1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích vai trò của tài chính công, chứng minh bằng chính sách thu chi hiện hành

30 1,8K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 394,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Khu vực công Theo Joseph E.stiglitz: khu vực công là khu vực của chính phủ Một quan điểm khác cho rằng: khu vực công là khu vực của chính phủ(bao gồm chính phủ trung ương và cơ quan thuộc chính phủ trung ương, chính quyền địa phương, cơ quan thuộc chính quyền địa phương) và những khu vực được chính phủ kiểm soát(như các doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức tài chính nhà nước..) Tại Việt Nam,quan điểm “Khu vực công bao gồm khu vực chính phủ và khu vực được chính phủ kiểm soát như doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức tài chính nhà nước” 2.Tài chính công Từ nội dung khu vực công ta thấy “công” gắn liền với các khía cạnh sau: Tính sở hữu: hoạt động công gắn liền với sở hữu của nhà nước, còn gọi là sở hữu công cộng. Tính mục đích: các hoạt động công không vì mục đích lợi nhuận mà vì lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội Tính chủ thể: các chủ thể thuộc sở hữu nhà nước đều cung cấp hàng hóa, dịch vụ công, các chủ thế đó là: nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền địa phương…3. Đặc điểm Tài chính công Gắn liền với sở hữu nhà nước, quyền lực chính trị của nhà nước. Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định đến quá trình tạo lập và sử dụng quỹ công đặc biệt là quỹ ngân sách nhà nước. Chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng. Tài chính công phản ánh quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế trong việc phân phối nguồn tài chính quốc gia nên hoạt động tài chính công phản ánh các quan hệ lợi ích giữa nhà nước với các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế, trong đó lợi ích tổng thể được đặt lên hàng đầu và chi phối các quan hệ lợi ích khác. Hiệu quả của hoạt động thu chi tài chính công không lượng hoá được.Chủ yếu mang tính chất không hoàn lại trực tiếp nên không thể đánh giá hiệu quả một cách cụ thể, chính xác.Phạm vi hoạt động rộng.Tài chính công gắn liền với các việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, xã hội, quốc phòng, an ninh,... Hoạt động thu chi tài chính công có tác động đến thu nhập của hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế kể cả chủ thể đầu tư hay tiêu dùng4.Cơ cấu tài chính côngTài chính công là một tổng thể thống nhất do nhiều bộ phận hợp thành .tùy thep các góc độ tiếp cận khác nhau, tài chính công được phân thành như sau.Phân theo chủ thể quản lý trực tiếp :Tài chính chung của nhà nước:Chủ thể quản lý tài chính trực tiếp là nhà nước.tài chính chung của nhà nước bao gồm ngân sách nhà nước các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách nhà nước.Ngân sách nhà nước là bộ phận quan trọng nhất của tài chính công .Ngân sách nhà nước phản ánh các hoạt động chi, thu bằng tiền của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định nhằm đáp ứng các nhu cầu thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước .Các hoạt động thu ngân sách nhà nước như thuế, phí, lệ phí…Hoạt động chi NSNN chủ yếu là chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển .Các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay bao gồm: quỹ dự trữ quốc gia,quỹ bảo hiểm xã hội,quỹ phủ xanh đất trống...Tài chính của các cơ quan hành chính nhà nước :Ở Việt Nam hiện nay, các cơ quan hành chính bao gồm: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp… Nhiệm vụ các cơ quan này là cung cấp các dịch vụ hành chính công cho xã hội.Tài chính từ các đơn vị sự nghiệp của nhà nước:

Trang 1

TÀI CHÍNH HỌC Chủ đề 3

PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH CÔNG CHỨNG MINH BẰNG CHÍNH SÁCH THU CHI

HIỆN HÀNH

Danh sách nhóm

Trang 2

Chúng ta có thể thấy bản chất của tài chính trong nền kinh tế thị trường là tổngthể hệ thống những mối quan hệ kinh tế giữa các thực thể tài chính phát sinhtrong quá trình hình thành phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính.

Vai trò của tài chính công luôn gắn liền với vai trò của nhà nước trong từng thời

kì nhất định Mỗi nhà nước đều có sứ mạng chính trị riêng, có những quan điểmkhác nhau trong việc quản lý điều hành các hoạt động kinh tế xã hội từ đó tàichính công là một trong các công cụ được nhà nước sử dụng nhằm thực hiện cácchức năng, nhiệm vụ của nhà nước phù hợp với từng thời kì Có thể khẳng định

1 điều rằng vai trò của tài chính công là không thể phủ nhận

Trang 3

1 Khu vực công

- Theo Joseph E.stiglitz: khu vực công là khu vực của chính phủ

- Một quan điểm khác cho rằng: khu vực công là khu vực của chính phủ(baogồm chính phủ trung ương và cơ quan thuộc chính phủ trung ương, chính quyềnđịa phương, cơ quan thuộc chính quyền địa phương) và những khu vực đượcchính phủ kiểm soát(như các doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức tài chính nhànước )

- Tại Việt Nam,quan điểm “Khu vực công bao gồm khu vực chính phủ và khuvực được chính phủ kiểm soát như doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức tàichính nhà nước”

2.Tài chính công

Từ nội dung khu vực công ta thấy “công” gắn liền với các khía cạnh sau:

- Tính sở hữu: hoạt động công gắn liền với sở hữu của nhà nước, còn gọi là sởhữu công cộng

- Tính mục đích: các hoạt động công không vì mục đích lợi nhuận mà vì lợi íchchung của cộng đồng, của xã hội

- Tính chủ thể: các chủ thể thuộc sở hữu nhà nước đều cung cấp hàng hóa, dịch

vụ công, các chủ thế đó là: nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước, chính quyềnđịa phương…

3 Đặc điểm Tài chính công

- Gắn liền với sở hữu nhà nước, quyền lực chính trị của nhà nước Nhà nước làchủ thể duy nhất quyết định đến quá trình tạo lập và sử dụng quỹ công đặc biệt

là quỹ ngân sách nhà nước

- Chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng Tài chính công phản ánh quan hệkinh tế giữa nhà nước với các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế trong việcphân phối nguồn tài chính quốc gia nên hoạt động tài chính công phản ánh cácquan hệ lợi ích giữa nhà nước với các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế, trong

đó lợi ích tổng thể được đặt lên hàng đầu và chi phối các quan hệ lợi ích khác

- Hiệu quả của hoạt động thu chi tài chính công không lượng hoá được

Trang 4

Chủ yếu mang tính chất không hoàn lại trực tiếp nên không thể đánh giá hiệuquả một cách cụ thể, chính xác.

-Phạm vi hoạt động rộng

Tài chính công gắn liền với các việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhànước, được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, xãhội, quốc phòng, an ninh, Hoạt động thu chi tài chính công có tác động đến thunhập của hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế kể cả chủ thể đầu tư hay tiêudùng

4 Cơ cấu tài chính công

Tài chính công là một tổng thể thống nhất do nhiều bộ phận hợp thành tùy thepcác góc độ tiếp cận khác nhau, tài chính công được phân thành như sau

 Phân theo chủ thể quản lý trực tiếp :

-Tài chính chung của nhà nước:

Chủ thể quản lý tài chính trực tiếp là nhà nước.tài chính chung của nhà nước baogồm ngân sách nhà nước các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách nhà nước.Ngân sách nhà nước là bộ phận quan trọng nhất của tài chính công Ngân sáchnhà nước phản ánh các hoạt động chi, thu bằng tiền của nhà nước trong mộtkhoảng thời gian nhất định nhằm đáp ứng các nhu cầu thực hiện chức năng vànhiệm vụ của nhà nước Các hoạt động thu ngân sách nhà nước như thuế, phí, lệphí…Hoạt động chi NSNN chủ yếu là chi thường xuyên và chi đầu tư pháttriển Các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiệnnay bao gồm: quỹ dự trữ quốc gia,quỹ bảo hiểm xã hội,quỹ phủ xanh đất trống -Tài chính của các cơ quan hành chính nhà nước :

Ở Việt Nam hiện nay, các cơ quan hành chính bao gồm: cơ quan lập pháp, cơquan hành pháp, cơ quan tư pháp… Nhiệm vụ các cơ quan này là cung cấp cácdịch vụ hành chính công cho xã hội

Trang 5

Cung cấp các dịch vụ công cộng cho xã hội trên các lĩnh vực kinh tế,giáo dục, ytế,văn hóa,xã hội Hoạt đông không nhằm mục tiêu lợi nhuận mà chỉ mang tínhphục vụ.Vì vậy, nguồn kinh phí đảm bảo hoạt động cho các đơn vị này là doNSNN cấp.

 Phân theo nội dung hoạt động và cơ chế quản lý

- Ngân sách nhà nước: là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước.NSNN là

kế hoạch tài chính vi mô của nhà nước giúp nhà nước quản lý và điều tiết cáchoạt động kinh tế ổn định.Như vậy ngân sách nhà nước luôn gắn chặt vớiquyền lực kinh tế, chính trị của nhà nước và được thực hiện trên cơ sỡ luậtpháp ấn định

- Tín dụng nhà nước: là hình thức nhà nước vay nợ nhằm đáp ứng nhu cầu cânđối NSNN và chi đầu tư phát triển

- Các quỹ ngoài NSNN:hầu hết ở các nước, quỹ ngân sách được chia làm banhóm: quỹ dự trữ ,dự phòng, quỹ hỗ trợ, quỹ phục vụ các chương trình mụctiêu quốc gia

3 Vai trò tài chính công

a Tài chính công là công cụ đảm bảo nguồn lực tài chính cho việc duy trì

sự tồn tại và hoạt động có hiệu quả của bộ máy nhà nước.

Có thể nói rằng đây là vai trò lịch sử của tài chính công xuất phát từ nội tại củaphạm trù tài chính

Một nhà nước ra đời, để có thể tồn tại duy trì hoạt động và thực hiện chức năngnhiệm vụ của mình phải có nguồn lực tài chính để chi tiêu, thực thi các kế hoạchhành động Đặc biệt trong thời đại kinh tế xã hội phát triển, vai trò của nhà nướcngày càng trở nên quan trọng thì hoạt động của nhà nước càng thêm phong phú,

đa dạng, nhu cầu chi tiêu của chính phủ do đó mà không ngừng tăng lên cả vềquy mô và phạm vi

Nguồn để phục vụ cho các hoạt động chi tiêu đó đâu? Chính là từ thu nhập công.Nhà nước tập trung các nguồn lực tài chính vào ngân sách nhà nước là chủ yếu,ngoài ra còn tập trung vào các quỹ tài chính khác của nhà nước.Sau đó thực hiệnchức năng phân phối và sủ dụng nhằm duy trì một cách hiệu quả hoạt động củamình và thực hiện các chức năng kinh tế xã hội.Tài chính công là công cụ tài

Trang 6

chính mà nhà nước sử dụng để thực hiện huy động, tập trung các nguồn lực tàichính quốc gia (thu nhập công)nhằm duy trì hoạt động của mình trên các mặt:kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng…

Vai trò này được thể hiện cụ thể qua việc tài chính công huy động nguồn lực tàichính cho hoạt động của nhà nước, nhà nước sử dụng nguồn lực đó trong hoạtđộng như thế nào, việc huy động và phân phôí nguồn tài chính đó hợp lý haychưa

-Tài chính công phân phối các nguồn lực tài chính đã được huy động và tậptrung hình thành quỹ công cho các nhu cầu chi tiêu của nhà nướctheo nhữngquan hệ tỷ lệ hợp lý

-Tài chính công là công cụ để kiểm tra giám sát để bảo đảm cho các nguồn tàichính đã được huy động một cách hợp lý hay chưa, việc phân phối và sử dụng

đã tiết kiệm và đạt hiệu quả cao nhất không Từ đó nhà nước sẽ có những biệnpháp điều chỉnh, quỹ tài chính của nhà nước luôn được huy động nhanh nhất,chính xác hợp lý nhất, đảm bảo nguồn lực cho việc duy trì tồn tại và hoạt động

có hiệu quả của bộ máy nhà nước

b Tài chính công là công cụ quan trọng trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội

Vai trò này được thực hiện thông qua việc nhà nước đã khai thác, vận dụng cáccông cụ tài chính để điều hành nền kinh tế - xã hội, thúc đẩy kinh tế xã hội pháttriển Nền kinh tế đặc biệt là kinh tế thị trường với những ưu điểm về khả năngsáng tạo ra hàng hoá, dịch vụ phong phú, thực hiện được sự phát triển thịnhvượng

 Về lĩnh vực kinh tế

 Định hướng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng ổn định và bền vững

Tài chính công đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấukinh tế, đảm bảo kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững.Với chức năng phân

bổ nguồn lực tài chính thông qua quá trình tạo lập và sử dụng quỹ công, tàichính công tác động đến việc phân bổ và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụngcác nguồn tài chính trong toàn bộ nền kinh tế

Trang 7

Công cụ thuế với các mức thuế suất và ưu đãi khác nhau đối với từng loạisản phẩm ngành nghề vùng lãnh thổ … tài chính công có vai trò định hướng đầu

tư, điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế kích thích hoặc hạn chế phát triển sản xuấtkinh doanh theo từng loại sản phẩm Với việc phân bổ nguồn tài chính cho đầu

tư xây dựng cơ sở hạ tầng đầu tư vào các ngành nghề then chốt các công trìnhmũi nhọn hỗ trợ tài chính cho các thành phần kinh tế trong các trường hợp cầnthiết như trợ giá, trợ cấp… tài chính công góp phần tạo điều kiện thuận lợi chophát triển sản xuất kinh doanh hình thành và hoàn thiện cơ cấu sản xuất cơ cấukinh tế nhằm thúc đẩy kinh tế tăng trưởng

 Điều tiết thị trường, bình ổn giá, ổn định kinh tế vĩ mô

Cùng với việc thúc đẩy kinh tế tăng trưởng tài chính công còn có vai trò quan

trọng trong việc ổn định kinh tế vĩ mô như: đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế

hợp lý, duy trì việc sử dụng lao động ở tỷ lệ cao, hạn chế sự tăng giá đột ngộtđồng loạt và kéo dài …Vai trò này được thực hiện thông qua các biện pháp nhưtạo lập và sử dụng quỹ dự trữ quốc gia, quỹ hỗ trợ việc làm, điều chỉnh thuế,điều chỉnh chi tiêu chính phủ, phát hành trái phiếu …

Nền kinh tế thị trường chứa đựng hàng loạt các khuyết tật mà bản thân nó không

tự giải quyết được như: mất cân đối cung cầu giữa sản xuất và tiêu dùng gây ralạm phát, huỷ hoại môi trường tự nhiên, chênh lệch giàu nghèo ngày càng sâusắc…chính vì vậy cần thiết phải có sự quản lý điều tiết của nhà nước bằng nhiềucông cụ khác nhau Trong các công cụ quản lý điều tiết của nhà nước thì công cụtài chính đóng vai trò quan trọng chủ yếu

 Về lĩnh vực xã hội

 Điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng, giải quyết các vấn đề xã hội

Vai trò này được thực hiện thông qua việc sử dụng các công cụ thu, chi củatài chính công để điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp nhân dân, giảm bớtnhững bất hợp lý trong phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng và giải quyếtcác vấn đề xã hội, đáp ứng được những vấn đề xã hội của nền kinh tế vĩ mô.Một trong những tiêu chí để đánh giá mức độ phát triển của nền kinh tế xã hội

đó là mức sống của dân cư, mặt bằng về văn hoá, phúc lợi xã hội

Trang 8

Nhu cầu về các hàng hoá dịch vụ công với chất lượng cao như: giáo dục, y

tế, văn hoá và các dịch vụ xã hội khác ngày càng tăng lên cùng với sự phát triểncủa kinh tế, văn minh của xã hội đòi hỏi nhà nước phải tăng cường đầu tư công.Hàng năm, phân bổ nguồn lực tài chính công để thực hiện các biện pháp trong

sự nghiệp giáo dục đào tạo(phổ cập giáo dục), sự nghiệp y tế (chương trình y tếcộng đồng), sự nghiệp văn hoá, xã hội được thực hiện thông qua các khoản chitiêu công Ngoài ra, nhà nước còn có những khoản chi tiêu công liên quan đếnphúc lợi, an sinh xã hội nhằm nâng cao mức sống của nhân dân

Kinh tế phát triển tăng trưởng kéo theo sự chênh lệch thu nhập giữa cácvùng miền, vùng dân cư càng gia tăng Để thực hiện công bằng xã hội, giảm bớtkhoảng cách giữa người giàu và người nghèo chính phủ sử dụng những chínhsách tài chính công thông qua công cụ thu và chi tài chính công Thuế trực thu

mà cụ thể là thuế thu nhập cá nhân lũy tiến từng phần có vai trò điều tiết mạnhthu nhập của những người có thu nhập cao và điều tiết mức hợp lý đối với các cánhân có thu nhập trung bình hoặc thấp Bên cạnh đó thuế gián thu như thuế tiêuthụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu có vai trò điều tiết thunhập thực tế có khả năng thanh toán của dân cư bằng việc đánh thuế cao vớihàng hóa dịch vụ cao cấp, đánh thuế thấp với các mặt hàng dịch vụ thiết yếuđảm bảo đời sống dân cư Với các chính sách trợ cấp, trợ giá, chi các chươngtrình mục tiêu sẽ làm giảm bớt khó khăn của người nghèo những người thuộcdiện chính sách đối tượng khó khăn… thường phát huy tác dụng cao vì đốitượng được hưởng rất dễ xách định Tuy nhiên điều tiết thu nhập của dân cư cònchú ý duy trì mức độ chênh lệch vừa phải để tạo điều kiện cho các cá nhân cómức thu nhập chính đáng được hưởng mức thu nhập của mình, không cào bằngthu nhập thông qua phân phối tài chính

Như vậy, về mặt xã hội, tài chính công là một công cụ quan trọng được nhànước sử dụng để khắc phục những khuyết tật vốn có của nền kinh tế thị trường,hướng tới việc xây dựng một xã hội tiến bộ phát triển, văn minh và lành mạnh

Trang 9

a TÀI CHÍNH CÔNG TRONG VIỆC DUY TRÌ SỰ TỒN TẠI VÀ HOẠTĐỘNG CÓ HIỆU QUẢ CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC.

 Thứ nhất, Tài chính công phân phối các nguồn lực tài chính đã được huy động

và tập trung hình thành quỹ công cho các nhu cầu chi tiêu của nhà nước

Các chi tiêu của nhà nước nhằm duy trì hoạt động của mình trên các lĩnh vực:kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng…Và lương cán bộ hànhchính trong bộ máy nhà nước

 Chi cho quản lí hành chính

(Nguồn: Trang web của Bộ Tài chính)

Từ bảng số liệu trên ta thấy chi cho hoạt động quản lí nhà nước là rất lớn vàkhông ngừng tăng qua các năm Nguyên nhân là do một phần tăng lương chocán bộ công nhân viên chức, còn phần lớn là do bộ máy nhà nước còn cồngkềnh, nên chi cho bộ máy này là không nhỏ

 Thứ hai,Tài chính công là công cụ để kiểm tra giám sát để bảo đảm cho các

nguồn tài chính đã được huy động một cách hợp lý hay chưa, việc phân phối và

sử dụng đã tiết kiệm và đạt hiệu quả cao nhất không

b TÀI CHÍNH CÔNG TRONG QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU TIẾT VĨ MÔ NỀNKINH TẾ XÃ HỘI

1 Phùng Quốc Hiển, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội

Trang 10

 Về lĩnh vực kinh tế

 Định hướng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng ổn định và bền vững

Nền kinh tế đặc biệt là kinh tế thị trường với những ưu điểm về khả năng sángtạo ra hàng hoá, dịch vụ phong phú, thực hiện được sự phát triển thịnh vượng.Song bên cạnh đó cũng chứa đựng hàng loạt các khuyết tật mà bản thân nókhông tự giải quyết được như: mất cân đối cung cầu giữa sản xuất và tiêu dùnggây ra lạm phát, huỷ hoại môi trường tự nhiên, chênh lệch giàu nghèo ngày càngsâu sắc…chính vì vậy cần thiết phải có sự quản lý điều tiết của nhà nước bằngnhiều công cụ khác nhau Trong các công cụ quản lý điều tiết của nhà nước thìcông cụ tài chính đóng vai trò quan trọng chủ yếu

o Thông qua chính sách thu thuế

Chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần chongân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện chức năng việckiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mởrộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kếhoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớntrong nền kinh tế quốc dân

Ngày nay, hướng vào việc xử lý các mục tiêu của kinh tế vĩ mô là nhiệm vụtrọng tâm của mọi chính phủ Sự thành công hay thất bại của việc quản lý Nhànước, nền kinh tế là giải quyết các mục tiêu của kinh tế vĩ mô Trong nền kinh tếthị trường hiện đại, người ta thường xác định 4 mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ

mô mà mọi chính phủ phải theo đuổi Bốn mục tiêu đó là:

- Đảm bảo thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý

- Tạo được công ăn việc làm đầy đủ cho người lao động

- Ổn định giá cả, tiền tệ, chống lạm phát

-Thực hiện sự cân bằng cán cân thanh toán quốc tế

Với 4 mục tiêu trên ta có thể thấy rõ Thuế là một công cụ hết sức quan trọngnhằm biến 4 mục tiêu đó thành hiện thực

Trong việc thúc đẩy phát triển kinh thế, thuế là 1 công cụ không thể thiếu

Trang 11

 Thực hiện ưu đãi thuế, thuế suất thấp với mặt hàng khuyến khích sản xuấtnhư: phân bón , thức ăn gia súc gia cầm,nước sinh hoạt

1 Phân bón, thuốc phòng trừ sâu bệnh 5%

 Áp dụng thuế suất cao, không có ưu đãi thuế hạn chế sản xuất đối với ngànhnghề không khuyến khích tiêu dùng như : thuốc lá, rượu bia, vàng mã

Với công cụ chính sách thuế của mình, chính phủ đã điều chỉnh sản xuất tiêudùng các mặt hàng khuyến khích và không khuyến khích với các mức thuế suấtkhác nhau

o Thông qua chính sách chi tiêu công

Trang 12

 Với chính sách chi tiêu đầu tư phát triển,qua những năm qua Chính phủ đãđầu tư vốn hàng nghìn tỉ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế như: Giaothông, thủy điện…

-Năm 2010, chi NSNN đạt 669.630 tỷ đồng, tăng 15% (87.430 tỷ đồng) so với

dự toán, tăng 27.430 tỷ đồng so với báo cáo Quốc hội.Trong đó: Chi đầu tư pháttriển 170.970 tỷ đồng, tăng 36, % (45.470 tỷ đồng) so với dự toán, tăng 20.970

tỷ đồng so với báo cáo Quốc hội Riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản là 165.013

tỷ đồng Vốn trái phiếu Chính phủ đầu tư cho các công trình giao thông, thuỷlợi, giáo dục và y tế đạt 55.235 tỷ đồng, bằng 98 % kế hoạch Kết quả, hiều dự

án quan trọng từ nguồn vốn đầu tư của NN năm 2010 đã hoàn thành và đưa và

sử dụng, phát huy hiệu quả, tạo thêm năng lực mới cho nền kinh tế

- Năm 2012, Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/11/2012 ướctínhđạt 747 nghìn tỷ đồng, bằng 82% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển

144 nghìn tỷ đồng, bằng 80% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 138 nghìn tỷđồng, bằng 79%);

-Trong năm 2014, ngành GTVT đã triển khai thi công 61 công trình, dự án vàhoàn thành đưa vào khai thác 76 công trình, dự án Trong đó, có 6 công trình, dự

án trọng điểm được khởi công gồm: luồng tàu biển tải trọng lớn vào sông Hậu,cao tốc Bến Lức – Long Thành, tuyến đường sắt đô thị Nhổn – ga Hà Nội, caotốc Hà Nội - Bắc Giang, cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ, đường sắt đô thị TP.HồChí Minh tuyến số 2 Bến Thành - Tham Lương; hoàn thành 7 công trình, dự ántrọng điểm: QL3 mới đoạn Hà Nội – Thái Nguyên, cao tốc Nội Bài – Lào Cai,một tiểu dự án đường sắt tuyến đường sắt Hạ Long – Cái Lân, cầu Nhật Tân,đường nối sân bay Nội Bài đến cầu Nhật Tân, nhà ga hành khách T2 Nội Bài,cao tốc TP.Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây

Như dự án xây dựng cầu Nhật Tân đã hoàn thành và đường hai đầu cầu cótổng chiều dài 8,93 km với quy mô 8 làn xe chạy, trong đó phần cầu chính theophương án cầu dây văng liên tục 5 trụ tháp dài khoảng 3,75km, đường 2 đầu cầudài khoảng 5,2km, mặt cắt ngang rộng 33,2m Tổng mức đầu tư của cầu NhậtTân là 89,943 tỷ Yên Nhật, tương đương hơn 13.600 tỷ đồng.2

Trang 13

Quy mô chi đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước được cải thiện đáng kể quacác năm góp phần tăng tính chủ động và ổn định của ngân sách nhà nước tạođòn bẩy để thúc đẩu tăng trưởng kinh tế bền vững và xử lý những bất ổn khi nềnkinh tế gặp phỉa các cú sốc.

Tuy nhiên một số công trình chưa khả thi và mang lại hiệu quả Nhiều dự ánchết hay tạm dừng vô thời hạn , hay “mới xây đã hỏng” Nguyên nhân do sự yếukém trong công tác quản lí kiểm tra giám sát,và hiện tượng tham nhũng lót taytrong các công trình

 Phân bổ vốn đầu tư cho những ngành then chốt, ngành lợi thế xuất khẩu…

Trong những năm qua, chính phủ đã tập trung vào các ngành có thế mạnh đểphát triển như nông nghiệp với những mặt hàng chủ lực như: lúa gạo, mặt hàngthủy hải sản, chè, cà phê

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong giai đoạn 2004– 2013, tổng vốn đầu tư của nhà nước cho khu vực nông nghiệp, nông thônkhoảng hơn 718.000 tỷ đồng, bằng 48,5% tổng vốn đầu tư phát triển cả nước.Trong đó, thực hiện theo chủ trương từ Nghị quyết Trung ương 7 khóa X, vốnđầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2009 – 2013 khoảng520.490 tỷ đồng, tăng gấp 2,62 lần so với 5 năm trước Tổng vốn đầu tư ngân sách nhà nước do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn quản lý giai đoạn 2006 – 2014 là khoảng 33.522 tỷ đồng (bình quân mỗi

Trang 14

năm 3.700 tỷ đồng) Nguồn vốn trái phiếu Chính phủ đầu tư các công trình thủylợi do Bộ quản lý trong giai đoạn này vào khoảng 36.096 tỷ đồng, chiếm tỷtrọng 52% nguồn vốn đầu tư qua Bộ Đây được coi là nguồn vốn bổ sung quantrọng cho ngành nông nghiệp đầu tư vào nhiều dự án thủy lợi quy mô lớn, cấpbách ở miền Trung, Tây Nguyên, Trung du miền núi phía Bắc, đồng bằng sôngHồng và đồng bằng sông Cửu Long.3

Đầu tư cho nông nghiệp là khá lớn tuy nhiên lượng tiền chi tiêu cho lĩnh vựcnày là chưa đủ Nguồn tiền đấy không được giao hết vào tay người dân, có hiệntượng “chảy” vào túi các quan chức địa phương

Ngoài đầu tư cho nông nghiệp , chính phủ còn đầu tư vào nhiều ngành khác nhưcông nghiệp, giáo dục, y tế, du lịch nhưng còn mang tính dàn trải trong điều kiệnngân sách hạn hẹp

Trong việc kiềm chế lạm phát

o Chính sách chi tiêu công

Từ các nguồn số liệu về nợ công, chi tiêu công và lạm phát ở Việt Nam từ năm2001-2012, có thể vẽ ra bức tranh sơ lược về tình hình nợ công liên quan đến chitiêu công của Việt Nam như sau:

Trang 15

(Nguồn: Tính toán từ số liệu IMF)

Biểu đồ trên cho thấy từ năm 2001-2007, tăng trưởng diễn ra thuận chiều với chitiêu công.Trong giai đoạn này, chi tiêu công có tác động tích cực đến tăngtrưởng

Tuy nhiên, từ năm 2007-2012, mối quan hệ này đã đảo chiều, chuyển sangảnh hưởng tiêu cực Cần lưu ý rằng từ năm 2007, trong khi tăng trưởng giảm sútthì chi tiêu công Việt Nam vẫn tăng và hầu như ngay lập tức lạm phát tăngnhanh đáng kể trong khi nợ công có suy giảm chút ít trong năm 2008 rồi tiếp tụctăng vọt từ năm 2009

Đó là do 2 nguyên nhân : Thứ nhất các dự án đầu tư nhiều và thường các dự án

ấy phải hoàn thực hiện trong dài hạn và sẽ có “độ trễ” nhất định làm lạm pháttrong thời kì này tăng cao.Thứ hai rất nghiêm trọng là nguồn vốn đã không được

sử dụng hiệu quả do: đầu tư công quá mức; sự thiên lệch trong việc phân bổ vốn

ở khu vực doanh nghiệp; và cuối cùng là việc theo đuổi chính sách ổn định tỷgiá đồng tiền trong bối cảnh lạm phát luôn tăng cao làm giảm sức cạnh tranh củacác doanh nghiệp Việt Nam

Giai đoạn 2008 – 2011, Chính phủ Việt Nam gia tăng cả chi thường xuyên vàchi đầu tư với tốc độ cao Khi chúng ta muốn tăng 1% hoặc 2% GDP thì phảitốn kém rất nhiều tiền Nhưng trên thực tế, nhà nước đã tham gia quá nhiều vàocác hoạt động kinh tế và nhiều khi còn cạnh tranh và chèn lấn khu vực tư nhân

o Công cụ thuế

Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung cầu làm cho giá cả hàng hoá tănglên hoặc do chi phí đầu vào tăng Thuế được sử dụng để điều chỉnh lạm phát, ổnđịnh giá cả thị trường Nếu cung nhỏ hơn cầu thì nhà nước dùng thuế để điềuchỉnh bằng cách giảm thuế đối với các yếu tố sản xuất, giảm thuế thu nhập đểkích thích đầu tư sản xuất ra nhiều khối lượng sản phẩm nhiều hơn Đồng thờităng thuế đối với hàng hoá tiêu dùng để giảm bớt cầu Nếu lạm phát do chi phítăng, gia tăng thất nghiệp, sự trì trệ của tốc độ phát triển kinh tế, giá cả đầu vào

Ngày đăng: 25/06/2015, 17:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w