MẠNG LƯỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ VIỆT NAM VỀ THỰC THI LÂM LUẬT, QUẢN TRỊ RỪNG VÀ THƯƠNG MẠI LÂM SẢN VNGO-FLEGT BÁO CÁO Kết quả tham vấn cộng đồng về tính hợp pháp của gỗ và các sản
Trang 1MẠNG LƯỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ VIỆT NAM
VỀ THỰC THI LÂM LUẬT, QUẢN TRỊ RỪNG VÀ THƯƠNG MẠI LÂM SẢN
(VNGO-FLEGT)
BÁO CÁO Kết quả tham vấn cộng đồng
về tính hợp pháp của gỗ và các sản phẩm gỗ tại huyện Văn Chấn,
tỉnh Yên Bái
Đơn vị thực hiện: - Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng, chuyển giao
khoa học và công nghệ Tây Bắc
- Chương trình Phát triển Nguồn lực Nông thôn Việt Nam
Tháng 11/2012
Trang 21 Đặt vấn đề
1.1 Lý do và sự cần thiết
Hiện nay EU là một trong những thị trường xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ lớn của Việt Nam, chiếm khoảng 30% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu Năm 2010, Nghị viện và Hội đồng Châu Âu đã ban hành Quy chế 995/2010 ngày 20/10/2010 về kiểm soát nguồn gốc gỗ hợp pháp nhập khẩu vào thị trường EU Theo quy định này, từ tháng 3/2013, các lô hàng xuất vào EU không có giấy phép FLEGT sẽ phải thực hiện trách nhiệm giải trình Nhằm thích ứng với các quy định mới của EU về nguồn gốc gỗ hợp pháp và đảm bảo giữ vững và mở rộng thị trường EU cho đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam, Chính phủ đã giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì và phối hợp với các Bộ ngành liên quan đàm phán “Hiệp định đối tác tự nguyện (VPA)” về FLEGT với EU Một trong những nội dung quan trọng nhất của Hiệp định VPA là định nghĩa gỗ hợp pháp của Việt Nam và danh mục hàng hóa gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam xuất vào thị trường EU
Mạng lưới các tổ chức dân sự xã hội Việt Nam về thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (CSO-FLEGT) được hình thành vào tháng 1 năm 2012, và hiện nay gần
30 tổ chức dân sự (CSO) ở khắp 3 miền Bắc-Trung-Nam của Việt Nam tham gia
Mục tiêu của mạng lưới là thúc đẩy sự tham gia, đóng góp hiệu quả của các CSO và cộng đồng vào quá trình đàm phán và thực thi giám sát Hiệp định đối tác tự nguyện (VPA) về Thực thi Lâm luật, Quản trị Rừng và Thương mại lâm sản (FLEGT) giữa Chính phủ Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU), từ đó góp phần thực hiện kế hoạch quản lý, bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 của Việt Nam, thúc đẩy chính sách cho phép cộng đồng địa phương sống trong rừng và dựa vào rừng được tiếp cận, sử dụng, quản lý, bảo vệ và phát triển rừng một cách công bằng và bền vững
Theo thông tin từ Phái đoàn đại diện của chính phủ Việt Nam tham gia đàm phán với EU
đã qua vòng 2, các vấn đề xoay quanh tính hợp pháp của gỗ, thực thi lâm luật và thương mại
gỗ đã có ý kiến tham vấn từ các cơ quan quản lý ngành các cấp, các doanh nghiệp chế biến, thương mại gỗ, hiện nay còn thiếu phần tham vấn từ các cộng đồng cũng là phần nội dung không thể thiếu được trong văn bản, tài liệu Để đảm bảo đầy đủ và hoàn chỉnh tài liệu phục
vụ cho vòng đàm phán thứ 3 của Chính phủ, quá trình tham vấn cộng đồng được thực hiện bởi sự tham gia của Mạng lưới VNGO&FLEGT trên 1 số tỉnh được chọn tại 3 vùng Bắc – Trung – Nam của Việt Nam
1.2 Tổng quan về địa điểm tham vấn
1.2.1 Tỉnh Yên Bái
Yên Bái là 1 tỉnh nằm ở vùng Tây Bắc VN, có diện tích rừng khá lớn và đa dạng, trong đó nổi bật là loại hình rừng phòng hộ đầu nguồn sông Đà, sông Hồng và sông Chảy
Tỉnh Yên Bái gồm có 9 huyện, thành phố và thị xã; dân số có 752 922 người thuộc 30 dân tộc khác nhau; trong đó người Kinh chiếm tỷ lệ cao nhất (54 %)
- Kinh tế rừng của Yên Bái được xác định là ngành mũi nhọn góp phần nuôi sống hơn 700 ngàn người dân trên địa bàn tỉnh
- Đất rừng (2011) diện tích đất rừng của Yên Bái có 413.681,7 ha, trong đó Rừng tự nhiên có 235.511,1 ha chiếm 57%, Rừng trồng có 178.170 ha chiếm 43%; Độ che phủ rừng 59,6%
Trang 31.2.2 Tổng quan về huyện Văn Chấn:
Là 1/9 đơn vị hành chính nằm trong tỉnh Yên Bái, Văn Chấn là 1 huyện lớn, mang đầy đủ các điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội đại diện cho tỉnh cách thành phố Yên Bái 70km về phía Tây * Về xã hội: Văn Chấn có 31 xã, thị trấn với dân số 144.152 người thuộc 4 dân tộc chính và 1 số dân tộc ít người khác Điều kiện sống của người dân ở đây chủ yếu phụ thuộc vào đồi rừng: Chè, sắn, ngô nương, trồng rừng và bảo vệ rừng Các con đường QL 37, 32 chạy qua nối liền các tỉnh Tây Bắc như: Sơn La, Lai Châu, Lào Cai với Hà Nội… thuận tiện
cho việc giao lưu kinh tế, văn hóa của người dân trong huyện với các nơi
* Về tự nhiên: Toàn huyện có tổng diện tích tự nhiên 1.224.000 ha
- Trong đó đất nông nghiệp 86.787 ha chiếm 7.09% đất tự nhiên
- Đất SX NN 15.943 ha chiếm 18,3% đất Nông nghiệp
- Đất lâm nghiệp 70.630ha chiếm 81,74% đất nông nghiệp
- Rừng sản xuất 48.390ha chiếm 68,51% đất lâm nghiệp
- Rừng phòng hộ 22.239 ha chiếm 31,49% đất lâm nghiệp
-Dân số người (2009)trong đó nam chiếm 49,42% nữ 50.58%
1.2.3 Tổng quan về xã Thượng Bằng La
Xã Thượng Bằng La nằm ở phía Tây nam của huyện Văn Chấn, cách trung tâm Huyện Văn Chấn là 32 km
- Phía Đông giáp với xã Minh an huyện Văn Chấn
- Phía Bắc giáp với thị trấn Nông Trường Trần Phú huyện Văn Chấn
- Phía nam giáp với xã Mường Cơi, Tân Lang – Phụ Yên - Sơn La
- Phía Tây giáp với xã Cát Thịnh huyện Văn Chấn
* Về đặc điểm xã hội: Xã có 20 thôn, 2037 hộ và dân số hiện có 8026 người
Trên địa bàn xã có 5 dân tộc chính cùng 1 số dân tộc ít người khác cùng sinh sống, trong đó chiếm tỷ lệ đông nhất là người Kinh và người Tày
- Xã có 2 trục đường quốc lộ chạy qua là QL 32 và 37 với chiều dài 18 km
* Về đặc điểm tự nhiên:
- Địa hình đặc trưng của vùng núi cao;
Trang 4- Tổng diện tích tự nhiên 9.244,25ha
- Nhóm đất nông nghiệp ( gồm cả diện tích đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp, đất thuỷ sản) có; 8.677,16 ha, chiếm 93,86 %
- Nhóm đất phi nông nghiệp có diện tích 275,65 ha, chiếm 2,98 %,
- Nhóm đất chưa sử dụng có 101,44 ha, chiếm 1,0 %,
- Đất lâm nghiệp; 6.717,61 ha,
+ Đất rừng tự nhiên và phòng hộ; 3.164,16 ha, chiếm 34,18 %,
Xã Thượng Bằng La là xã có diện tích rừng rộng lớn và có đủ các loại rừng: Tự nhiên phòng
hộ, tự nhiên sản xuất, rừng trồng… trong đó rừng tự nhiên sản xuất khá lớn Trước đây, loại rừng này do Lâm trường Ngòi Lao quản lý, khai thác và trồng bổ sung, năm 2011 rừng này được giao lại cho địa phương, UBND huyện Văn Chấn giao cho nhóm cộng đồng tại các thôn quản lý, bảo vệ và hưởng lợi thông qua sổ đỏ Do thời gian giao đất còn ngắn nên việc lập kế hoạch xin khai thác và trồng bổ sung cũng như các tác động của Nhà nước vào quá trình phát triển loại rừng này chưa có Diện tích rừng sản xuất kinh doanh được giao sổ đỏ cho các hộ tương đối sớm, trên đất này được trồng chủ yếu các loại cây: Mỡ, bồ đề, keo, quế, …
*Tình hình và lịch sử giao đất rừng của xã Thượng Bằng La:
- Rừng tự nhiên phòng hộ được giao cho các nhóm cộng đồng (327) từ 1995 cho 121 hộ/17 nhóm
- Rừng tự nhiên sản xuất được giao cho các nhóm cộng đồng từ năm 2011 cho 1084 hộ trong 17 nhóm
- Đất rừng trồng được giao sổ đỏ cho các hộ từ năm 1999 trên cơ sở đất khai phá của hộ từ trước đây đã được Hạt Kiểm lâm cấp sổ bìa vàng
+ Đất rừng sản xuất; 3.553,45 ha, chiếm, 38 % ( trong đó rừng sản xuất tự nhiên 1.341,56 ha, rừng trồng sản xuất kinh doanh, 1.186,88 ha, đất có khả năng trồng rừng sản xuất, 1.025 ha)
Với các đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội có tính đại diện như trên, Nhóm tham vấn của Carten đã thống nhất với Ban điều phối VNGO&FLEGT chọn xã Thượng Bằng La làm địa bàn tham vấn về tính hợp pháp gỗ phục vụ cho việc hoàn thiện tài liệu đàm phán hiệp định song phương với EU
2 Mục tiêu và nội dung tham vấn
Trang 52.1 Mục tiêu chung
Thu thập các ý kiến của người dân/cộng đồng về những vấn đề liên quan đến tính hợp pháp của gỗ và sản phẩm gỗ nhằm đóng góp cho dự thảo tính hợp pháp của gỗ và sản phẩm
gỗ của Việt Nam
2.2 Mục tiêu cụ thể
• Nâng cao nhận thức của người dân về tính hợp pháp của gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam;
• Khảo sát sự hiểu biết/nhận thức của người dân/cộng đồng về tính hợp pháp của gỗ và sản phẩm gỗ;
• Phân tích việc thực thi lâm luật và ảnh hưởng của nó đến quyền lợi và nghĩa vụ của người dân/cộng đồng;
• Tổng hợp các nguyện vọng/đề xuất của người dân liên quan đến việc đảm bảo tính hợp pháp của gỗ và sản phẩm gỗ gắn kết với cải thiện sinh kế
3 Phương pháp và tiến trình tham vấn
3.1 Phương pháp:
- Thảo luận nhóm cộng đồng có sự tham gia
- Quan sát thực địa kết hợp phỏng vấn sâu 1 số đối tượng
- Nghiên cứu các tài liệu thứ cấp
3.2 Tiến trình tham vấn
3.2.1 Xây dựng và thống nhất kế hoạch với các bên liên quan (SRD, PanNature, Viet 3.2.2 Gặp gỡ tham vấn lãnh đạo UBND huyện Văn Chấn để xác định địa điểm (xã), xin
phép
3.2.3 Làm việc với UBND xã Thượng Bằng La thống nhất kế hoạch, tiến hành chọn đối
tượng, địa điểm, cử cán bộ địa phương phối hợp dẫn đường Đảm bảo yêu cầu:
- Tham vấn trên 3 thôn được chọn: Thôn Đá Đỏ, thôn Mỏ và thôn Bắc
- Mỗi thôn 5 nhóm
- Mỗi nhóm từ 7-10 người
- Thành phần các nhóm:
• Nhóm 1A: Các cộng đồng (nhóm, tổ) được giao, cho thuê rừng tự nhiên (Nhóm
chủ rừng),
• Nhóm 1B: Các cộng đồng (nhóm, tổ) nhận khoán quản lý bảo vệ rừng hoặc tham
gia đồng quản lý rừng và tổ bảo vệ (bên nhận khoán)
• Nhóm 1C: Các cộng đồng sống gần rừng, ven rừng và phụ thuộc vào rừng nhưng
không thuộc 2 nhóm trên (nhóm người thường xuyên kiếm củi, lấy măng,
vận chuyển gỗ thuê và buôn bán gỗ)
Cả 3 Nhóm trên liên quan đến các hoạt động Rừng tự nhiên phòng hộ
• Nhóm 2A: Các hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao, cho thuê đất trồng rừng
(Chủ rừng)
Trang 6• Nhóm 2B: Các hộ gia đình, cá nhân nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng trồng hoặc
tham gia đồng quản lý rừng trồng (bên nhận khoán)
2 Nhóm trên liên quan đến rừng trồng
Tổng số cuộc tham vấn: 15
Họp 3 thôn: 3cuộc
3.3 Thực hiện tham vấn cộng đồng với 15 nhóm đối tượng và 3 thôn đã chọn
3.4 Tổng hợp thông tin, viết báo cáo
4 Nội dung tham vấn cộng đồng
4.1 Các quy định về khai thác gỗ hợp pháp trong nước (Nguyên tắc 1 của Dự thảo 5)
4.1.1 Hồ sơ khai thác gỗ hợp pháp của chủ rừng là Hộ gia đình, Cá nhân và Cộng đồng
• Khai thác chính ở rừng tự nhiên
• Khai thác tận dụng, tận thu gỗ ở rừng tự nhiên
• Khai thác gỗ ở rừng trồng tập trung bằng vốn do chủ rừng tự đầu tư
4.1.2 Hồ sơ khai thác gỗ hợp pháp của Hộ gia đình, Cá nhân và Cộng đồng nhận khoán quản lý bảo vệ rừng hoặc tham gia đồng quản lý rừng với các chủ rừng nhà nước
• Khai thác chính ở rừng tự nhiên
• Khai thác tận dụng, tận thu gỗ ở rừng tự nhiên
• Khai thác gỗ từ rừng trồng tập trung bằng vốn do chủ rừng tự đầu tư
4.1.3 Quy trình khai thác gỗ hợp pháp (Các hồ sơ xác minh khai thác đúng phạm vi ranh
giới, diện tích, chủng loại, khối lượng theo giấy phép được cấp hoặc bản đăng ký khai thác)
• Gỗ rừng tự nhiên
• Gỗ rừng trồng
4.2 Các quy định về vận chuyển gỗ hợp pháp (Nguyên tắc 3 của Dự thảo 5)
Hộ gia đình, Cá nhân và Cộng đồng vận chuyển gỗ khai thác trong nước trong các trường hợp sau:
• Gỗ mua
• Gỗ đem bán
4.3 An toàn về môi trường (bổ sung)
4.3.1 Đảm bảo việc bảo tồn tài nguyên rừng ở những khu rừng được phép khai thác gỗ 4.3.2 Những đóng góp trong việc đảm bảo môi trường sống của các cộng đồng dân cư
• Khu vực khai thác gỗ
• Tuyến đường vận chuyển gỗ
4.4 An toàn về xã hội (bổ sung)
Trang 74.4.1 Sự tham gia đầy đủ và có hiệu quả của cộng đồng trong quá trình lập kế hoạch khai thác, thiết kế khai thác và khai thác gỗ
• Kế hoạch khai thác gỗ đạt được sự đồng thuận của cộng đồng sống ven khu rừng được phép khai thác
• Người dân/Cộng đồng sống ven rừng tham gia thiết kế và giám sát quá trình khai thác
ở những khu rừng đó
4.4.2 Cơ chế chia sẻ lợi ích
• Sự hưởng lợi của người dân/cộng đồng sống ven khu rừng được khai thác gỗ
• Tính minh bạch trong việc hưởng lợi từ khai thác và vận chuyển gỗ
5 Chọn mẫu và xác định lộ trình thực hiện
5.1 Mẫu tham vấn
Căn cứ vào cách tiến hành đã được thống nhất trong Ban điều hành mạng lưới
VNGO-FLEGT, nhóm tham vấn của Carten tại Yên Bái đã chọn xã Thượng Bằng La
là một khu vực tiến hành tham vấn thỏa mãn các tiêu chí:
• Khu vực có rừng tự nhiên phòng hộ, rừng tự nhiên sản xuất, rừng trồng với diện tích khá lớn
• Có đủ các đối tượng: Chủ rừng, nhóm nhận khoán, cá nhân, cộng đồng, tập thể đang thực hiện quản lý, khai thác, và những người không có rừng nhưng có các sinh kế dựa vào rừng
Mang tính đại diện cho khu vực tỉnh/huyện, có các chỉ số bình quân so với toàn tỉnh: Diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng, số hộ, cá nhân, cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ khai thác Tại xã Thượng Bằng La, khi đưa ra các tiêu chí lựa chọn địa điểm thôn tham vấn, địa phương thống nhất chọn thôn Bắc, thôn Mỏ và thôn Đá Đỏ; về đặc điểm địa hình cả 3 thôn này đều nằm trên các trục đường giao thông liên tỉnh và liên huyện Thôn Đá đỏ nằm sát chân đèo Lũng Lô, gần với khu rừng phòng hộ giáp địa phận Sơn La nhất, thôn Mỏ nằm phía dưới gần khu vực rừng trồng, xa rừng phòng hộ và rừng tự nhiên sản xuất còn thôn Bắc tiếp giáp với khu trung tâm của xã, cả 3 thôn có đủ các loại rừng và các hoạt động lâm nghiệp trên địa bàn đảm bảo tính đại diện cho các thôn trong xã Thượng Bằng La
Trong cả 3 thôn đều có các thành phần chủ rừng quản lý bảo vệ, chủ rừng trồng, bên nhận khoán, mua bán và vận chuyển gỗ và cả các thành phần không có rừng nhưng sống phụ thuộc vào rừng Vì vậy, ở mỗi thôn đều có 5 nhóm tham vấn với 5 nội dung như đã dự định
Tổng hợp số mẫu tham vấn
TT Đặc điểm mẫu tham vấn
Số nhóm/
cuộc họp
Số người tham gia Địa điểm
1 Nhóm 1A: các cộng đồng ( nhóm, tổ) được
giao, cho thuê rừng tự nhiên - Chủ rừng 3 Để sau
3 thôn (Đá Đỏ, Bắc, Mỏ)
Trang 82 Nhóm 1B: các cộng đồng ( nhóm, tổ) nhận
khoán quản lý, bảo vệ rừng, hoặc tham gia
đồng quản lý bảo vệ rừng và tổ bảo vệ -
Bên nhận khoán
3 21
3 thôn (Đá Đỏ, Bắc, Mỏ)
3 Nhóm 1C: Các cộng đồng sống gần rừng,
ven rừng và phụ thuộc vào rừng nhưng
không thuộc 2 nhóm trên (nhóm người
thường xuyên kiếm củi, lấy măng, vận
chuyển gỗ thuê và buôn bán gỗ)
3 23
3 thôn (Đá Đỏ, Bắc, Mỏ)
4 Nhóm 2A: Các hộ gia đình, cá nhân được
nhà nước giao, cho thuê đất trồng rừng
(Chủ rừng)
3 20
3 thôn (Đá Đỏ, Bắc, Mỏ)
5 Nhóm 2B: Các hộ gia đình, cá nhân nhận
khoán quản lý, bảo vệ rừng trồng hoặc
tham gia đồng quản lý rừng trồng (bên
nhận khoán)
3 23
3 thôn (Đá Đỏ, Bắc, Mỏ)
6 Hộ gia đình tham gia thu mua, chế biến
Thôn Đá Đỏ, thôn Mỏ
`
Trong tổng số người tham gia tham vấn có:
- Người dân tộc thiểu số: 122/151=80,7%
- Nữ giới: 56/151 = 27,1%
- Hộ nghèo: 43/151 = 28,4%
5.2 Lộ trình thực hiện
Quá trình tham vấn chúng tôi tiến hành theo chuỗi hành trình của sản phẩm gỗ để tìm hiểu đầy đủ các đối tượng liên quan có ý kiến, quan điểm, đề xuất và chịu những tác động khi Việt Nam áp dụng định nghĩa gỗ hợp pháp
Cá nhân, tổ chức,
cộng đồng trồng
rừng, tham gia
quản lý, bảo vệ
khai thác
Người thu gom, buôn bán, vận chuyển, hái măng…
Xưởng mộc tại địa phương
Trang 96 Kết quả tham vấn
6.1 Các quy định về khai thác gỗ hợp pháp trong nước
Nội dung này được tham vấn tại 9 nhóm cộng đồng (1A, 1B, 2A) của 3 thôn (Bắc,
Mỏ, Đá Đỏ) với sự tham gia của 52 người là trưởng, phó thôn, đại diện các đoàn thể, cộng đồng dân cư trong đó tỷ lệ hộ nghèo là 30 % và phụ nữ là 45 %, đảm bảo tính đại diện của các thành phần dân cư trong thôn, xã (có danh sách ở Phụ lục 1) Cũng phải nói thêm rằng: Trong số chủ rừng tham gia họp nhóm có nhiều người thuộc cả 3 loại chủ rừng (gia đình họ nằm trong nhóm nhận rừng tự nhiên phòng hộ, thuộc cả nhóm nhận rừng tự nhiên sản xuất, lại có được giao đất trồng rừng sản xuất kinh doanh) vì thế việc thảo luận của họ có thể ở nhiều vai khác nhau, khi họ đang ở nhóm 1A nhưng nếu hỏi thông tin của nhóm 1B họ cũng
có thể cung cấp thêm
+ Tình hình quản lý rừng tự nhiên ở địa phương hiện nay:
Rừng tự nhiên phòng hộ trước đây do Lâm trường Ngòi Lao quản lý, từ năm 1995 địa phương giao cho các nhóm hộ trong thôn (gọi là nhóm 327) quản lý bảo vệ Khi giao rừng chỉ còn 1 số ít cây gỗ, còn lại do Lâm trường đã khai thác trước đây Số cây gỗ quý như Lim, Lát, Trai, Nghiến còn rất ít, kích thước nhỏ nhưng cũng không được bàn giao về số lượng cụ thể Rừng tự nhiên phòng hộ không được khai thác gỗ và các lâm sản khác Đến nay việc giao đất rừng tự nhiên đã được chính thức hóa hợp đồng giữa các nhóm cộng đồng (nhóm 327) với Hạt Kiểm lâm (được UBND huyện ủy quyền), thù lao bảo vệ được Kiểm lâm chi trả mức 90 000 đ/năm Toàn xã Thượng Bằng La có 17 nhóm 327 trên 17 thôn (hiện nay đã tách thành 20 thôn nhưng số nhóm rừng 327 vẫn giữ nguyên)
Ở xã Thượng Bằng La, mỗi thôn đều có 2 nhóm cộng đồng theo hình thức “Nhóm cộng đồng thôn”: Một nhóm quản lý bảo vệ rừng tự nhiên phòng hộ và một nhóm quản lý bảo
vệ rừng tự nhiên sản xuất, còn đất rừng trồng sản xuất kinh doanh được giao cho từng hộ gia đình tùy theo điều kiện, khả năng của hộ từ những năm 1999 Như vậy, riêng 2 loại nhóm cộng đồng nhận rừng tự nhiên phòng hộ và rừng tự nhiên sản xuất sẽ có nhiều trường hợp 1
hộ tham gia cả 2 nhóm Quá trình hình thành nhóm cộng đồng ở đây là quá trình tự nguyện chứ không chọn lọc và bắt buộc, tuy nhiên đến nay khi đã ổn định hoạt động, các hộ không tham gia nhóm từ đầu thì không có cơ hội tham gia sau nữa và cũng đồng nghĩa với không có rừng
Đối với rừng tự nhiên sản xuất được các Nhóm hộ nhận quản lý bảo vệ, trong cam kết
có được hưởng lợi từ rừng nhưng đa số chưa có sản phẩm cho người dân hưởng lợi Trước đây theo quy định cũ, hàng năm được hưởng từ 50 000-100 000 đ/ha, hiện nay không có tiền nữa Có 1 số nhóm hộ đã được hưởng lợi từ sản phẩm măng tre Bát độ do trồng xen, trồng bù vào khu vực đất trống, sản lượng măng hàng năm đến gần trăm tấn, giá trung bình 4 500 đ/kg (đất này đã được cấp sổ đỏ một phần, thời gian tới đang triển khai cấp tiếp cho các nhóm cộng đồng)
Trang 10Quyết định giao đất rừng tự nhiên sản xuất cho Nhóm cộng đồng tại Văn Chấn
Quyết định số: 375/QĐ-UBND ngày 28/12/2011 của UBND huyện Văn Chấn về việc cấp sổ đỏ (Quyền sử dụng) đất rừng tự nhiên sản xuất cho các nhóm cộng đồng thôn
Căn cứ vào:
‐ Nghị định 181/2004-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ
‐ Nghị định 23/2006-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ
‐ Thông tư 38/2007-BNN&PTNT ngày 25/4/2007 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
‐ Thông tư 07/2011-Bộ NN&PTNT và Bộ TN&MT
Tại xã Thượng Bằng La, UBND huyện đã giao: 1 772,25 ha đất rừng TN sản xuất cho 1084 hộ thuộc 17 nhóm cộng đồng thôn Nội dung quyết định quy định rõ trách nhiệm và quyền hưởng lợi từ rừng TN sản xuất của các nhóm chủ rừng: Được khai thác tỉa thưa các loại lâm sản theo các văn bản quy định thủ tục khai thác, được trồng bổ sung các loại cây vào các khoảng rừng còn trống trên cơ sở thiết kế của ngành tại địa phương và được khai thác củi cùng với các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ khác một cách hợp lý
Nhận thức của người dân về tính hợp pháp của gỗ và Lâm luật:
- Có 14 ý kiến nắm được các quy định pháp lý cần có khi khai thác gỗ rừng trồng/52 người tham dự tại 6 nhóm tham vấn (27%), chủ yếu là người tham gia công tác địa phương từ cấp trưởng, phó thôn, chi hội các đoàn thể thường xuyên được họp hành và nghe phổ biến về văn bản pháp luật và đặc biệt là có 1 người tham gia mua bán, vận chuyển gỗ (thương lái) nắm rất chắc, trong đó thôn Đá Đỏ có số người nắm được các quy định nhiều hơn (6 người) còn lại mỗi thôn có 4 người Số người còn lại của 6 nhóm tham vấn (38 người chiếm 73%) không nắm được hoàn toàn hoặc biết là phải
có giấy phép nhưng không biết những loại gì, xin ở đâu
Những quy định khi khai thác gỗ rừng trồng đối với hộ gia đình hoặc nhóm hộ tại địa phương theo cung cấp của những người có hiểu biết, đã tham gia mua/bán gỗ gồm:
• Có đơn xin khai thác nêu rõ diện tích, loại cây, tuổi cây gửi UBND xã
• Bản coppy sổ đỏ rừng để chứng minh diện tích và vị trí khai thác gửi UBND xã
• UBND xã chứng nhận vào đơn sau khi đã cử cán bộ kiểm lâm thẩm định khu vực khai thác và xác định khối lượng gỗ được khai thác
Nếu có cây chết trong rừng tự nhiên phòng hộ cần khai thác tận thu và rừng tự nhiên sản xuất phải có đầy đủ các thủ tục:
- Quyết định khai thác của UBND xã, huyện (Giấy phép khai thác)
- Hồ sơ khai thác rừng tự nhiên (bản đăng ký khai thác, bản thiết kế hoặc dự án lâm sinh, bảng dự kiến sản phẩm khai thác, bản xác nhận của kiểm lâm địa bàn hoặc cán bộ lâm nghiệp xã)
- Hồ sơ tận thu gỗ rừng tự nhiên (tờ trình xin khai thác, bản dự kiến sản phẩm, sơ
đồ khu khai thác, phiếu bài cây)