UNESCO, học tập gồm có các mục đích để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”. hiện đang nặng về học để biết, chương trình đào tạo và của học sinh, sinh viên vẫn dựa chủ yếu vào kiến thức, nghĩa là chỉ đạt được một trong bốn mục tiêu của UNESCO. Tuy nhiên, từ biết chuyên nghiệp với năng suất cao là một khoảng cách rất giáo dục kĩ năng mềm trong nhà trường là một yêu cầu cấp thiết, quan trọng. Tài liệu Nhiều Sách, tài liệu và bộ sưu tập ... Cộng đồng Nguyễn V… 123doc.org Nhúng Toàn màn hình 1 / 29 Bình luận về tài liệu mot-so-kinh-nghi… Event: UPLOAD CÀNG NHIỀU - THƯỞNG CÀNG LỚN6/29/2015 Một số kinh nghiệm trong giáo dục kĩ năng mềm cho học sinh qua giờ đọc - hiểu các văn bản văn học http://123doc.org/document/2855475-mot-so-kinh-nghiem-trong-giao-duc-ki-nang-mem-cho-hoc-sinh-qua-gio-doc-hieu-cac-van-ban-van-hoc-viet-nam.htm 2/6 80 0 0 81 0 0 Một số kinh nghiệm trong công tác tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ ... 79 2 0 ĐỀ TÀI Một số kinh nghiệm trong công tác xã hội hóa giáo dục ở nhà ... Từ khóa liên quan 1.2. M.Gorki đã khẳng định: “Văn học là nhân học” , làm người, học văn luôn gắn với đời sống của con người, các đem lại hiệu quả tác động đến mỗi cá nhân học sinh. Bở học có lợi thế rất lớn trong việc giáo dục kĩ năng mềm cho học sinh. 1.3. Tích hợp là một
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
1.1 Theo UNESCO, học tập gồm có các mục đích sau: “Học để biết, học
để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” Trường học chúng tahiện đang nặng về học để biết, chương trình đào tạo và việc đánh giá năng lựccủa học sinh, sinh viên vẫn dựa chủ yếu vào kiến thức, nghĩa là chỉ đạt được mộttrong bốn mục tiêu của UNESCO Tuy nhiên, từ biết đến hiểu, đến làm việcchuyên nghiệp với năng suất cao là một khoảng cách rất lớn Chính vì vậy, việcgiáo dục kĩ năng mềm trong nhà trường là một yêu cầu cấp thiết, quan trọng
1.2 M.Gorki đã khẳng định: “Văn học là nhân học”, học văn chính là họclàm người, học văn luôn gắn với đời sống của con người, các kiến thức Ngữ vănđem lại hiệu quả tác động đến mỗi cá nhân học sinh Bởi vậy, Ngữ văn là mônhọc có lợi thế rất lớn trong việc giáo dục kĩ năng mềm cho học sinh
1.3 Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại đang được quan
tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới Ở nước
ta, tích hợp được xem là nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình,biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp giảng dạy Với môn Ngữvăn, nguyên tắc tích hợp được quán triệt trong toàn bộ môn học, từ Đọc văn,Tiếng Việt đến Làm văn; trong mọi khâu của quá trình dạy học; trong mọi yếu tốcủa hoạt động học tập
Các văn bản văn học Việt Nam được đưa vào chương trình Ngữ văn 10trong các tiết đọc - hiểu văn bản là những văn bản văn học dân gian và văn học
Trang 2trung đại – vốn là những tác phẩm văn học khá khó hiểu đối với học sinh, khônggần gũi với đời sống sinh hoạt hằng ngày của các em trong thời đại hiện nay,đặc biệt là các tác phẩm văn học trung đại Chính vì vậy các em ít có hứng thúkhi tiếp nhận các tác phẩm Do đó, việc tích hợp giáo dục kĩ năng mềm cho họcsinh trong quá trình đọc - hiểu văn bản sẽ góp phần tạo hứng thú học cho họcsinh, giúp các em hiểu bài hơn, thấy được mối quan hệ mật thiết giữa vănchương và đời sống.
II/ Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một đề tài sáng kiến kinh nghiệm, bài viết chỉ tập trungnghiên cứu vấn đề trong phạm vi sau:
- Cơ sở lí luận của vấn đề tích hợp giáo dục kĩ năng mềm cho học sinh lớp
10 qua giờ đọc - hiểu các văn bản văn học Việt Nam.
- Thực trạng của việc vận dụng tích hợp giáo dục kĩ năng mềm cho học sinhlớp 10 qua giờ đọc - hiểu các văn bản văn học Việt Nam
- Các giải pháp thực hiện trong giờ đọc – hiểu văn bản nhằm mục tiêu tíchhợp giáo dục kĩ năng mềm cho học sinh
III/ Mục đích nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu nhằm xác định những vấn đề có tính chất lí thuyếtcủa vấn đề tích hợp giáo dục kĩ năng mềm cho học sinh lớp 10 qua giờ đọc –hiểu văn bản văn học Việt Nam
Nghiên cứu các giải pháp nhằm tích hợp giáo dục kĩ năng mềm vào dạyhọc tác phẩm văn chương sẽ giúp người viết có được cái nhìn đúng đắn, sâu sắc
Trang 3và toàn diện về vấn đề này, để việc dạy và học tác phẩm văn chương ngày càngtốt hơn
IV/ Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện nghiên cứu đề tài này, ngoài phương pháp nghiên cứu khoa họcchung, người viết còn sử dụng một số phương pháp chủ yếu như phương phápquan sát, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thực nghiệm…
Trang 4B NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận của vấn đề tích hợp giáo dục kĩ năng mềm trong giờ đọc – hiểu văn bản
1.1 Quan điểm tích hợp trong dạy học
Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp Nội hàm khoahọc khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay là sựnhất thể hoá đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nétbản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là một phép cộnggiản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy Trong lí luận dạy học, tíchhợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống, ở những mức độkhác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợpphần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ
về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phầncủa bộ môn đó
Việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở trường trunghọc phổ thông chẳng những dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễnđược đề cập trong các phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn cũng như các bộphận tri thức khác (hiểu biết lịch sử xã hội, văn hoá nghệ thuật ) mà còn xuấtphát từ đòi hỏi thực tế là cần phải khắc phục, xoá bỏ lối dạy học theo kiểu khépkín, tách biệt nhà trường và cuộc sống, cô lập giữa những kiến thức và kĩ năngvốn có liên hệ, bổ sung cho nhau, tách rời kiến thức với những tình huống cụ thể
mà học sinh sẽ gặp sau này trong đời sống thực tiễn
Trang 5Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn nhằm nâng caonăng lực sử dụng những kiến thức và kĩ năng mà học sinh lĩnh hội được, bảođảm cho mỗi học sinh khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và kĩnăng của mình để giải quyết những tình huống trong đời sống thực tiễn Mặtkhác, tránh được những nội dung, kiến thức và kĩ năng trùng lặp, đồng thời lĩnhhội những nội dung, tri thức và năng lực mà mỗi môn học hay phân môn riêng
rẽ không có được
1.2 Kĩ năng mềm
Theo quan niệm của WHO, kĩ năng sống có ba nhóm: Nhóm một - Nhóm
kĩ năng nhận thức, Nhóm hai Nhóm kĩ năng liên quan đến cảm xúc, Nhóm ba Nhóm kĩ năng xã hội Kĩ năng mềm thuộc nhóm thứ ba - nhóm kĩ năng xã hội,
-là hệ thống những kĩ năng giúp cá nhân thiết lập và duy trì các mối quan hệtrong xã hội thúc đẩy và hỗ trợ công việc đạt hiệu quả cao Kĩ năng mềm khôngnhững giúp người lao động nâng cao năng suất, hiệu quả công việc mà còn giúpích rất nhiều trong mọi khía cạnh cuộc sống ở gia đình, ngoài xã hội, nâng caođáng kể chất lượng cuộc sống và văn hóa xã hội
Có nhiều quan niệm khác nhau về các kĩ năng mềm Khái quát lại cácdạng kĩ năng mềm chính gồm những phương diện sau: Thái độ lạc quan, biếtlàm việc theo nhóm, giao tiếp hiệu quả, tự tin, chấp nhận và học hỏi từ những lờiphê bình, thúc đẩy chính mình và dẫn dắt người khác, đa năng và biết ưu tiêncông việc, biết nhìn nhận toàn diện, biết giải quyết vấn đề, có khả năng tự học
Trang 6và nâng cao năng lực cá nhân, kĩ năng tư duy và hành vi tích cực, biết sáng tạo
và mạo hiểm, lập kế hoạch và tổ chức công việc, có kĩ năng thuyết trình,…
1.3 Tích hợp giáo dục kĩ năng mềm trong giờ đọc – hiểu văn bản
Môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông là sự tích hợp ba phân môn:Đọc văn, Tiếng Việt và Làm văn Mỗi phân môn có vai trò, nhiệm vụ và vị tríkhác nhau trong việc trang bị tri thức khoa học, rèn luyện kĩ năng và bồi dưỡng
tư tưởng, tình cảm, thái độ cho học sinh Trong đó, Đọc văn là một phân mônquan trọng trong dạy học Ngữ văn Thông qua việc tổ chức các hoạt động, giáoviên từng bước hướng dẫn học sinh tìm hiểu các kiến thức về nội dung và nghệthuật, từ đó hình thành các kĩ năng đọc - hiểu cơ bản và bồi dưỡng thái độ sốngđúng đắn
Hiện nay, phân môn Làm văn với các dạng đề văn nghị luận xã hội cóvai trò rất lớn trong việc cung cấp cho học sinh những tri thức về đời sống vàcác kĩ năng sống cơ bản trong đó có các kĩ năng mềm Bên cạnh đó chúng tacũng không thể không nhắc đến vai trò của phân môn Đọc văn trong việc rènluyện kĩ năng sống cho học sinh Các văn bản văn học là sáng tạo nghệ thuật củamỗi nhà văn, phản ánh cái nhìn của nhà văn về hiện thực, cho thấy được nhiềuphương diện khác nhau của đời sống Do đó, thông qua việc đọc – hiểu các vănbản văn học, giáo viên có thể tích hợp giáo dục các kĩ năng mềm cần thiết chohọc sinh
II Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
2.1 Thuận lợi
Trang 7Xã hội hiện nay đang đặt ra vấn đề cấp thiết mong muốn đổi mới nền giáo dục,gắn liền giáo dục trong nhà trường với thực tiễn đời sống Ngành giáo dục cũng
ý thức rõ cần phải truyền đạt các kĩ năng sống cho học sinh trong thời kì hộinhập Trong các kĩ năng sống, kĩ năng mềm được quan tâm hàng đầu vì nóquyết định chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân
Môn văn có những đặc trưng riêng thích hợp với việc giáo dục các kĩnăng, dạy văn cũng là dạy các em học sinh làm người, biết thích ứng, hội nhậptốt với xã hội hiện đại
Đây là những điều kiện thuận lợi để giáo viên thực hiện đề tài
2.2 Khó khăn
Tuy ý thức được tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng mềm cho họcsinh nhưng hiện nay việc đưa giáo dục kĩ năng mềm vào trong nhà trường vẫncòn hạn chế, việc chủ động tích hợp giáo dục kĩ năng mềm mới chỉ ở một sốgiáo viên, chưa trở thành một quy định yêu cầu như một số nội dung tích hợpkhác
Thời gian dạy một tiết rất ngắn nên việc tích hợp cũng chỉ trong một thờigian hạn hẹp, vì vậy, giáo viên khó kết hợp được nếu không khéo léo
Học sinh có tình trạng học lệch nên các em ít đầu tư vào môn văn, yếu vềcảm thụ văn học nên khó có khả năng rút ra bài học kĩ năng mềm cho bản thân.Ngoài ra, việc rèn luyện kĩ năng mềm cần tiến hành thông qua những hoạt độngtích cực thực tiễn, trong khi nhiều học sinh vẫn quen với lối học thụ động Họcsinh của trường đa số xuất thân từ nông thôn nên khả năng thích ứng với xã hội
Trang 8hện đại của các em còn yếu, các hiểu biết về kĩ năng mềm ở các em hầu như làchưa có.
III Các giải pháp thực hiện
Trong quá trình giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy việc tích hợp giáo dụcnăng mềm một cách phù hợp trong dạy đọc – hiểu văn bản văn học góp phần tạonên không khí trao đổi sôi nổi, tạo hứng thú học tập cho học sinh Để đạt đượchiệu quả như vậy cho mỗi tiết dạy, cần tổ chức các hoạt động tạo điều kiện đểhọc sinh tích cực chủ động trong lĩnh hội kiến thức, giáo viên không áp đặt kiếnthức đối với học sinh, đồng thời có các hình thức khuyến khích, động viên cácem
3.1 Tạo hệ thống câu hỏi nêu vấn đề dẫn dắt học sinh rút ra bài học kĩ năng mềm
Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi chứa đựng mâu thuẫn nghệ thuật được họcsinh tiếp nhận một cách có ý thức, làm nảy sinh ở các em sự hứng thú, suy nghĩ
để tìm cách giải đáp, nhằm hiểu sâu tác phẩm Nói cách khác, đây là loại câu hỏiđem lại cho học sinh sự khó khăn trong việc tìm câu trả lời, muốn giải quyết nó,các em phải động não, phải suy nghĩ, tìm tòi những tri thức mới dựa trên nhữngtri thức, kinh nghiệm sẵn có của mình Trong dạy học Ngữ văn, câu hỏi nêu vấn
đề có tác dụng to lớn Nó phát huy tính tích cực, độc lập suy nghĩ, tính chủ độngtìm tòi, sáng tạo, kích thích hứng thú, say mê, lôi cuốn các em vào quá trình tìmhiểu sâu, khám phá các tầng nghĩa bên trong, các điểm sáng thẩm mĩ, thưởngthức cái hay, cái đẹp và trực tiếp tham gia vào quá trình biến văn bản văn học
Trang 9thành tác phẩm văn học với sự sáng tạo của riêng mình Quan trọng hơn, các emđược hình thành và rèn luyện khả năng tự tiếp nhận, tự đánh giá, phân tích vănbản văn học theo quan điểm của riêng mình Ngoài ra, nó còn có tác dụng thôithúc các em tìm hiểu thêm nhiều tư liệu lên quan đến văn bản được học
Trong quá trình tổ chức các hoạt động của giờ đọc - hiểu văn bản, mụctiêu quan trọng của giáo viên là giúp học sinh nắm bắt được các giá trị nội dung,nghệ thuật của văn bản và rèn luyện một số kĩ năng đọc – hiểu Tuy nhiên, nhiềuchi tiết nghệ thuật trong văn bản bên cạnh việc góp phần thể hiện nội dung củatác phẩm còn có khả năng gợi đến một bài học, một kĩ năng mềm nào đó có thểứng dụng trong đời sống Giáo viên cần có sự liên tưởng rộng, phát hiện ra cácchi tiết để đặt ra các câu hỏi nêu vấn đề có tính chất gợi mở để dẫn dắt học sinhrút ra các bài học đó
Ví dụ 1: Khi tìm hiểu văn bản Chiến thắng Mtao Mxây, trước chi tiết
Đăm Săn ăn được miếng trầu của Hơ Nhị trở nên khỏe mạnh và được ông trờimách cho cách đánh Mtao Mxây, nhờ đó mới giành được thắng lợi cuối cùng,
giáo viên đặt câu hỏi: Em có thể rút ra bài học nào từ chi tiết này? Giáo viên có thể gợi dẫn thêm: Tại sao Đăm Săn là một người anh hùng tài giỏi võ nghệ mà vẫn phải nhờ đến sự giúp đỡ của Hơ Nhị và ông trời? Lúc này học sinh có thể
trả lời được câu hỏi của giáo viên: Bài học rút ra ở đây là sống trong xã hội,chúng ta rất cần sự giúp đỡ của người khác, khi sự nỗ lực của bản thân chưađem lại kết quả mong muốn, người ta cần tìm kiếm sự hỗ trợ của mọi người Do
đó đặt ra vấn đề là bản thân mình cũng cần luôn sẵn lòng giúp đỡ người khác, từ
Trang 10đó mà xây dựng ý thức làm việc tập thể, tinh thần đoàn kết tương trợ lẫn nhau.Đây chính là một kĩ năng mềm quan trọng trong công việc của mỗi cá nhân, bởi
lẽ kĩ năng này giúp chúng ta có thể nhận được những lời khuyên, sự can thiệpcần thiết để tháo gỡ, giải quyết những vấn đề khó khăn, giảm bớt được căngthẳng tâm lý do bị dồn nén cảm xúc Biết tìm kiếm sự giúp đỡ kịp thời sẽ giúp
cá nhân không cảm thấy đơn độc, bi quan, và trong nhiều trường hợp, giúpchúng ta có cái nhìn mới và hướng đi mới
Ví dụ 2: Khi tìm hiểu văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu –
Trọng Thủy, sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu về các nhân vật chính trong
tác phẩm, giáo viên yêu cầu học sinh rút ra các bài học cho riêng mình Học sinh
có thể rút ra rất nhiều bài học khác nhau Đối với nhân vật Mị Châu, một số họcsinh rút ra bài học là không nên tin người khác, giáo viên cần định hướng lại,liệu có phải chúng ta mất niềm tin vào tất cả những người xung quanh? Vấn đềđặt ra ở đây là muốn tin một người nào đó, rất cần có điều kiện, có sự thử thách
bằng những cách thức khác nhau Sau này, khi học đoạn trích Uy-lit-xơ trở về,
giáo viên có thể liên hệ ngược nhân vật Pê-nê-lôp với nhân vật Mị Châu để họcsinh hiểu rõ hơn về bài học này Đây là một bài học quan trọng bởi lẽ mỗi cánhân không thể sống đơn độc, ai cũng cần phải sống trong một cộng đồng nhấtđịnh nào đó, việc hiểu và đặt lòng tin vào ai đó có ảnh hưởng đến cách ứng xửtrong đời sống
Đối với nhân vật An Dương Vương, bài học rút ra quan trọng nhất là phảibiết nhìn nhận toàn diện, cần xác định được các yếu tố dẫn tới thành công, nhận
Trang 11ra các nguy cơ tiềm ẩn và thời điểm nó xảy ra Đây là một trong những kĩ năngmềm đặc biệt quan trọng trong bất kì công việc nào.
Ví dụ 3: Khi tìm hiểu văn bản Tấm Cám, giáo viên đặt câu hỏi gợi mở
học sinh: Em rút ra bài học gì từ chi tiết khi Bụt bảo Tấm nhìn vào giỏ xem có còn gì nữa không, Tấm nhìn vào thì thấy còn một con cá bống – trong khi trước
đó Tấm nghĩ chỉ còn giỏ không và ôm mặt khóc? Học sinh có thể đưa ra nhiều
bài học, giáo viên cần dẫn dắt để học sinh thấy bài học quan trọng ở đây chính làtinh thần lạc quan, biết xem xét mọi vấn đề một cách cẩn trọng, không vội nảnchí, bất lực Trong cuộc sống, cái nhìn lạc quan dẫn đến hành động và thái độlạc quan, từ đó cho kết quả công việc khả quan và hiệu quả hơn
Ví dụ 4: Với văn bản Tam đại con gà, giáo viên đặt ra câu hỏi để học sinh
bàn bạc: Khổng Tử có câu, “biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết – thế cũng gọi là biết vậy” câu nói này có mối liên hệ như thế nào với văn bản Tam đại con gà? Từ đó rút ra bài học gì cho bản thân trong cuộc sống? Ở đây,
giáo viên cần hướng dẫn học sinh rút ra bài học về sự trung thực, thẳng thắn,biết nhìn nhận những thiếu sót để từ đó làm giàu thêm tri thức cho bản thân.Trong thời đại hiện nay, tri thức phát triển nhanh, cần phải có ý thức chủ độngtrang bị cho bản thân, không được che đậy chỗ thiếu hụt kiến thức, đây chính làtiền đề quan trọng để mỗi người rèn luyện cho mình kĩ năng tự học
Trang 12Ví dụ 5: Trong văn bản Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, và Thái
sư Trần Thủ Độ, giáo viên đặt ra các câu hỏi yêu cầu học sinh rút ra các bài học
sống cho bản thân thông qua các chi tiết trong các văn bản:
Chi tiết Trần Quốc Tuấn trả lời vua Trần về kế sách chống giặc: “nó cậytrường trận, ta dựa vào đoản binh Dùng đoản (binh) chế trường (trận) là sựthường của binh pháp Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì dễ chếngự Nếu nó đến chậm như cách tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọndùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có đượcđội quân một lòng như cha con thì mới dùng được…” giáo viên cần hướng dẫnhọc sinh không chỉ thấy được tài dùng binh của Trần Quốc Tuấn mà còn thấyđược sự cần thiết phải linh hoạt ứng biến trong những tình huống khác nhau.Đây là bài học không bao giờ cũ, đặc biệt vẫn luôn có ý nghĩa trong thời đạihiện nay
Qua chi tiết Trần Thủ Độ lấy tiền lụa thưởng cho người hặc nói xấu mìnhtrước mặt vua Thái Tông, giáo viên định hướng cho học sinh một kĩ năng mềmquan trọng, đó là kĩ năng chấp nhận và học hỏi từ những lời phê bình, biết biếnlời phê bình thành kinh nghiệm và bài học cho bản thân
Qua chi tiết Linh Từ Quốc Mẫu bị người quân hiệu ngăn lại không cho đi
trong thềm cấm, về nhà khóc bảo Thủ Độ rằng: “Mụ này làm vợ ông mà bọn quân hiệu khinh nhờn như thế”, Thủ Độ giận sai đi bắt, nhưng khi nghe người
quân hiệu kể sự thực, Trần Thủ Độ không trách gì lại còn lấy vàng lụa ban
Trang 13thưởng, giáo viên cần giúp học sinh không chỉ thấy được sự công tư phân minh,xem trọng phép tắc của Trần Thủ Độ mà còn rút ra một bài học kĩ năng quantrọng là: trước một vấn đề xảy ra, rất cần xem xét, lắng nghe một cách toàn diện,
đa chiều Có như vậy mới xác định được đúng bản chất vấn đề, từ đó tổ chứccông việc, giải quyết vấn đề một cách hiệu quả
Ví dụ 6: Trong văn bản Chuyện Chức phán sự đền Tản Viên, bên cạnh
việc giúp học sinh thấy được tính cách dũng cảm, tinh thần khảng khái cươngtrực, dám đấu tranh chống lại cái ác, trừ hại cho dân của Ngô Tử Văn và từ đóbồi dưỡng lòng yêu chính nghĩa cho các em, giáo viên có thể đặt câu hỏi về kĩ
năng sống: Trong cuộc trò chuyện với Thổ công, Ngô Tử Văn đã tìm hiểu cặn kẽ
về tên Bách hộ họ Thôi, chàng còn gạn hỏi: “Hắn có thực là tay hung hãn, có thể gieo vạ cho tôi không?” Chi tiết này có thể gợi lên cho em bài học nào?
Giáo viên gợi dẫn để học sinh phát hiện ra: ở đây, Ngô Tử Văn đã rất cẩn trọngtìm hiểu để nắm rõ tình hình, hiểu được kẻ thù về cả điểm yếu và điểm mạnh đểtìm ra cách thức đối phó hợp lí Đây chính là bài học về kĩ năng lập kế hoạch và
tổ chức công việc Để lập được kế hoạch và tổ chức công việc, cần có cái nhìntổng quan về công việc, xác định được các yếu tố dẫn tới thành công, nhận racác nguy cơ tiềm ẩn và thời điểm nó xảy ra, xác định trước được những việc cầnlàm…
Như vậy, thông qua các câu hỏi nêu vấn đề xoay quanh một số chi tiếttrong các văn bản văn học, giáo viên có thể gợi dẫn để giúp học sinh nắm được
Trang 14những bài học về kĩ năng mềm cần thiết trong cuộc sống Trên đây mới chỉ lànhững tìm tòi ban đầu phát hiện ra những bài học kĩ năng mềm qua các chi tiết,giáo viên còn có thể liên hệ để phát hiện thêm nhiều chi tiết có ý nghĩa gợi mở.Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước đầu tiên trong quá trình hình thành kĩ năng mềmcho học sinh, bởi lẽ, cũng giống như các kĩ năng khác, kĩ năng mềm chỉ thực sựđược hình thành trong hoạt động và bằng hoạt động Chỉ thông qua hoạt độngthực tiễn, các bài học kĩ năng này mới thực sự phát huy được vai trò của nó.Chính vì vây, mỗi học sinh cần hiểu rõ nhiệm vụ của mình trong quá trình rènluyện kĩ năng, không dừng lại ở việc nắm chắc kiến thức lí thuyết mà còn cầnphải tích cực chủ động rèn luyện trong cuộc sống hằng ngày Hai biện pháp dướiđây sẽ phần nào giúp học sinh rèn luyện các kĩ năng đó.
3.2 Tạo tình huống giả định để học sinh rèn luyện kĩ năng mềm
Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống, những tình huống nghệ thuậttrong văn chương là sự khúc xạ của những tình huống có trong cuộc đời thựchằng ngày Do đó, việc tạo ra những tình huống giả định để học sinh rèn luyện
kĩ năng mềm là một cách hữu hiệu để các em thấy văn chương hoàn toàn không
xa rời cuộc sống thực tế, nó gắn liền với những con người hằng ngày xungquanh các em Đối với yêu cầu này, các em được tự do trình bày ý kiến củamình, giáo viên lắng nghe và tôn trọng các ý kiến phát biểu của học sinh Tuynhiên, giáo viên cần khái quát lại để các em nắm được một số kĩ năng mềm quantrọng