Chúng ta có thể hình dung về kiểm toán Nhà nước thông qua một số quan điểm sau: - Theo định nghĩa của hiệp hội các cơ quan kiểm toán tối cao quốc tế Intosai: “Cơ quan kiểm toán tối cao đ
Trang 1NỘI DUNG
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
Quá trình hình thành và phát triển của kiểm toán Nhà nước
Kiểm toán có nguồn gốc từ tiếng Latinh, theo nghĩa của từ "Audit" Kiểm toán ra đời từ thời La Mã, thế kỷ thứ III trước Công nguyên Tuy nhiên, hoạt động kiểm toán chỉ phát triển mạnh mẽ và mang tính phổ biến trong khoảng vài trăm năm trở lại đây
Ở Đức, từ năm 1714, Vua Phổ là Friedrich Wilhelm I đã ra Sắc lệnh thành lập Phòng Thẩm kế tối cao (hay Thẩm kế viện dưới thời Đế chế Đức)
Ở Pháp, từ năm 1807, dưới thời Hoàng đế Napoleon I, Toà Thẩm kế (Cour des comptes) đã được thành lập.
Hoạt động kiểm toán xuất phát từ yêu cầu sử dụng hợp lệ và hợp lý các nguồn tài chính của Nhà nước Bởi vậy, mục tiêu cụ thể của công tác này là
sử dụng xác thực và có hiệu quả nguồn kinh phí công, phấn đấu đạt được sự quản lý kinh tế chặt chẽ, tính hợp lệ của công tác quản lý hành chính và việc thông tin cho các cơ quan nhà nước cũng như công luận thông qua việc công
bố các báo cáo khách quan về sự ổn định và phát triển của nền tài chính quốc gia
Kiểm toán hiện diện như một công cụ không thể thiếu được đối với bất
kỳ một mô hình kinh tế nào, một hình thái xã hội nào và không hề bị chi phối bởi kiến trúc thượng tầng Tuy nhiên, hoạt động kiểm toán chỉ thực sự có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia kể từ sau các cuộc cách mạng về kinh tế và hiện đại hoá vào những năm đầu của thế kỷ XX
Trang 2Cơ quan Kiểm toán nhà nước (KTNN) ở mỗi quốc gia có những tên gọi khác nhau Ví dụ: Toà Thẩm kế Cộng hoà Pháp, Cơ quan Tổng Kế toán Hoa
Kỳ, Cục Kiểm toán Liên bang Nga, Uỷ ban Kiểm toán và Thanh tra Hàn Quốc, Uỷ ban Kiểm toán và Kiểm soát Ấn Độ; Uỷ ban Kiểm toán Nhật Bản; v.v
Phần lớn các khu vực trên thế giới đều thành lập Tổ chức các cơ quan kiểm toán tối cao của khu vực Chẳng hạn như, tổ chức quốc tế các cơ quan
kiểm toán tối cao châu Âu (Euro Organization of Supreme Audit Institutions - EUROSAI); tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao châu Á (Asia Organization of Supreme Audit Institutions – ASOSAI).
Trên bình diện quốc tế, các quốc gia cũng gia nhập Tổ chức Quốc tế
các cơ quan kiểm toán tối cao (International Organization of Supreme Audit Institutions-INTOSAI) Cơ quan này gồm có 178 thành viên Trong đó, Việt
Nam cũng tham gia tổ chức này từ năm 1996
Ngày nay, việc xác định địa vị pháp lý và các chức năng cơ bản của cơ quan kiểm toán tối cao của một quốc gia thường dẫn chiếu tới “Tuyên bố Lima về những chuẩn mực của kiểm tra tài chính” Tuyên bố này được thông qua tại Đại hội lần thứ IX của Tổ chức INTOSAI tháng 10 năm 1997 Không chỉ soạn thảo ra những định hướng chung, Tuyên bố Lima còn tuyển chọn và
hệ thống hoá những nguyên tắc cơ bản của kiểm tra tài chính công đã được các quốc gia ứng dụng và công nhận Tuy không có sự ràng buộc về mặt pháp
lý trong phạm vi của từng quốc gia, nhưng có thể thấy Tuyên bố Lima có ảnh hưởng rõ rệt đối với sự phát triển của cơ quan kiểm toán tối cao ở mỗi quốc gia Các chuẩn mực do Tuyên bố Lima đưa ra được xem là những định hướng chủ đạo trong việc tổ chức một cơ quan kiểm tra tài chính hiệu quả
Trang 3Khái niệm về kiểm toán Nhà nước
Trên thực tế các tổ chức nghề nghiệp liên quan đều tránh đưa ra một khái niệm về kiểm toán Nhà nước Bởi lẽ, đây là một loại hình kiểm toán cụ thể trong hệ thống khoa học kiểm toán, vì vậy, họ thường đưa ra khái niệm chung về kiểm toán và kết hợp mô tả đặc thù về kiểm toán Nhà nước để từ đó giúp cho người nghiên cứu hình dung về loại hình kiểm toán này Chúng ta có thể hình dung về kiểm toán Nhà nước thông qua một số quan điểm sau:
- Theo định nghĩa của hiệp hội các cơ quan kiểm toán tối cao quốc
tế (Intosai): “Cơ quan kiểm toán tối cao được hiểu là một tổ chức công cộng của Nhà nước được chỉ định thiết lập, tổ chức theo các cách khác nhau, thực hiện theo luật định, chức năng kiểm toán công cộng”
- Theo điều 13 Luật KTNN: “KTNN là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính Nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”; và điều 14 luật KTNN: “KTNN có chức năng kiểm toán, báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động độc lập đối với cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước”.
- Theo điều 4 luật KTNN: “Hoạt động KTNN là việc kiểm tra, đánh giá, và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính; việc tuân thủ pháp luật; tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước”
Như vậy, nhìn chung ta có thể hiểu kiểm toán Nhà nước là hoạt động kiểm toán do các kiểm toán viên Nhà nước thuộc cơ quan kiểm toán tối cao của mỗi quốc gia tiến hành Kiểm toán Nhà nước chủ yếu kiểm tra chức năng tuân thủ pháp luật, tiến hành hoạt động và lập báo cáo tài chính của các tổ chức, đơn vị sử dụng vốn và kinh phí Nhà nước
Trang 4Các hình thức hoạt động của cơ quan kiểm toán Nhà nước
Bên cạnh các định hướng về thiết chế và tổ chức, Tuyên bố Lima cũng đưa ra các khuyến nghị về các hình thức kiểm toán, bao gồm việc kiểm tra trước, kiểm tra sau, kiểm tra nội bộ và kiểm tra từ bên ngoài
Kiểm tra trước đối với một nền tài chính lành mạnh là cần thiết, nhưng
đó không phải là nhiệm vụ hàng đầu của cơ quan kiểm toán tối cao Kiểm tra sau là hoạt động chính của cơ quan này
Công tác kiểm toán mang tính Nhà nước cần có sự phân biệt rành mạch
giữa kiểm toán ngoại vi (hay ngoại kiểm) và kiểm toán nội bộ (hay nội kiểm)
Trong một Nhà nước pháp quyền hiện đại, kiểm toán ngoại vi được thực hiện thông qua KTNN hay nói một cách khác, cơ quan kiểm toán ngoại vi không nằm trong khối tổ chức các cơ quan bị kiểm tra Kiểm toán nội bộ được hiểu
là hoạt động kiểm tra tài chính công trong phạm vi một tổ chức, cơ quan, đơn
vị và đặt dưới quyền của người đứng đầu tổ chức, cơ quan, đơn vị đó Các cơ quan, đơn vị, các tổ chức Nhà nước và các doanh nghiệp Nhà nước có sử dụng Kiểm toán nội bộ đều phải chịu sự kiểm tra của KTNN KTNN có trách nhiệm đánh giá, kiểm tra chất lượng kiểm toán và ấn định cả những chuẩn mực và quy trình kiểm toán áp dụng cho các tổ chức Kiểm toán nội bộ
Bên cạnh đó, cũng cần phải có sự phân biệt giữa kiểm toán ngoại vi mang tính Nhà nước và kiểm toán ngoại vi không mang tính Nhà nước Kiểm toán ngoại vi không mang tính Nhà nước là sự kiểm toán đối với khu vực kinh tế không phải do Nhà nước tổ chức, hoặc là những doanh nghiệp mà Nhà nước không phải là chủ sở hữu chính Những doanh nghiệp như vậy, chịu sự kiểm toán của các tổ chức Kiểm toán độc lập (hay còn gọi là các Công ty dịch
vụ tư vấn kế toán và kiểm toán)
Về nguyên tắc, các cơ quan kiểm toán tối cao phải đạt được các mục tiêu kiểm toán, bao gồm: tính hợp pháp, tính tuân thủ, tính kinh tế, đúng mục đích và tính tiết kiệm ngang bằng như nhau
Nhiệm vụ của cơ quan kiểm toán Nhà nước
Trang 5Với tư cách là cơ quan kiểm tra tài chính công tối cao, KTNN phải thực hiện 4 nhiệm vụ quan trọng:
Một là, KTNN phải báo cáo và tư vấn cho Quốc hội về những vấn đề
có liên quan trong quá trình ra các quyết định của Quốc hội, không chỉ vì Quốc hội là cơ quan giám sát cơ quan hành pháp, mà còn với tư cách là cơ quan ban hành Luật NSNN và các đạo luật chuyên môn có hiệu lực tài chính
Hai là, KTNN phải báo cáo, tư vấn và giải toả trách nhiệm cho Chính
phủ, cụ thể là cho các cấp quản lý hành chính Nhà nước, các Bộ, ban, ngành trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình, cũng như về tác động tài chính của những biện pháp đề ra
Ba là, KTNN thực hiện chức năng phòng ngừa và răn đe đối với bộ
máy hành chính Nhà nước nhằm chống lại việc sử dụng phung phí và lạm dụng các phương tiện tài chính của Nhà nước
Bốn là, KTNN cần thông báo công khai trước công luận về việc sử
dụng các phương tiện tài chính Nhà nước của Chính phủ và Quốc hội
4 nhiệm vụ trên là biểu thị thước đo giá trị thành công của một cơ quan KTNN với tư cách là cơ quan công quyền có chức năng kiểm tra tài chính công tối cao của Nhà nước
Để cơ quan KTNN có thể đảm nhiệm được những chức năng, nhiệm vụ của mình trong một Nhà nước pháp quyền thì đòi hỏi 3 tiền đề cơ bản, đó là:
Thứ nhất, tính độc lập của cơ quan KTNN với các cơ quan quyền lực khác của Nhà nước phải được đảm bảo bằng Hiến pháp và pháp luật:
- Đảm bảo tính độc lập về tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động
- Đảm bảo quyền chủ động của cơ quan KTNN trong việc xây dựng Chương trình kế hoạch kiểm toán, mục tiêu của mỗi cuộc kiểm toán và nội dung kiểm toán
- Đảm bảo quyền được công khai kết quả kiểm toán trước công luận.Thứ hai, nguyên tắc kiểm toán đầy đủ phải được thể chế hoá trong luật:
- Về nguyên tắc, cơ quan KTNN phải có thẩm quyền kiểm toán tất cả các chức năng Nhà nước có tác động đến ngân sách, không phụ thuộc vào việc những chức năng đó được thực hiện dưới bất cứ hình thức pháp lý nào
Trang 6Nếu lĩnh vực nào đó (bí mật quốc gia) mà không muốn kiểm toán thì cũng phải xác định rõ bằng luật và thông báo cho công luận biết.
- Thẩm quyền kiểm toán của cơ quan KTNN phải không bị hạn chế về thực chất Điều đó có nghĩa là, bao gồm cả việc kiểm tra tính hợp pháp, tính tuân thủ, tính kinh tế và tính tiết kiệm của các hoạt động kinh tế nhà nước
Thứ ba, phải có một tài phán độc lập để cơ quan KTNN có thể khiếu kiện khi tính độc lập và thẩm quyền kiểm toán của mình bị xâm phạm:
- Khi tính độc lập của mình bị xâm phạm thì con đường pháp lý mở ra đối với cơ quan KTNN là kiện lên Toà án tối cao
- Đối với kiểm tra tài chính, khi có vướng mắc về thẩm quyền kiểm toán thì sẽ được giải quyết thông qua các Toà hành chính
Ngay trong 178 nước có cơ quan KTNN là thành viên của INTOSAI, việc đáp ứng những tiền đề này rất khác nhau và chắc chắn, hiệu lực của chúng cũng rất khác nhau
Mô hình kiểm toán Nhà nước ở một số quốc gia trên thế giới
Trong số 178 thành viên chính thức của Tổ chức Quốc tế các Cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI), mô hình các cơ quan KTNN không giống nhau Một số KTNN trực thuộc Quốc hội, một số trực thuộc Chính phủ, số còn lại trực thuộc Tổng thống, trực thuộc Nhà Vua hoặc độc lập hoàn toàn với Quốc hội và Chính phủ
Theo thống kê sơ bộ, trong số 85 nước được khảo sát:
- 36 nước có cơ quan KTNN trực thuộc Quốc hội: Hoa Kỳ, Nga, Anh, Đan Mạch, Ôxtrâylia, Hunggari, Phần Lan, Ba Lan, Séc, Hà Lan, Áo, Lítva, Braxin, Mêhicô, Êcuađo, Côlômbia, Cô-xta-ri-ca, Guatêmala, Namibia, Canađa, Uganđa, Vênêxuêla, Gana, Hônđurat, Urugoay, CH Đôminica, Puêtô Ricô, CH Xêy-chê-lê, Nicaragua, Mông Cổ, Thổ Nhĩ Kỳ, Mianma, Gióocđani, Papua Niu Ghinê, Xri-lanca, Ixraen
Trang 7- 16 nước có cơ quan KTNN trực thuộc Chính phủ: Trung Quốc, Nhật Bản, Arập Xêút, Thái lan, Lào, Campuchia, Thuỵ Điển, Pêru, Achentina, Bốt-xoa-na, Đôminích, En Sanvađo, Môrixơ, Kiribati, Xanh Luxia, Xanh Vinxen.
- 14 nước có cơ quan KTNN trực thuộc Tổng thống: Hàn Quốc, Chi-lê, Băng-la-đét, Bô-li-vi-a, Tan-da-ni-a, Guy-a-na, Ấn Độ, Ma-la-uy, Man-ta, Dăm-bi-a, Pa-ra-goay, Gia-mai-ca, Pa-ki-xtan, Be-li-ze
- 2 nước có cơ quan KTNN trực thuộc nhà Vua: Nê-pan, Bru-nây
- 17 nước có cơ quan KTNN độc lập hoàn toàn: Đức, Malaixia, Síp, Pháp, Phi-lip-pin, In-đô-nê-si-a, Hy Lạp, CH Xu-đăng, Tây Ban Nha, Panama, Xu-ri-nam, Luých-xăm-bua, Thụy Sĩ, Bồ Đào Nha, Italia, Ôman, Ki-rơ-gi-xtan
Ở đây, chuyên đề trình bày 3 mô hình cơ quan kiểm toán tối cao quốc gia phổ biến để minh họa: Cơ quan KTNN trực thuộc Quốc hội (CHLB Nga), trực thuộc Chính phủ (Trung Quốc) và mô hình độc lập (CHLB Đức)
Mô hình cơ quan KTNN trực thuộc Quốc hội (CHLB Nga)
Kiểm toán nhà nước liên bang Nga (KTNNLB) là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của hệ thống kiểm tra tài chính Nhà nước, được lập
ra bởi Hội nghị Liên bang và trực thuộc Hội nghị
KTNNLB Nga trong hoạt động của mình tuân thủ theo Hiến pháp Liên bang, Đạo luật KTNN và các Đạo luật khác của Liên bang Nga Trong khuôn
Trang 8khổ các nhiệm vụ do luật định, KTNNLB Nga độc lập về tổ chức và chức năng.
KTNNLB Nga là một pháp nhân, có con dấu khắc hình Quốc huy Liên bang
- Nhiệm vụ:
Tổ chức và thực hiện kiểm tra việc hoàn thành đúng thời hạn các khoản thu, khoản chi của Ngân sách Liên bang và ngân sách các quỹ Liên bang nằm ngoài ngân sách Liên bang, cả về số lượng, cơ cấu và mục tiêu
Đánh giá cơ sở lý giải của các khoản thu, khoản chi trong các dự toán ngân sách Liên bang và ngân sách các quỹ Liên bang nằm ngoài ngân sách Liên bang
Thẩm định về mặt tài chính các dự thảo Luật Liên bang, các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan quyền lực Nhà nước Liên bang khác có
dự kiến các khoản chi lấy từ ngân sách Liên bang hoặc ảnh hưởng đến việc thành lập và sử dụng ngân sách Liên bang cũng như ngân sách của các quỹ Liên bang nằm ngoài ngân sách Liên bang
Phân tích việc không thực hiện đúng các chỉ tiêu đã xác định của ngân sách Liên bang và của ngân sách các quỹ Liên bang nằm ngoài ngân sách Liên bang, cũng như chuẩn bị các kiến nghị nhằm khắc phục các sai sót đó và hoàn thiện ngân sách Liên bang
Kiểm tra tính hợp pháp và tính kịp thời của việc chuyển ngân sách Liên bang và ngân sách các quỹ Liên bang nằm ngoài ngân sách Liên bang trong Ngân hàng Trung ương Nga, trong các Ngân hàng được uỷ nhiệm và các tổ chức tín dụng khác của Liên bang
Đệ trình thường xuyên các thông tin về việc thực hiện ngân sách Liên bang cũng như kết quả các hoạt động kiểm toán lên Hội đồng Liên bang và Viện Duma quốc gia
Trang 9gia thông qua với đa số phiếu cuả tất cả đại biểu Viện Duma quốc gia Mọi công dân Liên bang Nga đã tốt nghiệp Đại học tổng hợp, có kinh nghiệm trong lĩnh vực hành chính Nhà nước, kiểm tra Nhà nước, kinh tế và tài chính đều có thể được bổ nhiệm làm Chủ tịch KTNNLB.
Chủ tịch KTNNLB không được có quan hệ họ hàng với Tổng thống Liên bang Nga, Chủ tịch Hội đồng Liên bang, Chủ tịch Viện Duma quốc gia, Chủ tịch Chính phủ Liên bang, Thủ trưởng Phủ Tổng thống Liên bang, Chánh Toà án tối cao Liên bang và Chủ tịch Hội đồng trọng tài tối cao Liên bang
Chủ tịch KTNNLB có quyền tham dự các phiên họp của Hội đồng Liên bang, Viện Duma quốc gia, các Uỷ ban và tiểu ban của Nghị viện, các phiên họp của Chính phủ Liên bang và của Đoàn Chủ tịch Chính phủ Liên bang
Chủ tịch KTNNLB không được phép là Đại biểu của Viện Duma quốc gia, là thành viên của Chính phủ Liên bang, không được làm bất kỳ công việc nào có tính chất sinh lợi, trừ công tác giảng dạy khoa học nghệ thuật
Phó Chủ tịch KTNNLB do Hội đồng Liên bang bổ nhiệm theo nhiệm
kỳ 6 năm Nghị quyết bổ nhiệm Phó Chủ tịch KTNNLB được thông qua bởi
đa số tất cả các đại biểu Hội đồng Liên bang
- Đánh giá kết quả kiểm toán:
KTNNLB đánh giá một cách có hệ thống các kết quả thu được từ các biện pháp kiểm tra, khái quát chúng và nghiên cứu các nguyên nhân và hậu quả của các việc sai trái và vi phạm trong khi tạo các nguồn thu và chi từ ngân sách Liên bang
Trên cơ sở các dữ liệu có được, KTNNLB xây dựng các kiến nghị nhằm hoàn thiện Luật Ngân sách và tiếp tục phát triển hệ thống tài chính và ngân sách của Liên bang, trình lên Viện Duma quốc gia
- Các kiến nghị của KTNNLB:
Dựa vào các kết quả do các biện pháp kiểm tra đưa lại, KTNNLB kiến nghị với các cơ quan Nhà nước Liên bang, Thủ trưởng các cơ quan, doanh nghiệp được kiểm toán về các biện pháp để khắc phục các thiếu sót, truy cứu trách nhiệm của các quan chức đã vi phạm các Đạo luật của Liên bang và gây
ra bê bối
Trang 10Kiến nghị của KTNNLB phải được xem xét trong thời hạn được ấn định, nếu không có thời hạn thì là 20 ngày kể từ ngày nhận được chúng Các biện pháp được đưa ra để thực hiện kiến nghị phải được thông báo ngay cho KTNNLB Nếu trong khi tiến hành kiểm toán mà phát hiện việc biển thủ phương tiện tài chính hoặc tài sản Nhà nước cũng như các vụ việc lạm dụng chức vụ khác thì KTNNLB chuyển ngay lập tức các hồ sơ, tài liệu cho các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Trang 11Mô hình cơ quan KTNN trực thuộc Quốc hội (Trung Quốc)
Luật kiểm toán Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ban hành ngày 31/8/1994 quy định cơ sở pháp lý của hoạt động kiểm toán nhà nước
Mục đích của hoạt động kiểm toán: Nhằm tăng cường sự kiểm tra Nhà nước về tài chính, bảo đảm trật tự Nhà nước về kinh tế và tài chính, khuyến khích xây dựng chính sách cởi mở và bảo đảm sự phát triển kinh tế quốc dân lành mạnh
Các lĩnh vực chịu kiểm toán:
- Việc thực hiện ngân sách thuộc các ngành của Quốc vụ viện và chính quyền nhân dân địa phương các cấp
- Các khoản thu, khoản chi của các cơ quan tài chính Nhà nước, các doanh nghiệp và tổ chức
Cơ quan kiểm toán hoạt động theo luật, nhằm kiểm tra tính đúng đắn, tính hợp pháp và tính kinh tế của việc thực hiện ngân sách và các khoản thu, khoản chi của các cơ quan nói trên
Quốc vụ viện và chính quyền địa phương từ cấp huyện trở lên hàng năm phải trình lên Uỷ ban thường vụ Đại hội nhân dân cấp mình báo cáo hoạt động của Cơ quan Kiểm toán đối với việc thực hiện ngân sách và các khoản thu, khoản chi khác
Trang 12- Các cơ quan Kiểm toán thực hiện sự kiểm toán theo pháp luật một cách độc lập, không có sự can thiệp của cơ quan hành chính, tổ chức và cá nhân khác.
- Quốc vụ viện lập ra KTNN để lãnh đạo hoạt động kiểm toán trong toàn quốc dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng Quốc vụ viện Tổng Kiểm toán là người lãnh đạo KTNN
- Các cơ quan kiểm toán địa phương chịu trách nhiệm và báo cáo với chính quyền nhân dân cùng cấp và cơ quan kiểm toán cấp trên Về mặt chuyên môn thì trước hết cơ quan Kiểm toán cấp trên chịu trách nhiệm
- Các cơ quan kiểm toán kiểm tra việc thực hiện ngân sách và việc quyết toán ngân sách cũng như việc quản lý và sử dụng các phương tiện nằm ngoài ngân sách cùng cấp (kể cả các đơn vị cấp dưới trực thuộc trực tiếp) và của cả chính quyền nhân dân cấp dưới
KTNN kiểm toán và kiểm tra:
+ Các khoản thu và các khoản chi của Ngân hàng TW Các Cơ quan Kiểm toán kiểm toán và kiểm tra các tài sản, các khoản nợ, lợi nhuận và thua
lỗ của các tổ chức tài chính Nhà nước
+ Các khoản thu và các khoản chi của các cơ quan Nhà nước được lập
ra theo Luật định
+ Các tài sản, nợ, lợi nhuận và thua lỗ của các DNNN
+ Việc thực hiện ngân sách và các khoản thu, khoản chi của các công trình xây dựng Nhà nước
+ Các khoản thu, khoản chi của các quỹ bảo hiểm xã hội, các khoản tài chính được quyên góp trong xã hội và các quỹ có liên quan do các tổ chức được cơ quan Nhà nước hoặc Chính phủ giao cho quản lý
+ Các khoản thu, khoản chi, các khoản trợ giúp tài chính và khoản vay của các tổ chức tài chính quốc tế và Chính phủ nước ngoài
Mô hình cơ quan KTNN trực thuộc Quốc hội (CHLB Đức)
Trang 13- Vị trí:
KTNN Liên bang là cơ quan tối cao của Liên bang, với tư cách một cơ quan kiểm tra tài chính độc lập chỉ tuân thủ pháp luật Trong khuôn khổ những nhiệm vụ theo luật định, KTNN Liên bang hỗ trợ Quốc hội Liên bang, Hội đồng Liên bang và Chính phủ Liên bang trong việc ra quyết định của các
cơ quan này
Địa vị pháp lý của KTNN Liên bang và các thành viên cũng như những nhiệm vụ cơ bản được đảm bảo bằng Hiến pháp Những vấn đề cụ thể được quy định trong các đạo luật riêng (Luật KTNN Liên bang, Luật Ngân sách Liên bang)
- Nhiệm vụ:
Toàn bộ công tác quản lý ngân sách và kinh tế của Liên bang, kể cả các tài sản đặc biệt và xí nghiệp của Liên bang đều được KTNN Liên bang kiểm toán theo chuẩn mực
Trên cơ sở kinh nghiệm kiểm toán, KTNN Liên bang có thể tư vấn cho Quốc hội Liên bang, Hội đồng Liên bang, Chính phủ Liên bang và cho từng
Bộ của Liên bang về những vấn đề có liên quan Khi KTNN Liên bang tư vấn cho Quốc hội hoặc Hội đồng Liên bang thì đồng thời cũng thông báo cho
Trang 14KTNN Liên bang tổng hợp những kết luận kiểm toán của mình vào những Báo cáo kiểm toán gửi cho các đơn vị được kiểm toán, để đơn vị này trình bày quan điểm.
Hàng năm, KTNN Liên bang báo cáo những kết quả kiểm toán quan trọng cho Quốc hội Liên bang, Hội đồng Liên bang và Chính phủ Liên bang dưới hình thức những "Báo cáo tổng hợp" (Báo cáo năm) Nó là cơ sở để Quốc hội Liên bang vãn hồi trách nhiệm cho Chính phủ Liên bang Báo cáo này cũng được giới thiệu trước công luận trong một cuộc họp báo Liên bang
KTNN Liên bang có thể thông báo bất kể lúc nào về những vấn đề có ý nghĩa quan trọng cho Quốc hội Liên bang, Hội đồng Liên bang và Chính phủ Liên bang (Báo cáo đặc biệt)
KTNN Liên bang chẳng những tư vấn cho các cơ quan hành pháp và lập pháp thông qua những kiến nghị trong Báo cáo kiểm toán và Báo cáo năm, mà trước hết thông qua các bài tham luận (bằng văn bản hoặc bằng miệng) về những chủ đề thời sự (như những dự án mua sắm với lượng tài chính lớn) hoặc trong khuôn khổ xây dựng dự toán ngân sách
- Phạm vi hoạt động:
KTNN Liên bang kiểm tra:
Các khoản thu, các khoản chi, các nghĩa vụ chi tài sản và các khoản nợ.Các chương trình có ảnh hưởng tới tài chính
Các khoản lưu giữ và tạm ứng
Việc sử dụng các kinh phí được bổ sung nhằm tự tạo vốn
Theo Điều 88, Quy chế Ngân sách Liên bang ban hành ngày 19/8/1969, KTNN Liên bang có thể giới hạn phạm vi kiểm toán và cho phép miễn kiểm tra các hoạt động kế toán
- Tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động:
9 Vụ kiểm toán, mỗi Vụ có 6 Phòng kiểm toán, bao gồm khoảng 600 kiểm toán viên
9 KTNN Khu vực gồm 500 Kiểm toán viên
Khoảng 1.500 kiểm toán viên trong các cơ quan của Liên bang
Kế hoạch ngân sách KTNN Liên bang được 78 triệu DM
Kế hoạch ngân sách KTNN Khu vực được 92 triệu DM
Những quyết định của KTNN Liên bang được biểu quyết tập thể Trong trường hợp bình thường thì 2 thành viên hữu trách ra quyết định (Vụ trưởng
Trang 15và Trưởng Phòng kiểm toán) Trong một số trường hợp nhất định thì Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch sẽ tham gia vào Hội đồng (Hội đồng 3 thành viên) Những quyết định trong Hội đồng 2 hoặc 3 thành viên chỉ có thể thông qua với sự nhất trí của tất cả các thành viên Đại hội đồng của KTNN Liên bang chỉ quyết nghị về những vấn đề vợt ra ngoài khuôn khổ 1 Vụ hoặc đặc biệt quan trọng.
Trang 16II TỔNG QUAN VỀ KTNN Ở VIỆT NAM
1 Quá trình hình thành kiểm toán Nhà nước ở Việt Nam
Thành lập ngày 11/7/1994 theo nghị định số 70/1994/ND-CP về việc thành lập cơ quan KTNN và Quyết định số 61/TTg ngày 24/01/1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Kiểm
toán Nhà nước để "giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện chức năng kiểm
tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của các tài liệu và số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của cơ quan Nhà nước, các đơn vị kinh tế Nhà nước, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội có sử̉ dụng kinh phí do NSNN cấp" đánh giá sự tuân thủ pháp luật và hiệu quả hoạt động của các đơn
vị được kiểm toán Với tinh thần đó, hàng năm các số liệu, báo cáo quyết toán ngân sách của các địa phương trước khi trình ra Hội đồng nhân dân; Tổng quyết toán NSNN trước khi trình ra Quốc hội; báo cáo quyết toán của các cơ quan, đơn vị thụ hưởng ngân sách, các chương trình, dự̣ án, công trình đầu tư -xây dựng cơ bản của Nhà nước, các DNNN cần phải được KTNN tiến hành kiểm toán và xác nhận
Năm 1996, KTNN Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức Quốc tế các Cơ quan Kiểm toán tối cao - INTOSAI)
Năm 1997, KTNN Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức các
Cơ quan Kiểm toán tối cao châu á (Asian Organization of Supreme Audit Institutions - ASOSAI)
Ngày 14/6/2005, Quốc hội ban hành luật KTNN, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, theo luật này, KTNN sẽ không còn trực thuộc chính phủ mà là một cơ quan độc lập do quốc hội lập, bản thân cơ quan này không thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, tách khỏi cơ quan hành pháp và ngay các cơ quan hành pháp là chính phủ và các bộ ngành trực thuộc chính phủ cũng là đối tượng của KTNN Cách tổ chức như thế này đã thể hiện nhận thức ngày
Trang 17càng đầy đủ, rõ ràng của Việt Nam về hoạt động kiểm toán nói chung và KTNN nói riêng Nó làm cho địa vị pháp lý của cơ quan KTNN trở nên rõ ràng, cụ thể hơn, tính độc lập cao hơn, không bị chi phối bởi các quyền năng, bởi ý chí chủ quan và chỉ tuân thủ pháp luật trong quá trình hoạt động.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm toán Nhà nước ở Việt Nam
Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của KTNN ở Việt nam được quy định trong luật KTNN, cụ thể:
Điều 14: Chức năng của KTNN
Kiểm toán Nhà nước có chức năng kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động đối với cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước
Điều 15: Nhiệm vụ của KTNN
1 Quyết định kế hoạch kiểm toán hàng năm và báo cáo với Quốc hội, Chính phủ trước khi thực hiện
2 Tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm toán hàng năm và thực hiện nhiệm
vụ kiểm toán theo yêu cầu của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
3 Xem xét, quyết định việc kiểm toán khi Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có yêu cầu
4 Trình ý kiến của Kiểm toán Nhà nước để Quốc hội xem xét, quyết định dự toán ngân sách nhà nước, quyết định phân bổ ngân sách trung ương, quyết định dự án, công trình quan trọng quốc gia, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước
5 Tham gia với Uỷ ban kinh tế và ngân sách của Quốc hội và các cơ quan khác của Quốc hội, Chính phủ trong việc xem xét, thẩm tra báo cáo về
dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương, phương án điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước, phương án bố trí ngân sách cho dự án, công trình quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định và quyết toán ngân sách nhà nước
6 Tham gia với Uỷ ban kinh tế và ngân sách của Quốc hội khi có yêu cầu trong hoạt động giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội,
Trang 18pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về lĩnh vực tài chính - ngân sách, giám sát việc thực hiện ngân sách nhà nước và chính sách tài chính.
7 Tham gia với các cơ quan của Chính phủ, của Quốc hội khi có yêu cầu trong việc xây dựng và thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh
8 Báo cáo kết quả kiểm toán năm và kết quả thực hiện kiến nghị kiểm toán với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội; gửi báo cáo kiểm toán cho Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; cung cấp kết quả kiểm toán cho Bộ Tài chính, Hội đồng nhân dân nơi kiểm toán và các cơ quan khác theo quy định của pháp luật
9 Tổ chức công bố công khai báo cáo kiểm toán theo quy định tại Điều
58, Điều 59 của Luật này và các quy định khác của pháp luật
10 Chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra và các cơ quan khác của Nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, xử lý những vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân đã được phát hiện thông qua hoạt động kiểm toán
11 Quản lý hồ sơ kiểm toán; giữ bí mật tài liệu, số liệu kế toán và thông tin về hoạt động của đơn vị được kiểm toán theo quy định của pháp luật
12 Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kiểm toán nhà nước
13 Tổ chức và quản lý công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
14 Tổ chức thi và cấp chứng chỉ Kiểm toán viên nhà nước
15 Chỉ đạo và hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ kiểm toán nội bộ;
sử dụng kết quả kiểm toán nội bộ của cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều
6 của Luật này
16 Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
Điều 16: Quyền hạn của KTNN
1 Yêu cầu đơn vị được kiểm toán và tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin, tài liệu phục vụ cho việc kiểm toán; đề nghị cơ quan hữu quan phối hợp công tác để thực hiện nhiệm vụ được giao; đề nghị cơ quan nhà nước, đoàn thể quần chúng, tổ chức xã hội và công dân giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện nhiệm vụ
Trang 192 Yêu cầu đơn vị được kiểm toán thực hiện các kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước đối với các sai phạm trong báo cáo tài chính và các sai phạm trong việc tuân thủ pháp luật; kiến nghị thực hiện các biện pháp khắc phục yếu kém trong hoạt động của đơn vị do Kiểm toán Nhà nước phát hiện và kiến nghị
3 Kiểm tra đơn vị được kiểm toán trong việc thực hiện kết luận và kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
4 Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu các đơn vị được kiểm toán thực hiện các kết luận, kiến nghị kiểm toán đối với các trường hợp sai phạm trong báo cáo tài chính và các sai phạm trong việc tuân thủ pháp luật;
đề nghị xử lý theo pháp luật những trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, kịp thời các kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước
5 Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý những vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân đã được làm rõ thông qua hoạt động kiểm toán
6 Đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo pháp luật đối với tổ chức,
cá nhân có hành vi cản trở hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước hoặc cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật cho Kiểm toán Nhà nước và Kiểm toán viên nhà nước
7 Trưng cầu giám định chuyên môn khi cần thiết
8 Được uỷ thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán thực hiện kiểm toán
cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước; Kiểm toán Nhà nước c hịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu, tài liệu và kết luận kiểm toán do doanh nghiệp kiểm toán thực hiện
9 Kiến nghị Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan khác của Nhà nước sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách và pháp luật cho phù hợp
Cơ cấu tổ chức của kiểm toán Nhà nước ở Việt Nam
Kiểm toán Nhà nước được tổ chức và quản lý tập trung thống nhất, gồm: bộ máy điều hành, Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành, Kiểm toán Nhà
Trang 20nước khu vực và các đơn vị sự nghiệp Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định
cụ thể cơ cấu tổ chức của Kiểm toán Nhà nước Tổng Kiểm toán Nhà nước quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị trực thuộc Kiểm toán Nhà nước Số lượng Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành và Kiểm toán Nhà nước khu vực trong từng thời kỳ được xác định trên cơ sở yêu cầu nhiệm vụ do Tổng Kiểm toán Nhà nước trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định
Hiện nay, cơ cấu tổ chức của Kiểm toán Nhà nước bao gồm 30 Vụ và đơn vị tương đương cấp Vụ như sau:
a Các đơn vị tham mưu thuộc bộ máy điều hành
1 Văn phòng Kiểm toán Nhà nước;
b Các đơn vị Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành
1 Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành Ia (lĩnh vực quốc phòng);
2 Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành Ib (lĩnh vực an ninh, tài chính và ngân sách Đảng, hoạt động cơ yếu, dự trữ nhà nước);
3 Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành II (lĩnh vực ngân sách trung ương của bộ, ngành kinh tế tổng hợp);
4 Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành III (lĩnh vực ngân sách trung ương của bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ…);
5 Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành IV (lĩnh vực đầu tư, dự án hạ tầng cơ sở);
6 Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành V (lĩnh vực đầu tư, dự án công nghiệp, dân dụng);
7 Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành VI (các tập đoàn, tổng công ty nhà nước);
8 Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành VII (ngân hàng, các tổ chức tài chính)
c Các đơn vị Kiểm toán Nhà nước khu vực
1 Kiểm toán Nhà nước khu vực I (trụ sở đặt tại Thành phố Hà Nội);
Trang 212 Kiểm toán Nhà nước khu vực II (trụ sở đặt tại Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An);
3 Kiểm toán Nhà nước khu vực III (trụ sở đặt tại Thành phố Đà Nẵng);
4 Kiểm toán Nhà nước khu vực IV (trụ sở đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh);
5 Kiểm toán Nhà nước khu vực V (trụ sở đặt tại Thành phố Cần Thơ)
6 Kiểm toán Nhà nước khu vực VI (trụ sở đặt tại Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh);
7 Kiểm toán Nhà nước khu vực VII (trụ sở đặt tại Thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái);
8 Kiểm toán Nhà nước khu vực VIII (trụ sở đặt tại Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa);
9 Kiểm toán Nhà nước khu vực IX (trụ sở đặt tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang);
10 Kiểm toán Nhà nước khu vực X (Trụ sở đặt tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên);
11 Kiểm toán Nhà nước khu vực XI (trụ sở đặt tại thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá);
12 Kiểm toán Nhà nước khu vực XII (trụ sở đặt tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk);
13 Kiểm toán Nhà nước khu vực XIII (trụ sở đặt tại thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)
d Các đơn vị sự nghiệp
1 Trung tâm Khoa học và Bồi dưỡng cán bộ;
2 Trung tâm Tin học;
3 Tạp chí Kiểm toán
Mỗi đơn vị có các phòng chức năng để thực hiện nhiệm vụ Văn phòng Kiểm toán Nhà nước có con dấu riêng; Kiểm toán Nhà nước khu vực và các đơn vị sự nghiệp có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản và trụ sở riêng.Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành thực hiện kiểm toán theo chuyên ngành đối với cơ quan, tổ chức ở Trung ương; Kiểm toán Nhà nước khu vực thực hiện kiểm toán đối với cơ quan, tổ chức ở địa phương trên địa bàn khu vực và
Trang 22các nhiệm vụ kiểm toán khác theo sự phân công của Tổng Kiểm toán Nhà nước
Kiểm toán trưởng (cấp Vụ trưởng), các Phó Kiểm toán trưởng (cấp Phó
vụ trưởng); Chánh Văn phòng và Phó chánh Văn phòng; Vụ trưởng, các Phó
Vụ trưởng; Giám đốc, các Phó Giám đốc trung tâm; Tổng biên tập, các Phó Tổng biên tập do Tổng Kiểm toán Nhà nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức
Trang 23III KẾT QUẢ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC TỪ 2009 ĐẾN NAY
Trang 241 Tình hình kế hoạch kiểm toán Nhà nước từ năm 2009 (về niên độ ngân sách năm 2008) đến nay
Từ năm 2009 đến nay, mặc dù còn khiêm tốn về lực lượng và quy mô, tuy nhiên cơ quan kiểm toán Nhà nước ở Việt Nam luôn nỗ lực trong việc xây dựng kế hoạch kiểm toán hàng năm với số lượng các đơn vị được kiểm toán
ổn định và mở rộng theo mục tiêu kiểm toán chủ yếu của từng năm
Trang 25hàng năm Năm 2010 thực hiện ít nhất là 136 cuộc và năm 2011 thực hiện nhiều nhất lên đến 197 cuộc So sánh con số này với số lượng các cuộc kiểm toán đã thực hiện ở các năm trước đó chúng ta có thể thấy được sự nỗ lực của
cơ quan KTNN ở Việt Nam trong những năm gần đây, cụ thể: năm 2005
Trong đó năm 2011, KTNN đã thực hiện số lượng lên đến 197 cuộc kiểm toán, trong đó số lượng tăng chủ yếu vào tăng kiểm toán khối An ninh quốc phòng và cơ quan Đảng (37 cuộc, tăng 294,1%) Cũng trong năm này, KTNN cũng thực hiện một cuộc kiểm toán phối hợp chung với KTNN liên bang Nga xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro
Bên cạnh các vấn đề về số lượng cuộc kiểm toán tăng lên hàng năm, một điểm rất quan trọng chúng ta cũng cần phải chú ý đó là quy mô ngân sách được kiểm toán hàng năm cũng tăng nhanh Có thể thấy như năm 2009 mặc
dù tổng số cuộc kiểm toán đối với tình hình thực hiện ngân sách các tỉnh, thành phố chỉ là 37 cuộc tăng thêm 2 cuộc so với 2008 tuy nhiên quy mô ngân sách được kiểm toán lại tăng mạnh Cụ thể thu ngân sách được kiểm toán tăng 34% (bằng 234.767 tỷ đồng); chi ngân sách tăng 45% (bằng 88.364 tỷ đồng) Nguyên nhân do một số đơn vị có quy mô thu - chi ngân sách lớn đã được kiểm tra, như: TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Thanh Hóa, Bà Rịa - Vũng Tàu
Trong quá trình lựa chọn đơn vị được kiểm toán cũng đã chú ý đến vấn
đề ưu tiên số lớn trong chọn mẫu Nhiều bộ, ngành, tỉnh thành phố có số thu chi ngân sách lớn trước đây thường được kiểm toán 2 đến 3 năm một lần thì nay thường được kiểm toán hàng năm
Kết quả kiểm toán Nhà nước 2010 về niên độ ngân sách 2009
a Về quyết toán thu chi cân đối NSNN
Công tác quản lý thu NSNN: Mặc dù trong điều kiện nền kinh tế suy giảm, phải thực hiện chính sách miễn, giảm, giãn nộp thuế để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn nhưng thu ngân sách vẫn vượt dự toán 16,6%; nếu loại trừ các yếu tố tăng thu có tính chất bất thường, số thu vẫn vượt 8,6% dự
Trang 26toán Thu nội địa chiếm 59,7% tổng thu NSNN, đặc biệt thu từ DNNN trong những tháng cuối năm có chuyển biến tích cực nên số thu của khu vực này tăng khá, vượt 15,2% dự toán và tăng 17% so với thực hiện năm 2008 và là năm thứ
2 liên tiếp thu vượt dự toán (năm 2008 vượt 13,5%); các khoản thu vay, viện trợ
đã được tổ chức quản lý hợp lý hơn; thu huy động vốn TPCP được thực hiện trên nguyên tắc huy động theo tiến độ giải ngân, sử dụng linh hoạt nguồn huy động để tránh đọng vốn
Quản lý và điều hành chi ngân sách đã có những chuyển biến, chi NSNN tuy vượt dự toán nhưng chủ yếu là chi đầu tư phát triển (vượt 60,7%), chi trả nợ
để giảm trả lãi vay, thực hiện các chính sách an sinh xã hội Các khoản dự phòng, tăng thu ngân sách, dư dự toán được sử dụng phù hợp quy định; công tác chỉ đạo, điều hành và thực hiện các giải pháp chống suy giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội có hiệu quả; phần lớn các đơn vị đã sử dụng ngân sách đúng quy định, các khoản chi không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức giảm so với năm trước (tổng số các khoản giảm chi năm 2009 do KTNN phát hiện là 2.462,7 tỷ đồng, trong đó số chi sai chế độ phải thu hồi nộp NSNN 157,3 tỷ đồng; năm 2008 là 3.404,8 tỷ đồng, trong đó số phải thu hồi nộp NSNN 294,2 tỷ đồng); tình trạng chi sai đối tượng, nội dung của các chương trình mục tiêu đã có chuyển biến, các sai phạm dần được khắc phục, phân bổ vốn cơ bản đúng định mức, đối tượng, nội dung của chương trình và kịp thời hơn, hạn chế chi chuyển nguồn; số chi chuyển nguồn sai quy định đã giảm nhiều
so với năm 2008 (năm 2009 KTNN kiến nghị loại khỏi quyết toán 7,5 tỷ đồng, năm 2008 là 24,2 tỷ đồng)
Báo cáo quyết toán NSNN do Bộ Tài chính lập được tổng hợp từ báo cáo quyết toán ngân sách của 63 tỉnh, thành phố đã được HĐND phê chuẩn và báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán cấp I thuộc NSTW và điều chỉnh giảm một số khoản chi theo kiến nghị của KTNN
Trang 27Tuy nhiên, qua kiểm toán còn cho thấy một số thiếu sót, hạn chế sau:(1)Lập và giao dự toán
- Về dự toán thu: Dự toán thu từ XNK chưa đảm bảo tỷ lệ tăng từ 7% và thu nội địa (trừ dầu thô) chưa đảm bảo tăng từ 17%-19% theo hướng dẫn; 5/32 tỉnh, thành được kiểm toán dự toán thu nội địa (đã loại trừ các khoản thu không ổn định, như thu từ đất, các khoản thu khác ngân sách) do trung ương giao thấp hơn số thực hiện năm 2008 nên hầu hết các chỉ tiêu thu của các tỉnh này đều vượt dự toán Ngoài nguyên nhân do thay đổi một số chính sách, biến động giá cả thị trường khi xây dựng dự toán thu chưa lường hết được, còn
5%-do công tác dự báo ước thực hiện một số nguồn thu năm 2008 thấp
- Về dự toán chi: Một số thiếu sót, hạn chế từ những năm trước chậm được khắc phục, như dự toán một số nhiệm vụ chi lập thiếu cơ sở, thuyết minh ; giao dự toán cho một số đơn vị còn chậm, không giao hết kinh phí ngay từ đầu năm; một số khoản chi lập và giao dự toán chưa sát yêu cầu nhiệm
vụ nên khi thực hiện phải hủy dự toán, hoàn trả ngân sách hoặc chuyển nguồn sang năm sau; bố trí vốn cho lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ thấp hơn mức trung ương giao; phân bổ dự toán cho một số nội dung không có định mức, nhiệm vụ chi cụ thể; bố trí vốn cho các dự án còn dàn trải, chưa phù hợp với thời gian, tiến độ theo quyết định đầu tư của dự án, chưa ưu tiên bố trí vốn thanh toán nợ; bố trí vốn khi chưa đảm bảo đầy đủ căn cứ, thủ tục
(2) Chấp hành ngân sách
- Về quản lý thu NSNN: Nhiều đối tượng nộp thuế chưa chấp hành nghiêm túc pháp luật trong kê khai thuế, xác định ưu đãi thuế dẫn đến tính sai số thuế phải nộp NSNN; chất lượng công tác thanh, kiểm tra thuế còn hạn chế, chưa phát hiện hết các sai phạm của doanh nghiệp trong kê khai thuế và miễn, giảm thuế; tính thuế và các khoản phải thu NSNN chưa chính xác; việc
xử lý các khoản tạm thu, tạm giữ của các cơ quan tài chính, thuế, hải quan,
Trang 28thanh tra, quản lý thị trường để nộp NSNN chưa kịp thời, tăng nhiều so năm trước (năm 2009 KTNN kiến nghị xử lý nộp NSNN 2.991,8 tỷ đồng, năm
2007 là 2.167,8 tỷ đồng và năm 2008 là 245,3 tỷ đồng) nên đã làm giảm đáng
kể nguồn thu vào NSNN trong khi năm 2009 thu ngân sách gặp không ít khó khăn do phải thực hiện các chính sách của Chính phủ như miễn, giảm, giãn, hoàn thuế Tổng hợp kết quả kiểm toán năm 2010 đối với niên độ NSNN năm 2009, KTNN đã kiến nghị tăng thu 2.882,5 tỷ đồng (thu nội địa 2.469,9
tỷ đồng, trong đó các khoản thu về đất 607 tỷ đồng; thuế xuất nhập khẩu 42,5
tỷ đồng; phí, lệ phí 4 tỷ đồng; thu khác 366,3 tỷ đồng);
- Về quản lý chi NSNN: Tổng chi thường xuyên trong năm có giảm so với dự toán giao Đáng chú ý là riêng chi quản lý hành chính nhà nước tăng (4,2%), các khoản chi theo quy định cần phải đảm bảo tỷ lệ trong tổng chi ngân sách lại giảm (chi sự nghiệp y tế giảm 8,7%, khoa học công nghệ giảm 13,2%, giáo dục đào tạo và dạy nghề giảm 3,7%) Nhiều đơn vị thuộc các bộ, ngành, địa phương còn chi sai chế độ, tiêu chuẩn, định mức; chi chuyển nguồn chiếm tỷ lệ còn cao trong tổng chi NSNN (27,4%), tuy có giảm so với năm 2008 (30,4%) nhưng về số tuyệt đối vẫn tăng theo từng năm (năm 2007 là 88.821 tỷ đồng, năm 2008 là 137.948 tỷ đồng, năm 2009 là 153.943 tỷ đồng) Ngoài các khoản chuyển nguồn có lý do khách quan, các khoản chi chuyển nguồn do triển khai chậm vẫn còn lớn (năm 2009 là 27.044 tỷ đồng, năm 2008 là 26.464 tỷ đồng, năm 2007 là 23.078 tỷ đồng) cho thấy còn nhiều nhiệm vụ chi được giao chưa hoàn thành trong năm làm giảm hiệu quả sử dụng NSNN Có 31/32 tỉnh, thành phố được kiểm toán chi thường xuyên vượt dự toán được HĐND giao đầu năm, trong đó 9/32 tỉnh, thành phố mức vượt trên 30%; 19/32 tỉnh, thành phố chi quản lý hành chính vượt trên 30%, ngoài những nguyên nhân khách quan còn do công tác lập dự toán chưa sát thực tế, quản lý điều hành ngân sách chưa chặt chẽ, tiết kiệm; việc ghi thu, ghi chi các khoản viện trợ, khoản thu để lại chi quản lý qua NSNN chưa kịp thời và đầy đủ (KTNN kiến nghị tăng 776,2 tỷ đồng); sử
Trang 29dụng nguồn tăng thu mua ô tô cho các đơn vị trên địa bàn; quản lý tài sản thiếu chặt chẽ và để xảy ra các sai phạm, gây lãng phí ngân sách; chưa đăng ký tài sản theo quy định Đặc biệt việc cho vay sai quy định, tạm ứng kéo dài nhiều năm, chậm hoặc chưa thu hồi tuy có giảm so năm 2008 (năm 2009 là 3.081,3 tỷ đồng, năm 2008 là 4.683 tỷ đồng) song vẫn còn xảy ra ở nhiều tỉnh, thành phố được kiểm toán (năm 2008 có 12/37 tỉnh; năm 2009 có 18/32 tỉnh), một số bộ, ngành còn số dư nợ phải thu lớn, kéo dài trong khi NSNN vẫn phải đi vay và trả lãi.
- Việc chấp hành chế độ báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư của các bộ, ngành, địa phương và các tập đoàn, tổng công ty chưa được quan tâm đúng mức, có hiện tượng buông lỏng, đến 20/3/2010 mới có 65/120 đơn vị gửi báo cáo, bằng 54,2%, thấp hơn các năm trước (năm 2007 có 60,3%, năm 2008 là 84,3%) Số dự án đã có báo cáo quyết toán nhưng chưa được phê duyệt 9.197
dự án, chiếm 13,95% tổng số dự án hoàn thành trong năm (năm 2008 là 10.394
dự án, chiếm 16,45% tổng số dự án hoàn thành trong năm); số dự án hoàn thành chưa có báo cáo quyết toán 12.751 dự án, chiếm 19,35%, tăng 1,4% so với năm 2008
- Tình hình vay, trả nợ nước ngoài của Chính phủ và vay về cho vay lại:
Bộ Tài chính ghi thu - ghi chi chậm nên việc nhận nợ, trả nợ của chủ đầu tư không kịp thời; chưa tổng hợp được số nợ và lãi chưa thu đến 31/12/2009 của các tổ chức cho vay lại; một số khoản nợ và lãi đã thu nhưng tổ chức cho vay lại (NH ĐT&PTVN) chưa hoàn trả Bộ Tài chính đúng thời hạn; khoản chênh lệch giữa lãi thu từ dự án cho vay lại với lãi phải trả nước ngoài của một số dự
án được Bộ Tài chính mở một số tài khoản tiền gửi không kỳ hạn tại Sở Giao dịch III - NH ĐT&PTVN nhưng không có số liệu tổng hợp về tình hình, số liệu biến động và số dư các tài khoản đến 31/12/2009
Trang 30(3) Về thực hiện các nhóm giải pháp chống suy giảm, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội
Để thực hiện các giải pháp kích cầu, chống suy giảm kinh tế, Quốc hội, Chỉnh phủ đã có nhiều giải pháp như ban hành nghị quyết phát hành thêm 20.000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ; cho phép các bộ, ngành và địa phương được hoãn thu hồi vốn ngân sách ứng trước phải thu hồi trong năm NSNN
2009, ứng trước dự toán cho các năm sau 34.190,7 tỷ đồng, tăng cao so với năm 2008 (34.190,7 tỷ đồng/13.316,7 tỷ đồng); thực hiện chính sách hoàn, miễn, giảm, giãn thuế, cho vay hỗ trợ lãi suất Kết quả kiểm toán cho thấy:
- Các bộ ngành, địa phương đã đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án, chương trình nên tỷ lệ giải ngân TPCP năm 2009 đạt 99,4% kế hoạch; số ứng trước dự toán trong năm 2009 giải ngân đạt 67,2% kế hoạch (22.996/34.190,7
tỷ đồng); chi đầu tư phát triển trong năm giải ngân đạt 119,5% dự toán; công tác phát hành, quản lý, sử dụng vốn TPCP đã thu được những thành tựu quan trọng, góp phần tích cực vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội; các dự án hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng đã góp phần cải thiện hạ tầng giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục, đặc biệt là những tuyến đường giao thông quan trọng của đất nước, đường tuần tra biên giới, đường ô tô đến trung tâm
xã, vùng nông thôn, vùng núi có nhiều khó khăn Nhờ đó đã thúc đẩy sản xuất phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, xóa đói giảm nghèo, cải thiện điều kiện chăm sóc sức khỏe, nâng cao dân trí của nhân dân Tuy nhiên một số bộ, ngành, địa phương còn đăng ký vốn TPCP cho những dự án ngoài danh mục, sai đối tượng; phân bổ, giao kế hoạch vốn TPCP còn thiếu sót, bố trí vốn còn dàn trải, không thuộc danh mục dự án; còn trông chờ vào vốn TPCP; tiến độ thực hiện ở nhiều dự
án còn chậm, có dự án chưa thực sự cấp bách, không thuộc đối tượng sử dụng vốn TPCP nhưng vẫn bố trí đầu tư, sử dụng vốn sai mục đích, nội dung; thanh
Trang 31toán khi chưa có khối lượng; nghiệm thu thanh toán không theo thực tế thi công Ngoài ra chính sách, chế độ và cơ chế quản lý vốn TPCP còn một số bất cập, làm ảnh hưởng đến việc quản lý và sử dụng vốn Kết quả, KTNN đã kiến nghị xử lý tài chính 462,7 tỷ đồng.
- Chính sách quản lý thu thuế (hoàn, miễn, giảm, giãn thuế) trong năm 2008-2009 đã tạo thuận lợi hơn cho việc nhập khẩu, tiêu thụ hàng hoá, giảm gánh nặng về vốn cho doanh nghiệp, giúp các nhà đầu tư tiếp tục triển khai các dự án, thúc đẩy sản xuất, góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế Mặc dù, việc thực hiện miễn, giảm, giãn thuế (không kể giảm thuế GTGT đầu ra) vượt
dự kiến 4.935 tỷ đồng (kế hoạch dự kiến 28.000 tỷ đồng, thực hiện 32.935 tỷ đồng) nhưng thu NSNN vẫn vượt dự toán, tốc độ tăng GDP quý sau cao hơn quý trước, bình quân cả năm đạt 5,3% (theo báo cáo của Tổng cục Thuế và Tổng cục Hải Quan đã thực hiện miễn, giảm, giãn, hoàn thuế 60.988,9 tỷ đồng) Tuy nhiên, quy định về giảm thuế GTGT đối với cơ sở kinh doanh áp dụng theo phương pháp khoán chưa phù hợp với quy định của Luật thuế GTGT; một số thông tư hướng dẫn thiếu cụ thể, quá trình thực hiện phát sinh nhiều vướng mắc; hướng dẫn giảm, giãn thuế TNDN cho doanh nghiệp vừa
và nhỏ còn bất cập; thiếu thống nhất; một số trường hợp hoàn, giảm thuế không đúng quy định, sai đối tượng; xác định thuế TNDN được giảm không đúng nhưng chưa được cơ quan thuế kiểm tra, thanh tra, xử lý kịp thời; cấp danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu miễn thuế không đảm bảo chặt chẽ, thiếu thủ tục
- Việc thực hiện chính sách cho vay hỗ trợ lãi suất (HTLS) cơ bản được triển khai đúng quy định, chính sách đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp, tổ chức, hộ sản suất duy trì ổn định sản xuất, giảm bớt các khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết được việc làm và bảo đảm thu nhập so với năm trước cho người lao động; HTLS các khoản vay trung, dài hạn đã
Trang 32kinh doanh, mở rộng phát triển sản xuất, tạo thêm động lực kích thích đầu tư, tiêu dùng của nền kinh tế, góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, tăng trưởng kinh tế năm 2009 và những năm tiếp theo Theo số liệu báo cáo của NHNN đến ngày 31/12/2009 số tiền phải HTLS cho các đối tượng vay vốn là 11.178 tỷ đồng; số tiền các tổ chức tín dụng đã HTLS cho các đối tượng vay vốn là 10.644 tỷ đồng; số tiền NHNN đã tạm ứng cho các
tổ chức tín dụng là 6.218 tỷ đồng và đến 31/12/2010 tổng số tiền NHNN đã chuyển cho các tổ chức tín dụng là 11.231,4 tỷ đồng Tuy nhiên trong quá trình triển khai, một số văn bản hướng dẫn thiếu chi tiết, chưa rõ ràng, cụ thể, không nhất quán, gây khó khăn khi thực hiện; quy định HTLS chỉ thực hiện đối với các khoản vay để đầu tư mới phát triển SXKD nhưng tiêu chí xác định
dự án đầu tư mới có nhiều quan điểm khác nhau dẫn đến khó khăn, chậm trễ trong HTLS; việc HTLS cho vay mua máy móc thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn chưa thực sự
đi vào đời sống của nhân dân do còn những vướng mắc, chưa đạt được mục tiêu đề ra, khách hàng chưa tiếp cận được vốn vay; một số tổ chức tín dụng cho vay HTLS chưa đúng quy định 258,742 tỷ đồng (KTNN phát hiện 51,456
tỷ đồng; các tổ chức tín dụng tự kiểm tra phát hiện đến thời điểm kết thúc kiểm toán tại các đơn vị 207,286 tỷ đồng) Năm 2011, KTNN vẫn tiếp tục kiểm toán việc HTLS trong năm 2010 khi thực hiện kiểm tại các tổ chức tài chính ngân hàng
(4) Về quyết toán thu, chi NSNN năm 2009
Về cơ bản, sau khi đã điều chỉnh số liệu theo kết quả kiểm toán (giảm quyết toán chi đầu tư phát triển 26 tỷ đồng; giảm quyết toán thu bổ sung ngân sách cấp trên và chi bổ sung từ NSTW cho NSĐP 220 tỷ đồng; tăng quyết toán chi đầu tư phát triển trong năm, giảm chi chuyển nguồn sang năm sau 146,3 tỷ đồng), KTNN xác nhận số liệu tổng thu, tổng chi ngân sách Chính phủ trình Quốc hội, cụ thể:
Trang 33- Thu cân đối NSNN: Số báo cáo 629.187 tỷ đồng, số kiểm toán 629.187 tỷ đồng;
- Chi cân đối NSNN: Số báo cáo 715.216 tỷ đồng, số kiểm toán 715.216 tỷ đồng;
- Bội chi NSNN: Thực hiện 114.442 tỷ đồng, bằng 6,9% GDP (giảm 0,1% so với Nghị quyết của Quốc hội); số kiểm toán 114.442 tỷ đồng
(5) Về dư nợ của chính phủ và dư nợ bên ngoài của quốc gia
Theo báo cáo của Bộ Tài chính đến 31/12/2009: (i) Dư nợ của Chính phủ ở mức 705.000 tỷ đồng, tương đương 42% GDP năm 2009; nếu tính cả
nợ trái phiếu của ngân hàng Phát triển Việt Nam và ngân hàng Chính sách xã hội, dư nợ Chính phủ so với GDP năm 2009 là 46,5% (ii) Dư nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 36,5 tỷ USD, chiếm 39% GDP năm 2009
b Kết quả kiểm toán tại các doanh nghiệp Nhà nước
Về tình hình hoạt động kinh doanh và thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao: Các TĐ, TCT cơ bản thực hiện tốt các nhiệm vụ được Nhà nước giao; sản xuất kinh doanh có lãi; bảo toàn và phát triển vốn, góp phần quan trọng vào phát triển và giữ ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội Nhiều đơn vị đã chú trọng tái cơ cấu đầu tư, vốn, công nghệ nhằm nắm bắt cơ hội đầu tư, tập trung lĩnh vực SXKD chính và khai thác thị trường tiềm năng Hoạt động SXKD và công tác quản lý tài chính của các TĐ, TCT đã có nhiều chuyển biến từ khi chính thức hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Tuy nhiên, tại một số TĐ, TCT mặc dù tình hình tài chính tại Công ty mẹ tốt song các đơn vị thành viên chưa đồng đều, có đơn vị hiệu quả kinh doanh cao, có đơn
vị thua lỗ lớn; quản lý chi phí, giá thành còn nhiều hạn chế, hệ số huy động
Trang 34đầu tàu của nền kinh tế, chưa tương xứng với những lợi thế và sự đầu tư của nhà nước, “đe dọa” đến việc bảo toàn vốn; một số đơn vị chưa nộp kịp thời các khoản thuế vào NSNN.
Về công tác sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa DNNN: Tiến độ cổ phần hóa chậm, chỉ có 04/24 TĐ, TCT được kiểm toán thực hiện cổ phần hóa; việc thu và
sử dụng quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp không kịp thời và đúng quy định; nhiều doanh nghiệp đã cổ phần hóa nhiều năm nhưng chưa được bàn giao vốn
do các vướng mắc về tài chính, quyền sử dụng đất
Về công tác quản lý và sử dụng đất: Nhiều đơn vị quản lý và sử dụng chưa hiệu quả, để lấn chiếm, tranh chấp, chưa kê khai để nộp tiền thuê đất; cho phép cán bộ, cá nhân sử dụng đất trái quy định gây thất thoát; nhiều diện tích nhà đất chưa được các địa phương ký hợp đồng thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp
c Kết quả kiểm toán tại các tổ chức TC-NH
Về tình hình hoạt động kinh doanh và thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao: Nhìn chung, các đơn vị đã hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ; thực hiện nghiêm túc các giải pháp cấp bách của Chính phủ trong điều hành chính sách vĩ mô nhằm ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội Tuy nhiên, ở một số ngân hàng do tăng trưởng huy động vốn thấp hơn tăng trưởng tín dụng nên tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu thấp hơn mức quy định của NHNN; không đảm bảo khả năng chi trả, phải xin tái cấp vốn của NHNN và vay các tổ chức tín dụng trên thị trường liên ngân hàng, phát hành trái phiếu để bù đắp thiếu hụt thanh khoản; hiệu quả kinh doanh thấp; chất lượng tín dụng sụt giảm so với năm 2008 (tỷ lệ nợ xấu của NHNo tăng từ 2,7% năm 2008 tăng lên 3,97% năm 2009)
Trang 35Về hoạt động tín dụng: Năm 2009, NHNN thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng và hỗ trợ lãi suất nên tổng phương tiện thanh toán đạt 2.020.043 tỷ đồng, tăng 28,67% so với năm 2008; huy động vốn 1.730.474 tỷ đồng, tăng 28,7% so với năm 2008; dư nợ đối với nền kinh tế 1.753.600 tỷ đồng, tăng 37,73% so với năm 2008, trong đó tăng trưởng tín dụng bằng đồng Việt Nam 43,51%, tín dụng xuất khẩu 17,04%, cho vay chứng khoán 79,96%, bất động sản 32% Tuy nhiên, do tốc độ tăng trưởng huy động vốn thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng nên việc cân đối vốn của các ngân hàng thương mại khó khăn; nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng liên tục tăng từ năm 2007
Về tình hình thực hiện chính sách tiền tệ nhằm ngăn chặn suy giảm kinh
tế, duy trì tăng trưởng, đảm bảo an sinh xã hội: NHNN đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện các giải pháp về tín dụng, lãi suất đảm bảo an toàn hoạt động, ngăn ngừa nguy cơ lạm phát; cơ cấu lại thời hạn trả nợ, điều chỉnh giảm lãi suất đối với các hợp đồng đã ký, mở rộng định hướng tăng trưởng tín dụng, kiểm soát chất lượng tín dụng; điều chỉnh cơ cấu tín dụng tập trung vốn cho sản xuất, xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ vốn cho vay kinh doanh chứng khoán, bất động sản, tiêu dùng; cân đối vốn để cho vay phục vụ thu mua lúa gạo xuất khẩu, tiêu dùng trong nước và phục vụ các dự án quan trọng của Nhà nước
Kết quả kiểm toán Nhà nước 2011 về niên độ ngân sách 2010
a Về quyết toán thu chi, cân đối NSNN
Tổng thu NSNN 588.428 tỷ đồng, vượt 27,5% dự toán; nếu loại trừ các yếu tố tăng thu có tính chất bất thường, số thu vượt 16,4% dự toán cho thấy các
bộ, ngành, địa phương đã có nhiều nỗ lực trong quản lý thu NSNN; thu tiền sử dụng đất vượt 114,6% dự toán do các địa phương đẩy nhanh đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án, kịp thời giao đất và thu tiền sử dụng đất sát giá thị trường ; trái phiếu Chính phủ vẫn được huy động theo tiến độ giải ngân, sử dụng linh hoạt để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Trang 36Tổng chi NSNN 648.833 tỷ đồng, vượt 11,4% dự toán, chủ yếu là tăng chi đầu tư phát triển (vượt 45,9% dự toán), chi thường xuyên tăng 1,5%, đặc biệt chi NSTW nếu tính cả số chuyển nguồn của một số nhiệm vụ chỉ bằng dự toán giao Việc sử dụng các khoản tăng thu, dư dự toán và dự phòng ngân sách của NSTW phù hợp quy định; việc chi sai chế độ, định mức qua kiểm toán cho thấy
đã giảm dần; Nghị quyết số 18/NQ-CP được triển khai thực hiện có hiệu quả tại các bộ, ngành, địa phương đã góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ
mô, bảo đảm an sinh xã hội; các chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo như Chương trình 135, Chương trình MTQG nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đều có tỷ lệ giải ngân khá, một số chương trình cơ bản đạt được mục tiêu đề ra
Tăng trưởng kinh tế năm 2010 đạt 6,78%; bội chi NSNN được giữ ở mức 5,5% GDP, thấp hơn Quốc hội cho phép 0,7% (6,2% GDP); dư nợ Chính phủ (bao gồm cả nợ công trái giáo dục và trái phiếu Chính phủ) bằng 44,6% GDP, dư
nợ nước ngoài của quốc gia bằng 42,2% GDP, dư nợ công bằng 56,3% GDP
Qua kiểm toán cho thấy, các đơn vị được kiểm toán cơ bản đã tuân thủ quy định của Luật NSNN, nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ và quyết định của Thủ tướng Chính phủ Tuy nhiên, còn một số thiếu sót, hạn chế sau:
(1) Lập và giao dự toán
- Công tác ước thực hiện thu năm 2009 chưa sát thực tế, thu xuất nhập khẩu (XNK) bằng 85,5% (123.000 tỷ đồng/143.801 tỷ đồng), thu nội địa (không kể thu từ dầu thô và thu tiền sử dụng đất) bằng 89,4% (216.650 tỷ đồng/242.417 tỷ đồng) thực hiện năm 2009; số Trung ương giao dự toán thu năm 2010 đã bảo đảm tỷ lệ động viên 23,6% GDP (trong đó từ thuế và phí là 22,2% GDP), tuy nhiên chưa đạt tỷ lệ phấn đấu tăng theo định hướng tại Chỉ thị số 756/CT-TTg ngày 05/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ
- Một số bộ, ngành và địa phương vẫn chưa khắc phục được những hạn chế từ những năm trước trong công tác giao dự toán (giao dự toán chậm, không
Trang 37giao hết dự toán ngay từ đầu năm; bố trí kinh phí sự nghiệp GD&ĐT, KH&CN, dự phòng không đúng tỷ lệ quy định ; bố trí vốn đầu tư còn dàn trải, chưa đủ thủ tục; bố trí vốn khi chưa đảm bảo đầy đủ căn cứ ); phân bổ,
bổ sung dự toán chậm đã ảnh hưởng nhiều đến việc triển khai thực hiện nhiệm vụ; bố trí vốn bổ sung cho các bộ, ngành và địa phương từ nguồn chưa giải ngân của các dự án đầu tư thuộc NSTW trước khi có ý kiến của UBTVQH
(2) Chấp hành ngân sách
- Quản lý thu NSNN: Thu NSNN vượt cao, ngoài nguyên nhân khách quan còn do công tác dự báo chưa đáp ứng yêu cầu; một số sai phạm trong công tác quản lý các khoản thu từ đất chậm được khắc phục như: Ban hành giá cho thuê đất, đơn giá thu tiền sử dụng đất đối với một số dự án chưa phù hợp với quy định; tính thiếu tiền sử dụng đất phải nộp NSNN, miễn, giảm tiền
sử dụng đất sai quy định; xét giao đất ở không qua đấu giá quyền sử dụng đất đã làm thất thu NSNN; nợ đọng thuế nội địa và XNK đều tăng so với năm trước; các đối tượng nộp thuế chưa chấp hành nghiêm túc pháp luật trong đăng ký, kê khai thuế, nộp NSNN ; một số bộ, ngành chưa khắc phục được các sai sót từ những năm trước trong quản lý các khoản thu như thu học phí vượt mức quy định, các khoản thu khác ngoài quy định Tổng hợp kết quả kiểm toán năm 2011, KTNN đã kiến nghị tăng thu 2.215,5 tỷ đồng (thuế nội địa 1.228,6 tỷ đồng; phí, lệ phí 5,3 tỷ đồng; tiền sử dụng đất 340,1 tỷ đồng; thu khác ngân sách 641,5 tỷ đồng)
- Quản lý chi NSNN
(i) 34/34 tỉnh, thành phố được kiểm toán đều vượt dự toán chi thường xuyên được HĐND giao đầu năm, trong đó 8/34 tỉnh có mức vượt trên 25%; trong điều hành ngân sách còn sử dụng 769 tỷ đồng từ nguồn tăng thu, nguồn thu tiền sử dụng đất, nguồn cải cách tiền lương, dự phòng để bổ sung chi thường xuyên sai quy định
Trang 38(ii) Chi chuyển nguồn tuy giảm tỷ lệ trong tổng chi NSNN so với năm
2009 nhưng vẫn còn một số khoản chi chuyển nguồn do triển khai chậm (25.619 tỷ đồng, chiếm 3% tổng chi NSNN) làm giảm hiệu quả sử dụng NSNN, nhiều khoản chi chuyển nguồn không đúng quy định về nội dung, thời gian; việc cho vay sai quy định, cho vay, tạm ứng kéo dài nhiều năm chậm thu hồi còn xảy ra ở một số địa phương được kiểm toán; việc ghi thu, ghi chi các khoản thu để lại chi quản lý qua NSNN chưa kịp thời và đầy đủ; nợ đọng trong đầu tư xây dựng còn lớn, một số đơn vị chưa bố trí đủ vốn để thanh toán dứt điểm nợ đọng khối lượng hoàn thành, cá biệt tại một số địa phương có xu hướng gia tăng
(iii) Theo báo cáo của Bộ KH&ĐT cho thấy việc chấp hành chế độ báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư của các bộ, ngành, địa phương và các tập đoàn, tổng công ty năm 2010 đã được cải thiện hơn so với các năm trước (đến 18/4/2011 đã có 112/124 cơ quan gửi báo cáo, đạt 90,3%, trong khi năm 2009 là 54,2%, năm 2007 là 60,3%, năm 2008 là 84,3%) nhưng tỷ lệ dự án đầu tư có báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư chỉ đạt 58,8% (năm 2009 là 67,2%, và năm 2008 là 59,9%) Mặc dù chất lượng báo cáo của các chủ đầu tư gửi đến các bộ, ngành, địa phương chưa đáp ứng yêu cầu, nội dung chưa đầy đủ, thiếu thông tin chi tiết,
số liệu báo cáo không đảm bảo tính trung thực… song kết quả tổng hợp số liệu
từ các báo cáo cho thấy trong năm 2010 có 3.386 dự án chậm tiến độ, chiếm 9,78% số dự án thực hiện trong kỳ; số dự án phải điều chỉnh chiếm 15,14% (5.239/34.607); số dự án vi phạm quy định về quản lý đầu tư là 221 dự án, chiếm 0,63% (vi phạm về thủ tục đầu tư 112 dự án, vi phạm về quản lý chất lượng 109
dự án)
(iv) Kết quả kiểm toán các chương trình MTQG năm 2010 cho thấy về
cơ bản việc đầu tư đã mang lại những hiệu quả tích cực về kinh tế - xã hội, hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn được cải thiện Tuy nhiên, việc thực hiện các chương trình vẫn còn một số tồn tại, bất cập, làm giảm hiệu quả đầu tư như:
Trang 39Nhiều chương trình, dự án văn bản hướng dẫn còn bất cập, lạc hậu gây khó khăn trong việc áp dụng; một số chương trình sự phối kết hợp giữa các ngành, các cấp còn thiếu chặt chẽ; chưa thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát nên nhiều khó khăn vướng mắc chưa được tháo gỡ, khắc phục kịp thời; việc phân
bổ kế hoạch vốn còn chậm; chưa phân bổ hết kinh phí trung ương cấp làm lãng phí vốn đầu tư; phân bổ vốn sai mục tiêu, đối tượng của chương trình; một số chương trình chưa hoàn thành các mục tiêu khi kết thúc giai đoạn vào năm 2010
(v) Về thực hiện cơ chế khoán chi và tự chủ tài chính
- Các đơn vị thực hiện khoán chi theo Nghị định 130/2005/NĐ-CP của Chính phủ nhìn chung đã tiết kiệm được lao động, kinh phí để tăng thu nhập cho cán bộ, công chức nhưng quá trình thực hiện còn một số hạn chế: Mức thu nhập tăng thêm tại các đơn vị thuộc bộ, ngành thấp, chỉ từ 0,1 đến 1,5 lần lương cơ bản; 4/34 địa phương được kiểm toán chưa triển khai giao tự chủ hoặc triển khai chưa triệt để; phần lớn đơn vị thuộc bộ, ngành còn thiếu sót trong xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ; một số đơn vị thuộc các địa phương được kiểm toán xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ còn mang tính hình thức, chưa bao quát hết nhiệm vụ chi; sử dụng kinh phí không tự chủ để chi cho nhiệm vụ tự chủ
- Phần lớn các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện tự chủ tài chính theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP đã hoạt động có hiệu quả, đảm bảo được thu nhập ổn định cho người lao động, tuy nhiên còn một số hạn chế như: Xác định mức tự chủ thấp hơn thực tế; quy chế chi tiêu nội bộ chưa bao quát hết các khoản thu, nhiệm vụ chi, chậm được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp thực tế phát sinh tại đơn vị; kết thúc giai đoạn tự chủ 2008-2010 các đơn vị chưa kịp thời sơ kết, đánh giá tình hình thực hiện để xây dựng phương án tự chủ giai đoạn mới (năm 2011-2013) Việc triển khai thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính
Trang 40phủ còn chậm, số lượng đơn vị sự nghiệp khoa học được phê duyệt đề án chuyển đổi theo yêu cầu của Nghị định còn thấp.
(vi) Việc mua sắm, quản lý và sử dụng tài sản
- 18/34 địa phương được kiểm toán quản lý tài sản còn thiếu chặt chẽ
và để xảy ra các sai phạm, như: Mua sắm tài sản không đúng quy định của Luật Đấu thầu; chưa xây dựng, ban hành quy chế quản lý tài sản công theo quy định; chưa hạch toán, theo dõi đầy đủ tài sản cố định…
- Một số địa phương còn để đất đai bị lấn chiếm, tranh chấp, chuyển nhượng trái phép, cho mượn sai quy định; đất được giao hoặc cho thuê nhưng chưa triển khai sử dụng Ở hầu hết các địa phương được kiểm toán, phần lớn các
dự án giao đất, cho thuê đất đều chậm tiến độ Một số địa phương, nhiều dự án không đầu tư xây dựng, không sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích nhưng chưa được xử lý Một số huyện tại các địa phương được kiểm toán cho chuyển mục đích từ đất trồng lúa, đất trồng cây lâu năm sang đất ở vượt hạn mức đất theo quy định; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính; một số bộ, ngành quản lý và sử dụng đất đai chưa phù hợp quy định như hồ sơ pháp lý về nguồn gốc nhà, đất chưa rõ ràng, nhà đất đang bị chiếm dụng tranh chấp, để các hộ gia đình chiếm dụng đất công làm nhà ở
(vii) Về thực hiện cải cách tiền lương
Kết quả kiểm toán cho thấy vẫn còn nhiều đơn vị trực thuộc bộ, ngành và
29/34 địa phương chưa trích đủ nguồn thực hiện cải cách tiền lương theo qui
định, 18/34 địa phương còn sử dụng nguồn cải cách tiền lương để chi thường xuyên, chi đầu tư xây dựng, trả nợ vốn vay, chi hỗ trợ nhưng chưa được cấp có thẩm quyền cho phép 263 tỷ đồng Tại những đơn vị có số dư nguồn thực hiện cải cách tiền lương lớn, mặc dù đã có cơ chế cho phép sử dụng nguồn nhưng thực tế việc vận dụng còn hạn chế dẫn đến để vốn nhàn rỗi trong thời gian dài, kém hiệu quả