ hội và nguy cơ để xác định những cơ hội màdoanh nghiệp có thể khai thác và sử dụng Như vậy nghiên cứu thị trườnggiúp doanh nghiệp lựa chọn mặt hàng và lĩnh vực kinh doanh đúng đắn
- Nội dung nghiên cứu thị trường: Là nghiên cứu các yếu tố cấu thànhnên thị trường của doanh nghiệp Cung, cầu, giá cả và sự cạnh tranh về dịch
vụ tư vấn Thông qua nghiên cứu thị trường mới giúp doanh nghiệp làm chủđồng vốn, làm chủ diễn biến của thị trường để kinh doanh có lãi
- Trên cơ sở những thông tin đầy đủ về thị trường giúp cho doanhnghiệp có được cách nhìn tổng quát về thị trường như tổng cung, tổng cầu, giá
cả thị trường các chính sách của Nhà Nước về dịch vụ tư vấn, hiểu biết chitiết về các đối thủ cạnh tranh từ đó tìm ra được những cơ hội cũng như đe doạcủa thị trường Kết hợp với phân tích khả năng của doanh nghiệp để lựa chọn
Trang 7chiến lược định hướng hoạt động, đưa ra giải pháp nâng cao năng lực cạnhtranh để thực hiện mục tiêu phát triển thị trường và kinh doanh có lãi.
1.2.2 Tạo nguồn hàng
- Tổ chức công tác tạo nguồn là toàn bộ những hoạt động nghiệp vụnhằm tạo ra nguồn hàng để doanh nghiệp mua được trong kỳ kế hoạch và đểdoanh nghiệp đảm bảo cung ứng đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, đúng chất lượng,quy cách, cỡ loại, màu sắc… cho các nhu cầu của khách hàng Có thể nóikhâu quyết định khối lượng hàng bán ra và tốc độ bán hàng ra, cũng như việccung ứng hàng hoá của doanh nghiệp phần lớn phụ thuộc vào công tác tạonguồn hàng Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt và sự biến động nhanh, mạnhcác nhu cầu trên thị trường, việc tạo nguồn hàng của doanh nghiệp đòi hỏiphải nhanh, nhạy, phải có tầm nhìn xa, quan sát rộng và thấy được xu hướngphát trển của nhu cầu khách hàng
- Tạo nguồn hàng là công việc phải đi trước một bước, bởi lẽ khi nhucầu khách hàng xuất hiện, doanh nghiệp đã có hàng ở các điểm cung ứng đểđáp ứng nhu cầu khách hàng Do đó, điểm bắt đầu của công tác tạo nguồnhàng là việc nghiên cứu và xác định nhu cầu của khách hàng về khối lượng,
cơ cấu mặt hàng, quy cách, cỡ loại, mầu sắc, thời gian, địa điểm mà kháchhàng có nhu cầu, phải nắm bắt được khách hàng cần hàng để làm gì và đồngthời phải chủ động nghiên cứu và tìm hiểu khả năng của các đơn vị sản xuất ởtrong nước và thị trường ngoài nước để tìm nguồn hàng, để đặt hàng, để kýkết hợp đồng mua hàng
- Tạo nguồn hàng là hoạt động nghiệp vụ kinh doanh bao gồm nhiềukhâu: xuất phát từ nhu cầu hàng hoá của khách hàng, doanh nghiệp phảinghiên cứu và tìm hiểu các nguồn hàng có khả năng đáp ứng, phải chuẩn bịcác nguồn lực để có thể tự mình khai thác, hợp tác với các đối tác, liên doanh,liên kết đầu tư ứng trước hoặc giúp đỡ, tạo điều kiện… với các đối tác để tạo
Trang 8ra loại hàng hóa phù hợp với yêu cầu khách hàng, có chất lượng hàng hoá tốt,cung ứng đầy đủ kịp thời và đúng địa bàn mà khách hàng yêu cầu.
1.2.3 Giao dịch đàm phán, ký kết hợp đồng kinh doanh
- Công tác giao dịch là một giai đoạn đầu tiên trong bất kỳ quá trình tưvấn nào, quá trình tư vấn có thể được coi là hoàn toàn thành công nếu nhà tưvấn có khách hàng đi đến một hợp đồng mà nhờ đó họ nhất trí làm việc cùngnhau về việc hay một dự án
- Trong thời gian nhập cuộc này nhà tư vấn và khách hàng phải gặpnhau, cố gắng tìm hiểu về nhau càng nhiều càng tốt, thảo luận và xác định vấn
đề mà nhà tư vấn sắp đảm nhận, và trên cơ sở thoả thuận với nhau về phạm vicông việc được giao dịch và phương pháp tiếp cận các kết quả của những tiếpxúc ban đầu, những cuộc thảo luận, kiểm soát, và vạch kế hoạch thực hiệnđược phản ánh sau đó trong bản hợp đồng tư vấn, chữ ký và bản hợp đồng cóthể được xem như là phần kết của giai đoạn ban đầu này
- Để có được một cuộc giao dịch đàm phán hiệu quả và đi đến bản hợpđồng công tác giao dịch đàm phán bao gồm các bước sau:
Bước 1: Phân tích tình huống đàm phán
Bước 2: Lập kế hoạch cho các cuộc đàm phán sắp tới Thiết lậpcác mục tiêu chung cho đàm phán, các mục tiêu này đề ra cơ sở để đạt đượcthoả thuận với bên đối phương
Bước 3: Tổ chức để đàm phán có hiệu quả
Bước 4: Giành và giữ quyền kiểm soát
Bước 5: Kết thúc đàm phán
Bước 6: Cải tiến liên tục
- Công tác ký kết hợp đồng cũng là một khâu rất được chú trọng Các thủtục ký kết hợp đồng được coi là bình thường và nên làm phụ thuộc rất nhiều vào
hệ thống luật pháp của từng nước và các thói quen kinh doanh của từng nước
Trang 9- Hình thức hợp đồng được xác lập bằng văn bản phù hợp với quy địnhcủa luật xây dựng và các quy định khác của pháp luật có liên quan Tuỳ theo quy
mô, tính chất của công trình các loại công việc các mối quan hệ của các bên, hợpđồng trong kinh doanh có thể có nhiều loại với nội dung khác nhau
- Trong ký kết hợp đồng nội dung của hợp đồng bao gồm 1 trong các nộidung sau:
Thủ tục làm hoá đơn và thanh toán
Các trách nhiệm chuyên môn (quản lý thông tin mật, tránh xungđột về quyền lợi và các khía cạnh khác được coi là phù hợp)
Bản quyền đối với sản phẩm của công việc nhà tư vấn trong quátrình làm việc
Trách nhiệm pháp lý (nhà tư vấn chịu trách nhiệm pháp lý đối vớinhững thiệt hại gây ra cho khách hàng, giới hạn về trách nhiệm pháp lý)
Sử dụng những nhà đấu thầu phụ (do phía nhà tư vấn)
Chấm dứt và xem xét lại ( khi nào và như thế nào là do 1 trong 2bên đề xuất)
Trọng tài (quyền phán quyết, thủ tục xử lý các vụ tranh chấp)
Ký tên và ghi ngày tháng
Trang 101.2.4 Quản lý và hoạt động xúc tiến kinh doanh
- Với sự cạnh tranh ngày càng diễn ra gay gắt như hiện nay các doanhnghiệp muốn kinh doanh dịch vụ cần phải làm cho người tiêu dùng biết đếnsản phẩm dịch vụ của mình muốn vậy họ cần phải có kế hoạch tuyên truyềnquảng bá sản phẩm dịch vụ của mình đến với người tiêu dùng Xúc tiến kinhdoanh trở nên vô cùng quan trọng không thể thiếu được đối với một doanhnghiệp kinh doanh trong nền kinh tế thị trường hiện nay Doanh nghiệp muốnkinh doanh của mình diễn ra một cách thuận lợi thì phải có kế hoạch xúc tiếnphù hợp và đem lại hiệu quả cao Đây là một lĩnh vực quan trọng trong hoạtđộng marketing mọi giá trị của hàng hoá dịch vụ thậm chí cả những lợi íchđạt được khi tiêu dùng sản phẩm cũng phải được thông tin đến tất cả cáckhách hàng, kể cả khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng, cũng nhưnhững người có ảnh hưởng đến việc mua sắm Để hoạt động kinh doanh dịch
vụ đem lại hiệu quả xúc tiến kinh doanh bao gồm các hoạt động chính như:
- Quảng cáo và giới thiệu dịch vụ là để thu hút, lôi cuốn khách hàngbiết đến dịch vụ của Công ty bằng các biện pháp giới thiệu, truyền tin thíchhợp Để lôi cuốn khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ thì Công ty phải chú
ý những yêu cầu quan trọng nhất cần đặt ra cho công tác quảng cáo
Thứ nhất: Dung lượng thông tin phải cao là phải ngắn gọn, cụ thể
rõ ràng tập trung những thông tin mà khách hàng quan tâm như chất lượngcủa dịch dụ, giá cả và tính có thể so sánh
Thứ hai: Phải đảm bảo tính nghệ thuật nhằm thu hút sự quan tâmcủa khách hàng, thông tin truyền đạt phải hấp dẫn gây được sự chú ý nhất đốivới người nhận tin
Thứ ba: Độ tin cậy của thông tin, thông tin phải chính xác đảm bảotính trung thực đặc biệt về chất lượng sản phẩm
Trang 11- Qua việc quảng cáo Công ty biết được phản ứng của khách hàngtrước những biện pháp quảng cáo các phản ứng của đối thủ cạnh tranh trướccác chính sách bán hàng mới của Công ty.
- Hội chợ triển lãm thương mại giúp Công ty nhằm mục đích thúc đẩytìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng dịch vụ Để phát huy vai trò của hội trợtriển lãm thương mại trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp phải thựchiện các bước: chuẩn bị tham gia hội chợ phải nghiên cứu kỹ thư mời của cácđơn vị đăng cai tổ chức, phải dự trù ngân sách, chuẩn bị nhân lực, chuẩn bịcác điều kiện vật chất, tài liệu phương tiện kỹ thuật để quảng bá dịch vụ củadoanh nghiệp, dự thảo phương án tham gia, chấp hành tốt các quy định về hộichợ triển lãm…Thông qua hội chợ triển lãm giúp cho doanh nghiệp nắm bắtđược nhu cầu, thị hiếu sở thích, học hỏi kinh nghiệm của các đối tác nướcngoài, có điều kiện thuận lợi trực tiếp giới thiệu tiếp xúc đàm phán ký kết hợpđồng dịch vụ với khách hàng…
- Xúc tiến bán là một hình thức quan trọng nhằm giúp cho Công tytăng nhanh doanh số dịch vụ thông qua cấp lợi ích ngoại lệ cho khách hàngCông ty có thể tổ chức hội nghị khách hàng, hội thảo, tặng quà, in ấn và pháthành các tài liệu để khách hàng biết được các dịch vụ mà Công ty cung cấp…Thông qua hoạt động xúc tiến bán các doanh nghiệp có điều kiện để hiểu biếtlẫn nhau, có thêm những thông tin về thị trường, có điều kiện để nhanh chóngphát triển kinh doanh và hội nhập vào kinh tế khu vực…
- Xây dựng, bảo vệ và phát triển thương hiệu dịch vụ tư vấn Để kháchhàng biết đến thương hiệu dịch vụ tư vấn Công ty phải chủ động xây dựngchiến lược thương hiệu dịch vụ, định vị thương hiệu dịch vụ trên thị trường,tạo bản sắc thương hiệu dịch vụ, tổ chức bộ máy chuyên lo về thương hiệudịch vụ, tổ chức cuộc thi sáng tạo, đăng ký bảo hộ thương hiệu dịch vụ, xâydựng mạng lưới phân phối tăng cường quảng bá thương hiệu Làm tốt các
Trang 12hoạt động này giúp cho doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận, đem lại giá trị vô hìnhcủa doanh nghiệp và là tài sản quý giá của quốc gia.
- Khuyến mại, phát triển quan hệ công chúng trong kinh doanh Vớiviệc xây dựng tốt mối quan hệ này họ có thể giúp cho doanh nghiệp tìm đượcnhiều khách hàng tiềm năng, họ có thể chứng thực chất lượng sản phẩm, giớithiệu về văn hoá kinh doanh, phát tán công bố thông tin dịch vụ tư vấn củaCông ty làm tăng lượng khách hàng và tăng lợi nhuận cho Công ty
- Ngoài ra Công ty tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư về nguồnnhân lực, tài chính, công nghệ kỹ thuật, tổ chức tốt công tác quản lý dự trữ vàbảo quản thiết bị để hạn chế được những hao hụt, hư hỏng, biến chất mấtmát…để hoạt động xúc tiến kinh doanh đạt hiệu quả cao
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh dịch vụ tư vấn
- Ngày nay sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường ngàycàng trở nên gay gắt Trong bối cảnh đó để tồn tại và phát triển bền vữngdoanh nghiệp phải tổ chức tốt các hoạt động dịch vụ cả nước, trong và sau khibán hàng Để thực hiện các dịch vụ trong sản xuất, kinh doanh người tathường tổ chức các bộ phận thực hiện dịch vụ hoặc là các doanh nghiệp độclập chuyên thực hiện các dịch vụ cho khách hàng Dịch vụ được coi là vũ khísắc bén giúp cho doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.việc thực hiện các hoạt động dịch vụ suy cho cùng hướng vào mục tiêu doanhlợi của doanh nghiệp Bởi thế cần phải đánh giá, phân tích hiệu quả của cáchoạt động dịch vụ Đánh giá hiệu quả hoạt động dịch vụ là rất phức tạp và nó
có phần định lượng, song có phần không địng lượng Do vậy tuỳ theo đặcđiểm của từng lĩnh vực dịch vụ và các hình thức dịch vụ khác nhau mà người
ta áp dụng những chỉ tiêu thích hợp để đánh giá hoạt động kinh doanh
- Trong kinh doanh dịch vụ tư vấn, chi phí trực tiếp là chi phí sử dụngmáy móc, thiết bị và công nhân, còn chi phí gián tiếp là chi phí để cho mọi
Trang 13hoạt động khác trong kinh doanh như: tiền thuế, chi phí quản lý, chi phí vănphòng, bảo hiểm, điện thoại…
Tiền thu được trong dịch vụ phải bù đắp được các chi phí sau:
Chi phí trực tiếp;
Chi phí gián tiếp;
Lợi nhuận hợp lý;
Thông thường chi phí cho một loại dịch vụ, người ta tính theo giờ và gọi
là giá tính cho một giờ
Chi phí cho 1 giờ dịch vụ = Chi phí trực tiếp tính cho 1 giờ + lợi nhuậnLợi nhuận trong một giờ được cộng vào để bù đắp chi phí gián tiếp và có lãi
- Chất lượng sản phẩm dịch vụ là một chỉ tiêu định tính, có tính kháiquát cao và khó đánh giá hơn so với chất lượng hàng hoá do tính vô hình của
nó Mỗi loại dịch vụ lại sử dụng những chỉ tiêu khác nhau để đánh giá chấtlượng, do vậy có một phương pháp dễ tiếp cận hơn đó là xem xét phản ứngcủa người tiêu dùng dịch vụ Tuy nhiên một ngành dịch vụ có thể có rất nhiềuloại sản phẩm, do vậy việc đánh giá chỉ có thể dành cho một số những dịch vụchủ yếu đặc thù của ngành
- Giá cả là một trong các chỉ tiêu định lượng để đánh giá năng lực cạnhtranh, trong cơ chế cạnh tranh trên thị trường thế giới, hiện nay giá cao khôngđồng nghĩa với năng lực cạnh tranh thấp, giá cao thể hiện sản phẩm đượcngười tiêu dùng tiêu dùng ưu thích và họ sẵn sàng trả giá cao cho sản phẩm
đó
- Doanh thu và tốc độ tăng doanh thu:
Doanh thu là chỉ tiêu tổng hợp nó phản ánh quy mô kinh doanhcủa doanh nghiệp, thông qua chỉ tiêu này doanh nghiệp có thể thấy được tìnhhình kinh doanh của Công ty qua các thời kỳ
Tốc độ tăng doanh thu là chỉ tiêu phản ánh của doanh nghiệp năm nay
Trang 14so với năm trước tăng hay giảm Vì vậy các doanh nghiệp cần tìm các biện pháp để tăng doanh thu từ đó tăng kết quả kinh doanh.
Tốc độ tăng doanh thu = Doanh thu năm trướcDoanh thu năm nay x 100%
- Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp, chỉ tiêu này không chỉphản ánh tiềm năng cạnh tranh mà còn thể hiện tính hiệu quả trong sản xuấtkinh doanh Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ cạnh tranh trên thị trường này làrất gay gắt, ngược lại nếu chỉ tiêu này cao thì điều đó có nghĩa là kinh doanhđang rất thuận lợi
- Lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí kinh doanh là chỉ tiêuphản ánh con số thực tế mà doanh nghiệp thu được sau một thời gian kinhdoanh nhất định Để làm tăng lợi nhuận Công ty phải có những biện phápthích hợp thu hút được nhiều khách hàng từ đó tăng số lượng các dự án, hợpđồng kinh doanh và làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Lợi nhuận tăng ảnhhưởng trực tiếp đến tái đầu tư, mở rộng cải tiến tiền lương và tăng đóng gópcho ngân sách Nhà Nước
- Tốc độ tăng lợi nhuận phản ánh tốc độ tăng lợi nhuận của doanh nghiệp thời kỳ này so với thời kỳ trước, con số này lớn hơn 100% thì lợi nhuận của doanh nghiệp đã tăng
so với kỳ trước và ngược lại.
Tốc độ tăng lợi nhuận = Lợi nhuận thực hiện năm nay x 100%
Lợi nhuận thực hiện năm trước
- Mức đóng góp cho ngân sách: Các doanh nghiệp thường đóng gópvào ngân sách Nhà Nước dưới hình thức đóng thuế trong đó thuế mà Công typhải nộp bao gồm có thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp
VAT phải nộp = VAT đầu vào – VAT đầu ra
Thuế thu nhập doanh nghiệp = Thuế suất * Lợi nhuận trước thuế
Chỉ tiêu này nói lên múc độ phát triển và quy mô kinh doanh của doanhnghiệp Mức đóng góp này cao cho thấy doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu
Trang 15quả cao, chỉ tiêu này không những là sự quan tâm của các doanh nghiệp màcòn là sự quan tâm lớn đối với Nhà Nước.
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới dịch vụ tư vấn tại các doanh nghiệp xây
dựng cơ bản
1.4.1 Yếu tố về nguồn nhân lực
- Vì tư vấn là loại hình dịch vụ do đó yếu tố quyết định chất lượngdịch vụ là con người, là nguồn nhân lực của doanh nghiệp Trong lĩnh vựcnày, con người vừa đóng vai trò là yếu tố thực hiện, vừa đóng vai trò là yếu tốquản lý
- Trong kinh doanh dịch vụ tư vấn đòi hỏi cán bộ công nhân viên cácdoanh nghiệp có trình độ chuyên môn cao thuộc đủ các ngành nghề phục vụcho công tác khảo sát, thiết kế, kiểm định tư vấn giám sát, có khả năng đảmnhận được các công trình có yêu cầu về khảo sát tư vấn thiết kế tập trung ởmức độ cao, quy mô lớn và có thể mở rộng ra thị trường nước ngoài Vì vậy
mà yếu tố con người ảnh hưởng tới kinh doanh dịch vụ tư vấn của các doanhnghiệp trong xây dựng cơ bản
1.4.2 Yếu tố về cơ sở vật chất, kỹ thuật công nghệ
Trong hoạt động tư vấn cơ sở vật chất và khoa học công nghệ là nhữngyếu tố quan trọng góp phần rất lớn vào việc tạo ra chất lượng kinh doanh dịch
vụ tư vấn cao hay thấp, đặc biệt là trong thị trường cạnh tranh gay gắt nhưhiện nay Để tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt đáp ứng được đòi hỏi củakhách hàng các doanh nghiệp luôn phải cập nhật công nghệ thông tin và ứngdụng các phần mềm máy tính mới vào công việc để nâng cao chất lượng sảnphẩm cho khách hàng
1.4.3 Yếu tố về tài chính
Tình hình tài chính là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến khả nănghoạt động của doanh nghiệp xây dựng cơ bản Doanh nghiệp có khả năng tài
Trang 16chính tốt thúc đẩy hoạt động quản trị trong doanh nghiệp có hiệu quả, hoạtđộng quản trị là yếu tố quyết định đến chất lượng kinh doanh dịch vụ tư vấn.Chất lượng kinh doanh dịch vụ tư vấn đảm bảo sẽ dẫn đến hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp có uy tín, chiếm được lòng tin của khách hàng
và từ đó thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển Như vậy tiềm lựctài chính và chất lượng kinh doanh dịch vụ tư vấn có mối quan hệ hữu cơ vớinhau và phụ thuộc vào nhau cùng thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ TƯ VẤN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN – ĐẦU TƯ – CÔNG NGHỆ ĐẠI HÀ
2.1 Khái quát về Công ty cổ phần tư vấn – đầu tư – công nghệ Đại Hà
Trang 172.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
- Công ty cổ phần tư vấn – đầu tư – công nghệ Đại Hà Là một công ty
cổ phần hoạt động trên nhiều lĩnh vực Được thành lập và hoạt động tuân theoluật doanh nghiệp được Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VIỆTNam khoá X thông qua ngày 12/9/1999 Công ty cổ phần tư vấn–đầu tư –công nghệ Đại Hà Chính thức đi vào hoạt động ngày 10/07/2007 và đượcthành lập theo giấy phép đăng ký kinh doanh số 41.03.007157 do Phòng đăng
ký kinh doanh – Sở kế hoạch đầu tư – TP Hồ Chí Minh cấp ngày 29/06/2007.Sau đây là một vài nét chính về Công ty
- Tên đầy đủ công ty: Công ty cổ phần tư vấn – đầu tư – công nghệĐại Hà
Tên giao dịch: Dai Ha Technology – Invertment – Consusltancy
corporation
Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần
- Trụ sở chính của Công ty : 19A Cộng Hòa ( Scetpa Bldg Lầu 4 ), P.12,Q.Tân Bình, TP.HCM
Điện thoại : (08) 6296 6705
Số đăng ký kinh doanh: 41.03.007157
Mã số thuế: 0305047933
Vốn điều lệ: 15.000.000.000 đồng (Mười lăm tỷ đồng Việt Nam)
- Từ khi thành lập với nỗ lực vươn lên của mình, sự đầu tư đúnghướng, một tập thể đoàn kết Công ty đang mở rộng thêm nhiều lĩnh vực kinhdoanh, chú trọng đào tạo chuyên sâu cho cán bộ công nhân viên, liên kết hợptác kinh doanh với các đối tác trong và ngoài nước
- Trong nhiều năm qua Công ty luôn có nhiều cố gắng hoạt động kinhdoanh nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng sự thoản mãn của khách hàng khi
họ sử dụng tới sản phẩm của Công ty
Trang 18- Công ty cổ phần tư vấn – đầu tư – công nghệ Đại Hà đã được khẳngđịnh nhà đầu tư, nhà thầu chuyên nghiệp và là chỗ dựa tin cậy cho các đối tác.Công ty hoạt động dựa trên nguyên tắc thoả mãn tốt nhu cầu khách hàng vớiphương châm “tiến độ - chất lượng - hiệu quả”
- Lĩnh vực hoạt động của Công ty bao gồm:
Tư vấn giám sát các công trình xây dựng công nghiệp, dân dụng,san nền
Xây dựng công trình công nghiệp, dân dụng, san nền tạo mặt bằng
Công ty góp phần hoàn thiện cơ sở hạ tầng tạo thuận lợi cho các nhàđầu tư vào Việt Nam góp phần nâng cao đời sống của nhân dân
- Nhiệm vụ chủ yếu của Công ty bao gồm:
Xây dựng và thực hiện nhiệm vụ kế hoạch, không ngừng nâng caohiệu quả và mở rộng sản xuất kinh doanh, đạt chất lượng, lợi nhuận nămtrước phải cao hơn năm sau, ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ kỹthuật vào trong sản xuất
Đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên chức trong toànCông ty ngày càng được nâng cao, giải quyết việc làm và thực hiện đầy đủchế độ chính sách của Đảng và Nhà Nước
Bảo vệ tài sản của Công ty, bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp, tuânthủ pháp luật, hạch toán và báo cáo trung thực theo chế độ chính sách củaNhà Nước quy định
Trang 192.1.2 Hệ thống tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban của Công ty cổ phần tư vấn – đầu tư – công nghệ Đại Hà
2.1.2.1 Hệ thống tổ chức của công ty
Bộ máy của công ty được tổ chức theo sơ đồ 2.1 ( Trang 20 )
2.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban trong Công ty
- Do đặc điểm của mỗi ngành là khác nhau nên cơ cấu tổ chức bộ máymỗi Công ty cũng khác nhau Để tăng cường bộ máy quản lý và điều hành cóhiệu quả, đảm bảo quản lý trên tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh
Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty cổ phần tư vấn – đầu tư – công nghệ Đại Hànhư sau:
- Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý của Công ty, có toàn quyềnnhân danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyềnlợi của Công ty
- Tổng giám đốc: Là đại diện pháp nhân của Công ty chịu trách nhiệmtrước pháp luật về quá trình hoạt động và quản trị mọi mặt của Công ty theođúng đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ, phát triển sản phẩm, hoànthành các nghĩa vụ của một doanh nghiệp Nhà Nước, bảo toàn vốn, xây dựngCông ty ngày một lớn mạnh
- Giám đốc tài chính: Có nhiệm vụ trực tiếp quản lý trong lĩnh vực
kinh doanh của Công ty, hạch toán tài vụ cũng như quá trình sản xuất kinhdoanh trong Công ty
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của Công ty
Trang 20- Giám đốc súc tiến đầu tư: Là người trực tiếp tham gia điều hành hoạtđộng kinh doanh của Công ty chịu trách nhiệm trước tổng giám đốc và trướcphát luật về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao Thường xuyêntrao đổi công việc với các Phó giám đốc Công ty trong hoạt động của mình,
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG QUẢN THỊ
Phòng Hànhchínhnhân sự
PhòngKế toán
Phòng
kiến
trúc sư
Phòngkết cấu
Phòngđầu tư
Giám Đốc súc tiến đầu tư Giám Đốc TT tư vấn thiết
kế
Trang 21và đồng thời giữ mối quan hệ chặt chẽ giữa lãnh đạo Công ty, đảng uỷ vàcông đoàn Công ty Giám đốc có trách nhiệm sắp xếp các phòng ban, các đơn
vị sản xuất phù hợp với chức năng nhiệm vụ được giao
- Giám đốc TT tư vấn thiết kế hoạch: Là người trực tiếp tham gia điềuhành hoạt động trong việc chỉ huy về các lĩnh vực: lĩnh vực lịch trình thựchiện kế hoạch, các thiết bị kỹ thuật và hướng phát triển của công ty về cácmặt kỹ thuật ….được phân công, thay mặt Công ty và chịu trách nhiệm trướctổng giám đốc và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụđược giao Có trách nhiệm sắp xếp các phòng ban, các đơn vị sản xuất phùhợp với chức năng nhiệm vụ được giao
Để giúp ban giám đốc quản lý công việc có các phòng ban chức năngđược tổ chức theo yêu cầu của công việc quản lý sản xuất kinh doanh, quản lý
kỹ thuật bao gồm: Ban quản lý dự án, phòng tư vấn thiết kế, phòng đầu tư,phòng kế toán, phòng hành chính Chức năng nhiệm vụ của các phòng nhưsau:
- Ban quản lý dự án:
xây dựng kế hoạch sản xuất, giá thành kế hoạch của sản phẩm, kýkết hợp đồng sản xuất, quyết toán sản lượng, tham gia đề xuất với Ban Tổnggiám đốc các quy chế quản lý kinh tế áp dụng nội bộ, những kế hoạch thựchiện phù hợp với diễn biến thị trường
Phân tích hoạch động sản xuất kinh doanh trước, trong và sau khisản xuất, thiết lập mối quan hệ với các cấp, lập toàn bộ hồ sơ dự toán côngtrình, định giá và lập phiếu giá thanh toán
Xây dựng kế hoạch kinh doanh hàng năm, dài hạn, ngắn hạn choCông ty Nắm bắt tình hình thực hiện các dự án của Công ty Đề xuất với BanTổng giám đốc Công ty
- Phòng tư vấn thiết kế: Quản lý công tác kỹ thuật, chất lượng kiểm tra
Trang 22bản vẽ thiết kế, tổng hợp khối lượng công trình, bám sát kế hoạch, tiến độ,biện pháp thi công và tham gia nghiệm thu, triển khai áp dụng các tiến bộkhoa học kỹ thuật, công nghệ vào thực tế sản xuất.
- Phòng đầu tư: Tham mưu cho lãnh đạo Công ty trong việc quản lý vàthực hiện công tác đầu tư xây dựng cơ bản Tham mưu trong việc thực hiệnquy hoạch, quản lý và sử dụng đất trong trong các dự án của Công ty theo quiđịnh của pháp luật Thực hiện các công việc do lãnh đạo Công ty giao phó
- Phòng kế toán: Có nhiệm vụ hoạch toán tài vụ cũng như quá trình sảnxuất kinh doanh của Công ty Tổ chức thực hiện việc ghi chép, xử lý, cungcấp số liệu về tình hình kinh tế, tài chính, phối hợp và giám sát vốn, giám sát
và hướng dẫn nghiệp vụ đối với những người làm công tác kế toán trongCông ty, chi tất cả các khoản chi trong Công ty
- Phòng hành chính nhân sự: Có chức năng tổ chức nhân sự của Công
ty điều động nhân sự đưa ra các kế hoạch tổ chức trong thời gian tới của Công
ty, công tác kế hoạch tiền lương Trực tiếp tiếp nhận như: nhân công và cáccông văn của Công ty gửi đến gửi đi
- Như vậy mỗi phòng ban trong Công ty đều có chức năng nhiệm vụriêng nhưng giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ dưới sự điều hành của banTổng giám đốc và chủ tịch hội đồng quản trị của Công ty nhằm đạt lợi ích caonhất cho Công ty
- Với hình thức sắp xếp bổ sung quản lý rất phù hợp với đặc điểm hoạtđộng sản xuất kinh doanh của Công ty Việc tổ chức các bộ phận và chịu sựquản lý riêng của từng Giám đốc giúp được sự hạn chế chồng chéo trong quản
lý và thi công Bên cạnh đó, Tổng giám đốc người trực tiếp điều hành chung,được sự giúp đỡ của các phòng ban chức năng và các giám đốc có thể nắm bắttổng hợp các thông tin và giao các quyết định sản xuất kinh doanh đúng đắn,chính xác nhất và giảm bớt sự căng thẳng trong việc điều hành lãnh đạo Với
Trang 23mô hình như vậy thì trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ của các nhóm đượcxác định rất rõ ràng Điều đó đã giúp nâng cao hiệu quả sử dụng lao động củaCông ty Tuy nhiên việc hoạt động của toàn bộ hệ thống có được tốt haykhông, hiệu quả đến đâu còn phụ thuộc vào sự phối hợp của các phòng ban,
2.2.1.1 Đặc điểm về nguồn nhân lực
- Yếu tố con người luôn được Công ty coi trọng và được bổ sung, đàotạo nâng cao nghiệp vụ một cách thường xuyên Công ty hoạt động có hiệuquả hay không phụ thuộc rất lớn vào bộ phận này Kế thừa và phát huy truyềnthống đó hàng năm Công ty rất quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ kỹ sư, kỹthuật, cán bộ quản lý giỏi và đội ngũ công nhân có tay nghề cao, kỹ thuậtchuyên sâu
- Trong nhiều năm nay tính đến tháng 12/2010 tổng số cán bộ côngnhân viên của Công ty lên đến 45 người tăng lên 30 người so với tháng7/2007 Trong những năm qua cùng với sự tăng trưởng về sản xuất kinhdoanh đội ngũ cán bộ công nhân viên của Công ty không ngừng lớn mạnh.Hiện Công ty có đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm với chuyên môn vững vàng
có khả năng khai thác ứng dụng hiệu quả những tiến độ kỹ thuật Ngoài ra,Công ty còn đầu tư, đào tạo và tuyển chọn đội ngũ công nhân lành nghề luônsẵn sàng mọi nhiệm vụ được giao Số người tăng lên như vậy có thể do Công
ty tăng thêm nhiều hợp đồng, các công trình đi vào thi công, quy mô hoạtđộng kinh doanh của Công ty được mở rộng
Trang 24Bảng 2.1 Trình độ học vấn của cán bộ nhân viên
STT Chuyên môn lĩnh vực nghiên
Sốngười tuổi
1 Quản trị kinh doanh, xây
2.2.1.2 Đặc điểm về máy móc thiết bị
Để đẩy nhanh việc tiến độ các hạng mục công trình, đồng thời nâng caochất lượng của các sản phẩm, công tác xử lý nền móng sử dụng bê tôngthương phẩm, đồng bộ các loại máy đào, xúc, ủi… Công ty đã đầu tư nhiềumáy móc thiết bị, thi công hiện đại mua từ rất nhiều nước khác nhau, bao gồm
cả trong và ngoài nước, trong đó nước ngoài là chủ yếu như: Nga, Nhật, HànQuốc, Trung Quốc, Đức, Mỹ, Tiệp Công ty đã tận dụng các nguồn công nghệnày, kết hợp chúng lại để tạo ra tính đồng bộ trong hoạt động sản xuất kinhdoanh, tránh cho Công ty không bị lạc hậu về công nghệ mà còn phù hợp vớicông nghệ mới mà vẫn tiết kiện được chi phí sản xuất kinh doanh Đó là cơ sởgiúp tăng tỷ trọng cơ giới hoá trong ngành xây dựng, nâng cao năng suất laođộng, năng lực sản xuất, tăng lợi nhuận và nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh của Công ty
2.2.1.3 Đặc điểm về tài chính
- Tài chính là yếu tố mang tính quyết định đến tiến độ, chất lượng vàhiệu quả của dự án Một nền tài chính chắc chắn đủ để đáp ứng hoàn thành kế
Trang 25hoạch sẽ được Công ty huy động từ các nguồn vốn tự có, vốn vay, ký các hợpđồng tín dụng với các Công ty tài chính, các ngân hàng… với tổng giá trị từ 5đến 15 tỷ đồng.
- Qua 4 năm đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chínhcủa Công ty đã có rất nhiều thay đổi Năm 2007, khi mới thành lập tổng sốvốn góp của các thành viên sáng lập nên Công ty chỉ có 15.000.000.000VNĐ Trong quá trình hoạt động kinh doanh, tổng số vốn kinh doanh củaCông ty không ngừng tăng lên, vốn kinh doanh của Công ty được trích từ lợinhuận qua từng năm tài chính và được bổ sung thêm bởi chính các thành viênsáng lập của Công ty
- Tổng doanh thu thực hiện trong 4 năm từ 2008 đến năm 20010 được
cụ thể như sau ( số liệu được tính trên tổng sản lượng toàn Công ty ):
Bảng 2.2 Doanh thu của Công ty qua những năm hoạt động
Đơn vị: VNĐ
Doanh số 11.874.289.864 15.368.468.974 20.267.764.851
(Nguồn: Phòng tài chinh-kế toán Công ty )
- Về kết quả tài chính của Công ty, doanh số năm 2008 là11.874.289.864VNĐ nhưng đến năm 2010 đã tăng lên 20.267.764.851VNĐ.Như vậy có thể thấy quy mô nguồn vốn của Công ty có sự thay đổi lên xuốngqua từng năm, do Công ty huy động vốn vay từ ngân hàng, công ty tài chínhnên Công ty phải gánh khoản tiền lãi hàng năm Tuy nhiên doanh nghiệp lại
có thể sử dụng vốn vay đó để thực hiện những hoạt động khác mang lại lợinhuận cho Công ty Điều này cho thấy tình hình kinh doanh của Công ty
Trang 26không hề giảm sút Đặc biệt là năm 2010 doanh số tăng cao nhất, qua đây chothấy tình hình tài chính của Công ty có xu hướng phát triển ổn định theo thờigian và trong thời gian tới.
2.2.1.4 Đặc điểm về tìm kiếm thông tin, nắm bắt nhu cầu
- Với đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp có chuyên môn cao trong lĩnh vựckinh doanh tư vấn, hoạt động của Công ty sẽ giúp cho các doanh nghiệp cónhu cầu, có khả năng thích ứng nhanh và tốt hơn với thị trường quốc tế thôngqua hoạt động tư vấn
- Công ty có mối quan hệ rộng rãi với các doanh nghiệp trong nước vàkhu vực, hợp tác với các đối tác truyền thống, Công ty không ngừng khai thácthị trường mới, tiếp xúc với khách hàng mới mà bản thân Công ty tự tìm đượchoặc theo sự giới thiệu của các bạn hàng truyền thống Vì vậy, việc xây dựngmối quan hệ bền vững, cùng có lợi với các đối tác truyền thống là một mụctiêu quan trọng trong chiến lược phát triển mà ban giám đốc Công ty đề ra
2.2.2 Thực trạng kinh doanh các loại dịch vụ tư vấn tại Công ty cổ phần tư vấn – đầu tư – công nghệ Đại Hà
- Là một trong những Công ty hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh dịch
vụ tư vấn, trong thời gian đầu hoạt động Công ty đã gặp không ít khó khăn nhưvấn đề thủ tục hành chính, thông tin thị trường, các vấn đề pháp lý…Cùng với
sự cố gắng, nỗ lực của Công ty đã thu được những kết quả đánh ghi nhận Sảnphẩm của Công ty là các hợp đồng tư vấn được hình thành từ trí tuệ đội ngũcán bộ công nhân viên hiện có Doanh thu hàng ngày của Công ty từ hoạtđộng kinh doanh dịch vụ tư vấn chủ yếu phụ thuộc vào năng lực tư duy, kinhnghiệm và uy tín đối với khách hàng Nếu như năm 2008 là 2 hợp đồng thìđến năm 2010 là 4 hợp đồng, các hợp đồng mà Công ty ký kết được khôngchỉ tăng về số lượng mà còn tăng về giá trị cũng như quy mô
Trang 27Bảng 2.3 Các chỉ tiêu phản ánh hoạt động kinh doanh dịch vụ tư vấn của Công ty qua các năm.
( Nguồn: Phòng tài chính kế toán Công ty )
- Cùng với việc tăng số lượng hợp đồng cũng như số lượng dự án màdoanh thu của Công ty cũng tăng Năm 2008 doanh thu từ kinh doanh dịch vụ
tư vấn là 7.747 triệu VNĐ nhưng đến năm 2010 tăng lên 14.798 triệu VNĐ.Trong đó những dịch vụ tư vấn mà Công ty cung cấp cho khách hàng cũngkhá đa dạng gồm:
Tư vấn khảo sát, lập dự án quy hoạch, thiết kế các công trình xâydựng, công nghiệp, dân dụng, san nền
Tư vấn giám sát các công trình xây dựng công nghiệp, dân dụng,san nền …
- Các công trình tư vấn do Công ty thực hiện luôn hoàn thành đúngtiến độ đảm bảo chất lượng và được nhiều ban quản lý dự án và các chủ đầu
tư tín nhiệm Sau đây là ví dụ một vài dự án và dịch vụ mà Công ty đã và thựchiện
Bảng 2.4 Một số công trình, tư vấn thiết kế tiêu biểu mà cán bộ nhân viênhiện có của Công ty đã tham gia thực hiện
Trang 28thi công tổng dự toán công trình LIG.
2 TVKS, thiết kế bản vẽ, KTTC công trình The
4 Lập dự án đầu tư, khảo sát thiết kế kỹ thuật
công trình Thăng Long
500.000 2009
5 Lập dự án đầu tư, khảo sát thiết kế kỹ thuật
thi công công trình Khách sạn thương mại
500.000 2010
6 Lập báo cáo kỹ thuật, khảo sát, TKKT-DT
công trình nhà liền kế Hóc Môn
2010
7 Tư vấn khảo sát, thiết kế bản vẽ, kỹ thuật thi
công công trình cà phê Trung Nguyên
8 Lập báo cáo đầu tư, thiết kế kỹ thuật-dự thầu
khu văn hóa thể thao bắc Quận 8
2010
(Nguồn:Phòngkế hoạch thiết kế kỹ thuật)
- Qua bảng trên ta thấy các dự án và dịch vụ tư vấn khảo sát, giám sát
mà Công ty ký kết ngày càng tăng là do nhu cầu tư vấn tăng cao, các nhà đầu
tư nước ngoài đầu tư vào việt nam, các chính sách liên quan đến xây dựng kếtcấu hạ tầng để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
và các chính sách liên quan đến phát triển nhà ở cho khu tái định cư…Đã giúpCông ty gia tăng liên tục số lượng hợp đồng ký kết, tăng doanh thu đóng gópđáng kể vào lợi nhuận của Công ty
- Với uy tín và năng lực của mình Công ty ngày càng có nhiều côngtrình có quy mô ngày càng lớn
- Để có được sự thành công như ngày hôm nay Công ty đã áp dụngmột phương pháp làm việc rất phổ biến trong việc kinh doanh dịch vụ tư vấnnhư các tổ chức tư vấn quốc tế thường áp dụng Đó là, sau khi tìm kiếm đượckhách hàng có nhu cầu tư vấn và nghiên cứu kỹ bản điều khoản giao việc,
Trang 29Công ty tiến hành ký kết hợp đồng, thu thập các thông tin cơ bản, bối cảnhthực hiện hợp đồng một cách đầy đủ Tiếp theo cán bộ thực hiện hoạt độngphải nghiên cứu và hiểu rõ nội dung công việc do khách hàng yêu cầu thựchiện Việc xây dựng kế hoạch công việc và triển khai thực hiện quá trình tưvấn là bước tiếp theo sau khi hiểu rõ các yêu cầu trong hợp đồng Công việctiếp theo là báo cáo, trình bày kết quả và đánh giá hiệu quả thực hiện Sau mỗihợp đồng thực hiện hoạt động tư vấn, Công ty luôn lấy ý kiến phản hồi từphía khách hàng về mức độ thoả mãn nhu cầu, về quy trình, thái độ làm việccủa cán bộ tư vấn của Công ty…Làm cơ sở để Công ty rút kinh nghiệm hoànthiện và nâng cao chất lượng các hoạt động kinh doanh dịch vụ tư vấn củamình Quá trình thực hiện công việc hoạt động kinh doanh dịch vụ tư vấn tạiCông ty đang tiến hành bao gồm:
Tìm kiếm khách hàng
Hình thành và ký kết hợp đồng
Tìm hiểu dự án và hợp đồng
Lập kế hoạch hành động
Tiến hành thương lượng và thực hiện quá trình tư vấn
Báo cáo kết quả và đánh giá
Thanh lý hợp đồng
2.2.2.1 Tìm kiếm khách hàng
Hầu hết các doanh nghiệp hiện nay đều hoạt động trên kinh nghiệm vàcác mối quan hệ Điều này là cần thiết nhưng chưa đủ để các doanh nghiệp cóthể phát triển hoạt động kinh doanh của mình, nhất là đối với doanh nghiệpnước ngoài Thông tin trở thành một yếu tố quan trọng trong kinh doanh, việc
sở hữu thông tin hay việc thiếu thông tin thị trường, những đổi thay của môitrường kinh doanh có thể là nguyên nhân cơ bản của thành công hay thất bạicủa một doanh nghiệp khi tung ra sản phẩm trên thị trường hoặc đầu tư vào
Trang 30một thị trường mới hay một lĩnh vực mới Do đó, nhu cầu của các tổ chức tưvấn là rất lớn đặc biệt là các thị trường quốc tế nơi mà các doanh nghiệp trongnước còn ít nhiều bỡ ngỡ Vì vậy, các hoạt động kinh doanh dịch vụ tư vấnnhư lập báo cáo tiền khả thi và khả thi của dự án, lập hồ sơ dự án xin cấpphép đầu tư, tư vấn chuyển giao công nghệ kỹ thuật… là rất phù hợp với nhucầu thị trường hiện nay và trong tương lai Tuy nhiên, hoạt động trong môitrường cạnh tranh, nhu cầu lớn nhưng còn ở dạng tiềm ẩn, để giành được hợpđồng, Công ty đã duy trì những nỗ lực mời chào một cách liên tục và thườngxuyên về khả năng của mình nhằm giúp đỡ cho khách hàng có nhu cầu tìmhiểu và tin tưởng vào Công ty được thể hiện thông qua các cách tiếp thị quảngcáo, các mối tiếp xúc với khách hàng cũ, đại diện một số Công ty tư vấn cácnhà tư vấn, các chuyên gia đầu ngành có tham gia liên doanh, liên kết thựchiện dự án, liên kết các bạn hàng thường xuyên liên hệ trực tiếp với Công tythông qua fax, email, điện thoại Đối với khách hàng truyền thống, sau khinhận được thông tin, Công ty xem xét và phản hồi lại cho khách hàng sớmnhất, ngoài ra Công ty còn chủ động tìm kiếm khách hàng như tham gia dựthầu về tư vấn, soạn thảo bản đề xuất về kỹ thuật tài chính và gửi cho kháchhàng, cung cấp những thông tin cho khách hàng truyền thống giới thiệu hoặcthông qua các thông tin về dịch vụ tư vấn mà Công ty đã quảng bá đượcthương hiệu của mình.Với hình thức quảng cáo với một chi phí hợp lý đã đemlại hiệu quả không nhỏ cho hoạt động kinh doanh dịch vụ tư vấn của Công tytrong việc tìm kiếm khách hàng cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho kháchhàng tiếp xúc với Công ty.
2.2.2.2 Hình thành và ký kết hợp đồng
Để tiến hành một hoạt động kinh doanh dịch vụ tư vấn cho những dự
án có quy mô lớn và phức tạp thì trước hết phải có sự đồng ý và phê duyệt củaCông ty Tiếp theo, cán bộ tư vấn của Công ty có các cuộc tiếp xúc ban đầu
Trang 31với khách hàng, thảo luận về việc khách hàng muốn gì và cán bộ tư vấn có thểgiúp khách hàng như thế nào, chuẩn đoán sơ bộ vấn đề, kế hoạch vụ việc tưvấn, kiến nghị vụ việc tư vấn với khách hàng, dự kiến những mục tiêu cụ thểcần đàm phán (giá cả cao nhất hoặc thấp nhất, vấn đề thanh toán, bảohành…).Theo kinh nghiệm của cán bộ tư vấn của Công ty thì đây là giai đoạnlàm nền tảng cho mọi sự việc tiếp theo, thiết lập mối quan hệ giữa cán bộ tưvấn của Công ty và khách hàng Trong quá trình đàm phán ký kết hợp đồng tưvấn, Công ty luôn cố gắng bám sát mục tiêu đã định trong chiến lược và kếhoạch đàm phán Sau khi đàm phán thành công, hợp đồng kinh doanh dịch vụ
tư vấn được Công ty soạn thảo theo đúng quy định của Pháp luật về hợp đồngkinh tế do các bên đương sự tiến hành Sau đó bản y sao hợp đồng được mỗibên giữa một bản và ký nháy vào bản dự thảo hợp đồng, thể hiện sự thốngnhất giữa các bên Khi giám đốc thông qua và phê chuẩn, hợp đồng sẽ chínhthức được thực hiện, cán bộ tư vấn triển khai dịch vụ
Một trong những điểm quan trọng nhất trong hợp đồng mà Công ty đãthực hiện trong thời gian qua là yêu cầu, quy mô, phạm vi công việc và thời giangiao, nhận việc Đây là vấn đề hay xảy ra bất đồng trong đàm phán và cả trongquá trình thực hiện hoạt động kinh doanh dịch vụ tư vấn của Công ty với kháchhàng, tại điều khoản này Công ty với khách hàng đưa ra những thoả thuậnchung, chi tiết về phần công việc mà Công ty và khách hàng phải thực hiện
Các đầu vào của khách hàng là những thông tin, nhân lực, phươngtiện…do khách hàng cung cấp
Đầu vào của Công ty là những phương tiện, trang thiết bị, nhân lực…
mà Công ty dự kiến sử dụng để thực hiện hợp đồng
Sản phẩm của hợp đồng đó là các bản báo cáo, các bản vẽ, các kiếnnghị…mà khách hàng đòi hỏi ở Công ty
Trang 32Có thể nói, vấn đề xác định giá tư vấn là một trong những vấn đề quantrọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của việc đàm phán, ký kếthợp đồng.
Trong suốt bốn năm hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ tưvấn, Công ty thường tính toán thù lao trên các cơ sở sau:
- Tính theo tỉ lệ % vốn đầu tư của dự án, tuỳ vào quy mô và tính phức tạp của dự án mà tỷ lệ thù lao tư vấn trong khoảng 4,5% đến 12 % vốn đầu tư của dự án
- Tính theo thời gian làm việc của tư vấn: Thường áp dụng cho các dịch vụ tư vấn mà Công ty thực hiện nhưng không có trong đơn giá Nhà Nước quy định và các công việc điều tra thu thập số liệu, xin ý kiến góp ý là hợp đồng được thanh toán theo thời gian thực tế mà các nhà tư vấn đã sử dụng vào công việc tỷ lệ % theo thời gian gồm:
- Tính theo thực chi cộng phí cố định: Thường áp dụng với các dịch vụ
tư vấn như xin giấy phép đầu tư, hoặc các công việc mà không thể tính toán được như (chi phí đi lại, ăn ở, thu thập thông tin…) Lệ phí cố định (bằng 15% đến 20% khoản thực chi như phí quản lý…)