Khái niệm về tài chính doanh nghiệp: Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền t
Trang 1CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp:
1.1.1 Khái niệm về tài chính doanh nghiệp:
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân phối các
nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu nhất định [1,tr.137]
Hoặc cũng có thể hiểu: Tài chính doanh nghiệp là tổng thể các quan hệ giá trị
giữa doanh nghiệp và các chủ thể trong nền kinh tế phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp [2, tr.8]
1.1.2 Bản chất tài chính doanh nghiệp:
Tài chính doanh nghiệp là những mối quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối, sử dụng và quản lí vốn trong quá trình kinh doanh Một doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì trước hết phải có nguồn vốn để tài trợ cho hoạt động đầu tư ban đầu: để xây dựng, mua sắm các tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu, trả lương, khen thưởng, cải tiến kỹ thuật… Sau khi có nguồn vốn thiết yếu, ban đầu doanh nghiệp tiến hành mua sắm tài sản, trang thiết bị, đầu tư
cơ sở hạ tầng… Việc chi dùng thường xuyên vốn tiền tệ đòi hỏi phải có các khoản thu
để bù đắp tạo nên quá trình luân chuyển vốn Như vậy trong quá trình luân chuyển vốn tiền tệ đó doanh nghiệp phát sinh các mối quan hệ kinh tế Những quan hệ kinh tế đó bao gồm:
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước
Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước hoặc khi nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp Tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước (nộp thuế cho ngân sách nhà nước) Ngân sách nhà nước cấp vốn cho doanh nghiệp nhà nước và có thể cấp vốn với công ty liên doanh hoặc cổ phần (mua cổ phiếu) hoặc cho vay (mua trái phiếu) tuỳ theo mục đích yêu cầu quản lý đối với ngành kinh tế mà quyết định tỷ lệ góp vốn, cho vay nhiều hay ít
- Quan hệ doanh nghiệp thị trường tài chính
Quan hệ này biểu hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ
và hoạt động đầu tư nhằm sinh lời Thị trường tài chính là diễn ra các hoạt động mua bán quyền sử dụng các khoản vốn (ngắn hoặc dài hạn) thông qua các công cụ tài chính nhất định
Trang 2Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn Kèm theo đó là phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các nhà tài trợ
Ngược lại, doanh nghiệp cũng có cách thức khác để tham gia thị trường tài chính bằng cách gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán bằng số tiền tạm thời chưa sử dụng để sinh lời Trong ngắn hạn thì có thể đầu tư: tiền gửi ngân hàng tín phiếu kho bạc, thương phiếu,… hoặc nếu muốn đầu tư dài hạn thì có thể đầu tư: trái phiếu cổ phiếu để hưởng lãi, cổ tức, trái tức, thặng dư vốn,…
- Quan hệ doanh nghiệp với các thị trường khác
Trong nền kinh tế doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường lao động,… Đây là những thị trường
mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động Trước hết doanh nghiệp xác định nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ mà mình cần Sau đó doanh nghiệp sẽ hoạch định ngân sách đầu tư kế hoạch sản xuất tiếp thị nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trường
- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp
Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, giữa
cổ đông và người quản lí, quyền sử dụng vốn và sở hữu vốn Thể hiện thông qua chính sách như: chính sách cổ tức, phân phối thu nhập, chính sách đầu tư, kế hoạch sản xuất,
cơ cấu vốn, chi phí,…
Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các phòng ban, phân xưởng và tổ đội sản xuất trong việc nhận và thanh toán tạm ứng, thanh toán tài sản
Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với cán bộ công nhân viên trong quá trình phân phối thu nhập cho người lao động dưới hình thức tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt và lãi cổ phần
1.1.3 Vai trò tài chính doanh nghiệp
Quản lí tài chính là huyết mạch của mỗi doanh nghiệp, nó quyết định khả năng tự chủ, sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong kinh doanh Đặc biệt, với xu thế hội nhập và đổi mới không ngừng nghỉ, thêm vào đó là việc cạnh tranh khốc liệt giữa các đối thủ trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu thì việc quản lí tài chính lại càng quan trọng Doanh nghiệp luôn luôn phải giữ được một mức độ tài chính tương xứng để không những vận hành hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục, mà còn
có thể thận trọng đạt được mục đích của mình
Trong hoạt động kinh doanh hiện nay, quản trị tài chính doanh nghiệp giữ những vai trò chủ yếu sau:
Trang 3Xác định và tổ chức các nguồn vốn nhằm bảo đảm nhu cầu sử dụng vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Để thực hiện sản xuất kinh doanh trong điều kiện của cơ chế thị trường có hiệu quả đòi hỏi các doanh nghiệp phải có vốn và có phương án tạo lập, huy động vốn cụ thể Quản lí tài chính giúp xác định nhu cầu về tài chính và định hướng được kế hoạch tài chính cho mục đích của doanh nghiệp Kế hoạch tài chính không những giúp doanh nghiệp thấy rõ mục tiêu của mình và sử dụng các phương pháp để đạt được mục tiêu
ấy, mà còn giúp doanh nghiệp lường trước những rủi ro trong tương lai của môi trường bên trong và bên ngoài
- Phải xác định nhu cầu vốn (vốn cố định và vốn lưu động) cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh
- Phải xem xét khả năng đáp ứng nhu cầu vốn và các giải pháp huy động vốn: Nếu nhu cầu lớn hơn khả năng (tức là vốn chủ sở hữu không đủ để tài trợ) thì doanh nghiệp phải huy động thêm vốn, tìm kiếm mọi nguồn tài trợ với chi phí sử dụng vốn thấp nhưng vẫn bảo đảm có hiệu quả Quản lí tài chính cũng bao gồm việc chiếm dụng vốn để nhằm tận dụng và gia tăng hoạt động sản xuất kinh doanh Hơn thế nữa, việc chiếm dụng vốn cũng giúp doanh nghiệp tránh được các chi phí lãi vay Còn nếu như chiếm dụng vốn vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải huy động các nguồn tài trợ như vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng,…
Nếu khả năng lớn hơn nhu cầu thì doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường hoặc có thể tham gia vào thị trường tài chính như đầu tư chứng khoán, cho thuê tài sản, góp vốn liên doanh, để đầu cơ và tìm kiếm lợi nhuận
- Phải lựa chọn nguồn vốn và phương thức thanh toán các nguồn vốn sao cho chi phí doanh nghiệp phải trả là thấp nhất trong khoảng thời gian hợp lý
Việc vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh ngày nay có rất nhiều phương thức, với mỗi phương thức lại có những thế mạnh và hạn chế Vì vậy doanh nghiệp phải cân nhắc xem nguồn vốn nào có phương thức phù hợp với khả năng trả nợ của mình và chi phí cho việc trả nợ là tối ưu nhất
Chức năng phân phối thu nhập của doanh nghiệp:
Chức năng phân phối biểu hiện ở việc phân phối thu nhập của doanh nghiệp từ doanh thu bán hàng và thu nhập từ các hoạt động khác Nhìn chung, các doanh nghiệp phân phối như sau:
Bù đắp các yếu tố đầu vào đã tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh như chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí vật tư, chi phí cho lao động và các chi phí khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (nếu có lãi)
Trang 4Phần lợi nhuận còn lại sẽ phân phối như sau:
- Bù đắp các chi phí không được trừ
- Chia lãi cho đối tác góp vốn, chi trả cổ tức cho các cổ đông
- Phân phối lợi nhuận sau thuế vào các quỹ của doanh nghiệp
Việc tạo lập các quỹ trong doanh nghiệp thường xuất phát từ việc trích lợi nhuận sau thuế hàng năm Mục đích của việc trích lập các quỹ là để tạo điều kiện cho doanh nghiệp quản lí khả năng tài chính của mình: chủ động mở rộng sản xuất kinh doanh, cải thiện điều kiện làm việc, dự phòng những rủi ro, tổn thất trong tương lai Việc sử dụng và phân bổ ngân sách hợp lí các quỹ dẫn đến cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Khi người quản lí tài chính sử dụng các quỹ hợp lí, họ có thể giảm chi phí vốn và làm tăng giá trị của công ty
Chức năng giám đốc đối với hoạt động sản xuất kinh doanh
Giám đốc tài chính là việc thực hiện kiểm tra, kiểm soát quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Việc thực hiện chức năng này thông qua các chỉ tiêu tài chính để kiểm soát tình hình đảm bảo vốn cho sản xuất - kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn cho sản xuất - kinh doanh Cụ thể qua tỷ trọng, cơ cấu nguồn huy động, việc sử dụng nguồn vốn huy động, việc tính toán các yếu tố chi phí vào giá thành và chi phí lưu thông, việc thanh toán các khoản công nợ với ngân sách, với người bán, với tín dụng ngân hàng, với công nhân viên và kiểm tra việc chấp hành kỷ luật tài chính, kỷ luật thanh toán, kỷ luật tín dụng của doanh nghiệp Trên cơ sở đó giúp cho chủ thể quản lý phát hiện những khâu mất cân đối, những sơ hở trong công tác điều hành, quản lý kinh doanh để có quyết định ngăn chặn kịp thời các khả năng tổn thất có thể xảy ra, nhằm duy trì và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đặc điểm của chức năng giám đốc tài chính là toàn diện và thường xuyên trong quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua tình hình tài chính và việc thực hiện các chỉ tiêu tài chính, nhà quản lí doanh nghiệp có thể đánh giá khái quát và kiểm soát được các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện được kịp thời những tồn tại, vướng mắc trong kinh doanh, từ đó có thể đưa ra các quyết định điều chỉnh phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh
1.2 Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là sử dụng một tập hợp các khái niệm,
phương pháp và công cụ để thu thập và xử lí các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lí doanh nghiệp, nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lí phù hợp [2, tr.66]
Trang 5Phân tích tài chính doanh nghiệp có thể hiểu cách khác là công việc xem xét, đánh giá chất lượng quản lý doanh nghiệp của nhà quản trị thông qua việc sử dụng các phương pháp phân tích số liệu từ báo cáo tài chính hàng năm của doanh nghiệp Thông qua đó, người sử dụng thông tin có thể biết được những thế mạnh hay tồn tại của doanh nghiệp, giải thích được nguyên nhân dẫn tới những thực trạng ấy và từ đó có những định hướng để nâng cao chất lượng quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai
1.2.2 Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp
Mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp đều như những mắt xích có tác động ảnh hưởng qua lại với nhau Bởi vậy, chỉ có thể phân tích tình hình tài chính tổng thể mới đánh giá đầy đủ và sâu sắc những hoạt động ấy của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp đều có rất nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của mình như: các nhà đầu tư, nhà cho vay, nhà cung cấp,… Với mỗi đối tượng này họ lại quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên những góc độ khác nhau Song nhìn chung, khả năng tạo ra dòng tiền mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức lợi nhuận tối đa là mối quan tâm hàng đầu của họ
- Đối với nhà quản trị doanh nghiệp
Đứng ở góc độ quản lí doanh nghiệp thì nhà quản trị luôn phải đưa ra nhiều quyết định mang tính chiến lược Tùy thuộc vào lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp và nhiệm vụ của nhà quản trị mà họ sẽ quan tâm đến kết quả phân tích tài chính doanh nghiệp khác nhau Các hoạt động nghiên cứu tài chính trong doanh nghiệp được gọi là phân tích tài chính nội bộ Khác với phân tích tài chính bên ngoài do nhà phân tích ngoài doanh nghiệp tiến hành Do đó, các nhà phân tích tài chính trong doanh nghiệp
có nhiều lợi thế để có thể phân tích tài chính tốt nhất vì có thể sở hữu thông tin đầy đủ
và am hiểu về doanh nghiệp Phân tích báo cáo tài chính sẽ giúp nhà quản trị:
Định lượng được kết quả sản xuất kinh doanh mang tính chu kì và có thể dễ dàng so sánh các chỉ số tài chính qua các năm
Là cơ sở cho các kế hoạch dự báo tài chính trong ngắn, trung và dài hạn
Là công cụ để kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh sản xuất
Định hướng cho quyết định của Ban giám đốc sao cho phù hợp với tình hình thực tế như quyết định đầu tư, phân phối lợi nhuận hàng năm, quản lí chi phí,…
Như vậy, các nhà quản trị doanh nghiệp cần có đủ thông tin nhằm thực hiện cân bằng tài chính, đánh giá tình hình tài chính đã qua để tiến hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ, rủi ro tài chính của doanh nghiệp Bên cạnh
đó định hướng các quyết định của ban giám đốc tài chính, quyết định đầu tư, tài trợ, phân tích lợi tức cổ phần
Trang 6- Đối với các nhà đầu tư:
Mối quan tâm của họ chủ yếu vào khả năng hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn và sự rủi ro Vì thế mà họ cần thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh và các tiềm năng của doanh nghiệp Các nhà đầu tư còn quan tâm đến việc điều hành hoạt động công tác quản lí Những điều đó tạo ra sự
an toàn và hiệu quả cho các nhà đầu tư
Đặc biệt với các công ty cổ phần, các cổ đông chính là chủ sở hữu của doanh nghiệp Họ luôn đưa ra những cân nhắc để tối đa hóa lợi nhuận đạt được đồng thời tối thiểu hóa mức rủi ro mình phải gánh chịu Chính vì vậy mối quan tầm hàng đầu của các cổđông chính là khả năng tăng trưởng, khả năng tối đa hóa lợi nhuận và giá trị sở hữu Và việc phân tích tình hình tài chính hàng năm sẽ giúp họ đánh giá được khả năng sinh lời và triển vọng trong tương lai, từ đó sẽ đưa ra được quyết định đầu tư cho phù hợp tương ứng với kì vọng
- Đối với các nhà cho vay:
Mối quan tâm của họ hướng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp Qua việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, họ đặc biệt chú ý tới số lượng tiền và các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền nhanh để từ đó có thể so sánh được và biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp
Bên cho vay luôn muốn chắc chắn khoản cho vay của mình sẽ được thanh toán
và trong trường hợp doanh nghiệp đó gặp rủi ro thì phải có lượng VCSH bảo đảm cho khoản vay đó Đồng thời ta cũng quan tâm đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp vì
đó chính là cơ sở của việc hoàn trả vốn và lãi vay
- Đối với cơ quan Nhà nước:
Đối với cơ quan quản lí Nhà nước, qua việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp sẽ áp dụng các chính sách quản lí vĩ mô, để điều tiết nền kinh tế hợp lí theo từng thời kì và loại hình doanh nghiệp Hơn thế nữa, Ngân sách Nhà nước được hình thành trên cơ sở các khoản thuế, phí, lệ phí theo quy định doanh nghiệp phải nộp
- Đối với người lao động trong doanh nghiệp
Bên cạnh các chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư và các chủ nợ, người lao động cũng
có nhu cầu quan tâm đến thông tin cơ bản về tình hình tài chính doanh nghiệp vì nó liên quan trực tiếp đến quyền lợi và trách nhiệm của họ Mối quan tâm của người lao động chính là tiền lương vì đây là khoản thu nhập chính, chiếm tỉ trọng lớn nhất của
họ ngoài thưởng và các trợ cấp khác Mà nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới lương chính
là tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai
Trang 71.2.3 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu, đưa ra sự thay đổi của các chỉ tiêu tài chính; từ đó rút ra các kết luận, đánh giá tổng quan về tình hình tài chính của doanh nghiệp Có rất nhiều phương pháp để phân tích tình hình tài chính trong doanh nghiệp, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu khóa luận và khả năng của bản thân em xin được trình bày một số phương pháp phổ biến và đơn giản để thực hiện sau:
- Phương pháp so sánh
So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích tài chính Đây là phương pháp nhằm nghiên cứu sự biến đối và xác định sự biến động của việc phân tích các chỉ tiêu tài chính Vì vậy để tiến hành so sánh phải giải quyết những vấn đề cơ bản, cần phải đảm bảo các điều kiện đồng bộ để có thể so sánh được các chỉ tiêu tài chính Như sự thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán Đồng thời theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh
So sánh giữa số thực hiện kì này với số thực hiện kì trước Khi nghiên cứu nhịp
độ biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu số gốc để so sánh là trị số của chỉ tiêu kỳ trước (nghĩa là năm nay so với năm trước)
So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của doanh nghiệp Khi đã nhận thấy thấy rõ xu hướng biến đổi về tài chính của doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính được cải thiện hay xấu đi thì đưa ra biện pháp khắc phục trong kì tới
So sánh giữa số thực hiện kì này với mức trung bình của ngành để thấy tình hình tài chính doanh nghiệp đang ở trong tình trạng tốt hay xấu, được hay chưa được
so với doanh nghiệp cùng ngành
So sánh theo “chiều dọc” để thấy được tỉ trọng của từng tổng số ở mỗi bản báo cáo và qua đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các loại các mục, tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh
So sánh theo “chiều ngang” để thấy được sự biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp nhau
So sánh bằng số tuyệt đối: là hiệu số giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc
của các chỉ tiêu kinh tế, kết quả so sánh biểu hiện khối lượng quy mô tăng giảm của các hiện tượng kinh tế
∆X = X1− X0
So sánh bằng số tương đối: là thương số giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ
gốc của các chỉ tiêu kinh tế, kết quả so sánh biểu hiện kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức phổ biến của các hiện tượng kinh tế
Trang 8X0 x 100%
Trong đó: X1 là giá trị của kì n ∆X là chênh lệch giữa 2 kì
X0 là giá trị của kì n-1
Khi sử dụng phương pháp so sánh phải tuân thủ các điều kiện sau:
Điều kiện một: Phải xác định rõ “gốc so sánh” và “kì phân tích” Kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo, kỳ kế hoạch
Điều kiện hai: Các chỉ tiêu so sánh (hoặc các trị số của chỉ tiêu so sánh) phải đảm bảo tính chất có thể so sánh được với nhau Muốn vậy, chúng phải thống nhất với nhau
về nội dung kinh tế, về phương pháp tính toán, đơn vị đo lường, thời gian tính toán Gốc so sánh được chọn là gốc về thời gian hoặc không gian
Ưu điểm: Phương pháp so sánh sử dụng các dữ liệu đã có sẵn của bản thân doanh
nghiệp và không mất công tính toán quá phức tạp Qua các phép tính toán biến đổi đơn giản có thể cho ra kết quả chính xác với mong muốn và thấy rõ được định lượng của
sự biến động Hơn thế nữa, ta có thể dễ dàng, nhanh chóng thấy được ý nghĩa mà các con số đem lại, đặc biệt với những người có ít kiến thức chuyên môn trong phân tích tài chính doanh nghiệp cũng dễ dàng hiểu được
Nhược điểm: Phương pháp này yêu cầu các số liệu phải thống nhất về nội dung,
thời gian và tính chất Đây là điều khá khó khi phân tích vì giá trị của tiền có giá trị thực thay đổi qua các năm Vậy nên phương pháp này mặc định là các điều kiện không thay đổi Thêm vào đó, nếu ta chỉ dùng phương pháp so sánh các chỉ số tài chính thì sẽ khó khăn trong việc tìm ra nguyên nhân của các biến động
- Phương pháp tỉ lệ
Phương pháp này dựa trên các ý nghĩa chuẩn mực các tỉ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầu phải xác định được các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên
cơ sở so sánh các tỉ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỉ lệ tham chiếu
Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn Mỗi một công ty hoạt động sản xuất trong các ngành nghề khác nhau lại có các chỉ số tài chính khác nhau, thậm chí cũng công ty đó nhưng ở các thời điểm khác nhau thì lại có những hệ số tài chính không giống nhau
Do vậy, người ta coi các chỉ số tài chính là biểu hiện đặc trưng:
Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán: phản ánh khả năng trả nợ của doanh nghiệp
Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lý tài sản: phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực tồn tại trong doanh nghiệp
Trang 9 Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động: phản ánh trình dộ sử dụng các nguồn vốn
để đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất
Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời: cho biết mức độ sử dụng có hiệu quả của các yếu tố đầu vào tương xứng như thế nào với tình hình sản xuất kinh doanh
Ưu điểm:
Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn là cơ
sở để hình thành những tham chiếu tin cậy
Đánh giá được công năng, hiệu quả hoạt động của các tài sản, nguồn vốn trong doanh nghiệp
Phương pháp này giúp nhà phân tích khai thác số liệu có hiệu quả và phân tích
hệ thống hàng loạt tỉ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn
Nhược điểm:
Những báo cáo tài chính bị sai lệch, thiếu chính xác sẽ khó để phát hiện
Các số liệu tính toán riêng lẻ là không có ý nghĩa
Khó kết luận được về tình hình tài chính tốt hay không
Với những doanh nghiệp hoạt động nhiều lĩnh vực, ngành nghề thì rất khó có thể hoạch định một cách chính xác và khả thi
- Phương pháp DUPONT
DUPONT chỉ ra được mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ số hoạt động trên phương diện chi phí và các chỉ số hiệu quả sử dụng vốn Dupont đã khái quát hoá và trình bày chỉ số ROA, ROE một cách rõ ràng, nó giúp cho các nhà quản trị tài chính có một bức tranh tổng hợp để có thể đưa ra các quyết định tài chính hữu hiệu
Thông qua việc sử dụng phương pháp phân tích DUPONT để phân tích từ trên xuống, ta có thể tìm hiểu được tình trạng chung của tài chính doanh nghiệp, cùng các quan hệ cơ cấu giữa các chỉ tiêu đánh giá tài chính, làm rõ các nhân tố ảnh hưởng làm biến động tăng giảm của các chỉ tiêu tài chính chủ yếu, cùng các vấn đề còn tồn tại
Trang 10hơn thế nữa, phương pháp này còn giúp các nhà quản lítối ưu hoá cơ cấu kinh doanh
và tài chính, tạo cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả tài chính doanh nghiệp
- Phương pháp liên hệ cân đối
Mọi kết quả kinh doanh đều có mối liên hệ mật thiết với nhau giữa các mặt, các
bộ phận Để lượng hoá các mối liên hệ đó, ngoài các phương pháp đã nêu, trong phân tích kinh doanh còn phổ biến cách nghiên cứu liên hệ phổ biến như: liên hệ cân đối
Cụ thể là các cân đối cơ bản:
Tổng Tài sản = Tổng Nguồn vốn
Tổng Tài sản = TSNH + TSDH
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Dòng tiền thuần = Dòng tiền vào – Dòng tiền ra
Phương pháp liên hệ cân đối thường thể hiện dưới hình thức phương thức trình kinh tế hoặc bảng cân đối kinh tế Nội dung chủ yếu của bảng cân đối kinh tế gồm hai
hệ thống chỉ tiêu có quan hệ trực tiếp với nhau về mặt chỉ tiêu Khi thay đổi một thành phần hệ thống chỉ tiêu đó sẽ dẫn tới sự thay đổi một hoặc một số thành phần khác nhưng sự thay đổi đó vẫn đảm bảo sự cân bằng của bảng cân đối kế toán Khi phân tích thường dùng để kiểm tra việc ghi chép hoặc để tính toán các chỉ tiêu
1.2.4 Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp
Sơ đồ 1.1 Quá trình tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp
Nguồn: [1,tr.67]
Bước 1: Lập kế hoạch
Lập kế hoạch phân tích: trước tiên phải có một kế hoạch đầy đủ và chi tiết các công việc sẽ triển khai trong quá trình phân tích Việc này sẽ giúp quá trình phân tích được thuận lợi và nguồn thông tin thu thập có chọn lọc hơn
Bước 2: Thu thập thông tin
Xác định mục tiêu phân tích: là những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán và những thông tin quản lí khác, những thông tin về số lượng và giá trị
Xây dựng chương trình phân tích: dùng các phương pháp, cách thức phù hợp nhất với doanh nghiệp để phân tích số liệu, sử dụng nhà phân tích bên trong doanh nghiệp hay thuê ngoài của công ty kiểm toán
Lập kế hoạch Thu thập thông tin Xử lí thông tin Dự đoán và quyết định
Trang 11Bước 3: Xử lí thông tin
Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lí thông tin đã thu thập được trước đó Trong giai đoạn này, nhà phân tích sẽ sử dụng các phương pháp phù hợp và có tính chính xác cao nhất để phân tích và xử lý nguồn thông tin đã thu thập, phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra
Xử lí thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định
Bước 4: Dự đoán và quyết định
Đây là bước cuối cùng trong quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp Nhà phân tích sẽ sử dụng những kĩ năng và kinh nghiệm của mình để lý giải cho các chỉ tiêu tài chính đã được tính toán, phân tích và so sánh trước đó
Các tồn tại và thành công mà doanh nghiệp đạt được nhận xét, giải thích kĩ càng nhằm dự đoán nhu cầu và đưa ra những quyết định tài chính Đối với chủ doanh nghiệp, phân tích tài chính nhằm đưa ra những quyết định liên quan đến mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tăng trưởng, phát triển, tối đa hoá lợi nhuận hay tối đa hoá giá trị doanh nghiệp Từ đó, họ sẽ ra các quyết định chiến lược cho tương lai
1.2.5 Nội dung thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp:
Để phân tích được tài chính doanh nghiệp đầy đủ và chính xác thì nguồn thông tin, dữ liệu đóng vai trò vô cùng quan trọng Nguồn thông tin phục vụ cho việc phân tích tài chính không chỉ giới hạn trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp mà còn
là các thông tin thuộc lĩnh vực sản xuất mà doanh nghiệp đang hoạt động, tình hình kinh tế chung của xã hội,…
- Nguồn dữ liệu bên trong:
Nguồn thông tin chủ yếu dùng cho hoạt động phân tích là các báo cáo tài chính bao gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, bảng cân đối các tài khoản phát sinh trong doanh nghiệp,…
Dữ liệu của nội bộ doanh nghiệp chính là nguyên liệu chủ yếu của việc phân tích tài chính Nó giúp nhà quản trị có cái nhìn xác thực nhất và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp trong những giai đoạn nhất định
- Nguồn dữ liệu bên ngoài:
Nếu chỉ phân tích các số liệu bên trong doanh nghiệp thì tình hình tài chính sẽ không được phản ánh một cách xác thực nhất Các chỉ số phải được so sánh với các đối thủ cạnh tranh, các doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực sản xuất thì mới xác định được chính xác tình hình và vị thế của doanh nghiệp Việc phân tích thông tin bên
Trang 12ngoài doanh nghiệp bao gồm: Cơ cấu của ngành mà doanh nghiệp theo đuổi, các chỉ tiêu trung bình ngành, nhịp độ phát triển của nền kinh tế vĩ mô,
1.3 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp
- Phân tích bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tổng hợp cho biết tình hình tài chính của doanh
nghiệp tại những thời điểm nhất định Thời điểm quy định là ngày cuối cùng của kì báo cáo
Phân tích tình hình Tài sản:
Mục đích của phân tích tài sản là nhằm đánh giá tổng quát cở sở vật chất kỹ thuật, tiềm lực kinh tế của doanh nghiệp ở quá khứ, hiện tại và khả năng ở tương lai, căn cứ chủ yếu vào bảng cân đối kế toán qua nhiều kì Nếu số đầu kì > số cuối năm: phản ánh tài sản của doanh nghiệp được mở rộng, và ngược lại
Tài sản ngắn hạn (TSNH) là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lí của
doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong 1 kì kinh doanh hoặc trong 1 năm TSNH của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư, hàng hoá), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu; bao gồm: vốn bằng tiền; các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn; các khoản phải thu; hàng tồn kho và
các TSNH khác
Tài sản dài hạn (TSDH) là những tài sản của doanh nghiệp có thời gian sử dụng,
luân chuyển, thu hồi vốn với thời gian lớn hơn 1 năm hoặc lớn hơn 1 chu kì kinh doanh Bao gồm: tài sản cố định (TSCĐ) hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính, bất động sản đầu tư, đầu tư vào công ty con, đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư góp vốn liên doanh, đầu tư dài hạn khác và đầu tư xây dựng cơ bản dở dang, chi phí
trả trước dài hạn, tài sản thuế thu nhập hoãn lại
Phân tích tình hình nguồn vốn:
Tương ứng với 2 loại hình tài sản, trong doanh nghiệp cũng tồn tại tương ứng 2 loại nguồn vốn để tài trợ cho việc tiến hành sản xuất kinh doanh
Nguồn vốn ngắn hạn: là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng dưới 1 năm cho
các hoạt động sản xuất kinh doanh như: nợ ngắn hạn, nợ quá hạn, nợ phải trả người bán, nợ phải trả ngắn hạn khác,…
Nguồn vốn dài hạn (trung và dài hạn) là nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng cho
các hoạt động sản xuất kinh doanh lớn hơn 1 năm: Vốn chủ sở hữu, vốn vay nợ trung
và dài hạn,…
Mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn
Trang 13Mối quan hệ cân đối giữa tài sản với nguồn vốn thể hiện sự tương quan về giá trị tài sản và cơ cấu vốn của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh Ngoài ra, khi phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn ta cần chú trọng đến nguồn vốn lưu động ròng (VLĐR) hay còn gọi là vốn lưu động thường xuyên
VLĐR = TSNH – Nợ ngắn hạn = Nguồn vốn dài hạn – TSDH Nhu cầu VLĐR = Hàng tồn kho + Nợ phải thu – Nợ ngắn hạn (trừ vay ngắn hạn)
Nguồn: [3, tr 101 - 103]
Chiến lược quản lí vốn mạo hiểm (1): Chiến lược quản lí vốn mạo hiểm sử dụng một phần nợ ngắn hạn tài trợ cho TSDH VLĐR < 0 Đây là nguồn vốn dễ huy động, lãi suất thấp, khả năng sinh lời cao nhưng chính vì thế mà có nhược điểm rủi ro tài chính cao vì thời gian thu hồi vốn của TSDH lớn hơn thời gian trả nợ ngắn hạn
Chiến lược quản lí vốn thận trọng (2): Chiến lược này sử dụng một phần nợ dài hạn để tài trợ cho TSNH VLĐR > 0 Nó đảm bảo khả năng thanh toán, nguồn vốn ổn định, hạn chế rủi ro cao Tuy nhiên chi phí huy động vốn dài hạn lớn hơn chi phí huy động vốn ngắn hạn nên khả năng sinh lời sẽ ở mức thấp nhất
Chiến lược quản lí vốn dung hòa (3): Sử dụng nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho TSNH Nguồn vốn dài hạn tài trợ cho TSDH VLĐR = 0 Khả năng thanh toán ngắn hạn = 1 Có ưu điểm tận dụng nguồn vốn trong mọi trường hợp Tuy vậy chiến lược này làm mất cơ hội kinh doanh gia tăng lợi nhuận nếu không huy động được nguồn vốn cần thiết
- Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là bảng tóm tắt lợi nhuận của một công
ty trong thời hạn 1 năm Báo cáo này trình bày doanh thu tạo ra trong kì hoạt động, chi phí phát sinh trong cùng kì và thu nhập ròng hay lợi nhuận của công ty, bằng chênh lệch giữa doanh thu và chi phí
Phân tích và đánh giá tình hình doanh thu: Có 3 loại doanh thu: doanh thu từ
hoạt động kinh doanh, doanh thu từ hoạt động tài chính, doanh thu từ hoạt động bất thường Trong đó doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng lớn nhất
Nợ
DH
TSNH
TSNH TSDH
TSDH
NVNH
Nợ
NH NVDH
Nợ
DH
TSNH
TSNH TSDH
TSDH
NVNH
Nợ
NH NVDH
Nợ
DH
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ mô tả các chiến lược quản lý vốn trong doanh nghiệp
Trang 14đến tình hình tài chính và quá trình sản xuất của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp thực hiện được chỉ tiêu doanh thu hay tốc độ tăng trưởng tốt thì tình hình tài chính của doanh nghiệp nhìn chung tiến triển, hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả và tiếp tục thực hiện tốt cho quá trình sản xuất và ngược lại
Phân tích và đánh giá tình hình chi phí: Tổng hợp các loại chi phí như chi phí
sản xuất chung, chi phí nguyên vật liệu, chi phí quản lý bán hàng,… trong cả năm để
ra tổng chi phí đã bỏ ra nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh Trong tất cả các loại chi phí thì giá vốn hàng bán là chi phí chiếm trọng số lớn nhất vì đó chính là yếu tố đầu vào thiết yếu để doanh nghiệp tạo ra hàng hoá, dịch vụ
Phân tích và đánh giá tình hình lợi nhuận: Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối
cùng của các hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động khác đưa lại, là chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp Dựa vào bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ thấy được tình hình tăng, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp như thế nào so với kế hoạch và so với những năm trước
- Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát
sinh trong kì báo cáo Nó giúp người sử dụng đánh giá các thay đổi trong tài sản thuần,
cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng trong việc tạo ra các luồng tiền của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động
Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh: là luồng tiền có liên quan đến các hoạt
động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp, cung cấp thông tin cơ bản để đánh giá khả năng tạo tiền từ các hoạt động kinh doanh để trả nợ, duy trì hoạt động, trả cổ tức và tiến hành các hoạt động đầu tư mới mà không cần đến nguồn tài chính bên ngoài Thông tin về luồng tiền này khi kết hợp với các thông tin khác sẽ giúp dự đoán luồng tiền từ hoạt động kinh doanh trong tương lai Bao gồm: tiền thu từ bán hàng,
cung cấp dịch vụ; tiền trả nhà cung cấp, tiền trả lãi vay, tiền trả cho người lao động…
Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư: là luồng tiền có liên quan đến việc mua
sắm, xây dựng, nhượng bán, thanh lý TSDH và các khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền Bao gồm: tiền thu từ thanh lý, nhượng bán TSCĐ và các khoản TSDH khác; tiền thu hồi đầu tư góp vốn vào các đơn vị khác (trừ trường hợp tiền thu từ bán lại cổ phiếu đã mua vì mục đích thương mại); tiền thu hồi cho vay (trừ trường hợp tiền thu hồi cho vay của ngân hàng, tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính); tiền chi mua sắm, xây dựng TSCĐ và TSDH khác; tiền chi đầu tư góp vốn vào
các đơn vị khác (trừ trường hợp tiền chi mua cổ phiếu vì mục đích thương mại)…
Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính: là luồng tiền có liên quan đến việc thay
đổi về quy mô và kết cấu của VCSH và vốn vay Bao gồm: tiền thu từ phát hành cổ
Trang 15phiếu, nhận vốn góp của chủ sở hữu; tiền thu từ các khoản vay ngắn hạn, dài hạn; tiền chi trả vốn góp của chủ sở hữu, mua lại cổ phiếu của chính doanh nghiệp đã phát hành; tiền chi trả các khoản nợ gốc đã vay…
1.3.2 Phân tích các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp
Chỉ tiêu xác định cơ cấu Tài sản và Nguồn vốn
- Tỉ trọng Tài sản ngắn hạn
Tỉ trọng TSNH = Tổng TSNH
Tổng Tài sảnChỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng tổng tài sản của doanh nghiệp thì TSNH có bao nhiêu Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ TSNH của doanh nghiệp càng cao Thường thì các doanh nghiệp thương mại sẽ có chỉ số này cao Vì họ chỉ là nhà trung gian chứ không trực tiếp sản xuất, do đó mà họ chỉ tập trung vào các TSNH
- Tỉ trọng tài sản dài hạn
Tỉ trọng TSDH = Tổng Tài sảnTổng TSDH Chỉ tiêu này phản ánh, cứ 100 đồng tài sản của doanh nghiệp thì tài sản dài hạn chiếm bao nhiêu Chỉ số này càng cao càng chứng tỏ TSDH chiếm phần lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp Những công ty có tỉ lệ TSDH lớn thường làm về sản xuất hay xây dựng vì họ cần đầu tư cơ sở vật chất, máy móc thiết bị với trị giá rất lớn và phải trích khấu hao dần trong thời gian dài
nếu tỉ lệ này cao thì doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán
Trang 16 Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán
- Hệ số thanh toán hiện hành
Tỉ số thanh toán hiện hành = Tổng TSNH
Nợ ngắn hạnCho biết khả năng của một công ty trong việc dùng các TSNH như tiền mặt, hàng tồn kho hay các khoản phải thu để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn của mình Tỉ số này càng cao chứng tỏ công ty càng có nhiều khả năng sẽ hoàn trả được các khoản nợ
Tỉ số thanh toán hiện hành nhỏ hơn 1 cho thấy công ty đang ở trong tình trạng tài chính tiêu cực, có khả năng không trả được các khoản nợ khi đáo hạn Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là công ty sẽ phá sản bởi vì có rất nhiều cách để huy động thêm vốn Mặt khác, nếu tỉ số này quá cao cũng không phải là một dấu hiệu tốt bởi vì nó cho
thấy doanh nghiệp đang sử dụng tài sản chưa được hiệu quả
- Hệ số thanh toán nhanh
Tỉ số thanh toán nhanh = Tổng TSNH – Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
Tỉ số thanh toán nhanh cho biết liệu công ty có đủ các tài sản ngắn hạn để trả cho các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán hàng tồn kho hay không Tỉ số này phản ánh chính xác hơn tỉ số thanh toán hiện hành Một công ty có tỉ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1 sẽ khó có khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn và phải được xem xét cẩn thận Ngoài ra, nếu tỉ số này nhỏ hơn hẳn so với tỉ số thanh toán hiện hành
thì điều đó có nghĩa là TSNH của doanh nghiệp phụ thuộc quá nhiều vào hàng tồn kho
- Hệ số thanh toán tiền mặt (tức thời)
Tỉ số thanh toán tiền mặt = Các khoản tiền và tương đương tiền
Nợ ngắn hạn
Tỉ số thanh toán tiền mặt cho biết một công ty có thể trả được các khoản nợ của mình nhanh đến đâu, vì tiền và các khoản tương đương tiền là những tài sản có tính thanh khoản cao nhất
So với các tỷ số thanh khoản khác ngắn hạn khác như hệ số thanh toán hiện thời, hay hệ số thanh toán nhanh, tỷ số thanh toán tiền mặt đòi hỏi khắt khe hơn về tính thanh khoản Hàng tồn kho và các khoản phải thu ngắn hạn bị loại khỏi công thức tính
do không có gì bảo đảm là hai khoản này có thể chuyển nhanh chóng sang tiền mặt
Có rất ít doanh nghiệp có số tiền mặt và các khoản tương đương tiền đủ để đáp ứng toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn, do đó chỉ số thanh toán tiền mặt rất ít khi lớn hơn hay bằng 1 Điều này cũng không quá nghiêm trọng vì việc giữ tiền mặt và các khoản tương đương tiền ở mức cao để bảo đảm chi trả các khoản nợ ngắn hạn là một việc làm không thực tế vì nó đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không biết sử dụng tài sản có tính thanh khoản cao này một cách có hiệu quả
Trang 17 Chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý tài sản
- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng TSCĐ = Doanh thu thuần
TSCĐ bình quânChỉ số này đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp, cho thấy 1 đồng TSCĐ tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ số này càng cao cho thấy hiệu quả sử dụng TSCĐ càng tốt và ngược lại
TSCĐ bình quân tức lấy tổng số dư đầu kì cộng với số dư cuối kì sau đó chia 2
- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Vòng quay tài sản = Doanh thu thuần
Tổng tài sản bình quân
Hệ số vòng quay tổng tài sản dùng để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng tài sản của công ty Thông qua hệ số này chúng ta có thể biết được với mỗi 1 đồng tài sản có bao nhiêu đồng doanh thu được tạo ra
Hệ số vòng quay tổng tài sản càng cao đồng nghĩa với việc sử dụng tài sản của công ty vào các hoạt động sản xuất kinh doanh càng hiệu quả Tuy nhiên muốn có kết luận chính xác về mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản của một công ty chúng ta cần so sánh hệ số vòng quay tài sản của công ty đó với hệ số vòng quay tài sản bình quân của ngành
Chỉ tiêu đánh giá năng lực hoạt động
- Vòng quay hàng tồn kho
Hệ số quay vòng hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán
Trung bình hàng tồn kho trong kì
Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kì, nó được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu
Hệ số này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại Cần lưu ý, hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải cứ mức tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không
bị ứ đọng nhiều Có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu khoản mục hàng tồn
kho trong báo cáo tài chính có giá trị giảm qua các năm
Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa là lượng hàng
dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần Hơn nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây
Trang 18chuyền sản xuất bị ngưng trệ Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng
- Kì chuyển đổi hàng tồn kho:
Kỳ chuyển đổi hàng tồn kho = 365
Vòng quay hàng tồn khoĐây là thước đo thể hiện khả năng về mặt tài chính của công ty Chỉ số này cho các nhà đầu tư biết về khoảng thời gian cần thiết để công ty có thể thanh lí được hết số lượng hàng tồn kho của mình (bao gồm cả hàng hoá còn đang trong quá trình sản xuất) Thông thường, nếu chỉ số ở mức thấp thì có nghĩa là công ty hoạt động khá tốt, tuy nhiên cũng cần chú ý rằng chỉ số này rất khác nhau giữa các ngành Đôi khi chỉ số
này còn được gọi là số ngày lưu thông hàng tồn kho
- Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần
Bình quân các khoản phải thuChỉ số vòng quay các khoản phải trả phản ánh khả năng bị chiếm dụng vốn của doanh nghiệp đối với các khách hàng Việc khách hàng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp là điều thường gặp trong kinh doanh vì các doanh nghiệp thường tạo chính sách thanh toán hấp dẫn để thu hút khách hàng và gia tăng doanh thu
Tuy nhiên nếu bị khách hàng chiếm dụng vốn quá lâu sẽ khiến doanh nghiệp rơi vào rủi ro thanh toán hoặc nguồn vốn để dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh Vì vậy chỉ số này phải được duy trì lớn hơn 1, nó chửng tỏ khả năng thu hồi nợ của doanh
nghiệp là cao và đảm bảo luồng tiền thu về được sử dụng tốt
- Kì chuyển đổi các khoản phải thu:
Thời gian thu tiền khách hàng bình quân = 365
Vòng quay phải thu khách hàngĐây là một chỉ số được tính bằng số ngày trung bình mà một công ty cần để thu hồi lại tiền bán hàng sau khi đã bán được hàng Nếu như kỳ chuyển đổi các khoản phải thu ở mức thấp thì có nghĩa là công ty chỉ cần ít ngày để thu hồi được tiền khách còn
nợ Nếu tỉ lệ này cao thì có nghĩa là công ty chủ yếu là bán chịu cho khách hàng, thời gian nợ dài hơn
- Vòng quay các khoản phải trả:
Vòng quay các khoản phải trả = Giá vốn hàng bán+ Chi phí quản lý bán hàng
Bình quân các khoản phải trả + Lương,thưởng,thuếChỉ số vòng quay các khoản phải trả phản ánh khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp Chỉ số vòng quay các khoản phải trả quá thấp có
thể ảnh hưởng không tốt đến xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp
Trang 19Chỉ số vòng quay các khoản phải trả năm nay nhỏ hơn năm trước chứng tỏ doanh
nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán chậm hơn năm trước và ngược lại
Nếu chỉ sốvòng quay các khoản phải trả quá nhỏ, sẽ tiềm ẩn rủi ro về khả năng thanh khoản Tuy nhiên, cần lưu ý việc chiếm dụng khoản vốn này có thể giúp doanh nghiệp giảm được chi phí về vốn, đồng thời thể hiện uy tín về quan hệ thanh toán đối
với nhà cung cấp và chất lượng sản phẩm đối với khách hàng
- Kì chuyển đổi các khoản phải trả
Kỳ chuyển đối các khoản phải trả = 365
Vòng quay các khoản phải trả
Là chỉ số thể hiện số ngày trung bình mà công ty cần để trả tiền cho nhà cung cấp Hệ số này thế hiện mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người bán
Hệ số kỳ chuyển đổi các khoản phải trả cao nghĩa là công ty có quan hệ tốt với nhà cung cấp và có khả năng kéo giãn thời gian trả tiền cho người bán Ngược lại, hệ
số này thấp nghĩa là công ty phải trả tiền cho người bán trong thời gian ngắn sau khi
nhận hàng
- Kì chuyển đổi tiền mặt
Kỳ chuyển đổi tiền mặt = Kỳ chuyển đổi hàng tồn kho + Kỳ phải thu khách hàng - Kỳ
phải trả khách hàng
Con số này càng cao, thì lượng tiền mặt của doanh nghiệp càng khan hiếm cho hoạt động sản xuất kinh doanh và cho các hoạt động khác như đầu tư Chu kì tiền mặt được tính từ khi chi trả cho các nguyên vật liệu dùng cho sản xuất tới khi nhận được tiền mặt trong bán hàng
Nếu con số này nhỏ sẽ được coi là khả năng quản lí vốn lưu động tốt Ngược lại, con số này lớn có thể được giải thích là doanh nghiệp phải thuê thêm vốn trong khi
vẫn phải chờ khách hàng trả nợ tiền hàng cho mình
Quá trình sản xuất càng dài, lượng tiền mặt mà doanh nghiệp phải có thêm để đầu tư càng lớn Tương tự, thời gian khách hàng thanh toán các hóa đơn càng lâu, thì giá trị của các hóa đơn càng giảm Hay nói cách khác, tài khoản có thể thu hồi về được làm giảm vốn lưu động của doanh nghiệp
Chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài chính
- Hệ số nợ:
Hệ số nợ = Tổng nợ
Tổng tài sảnTổng số nợ ở đây bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn phải trả Chủ nợ thường thích công ty có tỉ số nợ thấp vì như vậy công ty có khả năng trả nợ cao hơn Ngược lại, cổ đông muốn có tỉ số nợ cao vì như vậy làm gia tăng khả năng sinh lợi cho cổ
Trang 20đông Tỉ số nợ càng thấp thì mức độ bảo vệ dành cho các chủ nợ càng cao trong trường
hợp doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản và phải thanh lí tài sản
Tuy nhiên muốn biết tỉ số này cao hay thấp cần phải so sánh với tỉ số nợ của bình quân ngành Tỉ số nợ phụ thuộc rất nhiều yếu tố: loại hình doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động, mục đích vay
Tuy nhiên thông thường, ở mức 60/40 là chấp nhận được Có nghĩa Tổng tài sản
nghiệp cũng như từng ngành
Tỉ số này cao chứng tỏ khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp, nhưng cũng
cho thấy doanh nghiệp chưa tận dụng được đòn bẩy tài chính nhiều
- Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
Tỉ số khả năng trả lãi = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Chi phí lãi vay
Hệ số này cho biết một công ty có khả năng đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ lãi của
nó đến mức nào
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay (hay hệ số thu nhập trả lãi định kì) càng cao thì khả năng thanh toán lãi của công ty cho các chủ nợ của mình càng lớn Tỉ lệ trả lãi thấp cho thấy tình trạng nguy hiểm, suy giảm trong hoạt động kinh tế có thể làm giảm lợi nhuận trước thuế và lãi vay xuống dưới mức nợ lãi mà công ty phải trả, do đó dẫn
tới mất khả năng thanh toán và nguy cơ vỡ nợ cao
Tỉ số trên nếu lớn hơn 1 thì công ty hoàn toàn có khả năng trả lãi vay Nếu nhỏ hơn 1 thì chứng tỏ hoặc công ty đã vay quá nhiều so với khả năng của mình, hoặc công
ty kinh doanh kém đến mức lợi nhuận thu được không đủ trả lãi vay
Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời
- Tỉ suất sinh lời trên doanh thu
ROS = Tổng lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuầnChỉ tiêu này cho biết 1 đồng doanh thu thuần từ bán hàng hóa và cung cấp dịch
vụ trong kì sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Trang 21Tỉ suất này càng cao thì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng cao Hệ số này càng cao càng chứng tỏ công ty quản lý chi phí có hiệu quả, hay tình hình doanh thu tăng nhanh hơn chi phí Đây là điều vô cùng có lợi cho doanh nghiệp Thực tế thì chỉ số ROS giữa các ngành là khác nhau và đối với mỗi công ty cũng khác nhau: nó phụ thuộc vào khả năng quản lý sử dụng các yếu tốt đầu vào, nếu doanh nghiệp nào quản lý tốt hơn thì sẽ có tỉ suất cao hơn.
- Tỉ suất sinh lời trên tài sản
ROA = Tổng lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sảnChỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà không quan tâm đến cấu trúc tài chính Chỉ số này cho biết công ty tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
từ 1 đồng Tổng tài sản
Đây là chỉ tiêu tài chính giúp đánh giá hiệu quả quản lí và sử dụng tài sản để tạo
ra thu nhập của doanh nghiệp Nếu tỉ số này lớn hơn 0, thì có nghĩa doanh nghiệp làm
ăn có lãi Tỉ số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả và nếu tỉ số này nhỏ hơn 0, doanh nghiệp thua lỗ Để chính xác cần so sánh tỉ số của doanh nghiệp với
tỉ số của của toàn ngành hoặc với tỉ số của công ty tương đương cùng ngành
- Tỉ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
ROE = Tổng lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữuCho biết cứ 1 đồng VCSH thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỉ số này phụ thuộc vào thời vụ kinh doanh Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào quy mô và mức độ rủi ro của công ty Để so sánh chính xác, cần so sánh tỉ số này của một công ty với tỉ
số bình quân của ngành, hoặc với tỉ số của công ty tương đương trong cùng ngành
Tính đơn giản, dễ dàng tính toán
Có thể được sử dụng để thuyết phục cấp quản lí thực hiện một vài bước cải tổ nhằm chuyên nghiệp hóa chức năng thu mua và bán hàng
- Nhược điểm:
Không bao gồm chi phí vốn
Độ tin cậy của mô hình phụ thuộc hoàn toàn vào giả thuyết, số liệu đầu vào
Trang 22 Hiệu quả sử dụng Tài sản
ROA =Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần xDoanh thu thuầnTổng tài sản
Hay ROA = ROS x Hiệu suất sử dụng tổng Tài sản
Từ mô hình phân tích tài chính Dupont ta thấy: số vòng quay tài sản càng cao, điều đó chứng tỏ rằng sức sản xuất tài sản của doanh nghiệp càng lớn Do vậy, để nâng cao số vòng quay của tài sản (tăng ROA), một mặt phải tăng quy mô về doanh thu thuần, mặt khác phải sử dụng tiết kiệm và hợp lí hơn cơ cấu của tổng tài sản
Tỉ lệ lãi theo doanh thu phụ thuộc vào 2 nhân tố cơ bản là: lợi nhận thuần và doanh thu thuần, 2 nhân tố này quan hệ đồng biến Nghĩa là doanh thu thuần tăng sẽ làm cho lợi nhận thuần tăng Do đó, để tăng doanh thu thuần, ngoài việc phải giảm các khoản giảm trừ doanh thu, còn phải giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, Đồng thời thường xuyên nâng cao chất lượng sản phẩm, để tăng giá bán góp phần làm tăng tổng mức lợi nhuận
Hiệu quả sử dụng Nguồn vốn
ROE=Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần xDoanh thu thuầnTổng tài sản xVốn chủ sở hữuTổng tài sản
ROE = Lợi nhuận biên x Vòng quay tài sản x 1
1−Đòn bẩy tài chính
Một vài lưu ý trong công thức trên gồm:
- Lợi nhuận dùng để phân tích thường là lợi nhuận sau thuế
- Doanh thu bao gồm doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ + thu nhập khác
- Tổng tài sản, Vốn chủ sở hữu: tính bình quân trong kì
Đòn bẩy tài chính: lượng VCSH được sử dụng để tài trợ (tài chính) cho tài sản ở công ty Ngoài ra còn một số trường hợp ngoại lệ là bất cứ hoạt động nào mà nhà quản
trị làm để nâng cao hệ số này đều làm tăng ROE
Như vậy qua khai triển chỉ tiêu ROE chúng ta có thể thấy chỉ tiêu này được cấu thành bởi ba yếu tố chính là lợi nhuận ròng biên, vòng quay tài sản và đòn bẩy tài
chính, nghĩa là để tăng ROE doanh nghiệp có 3 sự lựa chọn cơ bản:
- Doanh nghiệp có thể gia tăng khả năng cạnh tranh nhằm nâng cao doanh thu và
đồng thời tiết giảm chi phí nhằm gia tăng lợi nhuận ròng biên
- Doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách sử dụng tốt hơn các tài sản sẵn có của mình nhằm nâng cao vòng quay tài sản Hay nói một cách dễ
hiểu hơn là doanh nghiệp cần tạo ra nhiều doanh thu hơn từ những tài sản của mình
- Doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao đòn bẩy tài chính hay nói cách khác là vay nợ thêm vốn để đầu tư Nếu mức lợi nhuận trên tổng
Trang 23tài sảncủa doanh nghiệp cao hơn mức lãi suất cho vay thì việc vay tiền để đầu tư của
doanh nghiệp là hiệu quả
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính doanh nghiệp
- Các chính sách quy định của Nhà nước:
Đây là nhân tố có sức ảnh hưởng khá lớn tới việc tình hình tài chính doanh nghiệp Bất cứ doanh nghiệp nào khi hoạt động cũng phải tuân thủ và làm đúng với những quy định mà pháp luật và Nhà nước đặt ra Vì vậy nếu doanh nghiệp được may mắn hoạt động trong một môi trường pháp luật, chính trị phù hợp và có nhiều chính sách hỗ trợ thì sẽ giúp định hướng phát triển của doanh nghiệp đó tốt hơn Ví dụ như nếu mức thuế của Nhà nước đối với các doanh nghiệp được nới lỏng thì lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp hàng năm sẽ gia tăng Từ đó có thể bổ sung thêm nguồn vốn tái đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, phát triển hơn nữa
- Chế độ chính trị:
Nền kinh tế muốn phát triển ổn định và bền vững thì trước hết phải có một nền chính trị ổn định Có như thế các doanh nghiệp mới có được điều kiện cơ sở để yên tâm đầu tư, sản xuất kinh doanh mang lại lợi nhuận Ngay cả những doanh nghiệp quốc tế khi đầu tư vào một nước nào đó thì điều đầu tiên học quan tâm chính là nền kinh tế - chính trị ổn định và có tiềm năng phát triển Vì vậy, được hoạt động và phát triển trong một môi trường chính trị tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp có doanh thu ổn định
và được hưởng các chế độ chính sách tài chính hỗ trợ từ Nhà nước
- Tình hình kinh tế - xã hội:
Có thể nói, thu nhập bình quân trên đầu người, tốc độ tăng trưởng nền kinh tế quốc dân, tốc độ lạm phát là các yếu tố tác động trực tiếp tới tình hình tài chính của từng doanh nghiệp Khi tốc độ tăng trưởng nền kinh tế cao, kèm theo đó là các chính sách của Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, thu nhập bình quân đầu người ổn định sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và ngược lại
Tình trạng môi trường, các vấn đề quy định liên quan đến việc xử lý chất thải và bảo vệ môi trường,… đều có tác động nhất định đến chi phí kinh doanh, năng suất và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp, đặc biệt ở những doanh nghiệp sản xuất
Trang 24Cơ sở hạ tầng cũng là yếu tố để đánh giá thực trạng kinh tế chung của một quốc gia cũng như là cơ sở cho sự phát triển của các doanh nghiệp ở nước đó Hệ thống đường xá, giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống ngân hàng tín dụng, mạng lưới điện quốc gia, có ảnh hưởng tới chi phí kinh doanh Từ đó quyết đinh tới khả năng thu thập và sử dụng thông tin, khả năng huy động và sử dụng vốn, khả năng giao dịch thanh toán, của các doanh nghiệp do đó ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Đối thủ cạnh tranh
Đối với mỗi doanh nghiệp cùng hoạt động trong cùng lĩnh vực thì việc tranh giành thị phần là vô cùng khốc liệt Muốn doanh nghiệp của mình có thể đứng vững và phát triển vượt trội so với các đối thủ khác thì không những phải có một nguồn tài chính tốt mà còn phải có chiến lược sử dụng nguồn tài chính đó hiệu quả Nhà quản trị luôn phải nắm được tình hình tài chính, tỷ lệ tăng trưởng so sánh với tỷ lệ trung bình ngành của mỗi đối thủ cạnh tranh và so sánh với chính bản thân doanh nghiệp để thấy được thế mạnh và những hạn chế còn tồn tại
Nếu như cùng với một nguồn vốn hay giá trị tài sản tương đương nhau mà đối thủ cạnh tranh hoạt động tốt hơn (thông qua các chỉ số doanh thu – chi phí – lợi nhuận; các chỉ tiêu sinh lời, chỉ tiêu sử dụng nguồn vốn – tài sản hay chỉ tiêu đánh giá năng lực hoạt động,…) thì đó chính do năng lực quản lý của bản thân doanh nghiệp không được tốt Trước hết sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu hàng năm và sau đó là cả tình hình tài chính của doanh nghiệp
1.4.2 Nhân tố chủ quan:
Bên cạnh các yếu tố khách quan được nêu ở trên thì tình hình tài chính của doanh nghiệp còn bị tác động bởi các nhân tố chủ quan bên trong Tác động của các yếu tố này tuy chỉ ảnh hưởng riêng đến doanh nghiệp nhưng cũng là yếu tố quyết định rất quan trọng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
- Lĩnh vực sản xuất kinh doanh
Bất cứ một doanh nghiệp nào khi tham gia vào lĩnh vực, ngành nghề cụ thể cũng cũng kì vọng vào việc sinh lời và hoạt động có hiệu quả cao Tuy nhiên lĩnh vực kinh doanh cũng là nhân tố chủ quan đầu tiên ảnh hưởng tới tình hình tài chính của doanh nghiệp qua từng thời kì Nếu như doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực có nhiều biến động theo thị trường như: bất động sản, chứng khoán, ngân hàng, thì vấn đề đầu tiên phải tính tới đó là các rủi ro trong kinh doanh Tuy nhiên rủi ro càng cao thì kì vọng lợi nhuận thu được lại càng lớn Do đó nhà quản lý doanh nghiệp phải định hướng được cơ cấu nguồn vốn của mình phân bổ tương ứng với cơ cấu tài sản và chi phí kinh doanh sao cho phù hợp với lĩnh vực đang theo đuổi
Trang 25Hơn thế nữa, ngành nghề kinh doanh cũng là nhân tố quyết định đến chu kì sản xuất kinh doanh và tình hình luân chuyển vốn của mỗi doanh nghiệp Những ngành nghề như: thực phẩm, thương mại, dịch vụ, có khả năng thu hồi vốn nhanh vì đầu tư nhiều vào tài sản ngắn hạn Trong khi đó các ngành nghề đòi hỏi đầu tư vào tài sản dài hạn và trích khấu hao qua nhiều năm như: xây dựng, năng lượng, khoáng sản,… thì có thời gian luân chuyển vốn dài hơn rất nhiều
Với mỗi giai đoạn trong chu kì sản xuất của mình thì tình hình tài chính của doanh nghiệp cũng sẽ có những thay đổi hoàn toàn khác nhau Khi vào đúng thời kì cao điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh thì nhu cầu vốn lưu động của công ty cũng sẽ biến đổi và đòi hỏi phải có các nguồn tài trợ để cung ứng đầy đủ và kịp thời để tiến trình kinh doanh không bị gián đoạn Do đó mà nhà quản trị phải hết sức khéo léo
để có thể duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định và hiệu quả, kèm theo đó là việc đảm bảo khả năng quản lý và cân đối tốt các nguồn tài trợ của mình
Thêm vào đó, những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có tính chất thời vụ lại hay gặp khó khăn trong việc cân đối giữa thu và chi bằng tiền giữa các thời kỳ ở trong năm Sở dĩ như vậy vì thời kì họ cần nhiều vốn để sản xuất kinh doanh thì lượng tiền mặt lại thiếu hụt do đó việc chi trả, thanh toán tức thời sẽ không được đánh giá tốt Điều này nhắc nhở những nhà quản lý tài chính cần xây dựng những chiến lược thích hợp cho quản lý sử dụng và bảo toàn vốn lưu động và cân đối được thu - chi tiền tệ của mình ở mỗi thời kì kinh doanh
- Quan điểm của doanh nghiệp:
Bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải có một xu hướng quản lý tài chính riêng của mình Đây là yếu tố do chính những người chủ của doanh nghiệp quyết định và là kim chỉ Nam cho mọi hoạt động tài tích của bản thân doanh nghiệp đó Với những người kì vọng vào việc sẽ tiềm kiếm và gia tăng lợi nhuận, họ sẽ quản lý vốn của mình theo chiến lược quản lý vốn mạo hiểm Tuy nhiên có rất nhiều rủi ro trên thị trường mà doanh nghiệp dễ gặp phải, do đó, nhiều nhà quản trị lại muốn quản trị nguồn vốn của mình một cách thận trọng
Rất khó để có thể đánh giá đâu là chiến lược tốt hơn nhưng đối với mỗi cách thức nhà quản trị sẽ phải có hàng loạt các bước đi cụ thể để mang lại hiệu quả tài chính tốt nhất cho doanh nghiệp và phù hợp với định hướng ban đầu
Trang 26CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN
SẢN PHẨM MỚI CÔNG NGHỆ MỚI
2.1 Giới thiệu thông tin chung về Công ty TNHH Phát triển Sản phẩm mới Công nghệ mới:
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty TNHH Phát triển Sản phẩm mới Công nghệ mới:
Vài nét về công ty:
- Tên đơn vị: Công ty TNHH Phát triển Sản phẩm mới Công nghệ mới
- Tên giao dịch quốc tế: (DPT) COMPANY FOR DEVELOPMENT OF NEW PRODUCTS AND TECHNOLOGY
- Đăng ký kinh doanh số: 040489 do trọng tài kinh tế cấp ngày 28/03/1992, thay đổi lần 6 ngày 30/06/2009
- Trụ sở: Số 26 - Đường Láng Hạ - Phường Láng Hạ - Quận Đống Đa – Hà Nội
Vốn đăng ký kinh doanh: 5.000.000.000 VND (Năm tỉ Việt Nam Đồng)
Vốn điều lệ: 30.000.000.000 VND (Ba mươi tỉ Việt Nam Đồng)
Vốn pháp định: 6.000.000 VND (Sáu tỉ Việt Nam Đồng)
Lịch sử hình thành và phát triển:
Công ty TNHH Phát triển Sản phẩm mới Công nghệ mới được thành lập năm
1992 và chính thức đi vào hoạt động sản xuất thương hiệu “Bánh bao Malai” đầu năm
2000 Trải qua hơn 20 năm hình thành và phát triển, đến nay Công ty TNHH Phát triển Sản phẩm mới Công nghệ mới hay được biết đến với thương hiệu “Bánh bao Malai”
đã trở thành một trong những thương hiệu uy tín hàng đầu Việt Nam trong ngành thực phẩm chuyên kinh doanh sản phẩm bánh bao
Khái quát về ngành nghề kinh doanh của Công ty TNHH Phát triển Sản phẩm mới Công nghệ mới:
Kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp và thương mại Là nhà phân phối cho các nhãn hiệu nổi tiếng như: IBM, Compaq, HP,… trong các lĩnh vực công nghệ thông tin
và điện tử, thiết bị Công ty chuyên cung cấp các đơn hàng theo số lượng lớn và hợp tác cùng các doanh nghiệp có nhu cầu làm nhà bán lẻ trên thị trường
Trang 27 Dịch vụ tư vấn và chuyển giao công nghệ Công ty cung cấp các thiết bị kĩ thuật, các thiết bị công nghệ cao và dịch vụ bảo dưỡng cho B.E.Marubishi (Nhật Bản) tại Việt Nam, Novel Force ( Nhật Bản),…
Sản xuất, chế biến, kinh doanh hàng lương thực thực phẩm Hiện tại đây chính
là lĩnh vực kinh doanh trọng tâm của công ty vì công ty hợp tác với Bakles – Tập đoàn Công nghệ thực phẩm hàng đầu thế giới Bakles là nhà phân phối các sản phẩm phụ gia làm bánh và chuyển giao công nghệ của Bakels – Malaysia Đây là thế mạnh riêng
có của công ty và là ngành nghề đem lại lợi nhuận chủ yếu
Ngày 18/01/2012, Công ty TNHH Phát triển Sản phẩm mới Công nghệ mới được cấp chứng nhận Hệ thống An toàn thực phẩm TQCSI vì có năng lực kiểm soát chất lượng và an toàn thực phẩm phù hợp với các điều kiện nghiêm ngặt và hệ thống quản
lí tiêu chuẩn ISO 20000 : 2005 trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh bánh bao, cũng như chứng chỉ Vệ sinh An toàn Thực phẩm của Bộ Y tế
2.1.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức của Công ty TNHH Phát triển Sản phẩm mới Công nghệ mới:
Là một công ty tư nhân có quy mô không quá lớn vậy nên cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Phát triển Sản phẩm mới Công Nghệ mới như sau:
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức của Công ty TNHH Phát triển Sản phẩm mới Công nghệ mới
Kho nguyên liệu
và thành phẩm
Trang 28- Đội sản xuất
Đây là đội ngũ nòng cốt của Công ty, là nơi mà các sản phẩm bánh bao Malai sẽ được chế biến, tạo dựng và hoàn thiện để rồi đến được tay mỗi khách hàng với hương
vị thơm ngon, tạo hình đẹp mắt và hơn cả chính là chất lượng tuyệt hảo Đội sản xuất
có chức năng chế biến các nguyên liệu đầu vào: bột mì, thịt, trứng,… theo đúng các tiêu chuẩn kĩ thuật và chất lượng ISO, vệ sinh àn toàn thực phẩm do Bộ Y tế đề ra
- Đội bao gói
Tổ chức thực hiện công tác thiết kế bao bì các loại sản phẩm sao cho đạt tiêu chuẩn cao, có thiết kế khoa học nhưng đồng thời cũng đẹp mắt khiến người tiêu dùng
dễ dàng nhận biết được thương hiệu “Bánh bao Malai” Tổ chức hoạt động đóng gói bao bì các sản phẩm bánh đảm bảo cho chất lượng bánh là tốt nhất để phân phối tới khách hàng
- Phòng bán hàng
Xây dựng kế hoạch bán hàng cụ thể khoa học với chi phí thấp nhưng mang lại hiệu quả cao nhất, marketing, giới thiệu sản phẩm rộng rãi để khách hàng biết đến nhãn hiệu và ngày càng nâng cao thương hiệu trên thị trường
Tổ chức cung cấp, giải đáp thông tin cho khách hàng một cách tận tình chu đáo với tiêu chí: “Luôn luôn thỏa mãn nhu cầu của mọi khách hàng” Phát triển dịch vụ tư vấn, chăm sóc khách hàng thường xuyên, niềm nở
- Kho nguyên liệu và thành phẩm
Đây là bộ phận có chức năng lưu trữ các máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu đầu vào và thành phẩm đầu ra của Công ty Nhiệm vụ của bộ phận này là bảo quản và sử
Trang 29dụng có hiệu quả các phương tiện kỹ thuật, dụng cụ làm việc được trang bị Kèm theo
đó là việc quản lí và sử dụng hợp lí các loại vật tư, nguyên liệu trong công tác sản xuất
và vận hành bộ máy Công ty
Quan trọng không kém chính là khâu lưu trữ và bảo quản tốt các thành phẩm đầu
ra Đội ngũ nhân viên ở bộ phận này luôn luôn cập nhật và thông báo cho quản lí biết được tình hình xuất, nhập, tồn ở kho qua các nghiệp vụ Phải thường xuyên kiểm tra và giám sát tài sản của Công ty chặt chẽ, chi tiết
2.2 Phân tích và đánh giá thực trạng tài chính của Công ty TNHH Phát triển Sản phẩm mới Công nghệ mới:
2.2.1 Phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp
Phân tích bảng cân đối kế toán
Trang 30Bảng 2.1 Bảng số liệu bảng cân đối kế toán giai đoạn 2011 – 2013
Đơn vị tính: VND
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch 2012 - 2011 Chênh lệch 2013 – 2012
Tuyệt đối Tương đối (%) Tuyệt đối Tương đối (%) TÀI SẢN
A TÀI SẢN NGẮN HẠN 19.502.576.667 21.992.929.799 24.613.726.388 2.490.353.132 12,77 2.620.796.589 11,92 I- Tiền và các khoản tương đương tiền 7.766.493 166.623.838 67.557.264 158.857.345 2045,42 (99.066.574) (59,46)
2 Các khoản tương đương tiền 2.391.636 128.442.616 46.242.732 126.050.980 5270,49 (82.199.884) (64,00)
II- Các khoản phải thu ngắn hạn 1.902.505.111 2.003.176.458 2.449.450.626 100.671.347 5,29 446.274.168 22,28
3 Thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước 52.172.377 47.458.204 49.179.312 (4.714.173) (9,04) 1.721.108 3,63
B- TÀI SẢN DÀI HẠN 35.253.496.944 35.482.816.593 35.457.191.820 229.319.649 0,65 (25.624.773) (0,07)
I- Tài sản cố định 3.584.958.549 3.779.898.114 3.776.412.080 194.939.565 5,44 (3.486.034) (0,09)
1 Tài sản cố định hữu hình 3.458.986.036 3.653.925.601 3.650.439.567 194.939.565 5,64 (3.486.034) (0,10)
- Nguyên giá 4.386.472.688 4.604.654.688 4.635.354.688 218.182.000 4,97 30.700.000 0,67
- Giá trị hao mòn lũy kế (*) (927.486.652) (950.729.087) (984.915.121) (23.242.435) 2,51 (34.186.034) 3,60
II- Các khoản đầu tư tài chính dài hạn 31.588.810.000 31.588.810.000 31.588.810.000 0 0 0 0
Trang 31Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch 2012 - 2011 Chênh lệch 2013 – 2012
Tuyệt đối Tương đối (%) Tuyệt đối Tương đối (%)
1 Đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh 28.724.410.000 28.724.410.000 28.724.410.000 0 0 0 0
III- Tài sản dài hạn khác 79.728.395 114.108.479 91.969.740 34.380.084 43,12 (22.138.739) (19,40)
1 Chi phí trả trước dài hạn 79.728.385 114.108.479 91.969.740 34.380.094 43,12 (22.138.739) (19,40)
5.Các khoản phải trả, phải nộp ngắn hạn khác 0 18.887.295 0 18.887.295 (18.887.295) (100)
B- VỐN CHỦ SỞ HỮU 45.616.583.724 45.655.902.647 45.680.862.946 39.318.923 0,09 24.960.299 0,05
I- Vốn chủ sở hữu 45.616.583.724 45.655.902.647 45.680.862.946 39.318.923 0,09 24.960.299 0,05
2 Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối 252.183.724 219.502.647 316.462.946 (32.681.077) (12,96) 96.960.299 44,17
TỔNG CỘNG NGUỒN VỐN 54.756.073.611 57.475.746.392 60.070.918.208 2.719.672.781 4,97 2.595.171.816 4,52
Nguồn: Phòng Tài chính – Kế toán
Trang 32Tỷ trọng (%) TSNH 19.502.576.667 35,62 21.992.929.799 38,26 24.613.726.388 40,97
TSDH 35.253.496.944 64,38 35.482.816.593 61,74 35.457.191.820 59,03
Tổng
Tài sản 54.756.073.611 100,00 57.475.746.392 100,00 60.070.918.208 100,00
Nguồn: Xử lí số liệu từ Báo cáo tài chính
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu Tài sản giai đoạn 2011 - 2013
Nguồn: Xử lí số liệu từ Báo cáo tài chính
Qua biểu đồ và bảng số liệu có thể thấy được tình hình biến động các khoản mục Tài sản của Công ty TNHH Phát triển Sản phẩm mới Công nghệ mới như sau:
Tổng tài sản biến động tăng tương đối đều qua các năm, giai đoạn từ 2011 - 2012 tổng tài sản tăng thêm 2.719.672.781 tương đương 4,97%; trong khi đó giai đoạn 2012
- 2013 tăng 2.595.171.816VND tương đương 4,52% Đây là một tín hiệu đáng mừng
vì nó chứng tỏ được sự đi lên, phát triển và mở rộng của doanh nghiệp Sở dĩ có mức tăng như vậy là do trong năm 2011 - 2013 Công ty đã có mức tăng khá cao về: phải thu khách hàng, trả trước cho người bán, hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác,… Nguyên nhân chủ yếu kéo theo mức tăng này chính là do việc tăng doanh thu thuần về bán hàng Công ty cần theo dõi sát tình hình cũng như kế hoạch thanh toán công nợ của khách hàng, tránh để xảy ra khách hàng nợ quá hạn
Tài sản ngắn hạn (TSNH):
Trong cả 3 năm, từ 2011 đến 2013, tỉ trọng TSNH luôn chiếm tỉ trọng thấp hơn
so với TSDH (chiếm 1/3 tổng Tài sản) Lý giải cho sự chệnh lệch này là vì Công ty là một doanh nghiệp sản xuất thương mại, việc sở hữu những máy móc, công nghệ kĩ thuật,… để sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh là điều thiết yếu
35,62% 38,26% 40,97%
64,38% 61,74% 59,03%
0 10.000.000.000
Trang 33Bảng 2.3 Tình hình tài sản ngắn hạn giai đoạn 2011 - 2013
Tỷ trọng (%) Tiền và các khoản
tương đương tiền 67.557.264 0,04 166.623.838 0,76 7.766.493 0,27 Các khoản phải
thu ngắn hạn 2.449.450.626 9,76 2.003.176.458 9,11 1.902.505.111 9,95 Hàng tồn kho 19.958.026.217 82,26 17.950.452.649 81,62 16.043.103.652 81,08
TSNH khác 2.138.692.281 7,94 1.872.676.854 8,51 1.549.201.411 8,69
Tổng 24.613.726.388 100,00 21.992.929.799 100,00 19.502.576.667 100,00
Nguồn: Xử lí số liệu từ Báo cáo tài chính
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu tài sản ngắn hạn giai đoạn 2011 - 2013
Nguồn: Xử lí số liệu từ Báo cáo tài chính
Về tiền mặt và các khoản tương đương tiền:
Lượng tiền và các khoản tương đương tiền trong giai đoạn 2011-2013 dao động mạnh: từ năm 2011 là 7.766.493 VND sang 2012 là 166.623.838 VND, tăng mạnh xấp
xỉ 20 lần, tương đương 158.857.345 VND; nhưng sang năm 2013 có giá trị 67.557.264VND, giảm 99.066.574VND so với năm 2012 là 166.623.838 VND, tương đương giảm 59,64% Nguyên nhân của sự tăng giảm mạnh này chủ yếu là do trong năm 2011 Công ty chỉ để dự trữ khoản tiền mặt và hơn thế nữa do sự thay đổi về nhân
sự của một số đơn vị khách hàng mà việc thanh toán bị chậm trễ Nhưng sang năm
2012 lượng tiền mặt lại quá nhiều do vậy năm 2013 Công ty tiến hành thanh toán một
số khoản nợ từ những năm trước đến hạn và các chi phí khác phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh Giữ nhiều tiền thuận lợi trong việc thanh toán cho các cuộc giao dịch vừa và nhỏ, chủ động hơn khi chi tiêu và trả các khoản chi phí, dự trữ để doanh nghiệp kịp xử lý trong những tình huống khẩn cấp nhưng giữ nhiều tiền không sinh lãi mà còn mất nhiều chi phí cho việc giữ tiền
Trang 34Các khoản phải thu ngắn hạn: ta có thể nhận thấy rõ rằng các khoản phải thu
ngắn hạn tăng nhẹ trong giai đoạn từ 2011 – 2012, nhưng sau đó bước sang giai đoạn
2012 – 2013 thì ta có thể chứng kiến việc gia tăng khá lớn, một khoản xấp xỉ 500 triệu VND Việc phân tích chi tiết như sau:
+ Khoản phải thu khách hàng: năm 2012 khoản phải thu khách hàng có trị giá
1.980.721.913 VND tăng 100.671.347 VND tương đương 5,29% so với 2011 là 1.856.047.862 VND Năm 2013 đạt 2.380.984.181 VND, tăng 446.274.168 VND so với năm 2012 là 1.980.721.913 VND, tương đương tăng 20,21% Sở dĩ khoản phải thu khách hàng tăng và đến 2013 thì tăng mạnh là do hiệu quả từ chính sánh nới lỏng tín dụng, bán hàng theo hình thức trả chậm cho khách hàng để mở rộng hoạt động kinh doanh và tăng doanh thu Rất nhiều khách hàng ngoại tỉnh làm việc với Công ty theo hình thức thanh toán kí gửi tiền hàng cho nhà vận chuyển Điều này giúp họ tránh được các chi phí khi giao dịch qua ngân hàng hoặc không mất công đến thanh toán trực tiếp tại Công ty Tuy nhiên, chính sách này như thể là con dao hai lưỡi Công ty cũng cần phải tìm hiểu rõ về năng lực và khả năng thanh toán của khách hàng trước khi áp dụng chính sách bán hàng trên đối với từng khách hàng Hơn thế nữa việc thanh toán có thể bị các nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan làm cho gián đoạn, thiếu sót
+ Trả trước cho người bán: Tính từ năm 2011 trả trước của người bán đạt
46.457.249 VND nhưng đến 2012 chỉ có 22.254.545 VND, giảm 24.002.704 VND tương đương 51,67% Việc giảm mạnh của khoản này chứng tỏ Công ty đang không cần tích trữ các nguyên vật liệu đầu vào quá nhiều và muốn sử dụng nguồn tài chính này cho việc khác Nhưng giai đoạn 2012 - 2013 lại hoàn toàn ngược lại, năm 2013 là 68.466.445 VND, tăng mạnh 46.011.900 VND so với năm 2012 là 22.254.545 VND, tương đương tăng 204,91% Mức tăng này là do Công ty vẫn đang thực hiện rất nhiều đơn đặt hàng từ phía khách hàng vì vậy phải nhập một lượng lớn nguyên vật liệu trong khi đó thị trường giá nguyên vật liệu tăng cao nên Công ty phải trả trước một khoản chi phí để có hàng cung cấp đầy đủ, giữ hàng và giữ giá Việc tăng giảm liên tục của khoản phải thu khách hàng này là hoàn toàn phù hợp với Công ty Phát triển Sản phẩm mới Công nghệ mới Vì Công ty là doanh nghiệp sản xuất thương mại trong ngành thực phẩm, vì vậy việc đầu cơ tích trữ theo từng thời kì sản xuất kinh doanh và chất lượng của nguyên vật liệu là điều vô cùng cần thiết
Hàng tồn kho: Đầu tiên nếu hàng tồn kho của năm 2012 là 17.950.452.649 VND
tăng 1.907.348.997 VND ứng với tỉ lệ 11,89% so với năm 2011 là 16.043.103.652 VND Thì tới năm 2013 là 19.958.026.217 VND, tăng 2.007.573.568 VND so với năm
2012 là 17.950.452.649 VND, tăng tương đối 11,18% Mức tăng hàng tồn kho khá đều đặn trong 3 năm có nguyên nhân là do không những nhu cầu khách hàng tăng mà
Trang 35Công ty còn tích cực mở rộng thị trường đến các tỉnh xa vì vậy Công ty phải sản xuất nhiều hơn dẫn đến hàng tồn kho cũng phải tăng Mặt khác, hàng tồn kho lớn giúp Công ty chủ động trong thời kì lạm phát gia tăng làm giá các mặt hàng tăng cao tạo ra khoản doanh thu bán hàng tiềm năng hoặc thị phần nếu Công ty có hàng để bán
Tài sản ngắn hạn khác: Thời kì ban đầu, năm 2012 có mức tăng TSNH khác
nhiều hơn 323.475.443 VND tương ứng với 20,88% so với 2011 đạt 1.549.201.411 VND Nhưng đến năm 2013 là 2.138.692.281 VND, đã tăng lên 266.015.427 VND so với năm 2012 là 1.872.676.854 VND, tương đương với tỉ lệ tăng 14,21% Trong đó một số loại tài sản ngắn hạn khác của Công ty có thể kể đến chi phí trả trước ngắn hạn
và một số tài sản khác
+ Chi phí trả trước ngắn hạn: Năm 2011 chi phí trả trước ngắn hạn của Công ty
là 1.497.029.034 VND, sang năm 2012 tăng lên thành 1.817.504.554 VND, tương ứng với 320.475.520 VND hay tỉ lệ tăng thêm là 21,41% Năm 2013 là 2.089.512.969 VND, tăng 266.015.427 VND so với năm 2012 là 1.817.504.554 VND, tương đương tăng 14,97% Việc các khoản trả trước ngắn hạn tăng thêm cho thấy Công ty luôn duy trì quan hệ tốt với các nhà cung cấp của mình Hơn thế nữa, do tích cực sản xuất bánh
để xuất đi các tỉnh thành nên Công ty phải nhập nguyên vật liệu đầu vào hơn trước, điều này làm cho chi phí trả trước ngắn hạn tăng đồng thời: trả trước cho người bán tiền hàng để thu mua nguyên liệu với giá rẻ
+ Thuế GTGT được khấu trừ: Năm 2011 khoản mục này có giá trị bằng 0 Sang
năm 2012 tăng tuyệt đối 100% là 7.714.096 VND Sự tăng tuyệt đối này do Công ty nhập máy móc và trả tiền thuế cho cơ quan Hải quan trước để có thể sở hữu máy móc sớm hơn, do nộp thừa tiền thuế nên được khấu trừ Nhưng năm 2013 còn 0 VND, giảm tuyệt đối 7.714.096 VND so với năm 2012, giảm tương đối 100% Năm 2013 Công ty không có khoản thuế GTGT được khấu trừ vì đã kết thúc khấu trừ vào năm 2012 Trong năm 2013 Công ty có thuế GTGT đầu vào nhỏ hơn thuế GTGT đầu ra, điều này làm cho Công ty không có khoản thuế GTGT được khấu trừ
+ Thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước: từ năm 2011 đạt 52.172.377
VND sang năm 2012 còn 47.458.204 VND giảm 4.714.173 VND tương đương 9,04% Năm 2013 là 49.179.312 VND tăng 1.721.108 VND so với năm 2012 là 47.458.204 VND, tương ứng với tỉ lệ tăng 3,63% Sở dĩ khoản thuế và các khoản phải thu Nhà nước của Công ty dương vì Công ty đã nộp thừa tiền thuế từ các năm trước đó Khi nhập các máy móc dây chuyền công nghệ từ nước ngoài về, Công ty đã nộp thừa tiền thuế cho cơ quan hải quan Vì vậy năm 2012 khoản này vẫn hiện hữu tuy nhiên đã giảm so với 2011 và sẽ được khấu trừ trong các năm tiếp theo cho đến khi giá trị bằng
0 Khi đến giữa năm 2013 thuế phải thu Nhà nước tăng nhẹ do Công ty nhập máy móc
Trang 36từ nước ngoài về và muốn bán ngay nên đã nộp thuế cho Hải quan trước để được sở hữu máy móc nhanh hơn Và do nộp thừa tiền thuế nên sẽ phải được khấu trừ về sau
Tỷ trọng (%) TSCĐ 3.584.958.549 10,17 3.779.898.114 10,56 3.776.412.080 10,65
Đầu tư tài
chính dài hạn 31.588.810.000 89,57 31.588.810.000 89,03 31.588.810.000 89,12 TSDH khác 91.969.740 0,26 114.108.479 0,32 79.728.395 0,22
TSDH 35.265.738.289 100,00 35.482.816.593 100,00 35.444.950.475 100,00
Nguồn: Xử lí số liệu từ Báo cáo tài chính
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu Tài sản dài hạn giai đoạn 2011 - 2013
Nguồn: Xử lí số liệu từ Báo cáo tài chính
Tài sản cố định hữu hình: so sánh năm 2012 với chu kì hoạt động sản xuất kinh
doanh trước đó là 2011 thì TSCĐ hữu hình tăng tuyệt đối 194.939.565 VND, ứng với mức tăng 5,64% Nhưng trong năm 2013 là 3.650.439.567 VND, giảm 3.486.034 VND so với năm 2012 là 3.653.925.601 VND, giảm tương đối 0,1% Với đặc thù là Công ty sản xuất, Công ty hoạt động chính trong vai trò là nhà sản xuất thực phẩm, TSCĐ của Công ty chủ yếu là máy móc, kho bãi, thiết bị văn phòng giúp quá trình hoạt động của Công ty diễn ra bình thường nhưng việc trích khấu hao cũng chính là nguyên nhân giảm tài sản cố định hữu hình
Giai đoạn 2011 - 2012 khoản mục này tăng đáng kể do Công ty đầu tư mua thêm các thiết bị lọc khí, quạt hơi đã lỗi thời nhằm sản xuất tốt hơn Với năm 2011 nguyên giá đạt 4.386.472.688 VND sang 2012 tăng thêm 218.182.000 VND tương ứng 4,97%
10,1 7%
89,0 3%
Trang 37Nguyên giá của toàn bộ TSCĐ mà Công ty có trong năm 2013 là 4.635.354.688 VND, tăng 30.700.000 VND so với năm 2012 là 4.604.654.688 VND, tăng tương đối 0,67% Giá trị hao mòn lũy kế năm 2013 là 984.915.121 VND tăng tuyệt đối 34.186.034 VND tương ứng với tỉ lệ 3,60% so với 2012 Trước đó, năm 2012 hao mòn là 927.486.652 VND tăng 23.242.435 VND tương đương 2,51% so với năm 2011
+ Chi phí xây dựng cơ bản dở dang: năm 2013 là 125.972.513 VND, vẫn giữ
nguyên so với năm 2012 và 2011, tương ứng tỉ lệ 0% Nguyên nhân là do Công ty không mua sắm đầu tư mới gì vào TSCĐ và còn tồn tại giá trị sửa chữa lớn TSCĐ là 2 máy trộn bột công suất lớn từ những năm 2010 - 2011 đã hoàn thành nhưng quyết toán chưa được giám đốc phê duyệt
Các khoản đầu tư tài chính dài hạn:
+ Đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh: từ năm 2011 đến 2013 không có biến
động, giá trị vẫn giữ nguyên 28.724.410.000 VND, ứng với tỉ lệ biến đổi là 0% Với việc liên kết với Công ty TNHH Việt Phát, kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông mạng, năm 2013 với tình hình hoạt động của bản thân Công ty cũng khó khăn nên ban giám đốc Công ty quyết định không đầu tư thêm vào các công
ty liên kết để đảm bảo an toàn
+ Đầu tư dài hạn khác: Giá trị là 2.864.400.000 VND không có biến đổi từ năm
2011 – 2013, tương ứng tỉ lệ 0% Trong năm 2010, Công ty có cho công ty Việt Phát vay vốn với giá trị 1.000.000.000 VND, cộng thêm với khoản vay trước đó nâng giá trị khoản đầu tư dài hạn khác lên thành 2.864.400.000 VND Vì Việt Phát chưa trả được
nợ nên khoản này vẫn giữ nguyên giá trị từ 2012 sang 2013
Về tổng tài sản: qua các năm ta đều thấy tổng tài sản tăng với mức đều đặn trong
khoảng 4.5% đến 5% mỗi năm Năm 2012 tổng tài sản đạt mức 54.756.073.611 VND tăng 2.719.672.781 VND tương ứng với tỉ lệ tăng tương đối 4,97% so với năm 2011 Sang năm 2013 tổng tài sản đạt 60.070.918.208 VND, tăng 2.595.171.816 VND so với năm 2012 là 57.475.746.392 VND, tương ứng tăng 4,52%
Qua phân tích tình hình biến động tài sản, ta thấy rõ quy mô tổng tài sản thay đổi
do các khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác tăng cùng với mua sắm thêm TSCĐ mới Điều đó cho thấy, qua 2 năm 2012 và 2013, quy mô về vốn của Công
ty đã tăng nhẹ và quy mô kinh doanh của Công ty cũng được mở rộng Đây là một tín hiệu khả quan trong khi nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ đang trong tình trạng làm ăn chật vật và thậm chí là phá sản Điều này cho thấy Công ty đang áp dụng các chính sách tài chính nới lỏng cho khách hàng để không những tăng doanh thu mà còn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, đây như con dao hai lưỡi, nó có thể giúp doanh nghiệp cải thiện tài sản của mình nhưng cũng dễ dàng dẫn đến tình trạng ứ
Trang 38đọng vồn và phát sinh tăng các khoản nợ khó đòi Ngoài ra, Công ty cũng phải cân nhắc sao cho hàng tồn kho được dự trữ hợp lý, không nên quá nhiều gây ra các chi phí quản lý hàng lưu kho, chi phí bảo quản hàng tồn kho,… Nó sẽ dẫn đến làm cho tốc độ quay vòng kho chậm, từ đó gia tăng rủi ro cho doanh nghiệp
Tỷ trọng (%)
Nợ phải trả 9.139.489.887 17 11.819.843.745 21 14.390.055.262 24
VCSH 45.616.583.724 83 45.655.902.647 79 45.680.862.946 76
Tổng NV 54.756.073.611 100 57.475.746.392 100 60.070.918.208 100
Nguồn: Xử lí số liệu từ Báo cáo tài chính
Biểu đồ 2.4 Cơ cấu nguồn vốn giai đoạn 2011 - 2013
Nguồn: Xử lí số liệu từ Báo cáo tài chính
Về nợ phải trả: Con số năm 2011 đạt được 54.756.073.611 VND sang năm
2012 là 11.819.843.745 VND tăng 2.719.672.781 VND, tăng tương ứng 4,52% Nâng mức nợ phải trả lên chiếm tỉ trọng 21% tổng nguồn vốn Tiếp theo đó, năm 2013 là 14.390.055.262 VND, tăng 2.680.353.858 VND so với năm 2012 là 11.819.843.745 VND, tăng với tỉ lệ 21,74% So với năm 2012 tỉ trọng nợ phải trả tăng thêm 3%, đạt con số 24% tổng nguồn vốn Năm 2013, 2012 do nhu cầu về vốn Công ty đã vay các
tổ chức tín dụng, huy động các nguồn khác để phục vụ nhu cầu vốn kinh doanh Trong
đó, nợ ngắn hạn tăng trong tổng nợ phải trả dẫn tới ảnh hưởng lớn đến sự thay đổi của tổng nợ phải trả
Nợ ngắn hạn: khoản mục này chính là giá trị cuối cùng của nợ phải trả qua các
năm vì Công ty Phát triển Sản phẩm mới Công nghệ mới không có nợ dài hạn Nó cho thấy Công ty quản lý các khoản nợ khá tốt và không phải vay nợ dài hạn Điều này
VCSH
Trang 39giúp doanh nghiệp tránh được các chi phí lãi vay nhưng cũng chính là nguyên nhân khiến Công ty khó phát triển mang tính đột phá
+ Vay và nợ ngắn hạn: Giai đoạn 2012 đạt 150.000.000 VND tăng tuyệt đối
100% so với năm 2011 là 0 VND Kế đó, khoản vay ngắn hạn năm 2013 là 0 VND, giảm 150.000.000 VND so với năm 2012 là 150.000.000 VND, tương ứng giảm 100% Nguyên nhân của sự tăng giảm từ 2011 - 2013 khoản vay và nợ ngắn hạn là do năm 2011 khả năng tự tài trợ bằng vốn tự có của Công ty không đáp ứng đủ, trong khi
đó Công ty đang cần có một khoản vốn để tư mua nguyên vật liệu và chi trả các chi phí quản lí doanh nghiệp Vậy nên năm 2012, Công ty quyết định vay nợ ngân hàng Agribank - Lạc Trung số tiền có giá trị 150.000.000 VND Việc dùng vốn vay ngắn hạn để kinh doanh có thể cung ứng vốn kịp thời nhưng cũng dễ xảy ra rất nhiều rủi ro, biến động về tỉ giá, lãi suất nên công ty đã hạn chế dùng vốn vay ngắn hạn để đầu tư cho việc kinh doanh Chính vì vậy sang đến năm 2013, Công ty đã tất toán số tiền nợ
và không có bất cứ khoản vay ngắn hạn nào khác nữa
+ Phải trả người bán: năm 2012 đạt 11.386.519.808 VND tăng 2.505.713.361
VND, tương đương 28,21% so với năm 2011 đạt 8.880.806.447 VND Năm 2013 khoản phải trả người bán tăng cao, năm 2013 là 14.144.796.633 VND, tăng lên 2.699.877.825 VND so với năm 2012 là 11.444.918.808 VND, tăng tương đương 23,59% Khoản tăng này là do hàng hóa thu mua và nhập về còn nợ người bán, khoản tín dụng được người bán cấp cho tăng lên Điều này chứng tỏ mối quan hệ giữa Công
ty và nhà cung cấp đang rất tốt đẹp Việc được hưởng khoản tín dụng thương mại có nghĩa là Công ty đang gián tiếp sử dụng vốn của người bán mà không phải chi trả lãi Công ty có thể tận dụng thời hạn tín dụng không mất phí Được hưởng nhiều khoản tín dụng từ người bán sẽ giúp doanh nghiệp để có thể mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh, từ đó mà thuận lợi của công ty được gia tăng Tuy nhiên, khoản phải trả người bán này cũng có chi phí cơ hội, đó là nếu không trả tiền đúng thời hạn, thì nhà cung cấp sẽ bị xếp hạng tín dụng ta thấp, có thể gây mất lòng tin cho nhà cung cấp
+ Người mua trả tiền trước: Từ năm 2011 khoản tiền mà người mua ứng trước
là 258.683.440 VND sau đó đến năm 2012 khoản này tăng thêm 5.119.965 VND, tương đương tỉ lệ tăng 1,98% nâng khoản này thành 263.803.405 VND Sang năm
2013 khoản người mua trả trước tăng nhanh đáng kể so với trước đó, năm 2013 là 303.657.630 VND, tăng lên 39.854.224 VND so với năm 2012 là 263.803.406 VND, tăng tương đương 15,11% Năm 2012 tăng ít so với 2011 vì căn bản do Công ty còn thụ động trong các chính sách thanh toán trước cho khách hàng Năm 2013, một số người mua đã trả tiền trước cho Công ty, dự tính nhiều hơn số chi phí mà người mua cần ứng trước để mua sản phẩm nên chỉ tiêu này có tăng đột xuất hơn thế nữa dần hoàn thiện chính sách cũng khiến làm cho khoản này tăng Nhìn chung, số tiền người
Trang 40mua ứng trước tăng hàng năm nhưng chưa được đều đặn chứng tỏ còn phụ thuộc nhiều vào nhu cầu của khách hàng Công ty nên có các chính sách khuyến khích khách hàng trả tiền trước để không những khuyến kích được sức mua mà còn nâng cao khả năng quay vòng vốn
+ Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước: Ta có thể thấy được bao quát rằng
khoản mục này có biến động thất thường Từ 2011 đến 2013 thì chỉ có duy nhất năm
2012 phát sinh tiền thuế phải nộp là 633.237 VND Điều này chứng tỏ doanh nghiệp chỉ thực sự làm ăn có hiệu quả và mang lại lợi nhuận tương đối trong năm 2012
+ Các khoản phải trả, phải nộp ngắn hạn khác: dựa vào tình hình phát sinh
trong 3 năm, ta dễ dàng nhận thấy các khoản phải trả, phải nộp ngắn hạn khác phát sinh duy nhất trong năm 2012 là 18.887.295 VND Nguyên nhân của sự tăng giảm đột biến này là do Công ty trích tiền để thanh toán bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn sinh hoạt chung cho cán bộ, nhân viên trong Công ty trong 2012 (trong khi trước đó năm 2011 không xuất hiện phát sinh) và trong 2013 lại không có phát sinh thêm
Nợ dài hạn: Công ty không có tồn tại khoản nợ dài hạn trong 3 năm 2011, 2012
và 2013 Chứng tỏ Công ty có thể quản lí tốt về tài chính và không phải vay nợ dài hạn Công ty đang đi theo chính sách thận trọng do ban giám đốc đưa ra một cách sát sao Bản thân là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm do đó việc đầu tư cũng không đòi hỏi nguồn vốn quá lớn như các ngành nghề khác như xây dựng, công nghiệp, Vì thế không duy trì nợ dài hạn sẽ giúp đảm khả năng thanh toán của công ty
và tránh được rủi ro Thế nhưng việc này cũng sẽ làm mất đi cơ hội sinh lời nếu như doanh nghiệp vay nợ dài hạn
Về vốn chủ sở hữu: Cuối chu kì sản xuất kinh doanh năm 2011 vốn chủ sở hữu
của Công ty đạt mức 45.616.583.724 VND, bước sang năm 2012 con số là 45.655.902.647 VND tăng tuyệt đối 39.318.923 VND, tương ứng tỉ lệ tăng tương đối
là 0,09% Tỉ trọng VCSH của Công ty năm 2012 sụt giảm 4% so với năm 2011, từ 83% xuống còn 79% Đến năm 2013, VCSH của Công ty là 45.680.862.946 VND tăng 24.960.299 VND so với năm 2012 là 45.655.902.647 VND, tăng nhẹ tương đối 0,05% Sang giai đoạn này VCSH tiếp tục giảm tỉ trọng của mình từ 79% xuống 76%, tương ứng sụt giảm 3% trên tổng nguồn vốn Sự tăng lên của vốn chủ sở hữu do bản thân chủ
sở hữu doanh nghiệp không đầu tư thêm vốn vào công ty trong khi đó nợ ngắn hạn phải trả cho các nhà cung cấp nguyên vật liệu đầu vào tăng và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối cũng tăng
Vốn đầu tư của chủ sở hữu: Công ty TNHH Phát triển Sản phẩm mới Công
nghệ mới luôn duy trì nguồn vốn chủ sở hữu của mình 45.364.400.000 VND qua các