Không có tác giả văn học sẽ không có nền cao. Sự xuất hiện của tác giả văn học và nghiên cứu phần làm sáng tỏ những quy luật vận động, hình thành nền văn học. Muốn trở thành tác giả văn học, nhà và vai trò quan trọng trong quá trình phát triển thành tựu của tác giả văn học không chỉ là số lượ phú về thể loại mà còn là chất lượng tác phẩm, trong góp phần khẳng định một khuyng hướng, trào lưu thành và phát triển của nền văn học.
Trang 1I ĐẶT VẤN ĐỀ
Không có tác giả văn học sẽ không có nền văn học với những đỉnhcao Sự xuất hiện của tác giả văn học và nghiên cứu về tác giả văn học gópphần làm sáng tỏ những quy luật vận động, hình thành và phát triển của mộtnền văn học Muốn trở thành tác giả văn học, nhà văn phải dành được vị trí
và vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của nền văn học dân tộc.thành tựu của tác giả văn học không chỉ là số lượng tác phẩm và sự phongphú về thể loại mà còn là chất lượng tác phẩm, trong đó những tác phẩm tốtgóp phần khẳng định một khuyng hướng, trào lưu định mốc cho sự hìnhthành và phát triển của nền văn học
Nhà văn, nhà thơ là nghệ sĩ sáng tác văn học Nghệ sĩ viết văn chânchính là những người có tâm hồn giàu xúc cảm; có tình yêu tha thiết, sâunặng đối với cuộc sống con người ; có trí tưởng tượng sáng tạo mãnh liệt;
có năng lực trí tuệ sắc bén; một khả năng quan sát và tự quan sát tinh tế, …Trên cơ sở những phẩm chất ấy, nghệ sĩ viết văn không ngừng tu dưỡng đểtạo cho mình một tài năng nghệ thuật cao Trong sáng tác văn học, tài năngnghệ thuật là kết quả tổng hợp kết tinh từ nhiều yếu tố: thế giới quan lànhmạnh, tích cực, vốn sống phong phú, vốn văn hóa uyên bác và chủ động,thành thạo trong sử dụng ngôn ngữ và tổ chức tác phẩm nghệ thuật ngôn từ
Nhận thấy tầm quan trọng lớn lao của nhà văn, nhà thơ trong tiếntrình phát triển của văn học nước nhà, hơn nữa Nguyễn Du lại là một đại thihào của dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới nên tôi quyết định tìm hiểu,lựa chọn những phương pháp phù hợp nhất, đạt hiệu quả cao nhất để giúphọc sinh tiếp cận với tác giả một cách hứng thú, hiệu quả và sáng tạo Những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học là yêu cầu quantrọng nhằm từng bước nâng cao chất lượng giáo dục, phát huy tính chủ độngsáng tạo của học sinh Tuy nhiên, đổi mới phải phù hợp với đặc điểm của
Trang 2từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việctheo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác độngđến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh Để đổi mớiphương pháp dạy học có hiệu quả, tôi đã luôn luôn tìm tòi, nghiên cứu, sửdụng các phương pháp cho phù hợp với từng phân môn và từng bài học Cónhư vậy thì hiệu quả giảng dạy mới cao được.
Phương pháp là một bộ phận hữu cơ trong quá trình dạy – học văn.Quá trình dạy - học văn bao gồm mục đích – nội dung, lí luận về phươngpháp và hoạt động dạy – học của giáo viên và học sinh Đây là quá trình sưphạm mang tính chất và đặc điểm xã hội phong phú, phức tạp với nhiều mốiquan hệ qua lại nhằm hình thành và phát triển nhân cách xã hội chủ nghĩacho học sinh bằng phương pháp văn chương
Người giáo viên là người tổ chức và điều khiển quá trình dạy học vănsao cho quá trình đó diễn ra phù hợp với đặc điểm nhận thức bộ môn và điềukiện sư phạm Tính chất phức tạp của quá trình nhận thức văn học đòi hỏingười giáo viên không những có tri thức khác nhau về quá trình tiếp cận,phân tích, cắt nghĩa và đánh giá các hiện tượng văn học mà cả khả năng nhìnthấy ở học sinh những cảm xúc tinh tế thường ẩn kín, khả năng quan sát vànhận thức nhạy bén về nhiều mặt đối với những biểu hiện tản mạn và lệchlạc trong cảm thụ và tư duy văn học của học sinh Từ đó giáo viên lựa chọnphương pháp dạy học phù hợp và hiệu quả cho bài học giúp học sinh lĩnhhội được một cách tốt nhất bài học
Có thể nói, cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động họctập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Thầy giáo không phải làngười nhồi nhét kiến thức cho học sinh mà là người hướng dẫn, tổ chức họcsinh lĩnh hội tri thức bằng con đường tự học Trong bộ môn Ngữ văn cónhững bài học thuộc về văn học sử, nếu chúng ta không chủ động tìm tòi đổimới phương pháp thì sẽ làm cho học sinh cảm thấy bài học đó trầm buồn,
Trang 3giáo viên rơi vào tâm thế giảng lại những kiến thức mà SGK đã viết và viếtrất hay, rất đầy đủ gây cảm giác nhàm chán cho bài học Mà tác giả văn họclại có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống văn hóa, văn học của mỗiquốc gia, dân tộc Tuy nhiên việc giảng dạy phần tác giả lại khô khan và dễgây nhàm chán cho người học.
Từ những vấn đề trên mà tôi đã mạnh dạn áp dụng phương pháp tựnghiên cứu vào giảng dạy bài tác giả NGUYỄN DU để giúp học sinh tiếpcận một cách tốt nhất với tác giả Nguyễn Du - một đại thi hào dân tộc, mộtdanh nhân văn hóa của thế giới Đồng thời để phát huy tính tự học và tư duysáng tạo của học sinh Tôi nghiên cứu đề tài này với mục đích tìm ra nhữngphương pháp tối ưu nhất cho bài học nhằm đạt được mục đích cao và nângcao chất lượng giờ dạy, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên Làmtốt công tác này sẽ kích thích tinh thần tự học của học sinh, tạo không khísôi nổi cho giờ dạy
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Cơ sở lý luận của vấn đề
1.1 Khái niệm phương pháp
Phương pháp dạy học là cách thức hành động có trình tự, phối hợp tương tác với nhau của giáo viên và của học sinh nhằm đạt được mục đích dạy học.
Nói cách khác phương pháp dạy học là hệ thống những hành động cóchủ đích theo một trình tự nhất định của giáo viên nhằm tổ chức hoạt độngnhận thức và hoạt động thực hành của học sinh nhằm đảm bảo cho họ lĩnhhội nội dung dạy học và chính như vậy mà đạt được mục đích dạy học
Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp họcvới sự tương tác lẫn nhau, trong đó phương pháp dạy đóng vai trò chủ đạo,
Trang 4còn phương pháp học có tính chất độc lập tương đối, chịu sự chi phối củaphương pháp dạy, song nó cũng ảnh hưởng trở lại phương pháp dạy
1.2 Khái quát về phương pháp tự nghiên cứu
Học văn học sử, học sinh trung học có thể tự đọc, tự nghiên cứusách giáo khoa để tự lĩnh hội bài học So với phương pháp đặt câu hỏi, mốiquan hệ tương tác giữa thầy và trò không được rõ, không được diễn ra cùngmột lúc Giáo viên chỉ có thể hướng dẫn tự đọc và kiểm tra kết quả đó trênlớp Tuy nhiên đây là phương pháp có tác dụng rèn luyện năng lực tự học, tựlĩnh hội văn bản của học sinh Ở THPT, cần đặc biệt chú trọng đến phươngpháp này Trong xu thế chung của dạy học hiện đại, yêu cầu học sinh phổthông tập dượt nghiên cứu đã đặt ra khá mạnh dạn ở nhiều nước Học sinh
có thể được hướng dẫn tóm tắt toàn bài học hoặc một phần bài học bằngcách rút bỏ ý phụ hoặc bằng cách khái quát ý nhỏ thành ý lớn Trong quátrình tự đọc, tự nghiên cứu bài học, học sinh có thể phát hiện ra những thiếusót của sách giáo khoa (nhất là một hệ thống) làm cho sự lĩnh hội của họcsinh gặp khó khăn Cốt lõi của việc học sinh tự nghiên cứu là tập dượt chohọc sinh làm quen với khả năng độc lập tự phát hiện nội dung văn bản mộtcách chính xác từ ý đồ chung cho đến luận điểm
Các bài bài học được dùng cho nghiên cứu được kiểm tra trên lớp khigiáo viên lướt qua bài đó với mục đích xem các em có thật sự tự đọc ở nhàkhông và nếu có tự đọc thì có hiểu, có nắm được tri thức cơ bản không?Việc tự đọc, tự nghiên cứu sách giáo khoa là một việc làm khó Đối với lớpthường, cần vận dụng từ thấp đến cao, bắt đầu từ việc chuẩn bị cho bài dạy(lập dàn ý, trả lời câu hỏi, sau có thể thay cho bài dạy trên lớp Một bài dạyhọc văn học sử trên cơ sở học sinh đã tự học, tự nghiên cứu sách giáo khoachưa có nhiều trong thực tiễn hiện nay) là kiểu bài cần được thực nghiệm vàkhuyến khích trong thời gian tới Học sinh làm việc trên sách giáo khoa làchủ yếu Song cũng không loại trừ việc giáo viên (trong điều kiện cho phép )
Trang 5nghiên cứu một vài bài viết có liên quan đến bài học văn học sử để hiểuđúng hơn vấn đề đặt ra trong sách giáo khoa.
Bài dạy tác giả văn học là kiểu bài có thể vận dụng tổng hợp cácphương pháp nghiên cứu văn học và giảng dạy văn học một cách rộng rãi.Trước hết đó là những phương pháp kết hợp tri thức khái quát (nhận định,quan điểm…) với tri thức cụ thể (tư liệu về đời sống và sáng tác tác phẩm )
để hình thành tri thức lí luận văn học (những quy luật văn học sử, quy luậtsáng tác và quy luật tiếp nhận văn học)
Dù cho thức kiến thức đưa vào sách giáo khoa đã được cân nhắc đếntừng câu, từng chữ, nhưng người giáo viên có trình độ vẫn không bao giờ
“bê nguyên si” tri thức ấy truyền lại cho học sinh, mà thường làm “sinh độnghóa” những tri thức ấy bằng những dẫn chứng minh họa văn chương, bằngnhững hiện tượng, sự kiện văn học cụ thể
Phương pháp tự nghiên cứu là phương pháp học sinh làm việc mộtmình với sách giáo khoa dưới sự điều khiển gián tiếp của giáo viên theonhiệm vụ học tập do giáo viên đề ra
* Nghiên cứu sách giáo khoa
Sách là nguồn tri thức vô tận và đa dạng, là phương tiện quan trọng đểnhận thức thế giới xung quanh, vì nó phản ánh những kinh nghiệm đã đượcloài người khái quát hoá, hệ thống hoá trong suốt quá trình phát triển lịch sửcủa mình René Descartes, nhà triết học, nhà khoa học tự nhiên người Pháp
đã nói: “Đọc một cuốn sách tốt, khác nào như trao đổi ý kiến với các nhân
vật ưu tú của các thế kỷ đã qua, và hơn nữa, cuộc trao đổi này hoàn toàn bổ ích vì những con người ưu tú này chỉ thông báo cho chúng ta những tư tưởng cao quý của mình”.
Vì vậy, phương pháp tự nghiên cứu sách giáo khoa có một vị trí quantrọng không chỉ trong việc lĩnh hội tri thức mà còn làm cho học sinh hìnhthành cách đọc sách Nhờ đó mà học sinh có thể tiến hành học tập liên tục,
Trang 6học tập suốt đời – một yêu cầu cấp bách trước sự bùng nổ thông tin như hiệnnay.
Bản chất của phương pháp này là sử dụng sách giáo khoa trong quá trìnhlàm việc, học sinh nắm vững, đào sâu, mở rộng tri thức đồng thời hình thànhnhững kỹ năng, kỹ xảo đọc sách
** Những yêu cầu của phương pháp tự nghiên cứu
Khi chuẩn bị bài giảng, giáo viên cần xác định nội dung nào trongsách giáo khoa hoặc sách báo khác để học sinh có thể tự lực nghiên cứu ởlớp
- Khi tiến hành bài học, giáo viên có trách nhiệm xem trong từng trường hợp
cụ thể phải hướng dẫn sử dụng sách giáo khoa hoặc các sách báo khác tạilớp cần theo trình tự nào là hợp lý nhất để kích thích hoạt động tư duy tíchcực của học sinh mà không dẫn tới ghi nhớ một cách máy móc
- Trước khi tổ chức cho học sinh tự nghiên cứu sách giáo khoa và tài liệusách báo khác, giáo viên cần tiến hành đàm thoại một cách cặn kẽ, tỉ mỉ vềchủ đề học tập, nêu lên những vấn đề cơ bản của tài liệu cần nghiên cứu vàxác định trình tự, phương pháp nghiên cứu theo trình tự đó
- Sử dụng việc nghiên cứu sách giáo khoa tại lớp dù bất kỳ trường hợp nàocũng không chiếm toàn bộ tiết học, cần phải phối hợp với các phương phápdạy học khác
- Sau khi tổ chức cho học sinh tự nghiên cứu nội dung nào đó trong sáchgiáo khoa hoặc trong tài liệu học tập khác cần đặt ra câu hỏi và kích thíchhọc sinh trả lời nhằm biết được mức độ lĩnh hội nội dung và qua đó có biệnpháp mở rộng hoặc đào sâu những kiến thức hoặc sửa chữa những điều màhọc sinh chưa hiểu đúng
- Tự học với sách giáo khoa tại lớp có thể sử dụng trong các tiết học lĩnh hộikiến thức mới và cả trong tiết học củng cố kiến thức đã học Để việc sử dụng
Trang 7sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác có kết quả cần hình thành chohọc sinh một số kỹ năng, kỹ xảo sau:
+ Kỹ năng, kỹ xảo đọc sách
+ Kỹ năng, kỹ xảo lập dàn ý, xây dựng đề cương
+ Kỹ năng, kỹ xảo trích ghi
+ Kỹ năng, kỹ xảo ghi tóm tắt
Những kỹ năng, kỹ xảo này được hình thành và hoàn thiện dần trongquá trình sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác tại lớp và ở nhàvới điều kiện ở lớp giáo viên đề ra những yêu cầu phải thực hiện nghiêm túc,
có sự kiểm tra chặt chẽ với những chỉ dẫn rõ ràng, tỉ mỉ, có hệ thống và họcsinh tích cực, cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập đề ra
2 Thực trạng vấn đề
Thực tế chung những năm gần đây, việc học sinh không tha thiết, thậmchí còn quay lưng lại đối với môn Ngữ văn trong nhà trường THPT là mộtthực trạng đáng báo động Thực tế dạy học cho thấy: việc đổi mới phươngpháp dạy học chỉ mới dừng lại ở chủ trương, ở khẩu hiệu hô hào chứ chưathực sự đi vào thực tiễn một cách sâu sát Thỉnh thoảng vẫn có những giáoviên nỗ lực tìm con đường đi sao cho tiết dạy của mình đạt hiệu quả caonhất Nhưng số đó không phải là nhiều Đa phần họ đều giảng dạy theophương pháp cũ lâu nay đã làm, từ đó dẫn đến tình trạng chán học, ngại học
ở học sinh Các em luôn nghĩ văn là đọc chép, văn là nhiều chữ, dài dòng màkhông biết rằng văn học vốn rất gần gũi với cuộc sống, cuộc sống thì baogiờ cũng bề bộn và vô cùng phong phú Mỗi tác phẩm văn chương là mộtmảng cuộc sống đã được nhà văn chọn lọc phản ánh Vì vậy môn văn trongnhà trường có một vị trí rất quan trọng: nó là vũ khí thanh tao đắc lực có tácdụng sâu sắc đến tâm hồn tình cảm của con người, nó bồi đắp cho con ngườitrở nên trong sáng, phong phú và sâu sắc hơn
Trang 8Thực tế bài dạy: đây là một bài nghiên cứu về tác giả văn học, đượcviết theo phong cách ngôn ngữ khoa học Trong bài nghiên cứu này, tác giả
đã giới thiệu thân thế và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du, một nhà thơnhân đạo tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII –nửa đầu thế kỷ XIX Ông có một đóng góp to lớn đối với nền văn học dântộc về nhiều phương diện nội dung và nghệ thuật, xứng đáng được gọi làthiên tài văn học, danh nhân văn hóa thế giới
và sáng tác Kiến thức lý luận quan trọng nhất là giải thích các yếu tố hìnhthành nên thiên tài Nguyễn Du
- Bài học tác gia văn học gồm hai phần: cuộc đời và sự nghiệp văn học, hainội dung này có mối quan hệ minh giải lẫn nhau làm sáng tỏ mối quan hệgiữa nhà thơ và người Xử lý mối quan hệ giữa văn và người không thể chỉnhìn hình thức bề ngoài để cắt nghĩa đơn giản, thô thiển: văn là người, ngườithế nào thì văn thế ấy! Ý nghĩa xã hội tiêu biểu của Nguyễn Du, của TruyệnKiều Đây là bài học có tính chất tổng quát và lý luận về một tác giả nêngiáo viên cần hướng dẫn học sinh nắm vững dàn ý, kết cấu của bài và nắmvững một số khái niệm chủ yếu đã nêu trong bài để có thể hiểu được bài
- Giáo viên hướng dẫn học sinh tự học theo nguyên tắc hướng dẫn cho họcsinh tự đọc, tự nghiên cứu văn bản bài học trước, sau đó cho học sinh thảoluận, tranh luận, học sinh nêu các luận điểm đã tiếp nhận dược qua tự nghiêncứu sách giáo khoa, giáo viên góp ý, bổ sung, học sinh nêu các ý kiến băn
Trang 9khoăn, thắc mắc và giáo viên giải đáp Hình thức dạy bài này chủ yếu là họcsinh tự nghiên cứu sách giáo khoa và các tài liệu khác liên quan đến bài học.
- Cuộc đời
Trong bài học tác giả Nguyễn Du bao gồm cuộc đời nhà thơ đượctrình bày trước sự nghiệp văn học Lịch sử văn hóa nhân loại luôn luôn gắnchặt với sự sáng tạo của con người Việc trình bày trước sau như vậy hàmchứa tính hợp lý tự nhiên, đồng thời thể hiện mối quan hệ đúng đắn giữa conngười với sản phấm sáng tạo Sản phẩm dù có tinh xảo như người máy thìvẫn thấp hơn người sáng tạo ra nó Tác giả văn học đâu phải chỉ là người sảnxuất ra sản phẩm cho xã hội Đó là một nghệ sỹ, một nhân cách có những nétriêng Vì vậy, cần thiết phải tìm hiểu cuộc đời tác giả Nguyễn Du với tưcách “Tổng hòa các mối quan hệ xã hội” (Mác) trong khi giảng dạy
Trong cuộc đời tác giả Nguyễn Du, chúng ta cần thiết phải cho họcsinh tìm hiểu về các yếu tố gia đình, quê hương, thời đại xã hội và cuộc đờiriêng đã góp phần hình thành nên thiên tài Nguyễn Du
- Sự nghiệp văn học
Yếu tố đầu tiên làm nên vị trí, vai trò của một tác giả trong lịch sử vănhọc chính là sự nghiệp văn học Phần sự nghiệp văn học giữ vai trò quantrọng trong phần bài dạy Xét tác gia văn học như một chỉnh thể văn học sửthì phải chú ý đầy đủ mối quan hệ cuộc đời và sự nghiệp sáng tác với tuổithọ của những trang sách và hoạt động nhà văn để lại Như vậy, chúng ta đềuthấy Nguyễn Du và Truyện Kiều đều đã trở thành bất hủ trong lòng độc giảxưa và nay
Trong khi trình bày về thành tựu văn học, tôi không chỉ dừng lại ở liệt
kê tác phẩm mà có thể phân tích một số tác phẩm chính như Truyện Kiều,Văn chiêu hồn, … để soi sáng những nhận định văn học sử và lý luận vănhọc có liên quan
Trang 10Cống hiến quan trọng của Nguyễn Du là tác phẩm Truyện Kiều, một tác
phẩm đủ sức làm rõ nét một phong cách nghệ thuật đã được định hình vàđem đến cho nền văn học dân tộc một cá tính sáng tạo độc đáo, một tiếngnói riêng không ai thay thế được
Bài học tác gia văn học nói chung và Nguyễn Du nói riêng tạo nênmột cái nhìn tổng thể về tiến trình văn học và tránh được sự khô khan, phiếndiện vì nó kết hợp được cái chung và cái riêng, tri thức khái quát và tri thức
cụ thể, con người và tác phẩm, nhân cách và tài năng, lý luận văn học vàthực tiễn sáng tác Vì vậy, bài học về tác giả Nguyễn Du có khả năng tạo nên
sự sinh động về tri thức và giáo dục
So với chương trình PTCS văn học Việt Nam được học ở PTTH ít hơnnhưng vẫn đòi hỏi giáo viên cung cấp kiến thức cơ bản, hệ thống cho họcsinh Để khắc phục những khó khăn trên, không thể tăng thêm bài khái quátvăn học sử mà cần khai thác triệt để của các bài học về tác giả văn học đồngthời quan tâm thích đáng đến những tác phẩm dạng trích và đọc thêm củanhững nhà văn, nhà thơ cùng thời với Nguyễn Du
3.2 Tổ chức thực hiện
3.2.1 Cách thức tổ chức
Do đặc điểm bài học tương đối dài nên giáo viên nhanh chóng ổnđịnh lớp và kiểm tra bài cũ trong vòng 5 phút, còn lại 40 phút cho giảng dạybài mới với kế hoạch thời gian như sau: 22-15-3: 22 phút: học sinh làm việcđộc lập với SGK theo phương pháp tự nghiên cứu; 15 phút sau: giáo viênkiểm tra quá trình tự học của học sinh theo phương pháp vấn đáp; 3 phút cònlại: giáo viên củng cố bài học
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc, tóm tắt nội dung chính của bài họctrong sách giáo khoa Gợi ý cách đọc và trình tự bài học như sau:
- Đây là bài trình bày những nét lớn về thân thế và sự nghiệp văn chươngcủa một tác giả lớn, vì thế khi đọc cần chú ý các yếu tố về gia đình, quê
Trang 11hương, nền giáo dục, tác động của thời đại, sự từng trải, vốn văn hóa, thếgiới quan, nhân sinh quan, … ảnh hưởng đến sáng tác của tác giả.
- Khi đọc phần Sự nghiệp văn học, cần nhớ tên những sáng tác tiêu biểu,
khắc sâu những đặc điểm nổi bật về nội dung và nghệ thuật của thơ vănNguyễn Du, chú ý các luận điểm, luận cứ của tác giả bài viết
Sau khi hướng dẫn xong, giáo viên cho học sinh làm việc độc lập dưới
sự giám sát trực tiếp của mình Sau khi học sinh tự nghiên cứu và tóm tắtnhững nội dung chính vào vở, giáo viên tiến hành kiểm tra dưới hình thứcvấn đáp (đàm thoại) Tương ứng với mỗi phần, giáo viên có thể đưa ra cáccâu hỏi để kiểm tra và kích thích học sinh trả lời nhằm biết được mức độlĩnh hội nội dung và qua đó có biện pháp mở rộng hoặc đào sâu những kiếnthức hoặc sửa chữa những điều mà học sinh chưa hiểu đúng
3.2.2 Đề xuất hướng triển khai bài giảng TRUYỆN KIỀU – tiết 80: Phần một tác giả NGUYỄN DU
- Ổn định lớp
- Kiểm tra bài cũ
- Dạy bài mới:
Hoạt động của Giáo viên
và Học sinh
Yêu cầu cần đạt
Giáo viên yêu cầu
học sinh đọc, tóm tắt nội
dung chính của bài học
trong sách giáo khoa
Giáo viên gợi ý cách đọc và
1 Quê hương và gia đình:
- Quê cha Hà Tĩnh, núi Hồng, sôngLam anh kiệt, khổ nghèo
- Quê mẹ Kinh bắc hào hoa, cái nôi của
Trang 12Nguyễn Du từ sự tác động
của ba yếu tố: quê hương,
gia đình; thời đại – xã hội;
cuộc đời riêng ?
- GV phát vấn :
- Nét chính về Nguyễn Du?
- Ông xuất thân trong một
gia đình như thế nào?
? Con người Nguyễn Du
chịu ảnh hưởng từ những
vùng văn hoá nào
+Quê cha, quê mẹ có ảnh
hưởng gì đến con người
ông?
+ Nơi sinh ra và lớn lên?
+ Ảnh hưởng từ gia đình
quan lại quý tộc?
+ Tư tưởng, tình cảm của
ông đối với con người, xã
hội như thế nào?
- Quê vợ đồng lúa Thái Bình lam lũ
- Gia đình quan lại có danh vọng lớn,học vấn cao nổi tiếng:
“ Bao giờ Ngàn Hồng hết cây Sông Rum (Lam) hết nước, họ này hết
quan”.
Nguyễn Du có điều kiện tiếp nhậntruyền thống văn hóa quý báu của giađình và nhiều vùng quê khác nhau Đó
là tiền đề cho sự phát triển tài năng củathơ ông sau này
- Dòng họ Nguyễn Tiên Điền củaNguyễn Du ở Hà Tĩnh nổi tiếng là dòng
họ “tấu thư” (đội sách), học hành giỏigiang, đời đời đỗ đạt, làm quan và cótruyền thống trước tác
- Vợ Nguyễn Du là con gái ĐoànNguyễn Thục – Đốc trấn Nghệ An.Dòng họ Đoàn Nguyễn ở Quỳnh Côi,trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh TháiBình) cũng là dòng họ có truyền thốnghọc giỏi, đỗ đạt, làm quan
2 Thời đại, xã hội
.- Cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, xã
Trang 13Giáo viên: 1802 Nguyễn
Ánh lật đổ nhà Tây Sơn để
lập triều Nguyễn
- HS : đọc kĩ SGK, nắm
vững lượng thông tin đã
được cung cấp để hiểu rõ
ảnh hưởng của hoàn cảnh
lịch sử - xã hội, các yếu tố
thuộc gia đình, đời sống
riêng đối với sự nghiệp sáng
tác của Nguyễn Du?
- HS lần lượt trả lời
hội phong kiến Việt Nam khủng hoảngtrầm trọng, loạn lạc bốn phương: khởinghĩa nông dân, kiêu binh làm loạn,Tây Sơn thay đổi sơn hà, diệt Nguyễn,Trịnh, diệt Xiêm, đuổi Thanh huyhoàng một thuở
- Trên đà khủng hoảng không gì cứuvãn của chế độ phong kiến Việt Nam ởcuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, giađình Nguyễn Du cũng tan tác mỗingười một phương Đặc biệt từ năm
1789 đến 1802, hơn 10 năm trốn tránhTây Sơn, Nguyễn Du rơi vào cuộc sống
vô cùng khó khăn, thiếu thốn, cực khổ:
Một phen thay đổi sơn hà, Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu!
Quãng đời “thập tải phong trần” nàyrất có ý nghĩa trong việc đào luyện nhàthơ Nguyễn Du, nhà thơ của nhân dân
3 Cuộc đời nhà thơ
- Thời thơ ấu và niên thiếu, Nguyễn Duđược sống trong không khí một giađình phong kiến quý tộc bậc nhất ởKinh đô Thăng Long Đây là quãngthời gian có nhiều điều kiện thuận lợinhất để cậu ấm Nguyễn Du dùi màikinh sử, tích lũy vốn văn hóa, văn học,làm nền tảng cho sáng tác văn chương