1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh lào cai

98 457 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 2,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo kết quả phân tích gen vi rút gây bệnh ở phòng thí nghiệm giám định vi rút LMLM IAH, Pibright, UK, type O gây bệnh năm 2000 có cấu trúc gene khác với type O gây bệnh ở Đài Loan năm 1

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chúng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc.

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu và hoàn thành Luận văn đều đã đƣợc cảm ơn

Học viên

Nguyễn Văn Chất

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn này, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính

trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Văn Quang - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi hết sức tận tình trong

suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014

Học viên

Nguyễn Văn Chất

Trang 4

MỤC LỤC Trang

MỞ ĐẦU i

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Lịch sử phát hiện bệnh 4

1.1.1 Tên gọi của bệnh 4

1.1.2 Khái niệm về bệnh 4

1.1.3 Lịch sử phát hiện bệnh 4

1.1.4 Bệnh Lở mồm long móng trên thế giới 6

1.1.5 Bệnh LMLM ở Việt Nam 9

1.2 Tình hình dịch LMLM tại tỉnh Lào Cai từ 2009 - 2014 14

1.3 Vi rút Lở mồm long móng 16

1.3.1 Hình thái và cấu trúc 17

1.3.2 Đặc tính di truyền, cấu trúc gen và kháng nguyên của vi rút LMLM 18

1.3.3 Đặc tính kháng nguyên 20

1.3.4 Các điểm quyết định kháng nguyên 21

1.3.5 Tiến hóa của vi rút LMLM 22

1.3.6 Đặc tính nuôi cấy vi rút LMLM trên tổ chức tế bào 23

1.4 Một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh LMLM 24

1.4.1 Nguồn dịch 24

1.4.2 Động vật cảm thụ 25

1.4.3 Đường xâm nhập 26

1.4.4 Cơ chế sinh bệnh 27

Trang 5

1.4.5 Chất chứa vi rút 28

1.4.6 Con đường và phương thức truyền lây 29

1.4.7 Lứa tuổi mắc bệnh 30

1.4.8 Tỷ lệ ốm và chết 30

1.5 Miễn dịch trong bệnh LMLM 31

1.6 Triệu chứng và bệnh tích ở trâu, bò 32

1.6.1 Triệu chứng 32

1.6.2 Bệnh tích 36

1.7 Chẩn đoán 36

1.7.1 Chẩn đoán lâm sàng 36

1.7.2 Chẩn đoán phòng thí nghiệm 37

1.8 Phòng bệnh LMLM 41

1.8.1 Vệ sinh phòng bệnh 41

1.8.2 Vắc xin phòng bệnh 42

Chương 2NỘI DUNG, VẬT LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 45

2.2 Nội dung nghiên cứu 45

2.3 Vật liệu nghiên cứu 45

2.4 Phương pháp nghiên cứu 46

2.4.1 Phương pháp lấy mẫu máu 46

2.4.2 Phương pháp lấy mẫu biểu mô 47

2.4.3 Phương pháp 3ABC - ELISA phát hiện kháng thể nhiễm tự nhiên 47

2.4.4 Thiết kế thí nghiệm xác định tình hình nhiễm vi rút tự nhiên 48

2.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 49

Chương 3KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 50

3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh LMLM ở trâu, bò tại tỉnh Lào Cai giai đoạn 2009 - 2014 50

3.1.1 Tình hình dịch LMLM tại tỉnh Lào Cai từ 2009 - 2014 50

Trang 6

3.1.2 Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM tại tỉnh Lào Cai từ năm 2009 - 2014 52

3.1.3 Thời gian lưu hành bệnh LMLM ở trâu, bò tại tỉnh Lào Cai 55

3.1.4 Lứa tuổi mắc bệnh 61

3.1.5: Tỷ lệ trâu, bò chết do mắc bệnh LMLM trong các ổ dịch 65

3.2 Xác định tỷ lệ dương tính huyết thanh học đối với các kháng nguyên phi cấu trúc 3ABC, đánh giá theo tỷ lệ mang trùng do nhiễm khuẩn vi rút tự nhiên ở trâu, bò 68

3.2.1 Tỷ lệ dương tính huyết thanh 3ABC trên trâu, bò ở tỉnh Lào Cai từ năm 2009 - 2014 68

3.2.2 Tỷ lệ dương tính huyết thanh 3ABC trên trâu, bò tại huyện Si Ma Cai 71

3.2.3 Diễn biến tỷ lệ nhiễm vi rút tự nhiên tại một điểm 72

3.3 Định type vi rút gây bệnh LMLM ở trâu, bò tỉnh Lào Cai 74

3.4 Xác định loại vắc xin phòng bệnh LMLM phù hợp cho trâu, bò trên địa bàn tỉnh Lào Cai 75

3.5 Bản đồ dịch tễ bệnh LMLM ở trâu, bò tỉnh Lào Cai giai đoạn 2009 - 2014 75

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 77

1 Kết luận 77

2 Đề nghị 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Tổng hợp số ổ dịch LMLM ở các huyện của tỉnh Lào Cai(2009 - 2014) 15

Bảng 3.1: Tổng hợp số ổ dịch LMLM ở các huyện của tỉnh Lào Cai(2009 - 2014) 50

Bảng 3.2: Tỷ lệ, trâu, bò mắc bệnh LMLM qua các năm 52

Bảng 3.3: Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo năm (tính chung trâu, bò) 54

Bảng 3.4: Số ca mắc bệnh LMLM ở trâu qua các năm theo mùa 55

Bảng 3.5: Số ca mắc bệnh LMLM ở bò qua các năm theo mùa (2009 - 2014) 57

Bảng 3.6: Số ca bệnh LMLM ở trâu, bò qua các năm theo mùa 58

Bảng 3.7: Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM qua các năm theo mùa 60

Bảng 3.8: Tỷ lệ trâu mắc bệnh LMLM theo lứa tuổi 62

Bảng 3.9: Tỷ lệ bò mắc bệnh LMLM theo lứa tuổi 63

Bảng 3.10: Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo lứa tuổi 64

Bảng 3 11: Tỷ lệ trâu, bò chết do mắc bệnh LMLM theo tuổi(2009 - 2014) 65

Bảng 3.12: Tỷ lệ trâu, bò chết do bệnh LMLM theo mùa (2009 - 2014) 66

Bảng 3.13: Tỷ lệ trâu, bò chết do bệnh LMLM theo năm 67

Bảng 3.14: Tỷ lệ dương tính huyết thanh học 3ABC ở trâu, bò ở tỉnh Lào Cai (2009 - 2014) 69

Bảng 3.15: Tỷ lệ dương tính huyết thanh học 3ABC ở trâu, bò năm 2014 70

Bảng 3.16: Tỷ lệ dương tính 3ABC - ELISA ở trâu, bò tại huyện Si Ma Cai 71

Bảng 3.17: Diễn biến dương tính 3ABC-ELISA ở trâu, bò được tiêm phòng vắc xin qua thời điểm khác nhau tại huyện Bắc Hà 72

Bảng 3.18: Tổng hợp kết quả xét nghiệm mẫu biểu mô từ trâu, bò 74

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Biểu đồ số ổ dịch LMLM xảy ra qua các năm tại Lào Cai (2009 -

Trang 8

Hình 1.2 Cấu trúc virion của vi rút LMLM type O1BFS 17

Hình 1.3 Cấu trúc hệ gen phân tử protein 18

Hình 1.4: Hình ảnh một số động vật cảm thụ 25

Hình 1.5 Một số hình ảnh của lợn mắc bệnh lở mồm long móng 26

Hình 1.6 Nước bọt chảy ra sau khi mụn vỡ 33

Hình 1.7 Hình ảnh sau khi mụn vỡ 34

Hình 1.8 Chân bắt đầu khỏi bệnh 35

Hình 1.9 Bầu vú sưng, mụn đã vỡ 35

Hình 1.10: Một số loại vắc xin bệnh lở mồm long móng trên thị trường 44

Hình 3.1 Biểu đồ số ổ dịch LMLM xảy ra qua các năm tại Lào Cai (2009 - 2014) 51

Hình 3.2: Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM qua các năm 53

Hình 3.3: Biều đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo năm (tính chung trâu, bò) 54

Hình 3.4: Biểu đồ số ca mắc bệnh LMLM ở trâu qua các năm theo mùa 56

Hình 3.5: Biểu đồ số ca mắc bệnh LMLM ở bò qua các năm theo mùa (2009 - 2014) 58

Hình 3.6: Biểu đồ Số ca bệnh LMLM ở trâu, bò qua các năm theo mùa 59

Hình 3.7: Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM qua các năm theo mùa 60

Hình 3.8: Biểu đồ tỷ lệ trâu mắc bệnh LMLM theo lứa tuổi 62

Hình 3.9: Biểu đồ tỷ lệ bò mắc bệnh LMLM theo lứa tuổi 63

Hình 3.10: Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo lứa tuổi 64

Hình 3.11: Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò chết do mắc bệnh LMLM theo tuổi

(2009 - 2014) 66

Hình 3.12: Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò chết do mắc bệnh LMLM theo mùa

(2009 - 2014) 66

Hình 3.13: Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò chết do bệnh LMLM theo năm 68

Hình 3.14: Biểu đồ tỷ lệ dương tính huyết thanh học 3ABC ở trâu, bò

tỉnh Lào Cai (2009 - 2014) 69

Trang 9

Hình 3.15: Biểu đồ tỷ lệ dương tính huyết thanh học 3ABC ở trâu, bò năm 2014 70 Hình 3.16: Biểu đồ tỷ lệ dương tính 3ABC - ELISA ở trâu, bò tại huyện Si

Ma Cai .71 Hình 3.17: Biểu đồ diễn biến dương tính 3ABC-ELISA ở trâu, bò được tiêm phòng vắc xin qua thời điểm khác nhau tại huyện Bắc Hà 73Hình 3.18: Biểu đồ tổng hợp kết quả xét nghiệm mẫu biểu mô từ trâu, bò 74 Hình 3.19: Bản đồ dịch tễ bệnh lở mồm long móng 76

Trang 10

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

LMLM : Lở mồm long móng OIE : Tổ chức Thú y Thế giới

WRL : World Reference Laboratory

VP : Viral protein PCR : Polymerase Chain Reaction ELISA : Enzyme Linked Immunosorbent Assay - xét

nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết với enzyme TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

PTNT : Phát triển Nông thôn

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dịch tễ học đóng vai trò quan trọng trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm, giúp xây dựng và triển khai phòng, chống dịch bệnh LMLM đạt hiệu quả

Trong những năm qua bệnh lở mồm long móng gây thiệt hại không nhỏ cho người chăn nuôi, là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với động vật guốc chẵn như trâu, bò, lợn, dê, cừu, hươu, nai Bệnh đã được Tổ chức Thú y thế giới xếp đầu bảng A (bảng các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của động vật) và bắt buộc các nước thành viên phải khai báo

Bệnh do vi rút LMLM thuộc họ Picornaviridae, giống Aphthovirus gây

ra, có hai đặc tính đặc biệt liên quan đến dịch tễ học, đó là tính đa type và tính

dễ biến đổi kháng nguyên Các type vi rút tuy gây ra những triệu chứng giống nhau nhưng lại không gây miễn dịch chéo cho nhau Bệnh LMLM là một bệnh của xã hội, bởi nó ảnh hưởng đến lợi ích chung của cộng đồng nhiều hơn là riêng lẻ từng hộ chăn nuôi Bệnh có thể lây lan trong phạm vi một nước hoặc nhiều nước và trở thành đại dịch

Từ khi đất nước ta phát triển theo hướng kinh tế thị trường, gia nhập WTO tạo ra sự giao thương về hàng hóa, động vật và sản phẩm động vật giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới Từ đó bệnh LMLM càng diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng lớn đến kinh tế

Trên thực tế việc khống chế và đi tới thanh toán bệnh LMLM gặp rất nhiều khó khăn Việc vận chuyển gia súc, chăn nuôi nhỏ lẻ, tự phát thiếu quy hoạch, Giải pháp tiêm phòng vắc xin để chủ động phòng bệnh được các nhà khoa học, các nhà quản lý nước ta chọn là phương án tối ưu Tuy nhiên, phải nghiên cứu type vi rút gây bệnh trên thực địa mới có cơ sở khoa học lựa chọn loại vắc xin phù hợp, phòng bệnh hiệu quả, bảo vệ đàn gia súc và tăng thu nhập cho người chăn nuôi

Tỉnh Lào Cai có vị trí và địa hình phức tạp, nằm ở phía bắc của đất

Trang 12

nước, phía bắc giáp tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, phía nam giáp tỉnh Yên Bái, phía đông giáp tỉnh Hà Giang, phía tây giáp tỉnh Lai Châu; diện tích: 6.383,89

km2, dân số: 613.075 người, gồm 8 huyện và 1 thành phố; tổng đàn trâu, bò là: 120.142 con (theo số liệu của Cục Thống kê Lào Cai công bố ngày 01/4/2014)

Trong những năm gần đây, dịch LMLM vẫn thường xuyên tái phát tại tỉnh Lào Cai, gây ảnh hưởng đến sự tăng trưởng ngành chăn nuôi và ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của tỉnh

Năm 1999, dịch LMLM xảy ra tại 03 huyện, thành phố (huyện Sa Pa, huyện Bát Xát, TP Lào Cai) làm 241 con gia súc mắc bệnh, chết 77 con Năm

2000, dịch LMLM xảy ra tại 04 huyện làm 916 con gia súc mắc bệnh, chết

145 con Năm 2003, xảy ra tại 03 huyện làm 97 con gia súc mắc bệnh, chết 02 con Năm 2005, dịch LMLM xảy ra tại 01 huyện làm 129 con gia súc mắc bệnh, phải tiêu hủy 129 con

Năm 2009, dịch LMLM xảy ra tại 2/9 huyện làm 35 con trâu, bò mắc bệnh Năm 2010, dịch LMLM xảy ra tại 6/9 huyện làm 82 con trâu, bò mắc bệnh Năm 2011, dịch LMLM xảy ra tại 9/9 huyện làm 2.768 con trâu, bò mắc bệnh Năm 2012, dịch LMLM xảy ra tại 5/9 huyện với 80 con gia súc mắc bệnh Năm 2013, dịch xảy ra tại thành phố Lào Cai làm 15 con bò mắc bệnh Năm 2014, dịch LMLM chưa xảy ra

Diễn biến phức tạp của dịch LMLM ở tỉnh Lào Cai đòi hỏi phải có những nghiên cứu về sự phân bố và lưu hành của vi rút LMLM, từ đó làm cơ

sở để lựa chọn vắc xin phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả của việc phòng, chống bệnh LMLM trên địa bàn Để giải quyết vấn đề trên, chúng tôi đã tiến

hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định

type vi rút gây bệnh Lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh Lào Cai"

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Xác định sự phân bố các type vi rút LMLM tại tỉnh Lào Cai, làm cơ sở

Trang 13

lựa chọn loại vắc xin phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả phòng, chống bệnh LMLM cho trâu, bò

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Các kết quả điều tra, nghiên cứu tại tỉnh Lào Cai sẽ cung cấp, bổ sung

và hoàn thiện thêm các thông tin về dịch tễ học bệnh LMLM tại Việt Nam

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Luận văn là công trình nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh LMLM trên đàn trâu, bò tại tỉnh Lào Cai

- Các kết quả nghiên cứu về dịch tễ học, xác định sự phân bố của type

vi rút LMLM gây bệnh trên trâu, bò tại tỉnh Lào Cai là cơ sở khoa học, giúp các cơ quan quản lý lựa chọn loại vắc xin phù hợp Từ đó có biện pháp phòng, chống bệnh LMLM hiệu quả, tiến tới thanh toán bệnh LMLM

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Lịch sử phát hiện bệnh

1.1.1 Tên gọi của bệnh

Bệnh LMLM được gọi bằng những tên: Foot and mouth disease (FMD, Anh), La fièvre aphteuse (FA, Pháp), Afta epizootic (Ý), Maul und Klauenseuche (MKS, Đức), Fiebre aphtosa, Fiebre Aftosa (Tây Ban Nha), Khẩu đề dịch (Trung Quốc), Lở mồm long móng (Việt Nam)

1.1.3 Lịch sử phát hiện bệnh

Mô tả đầu tiên về bệnh LMLM và tài liệu còn lưu lại đến nay là công trình của tác giả người Ý tên là Francastorius vào năm 1524 Bệnh đã gây tổn thất lớn cho nền kinh tế thế giới, nhưng đến thế kỷ 19 người ta mới xác định được tính chất truyền nhiễm của bệnh

Từ lúc xuất hiện bệnh đến năm 1897, các tài liệu ghi chép lại chủ yếu quan tâm đến mô tả triệu chứng [20] Những nghiên cứu về nguyên nhân bệnh

và dịch tễ thì khởi đầu từ năm 1897, được quan tâm và phát triển ở những giai đoạn tiếp theo Năm 1897, Loeffler và Frosch đã phân lập được vi rút gây bệnh Waldmann và Pape (1920) đã chứng minh được tính cảm thụ của chuột

Trang 15

lang đối với vi rút Năm 1922, Vallee và Carre tìm thấy tính đa dạng của huyết thanh miễn dịch chống vi rút (type O và type A) Năm 1926, Waldmann

và Trauwein tìm ra vi rút type C Sau đó, Lawrence khám phá ra các type SAT1, SAT2 và SAT3 từ những bệnh phẩm ở Châu Phi gửi đến viện Pirbright và type Asia1 từ những bệnh phẩm ở Đông Nam Á, Hồng Kông, Ấn

Độ, Miến Điện [20]

Từ đầu thế kỷ 20 trở đi, bệnh phát ra ở nhiều nơi trên thế giới Ở Châu

Mỹ, dịch LMLM xuất hiện ở Mỹ vào các năm 1902, 1908, 1914, 1924, 1929, 1932; ở Mexico năm 1946, Canada 1952 và nhiều nước ở Nam Mỹ như Argentina năm 1953 Bệnh cũng xuất hiện ở Venezuela năm 1950, Colombia năm 1950 - 1951 rồi lan sang Ecuador năm 1956 Ở Châu Phi, bệnh thường xảy ra ở Bắc Phi, Nam Phi [22] Ở Châu Âu, có luồng dịch phát sinh từ Tây Đức lan sang Hà Lan, Bỉ, Lucxemburg, Pháp, Anh, Ý, Áo, Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy và Ba Lan vào năm 1951 Bệnh kéo dài đến năm 1953, 1954 Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1978), ở Châu Á bệnh phát ra ở Ấn Độ năm 1929, 1952, , Myanmar năm 1948, Thái Lan năm 1952, Trung Quốc năm 1951, Campuchia năm (1931, 1946, 1952) Bệnh LMLM ở Châu Á không dữ dội như ở Tây Âu nhưng ảnh hưởng đến kinh tế các nước Cận Đông, Trung Đông, Nam Á và Viễn Đông [22], [25]

Từ năm 1926 đến năm 1936, là giai đoạn tập trung nghiên cứu về vắc xin và chương trình quốc tế về phòng chống dịch được hình thành trong 3 năm (1937 - 1939) người ta đã thống kê được 2 triệu ổ dịch trên khắp các châu lục và cũng chính trong hoàn cảnh này, Waldmann và Kobe đã nghiên cứu chế tạo vắc xin vô hoạt bằng Formol hấp phụ bởi Al(OH)3 để tiêm phòng cho gia súc Đây là một bước ngoặt quan trọng trong công cuộc khống chế bệnh LMLM trên phạm vi toàn cầu [14]

Các viện nghiên cứu lần lượt ra đời trên khắp các châu lục như Alfort (Pháp, 1901), Ilede Riems (Đức, 1909), Laboratoirede Plum (Hoa Kỳ), Sao

Trang 16

Paolo (Brazin), Nong Sarai (Thái Lan) Vào năm 1958, Pirbright trở thành phòng thí nghiệm tham chiếu thế giới về bệnh LMLM (WRL: World Reference Laboratory)

Hiện có 59 nước trên thế giới được Tổ chức Thú y thế giới (OIE: Office International Epizooties) công nhận là nước an toàn dịch bệnh LMLM

Trong những năm gần đây, kỹ thuật chẩn đoán được cải tiến đã giúp cho việc xác định bệnh nhanh chóng Vắc xin được sản xuất với chất lượng ngày càng cao, chiến lược khống chế bệnh hiệu quả, nhiều nước đã khống chế

và thanh toán được bệnh thành công Hiện có 59 nước trên thế giới được Tổ chức Thú y thế giới (OIE: Office International Epizooties) công nhận là nước

an toàn dịch bệnh LMLM [43]

1.1.4 Bệnh Lở mồm long móng trên thế giới

Tình hình dịch LMLM trong những năm 1960 rất trầm trọng, trung bình mỗi năm có 4.000 ổ dịch Những năm 1970, bệnh có xu hướng giảm ở Châu Âu, Châu Mỹ nhưng vẫn phổ biến ở Châu Phi (Mauritania, Senegal, Liberia, Tanzannia, Nigeria, ) và Châu Á (Indonesia, Malaysia, Thái Lan, ) [4]

Trong những năm 1980, dịch LMLM có mặt ở nhiều châu lục Từ năm 1981-1985 dịch đã xuất hiện ở 80 nước Ở Châu Âu có 804 ổ dịch tại 12 quốc gia do vi rút thuộc type O, A và C gây ra Năm 1985, dịch LMLM do type Asian1 xảy ra ở Hy Lạp Thời gian này dịch còn xảy ra ở 11 nước Châu Á và cũng do vi rút type Asian 1 Ở Châu Phi, dịch LMLM gây thiệt hại ở nhiều nước, đặc biệt là Kenia và Etiopia (1984-1985) Vi rút type C là căn bệnh chính của những ổ dịch ở 2 nước này Tại các nước còn lại của châu lục này, bệnh LMLM đều do vi rút thuộc 3 type SAT gây ra [6]

Năm 1989, theo thông báo của OIE, dịch LMLM đã xảy ra tại 53 nước

ở khắp các châu lục: Á, Âu, Phi và Nam Mỹ Hiện nay, một số quốc gia đã đạt được thành quả tốt trong việc khống chế và thanh toán bệnh như Cộng hòa

Trang 17

Séc và một số nước khác Tuy nhiên, dịch LMLM vẫn là mối đe dọa của nhiều quốc gia, uy hiếp nghiêm trọng nền chăn nuôi và thương mại quốc tế (Lê Minh Chí, 1996 [6])

Trong những năm 1990, ở Châu Âu các nước khai báo dịch gồm: Italia, Bungari, Nga và Hy Lạp Năm 1993, xuất hiện 55 ổ dịch ở Italia, những ổ dịch đơn lẻ xảy ra ở Bulgari, Nga Giữa năm 1994, một ổ dịch xảy ra ở Hy Lạp trên bán đảo Lesbos và Thrace gần biên giới Thổ Nhĩ Kỳ Năm 1996, xuất hiện 2 ổ dịch ở Thổ Nhĩ Kỳ và 1 ở Hy Lạp Năm 1997, chỉ có Georgia và Armenia là có bệnh Trong năm 1998, một chủng lở mồm long móng type A mới được phát hiện tại Iran năm 1996 đã lan đến Thổ Nhĩ Kỳ, sát Istanbul, dịch kéo dài đến cuối năm 1998 (theo báo cáo của WRL) [7]

Ở Châu Phi, vào thập kỷ 90, vi rút LMLM type O lưu hành rộng rãi ở Tây Phi, Gambia, Senegal, Uganda, Tanzania, Malawi và Kenia Năm 1999, ổ dịch LMLM type O bắt nguồn từ Mali theo đường vận chuyển bò xuyên qua Sahara đến Algeria, Marocco và Tunisia Vi rút LMLM type SAT 2 lưu hành

ở Uganda, Zambia và Kenia; SAT 1 được xác định ở Kenia [40]

Ở Châu Á, dịch LMLM do type O và Asia 1 xảy ra ở Pakistan và Myanmar; type O và A tại Nepal, Buhtan; type A tại Thái Lan Tại Malaysia, không công bố dịch từ năm 1998, nhưng trong thực tế 2 type vi rút O và Asia

1 vẫn lưu hành tại bán đảo Malaysia (song các quốc gia này đã không gửi bệnh phẩm đến WRL) Hai ổ dịch địa phương tại Đài Loan và Philippines (đảo Luzon) đều do vi rút type O gây ra Ở Trung Quốc, dịch xảy ra tại Vân Nam nhưng không có thông tin về type vi rút (Bùi Quang Anh và Hoàng Văn Năm, 2000 [1])

Ở Tây Á, chủng Iran 98 type A gây bệnh tại Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và lan đến Akmenia Vi rút type O đã gây dịch tại Lebanon, Kuwait, Iran, Iraq, Israel, Qatar, Yemen và Saudi arabia; Kazakstan và Kyrgyzstan (riêng Kazakhstan có vi rút type A) Ở Nam Mỹ, tình hình khống chế dịch

Trang 18

LMLM có nhiều thuận lợi Paraguay được công nhận là nước an toàn dịch (có tiêm phòng) Argentina cũng được OIE công nhận là nước có vùng không bệnh LMLM (không tiêm phòng) [46]

Trong năm 2000, 59 nước đã khai báo có dịch LMLM Ở Châu Âu, dịch xảy ra tại Hy Lạp; ở Châu Á, dịch xảy ra ở Nga, Mongolia, Bangladesh, Campuchia, Trung Quốc, Nhật, Lào, Nepal, Pakistan, Philippin, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Việt Nam, Iran, Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Capscazơ vùng Georgia, Azerbaijan, Armenia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Turkmenistan và Tajikistan; ở Châu Phi, dịch xảy ra tại Ai Cập, Kenya, Mauritania, Nam Phi, Tanzania, Uganda, Malawi, Namibia, Zambia, Zimbabwe; các nước Nam Mỹ gồm Brazil, Colombia, Uruguay, Bolivia, Peru, Ecuador và Venezuela [1] Vi rút serotype O/TAW/99 gây bệnh ở Đài Loan (18/02/2000, trên dê); Nhật (10/4/2000, trên lợn); ở Mông Cổ (14/4/2000, trên bò, dê, cừu và lạc đà); ở

Hy Lạp và Zambia (02/3/2000) [4]

Năm 2001, dịch LMLM do type O tái bùng phát khắp Châu Âu (Anh,

Hà Lan, Pháp và Ireland); Nam Mỹ (Uruguay, Brazil và Colombia); ở châu Á (Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Afghanistan, Georgia, Azerbaijan, Mông Cổ, Kuwait, Bahrain, Yemen, Qatar, Ả Rập, Oman, Butan, Nepal, Malaysia, Philippin, Thái Lan và Đài Loan) Tính đến cuối tháng 4 năm 2001, Chính phủ Anh đã phải chi phí cho việc tiêu hủy gia súc bệnh, dập dịch, tổng thiệt hại do dịch gây ra lên đến trên 14 tỷ đô la Mỹ Sau đó, dịch xảy ra ở một loạt các nước Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi và Châu Á Tính đến tháng 7 năm 2001, có trên

Trang 19

- Châu Âu: có những ổ dịch do vi rút type O gây ra ở vùng Đông Bắc của lục địa (Algeria, Tunisia, Guinea, Burundi, Kenya, Tanzania và Zimbabue); type A phân bố ở Tây, Trung và Đông Phi; type C không phổ biến, các type SAT lưu hành rộng rãi, SAT 1 và SAT 2 xảy ra rộng khắp trừ Bắc Phi, nhưng SAT 3 chỉ xảy ra ở vùng hẹp của phía nam Châu Phi

- Tại Nam Mỹ: phổ biến là type O, A và C Những ổ dịch do vi rút type

O gây ra ở Bolivia, Brazil, Colombia và Ecuador, type A xảy ra ở Venezuela, Colombia và Peru

- Tại các nước Trung Đông: type O phổ biến nhất, tiếp theo là type A, Asia 1 và thỉnh thoảng có type C

- Tại Châu Á: các nước có dịch lở mồm long móng do type O gây ra là Bahrain, Bangladesh, Campuchia, Hồng Kông, Ấn Độ, Iran, Iraq, Israel, Jordan, Malaysia, Nepal, Philippines, Qatar, Syria, Saudi, Arabia, Đài Loan, Arab, các Tiểu Vương quốc Ả Rập, Lào, Việt Nam và Yemen Type A ở Bangladesh và Iran, type Asia 1 ở Iran và Malaysia, type C giới hạn ở tiểu lục địa Ấn Độ và Philippines

Theo kết quả phân tích gen vi rút gây bệnh ở phòng thí nghiệm giám định vi rút LMLM (IAH, Pibright, UK), type O gây bệnh năm 2000 có cấu trúc gene khác với type O gây bệnh ở Đài Loan năm 1997 và khác với một số

ổ dịch xảy ra gần đây trên thế giới, được đặt tên là South Asia topotype, chúng gây bệnh cho trâu, bò và lợn, phân bố rất rộng từ Đài Loan ở phía Đông tới Hy Lạp ở phía Tây Năm 1999, có 14 tỉnh ở Trung Quốc bị dịch nặng đã ảnh hưởng lớn đến các nước láng giềng [38]

1.1.5 Bệnh LMLM ở Việt Nam

Ở Việt Nam, bệnh được phát hiện đầu tiên vào năm 1898 tại Nha Trang

và sau đó dịch đã xảy ra ở các tỉnh miền Trung và Nam Bộ (trong thời gian này bệnh cũng được phát hiện ở Lào, Campuchia và Thái Lan) (Trịnh Văn Thịnh & Phan Đình Đỗ (1958) [26]

Trang 20

Trong 2 năm (1921 - 1922), ở các tỉnh phía bắc có 690 ổ dịch xảy ra làm 13.018 con trâu, bò và lợn bị bệnh, trong đó có 446 con chết, ở Miền Đông Nam Bộ, thấy thể bệnh rất nhẹ và bệnh tích tập trung chủ yếu ở miệng [25]

Ở Trung Bộ và Bắc Trung Bộ, dịch đã gây nhiều thiệt hại Năm 1921 -

1922, có 213 ổ dịch LMLM, làm chết 52 con gia súc[25]

Vào những năm 1937, 1940 và 1948 dịch lại nổ ra liên tiếp ở Trung Bộ

và Nam Bộ, một ổ dịch lớn lan tràn khắp tỉnh Quảng Ngãi và ở Miền Bắc bệnh có rải rác ở Sơn Tây và Thanh Hóa [25]

Năm 1948 - 1949, dịch LMLM xảy ra ở Lai Hòa - Thủ Đức - thành phố

Hồ Chí Minh làm chết 3 con trâu; ở Nam Bộ, Tây Nguyên có một ổ dịch Theo tổ chức Quốc tế về bệnh truyền nhiễm họp tại Sài Gòn tháng 3 năm

1953, bệnh có xu hướng định vị tại Việt Nam và Campuchia [25]

Năm 1952 - 1953, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, bệnh liên tiếp

nổ ra ở Trung Bộ và lan ra Bắc Bộ Đến năm 1954, bệnh đã có mặt hầu khắp Bắc Bộ với 179 ổ dịch Đến tháng 4 năm 1955, bệnh xảy ra ở Liên khu III rồi lan sang khu Tả Ngạn, Liên khu Việt Bắc, Liên khu IV, thành phố Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng Trong khoảng tháng 5 đến tháng 7 năm 1955, bệnh lan

ra 11 tỉnh, 3 thành phố và tạm ngưng vào cuối năm 1955 [25]

Năm 1960, dịch phát ra ở 9 xã thuộc huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An, sau

đó không thấy xuất hiện lại qua nhiều năm ở các tỉnh phía Bắc [14]

Từ năm 1961 - 1991, không có dịch LMLM ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam [14]

Trước năm 1969, cứ khoảng 2 đến 3 năm dịch LMLM tái phát 1 lần ở các tỉnh phía Nam Năm 1969, dịch phát nặng cho cả trâu, bò và lợn Dịch xuất phát

từ Sài Gòn, Chợ Lớn, rồi lan ra các tỉnh và 5 trại lợn công nghiệp ở Nam Bộ [22]

Từ năm 1975, tình hình dịch LMLM được ghi nhận đầy đủ hơn Năm

1975, dịch LMLM xảy ra liên tiếp ở 17 tỉnh phía Nam từ Quang Nam - Đà

Trang 21

Từ năm 1976 - 1983, theo số liệu của Cục Thú y, đã có 98 ổ dịch ở các tỉnh phía Nam làm 26.648 trâu, bò và 2.919 lợn bị bệnh Riêng trong năm

1983, các ổ dịch từ trâu, bò đã lan sang một trại lợn công nghiệp ở huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, làm hơn 2.200 con lợn mắc bệnh [9]

Trong những năm cuối thập kỷ 80, một số tỉnh phía Nam như An Giang, Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Tháp thường xuyên có dịch LMLM do lây lan từ Campuchia sang Năm 1989, riêng tỉnh Đồng Nai có 3 huyện là Long

An, Long Thành và Mộc Xuyên bị dịch kéo dài từ tháng 5 đến giữa tháng 10 làm 3.514 trâu, bò bị bệnh [9]

Năm 1990, dịch cũng xuất hiện ở 4 huyện thuộc tỉnh Thuận Hải, làm hơn 7.500 trâu, bò bị bệnh Dịch cũng xảy ra ở huyện Lộc Ninh, tỉnh Sông

Bé, làm 100 trâu, bò bị ốm, không cày kéo được [9]

Năm 1992, dịch phát tại Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh và những năm sau đó, bệnh có mặt ở cả 3 miền của đất nước [9]

Năm 1993, dịch đã lan rộng ra trên địa bàn 122 xã của 18 huyện thuộc

8 tỉnh, bao gồm Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Bình Thuận và Bà Rịa - Vũng Tàu, với tổng số 32.260 trâu, bò và 1.612 lợn bị bệnh [9]

Năm 1995, là năm dịch phát ra ở nhiều tỉnh trong cả nước (107 huyện của 26 tỉnh thành, với tổng số 236.000 trâu, bò và 11.021 lợn bị bệnh, tác động đến hầu hết các tỉnh Nam Bộ đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long Dịch phát ra đầu tiên tại thị xã Sa Đéc của tỉnh Đồng Tháp (20/4/1995), chỉ trong một thời gian ngắn, bệnh dịch đã lan rộng ra 10 huyện trong tổng số 11 huyện của tỉnh, làm cho 5.135 trâu, bò và lợn bị bệnh Theo đường buôn bán, vận chuyển lợn bệnh của các tư thương, dịch đã lan sang các huyện, thị trong tỉnh và sau đó lan sang các tỉnh lân cận như Vĩnh Long (24/4/1995), An Giang (28/4/1995), Cần Thơ (20/11/1995), rồi lan ra khắp các tỉnh Đồng Bằng sông Cửu Long, đến thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bà

Trang 22

Rịa - Vũng Tàu [9]

Ngay từ ổ dịch đầu tiên trên lợn tại Đồng Tháp, phòng thí nghiệm của Trung tâm Thú y vùng thành phố Hồ Chí Minh đã xác định được bệnh do vi rút LMLM type O gây ra Theo điều tra, nguyên nhân là do mua lợn giống từ Miền Bắc vào

Dịch LMLM đã xảy ra trên trâu, bò liên tục suốt thời gian từ 1975 -

2005, trên lợn từ 1992 - 2005 và gây thiệt hại nặng nề nhất vào các năm 1993,

1995, 1999, 2000 Ngoài type O lưu hành trong nhiều năm qua, type A cũng

đã được phát hiện năm 2004 trên trâu, bò [8] và type Asia 1 trên trâu, bò và lợn vào năm 2005 ở Việt Nam [16]

Theo số liệu của Cục Thú y [8], năm 1999, trong khi vẫn chưa chấm dứt các đợt dịch ở các tỉnh Miền Trung và Miền Nam, thì ở Miền Bắc, đợt dịch mới từ Trung Quốc tràn sang tấn công hàng loạt các tỉnh biên giới Cao Bằng là điểm dịch đầu tiên, từ đó lan sang các tỉnh khác Tính đến ngày 10/3/2000 cả nước có 58/61 tỉnh, thành phố bị dịch với 297.808 trâu, bò và 36.530 lợn mắc bệnh [9]

Theo báo cáo tổng kết đề tài độc lập cấp Nhà nước của Cục Thú Y:

Năm 2001, bệnh xảy ra ở 16 tỉnh, thành với 3.976 con trâu, bò mắc bệnh Năm 2002, bệnh xảy ra ở 26 tỉnh, thành với 10.287 con trâu, bò mắc bệnh Năm 2003, 38 tỉnh, thành có dịch, trong đó 28 tỉnh thành có dịch ở trâu,

bò và 28 tỉnh thành có dịch ở lợn, với tổng số 20.303 con trâu, bò, 1.178 con

dê và 3.533 con lợn mắc bệnh Bệnh thấy chủ yếu ở các tỉnh: Quảng Trị, Phú Yên, Khánh Hòa, Gia Lai, Hà Giang [9]

Năm 2004, số tỉnh có dịch LMLM là 45 tỉnh, với 577 xã thuộc 169 huyện có dịch Tổng số gia súc mắc bệnh là: 25.658 con trâu bò, 127 con dê

và 1.555 con lợn, trong đó có 9 tỉnh do vi rút LMLM type A (phát hiện lần đầu tiên tại Ninh Thuận và Bình Định vào tháng 8/2004), 3 tỉnh do cả 2 loại vi rút LMLM serotype O và A Nguyên nhân của việc xuất hiện vi rút LMLM

Trang 23

type A có thể là do việc nhập lậu bò từ Campuchia về Việt Nam [9]

Năm 2005, số tỉnh có dịch LMLM là 37 tỉnh, với 408 xã của 160 huyện Số gia súc mắc bệnh là: 28.241 con trâu, bò; 3.976 con lợn và 81 con dê Trong đó

có 3 tỉnh do vi rút LMLM type O và A, 2 tỉnh do vi rút LMLM type Asia 1 (đó là tỉnh Lào Cai và Khánh Hòa, vào tháng 10/2005) [3]

Năm 2006, dịch LMLM trên trâu, bò đã xảy ra tại 1.410 xã của 283 huyện thuộc 47 tỉnh, số gia súc mắc bệnh là 114.015 con Dịch LMLM trên lợn cũng xảy ra ở 516 xã thuộc 191 huyện, 54 tỉnh, làm 44.450 con lợn mắc bệnh Trong đó type Asia 1 có ở Hà Giang, Yên Bái, Tuyên Quang, Cao Bằng

và Thái Bình (phát hiện bằng Kít 3ABC và giám định bằng phương pháp PCR) với tổng số 9.271 con trâu, bò và 12.461 con lợn bị bệnh Trong năm

RT-2006 cả nước đã xử lý tiêu hủy 4.906 trâu, bò; 31.087 con lợn [3]

Năm 2007, có 37 tỉnh xảy ra dịch, trong đó có 294 xã, 225 huyện thuộc

25 tỉnh dịch xảy ra trên trâu, bò, 172 xã thuộc 71 huyện của 26 tỉnh có dịch LMLM trên lợn, với tổng số 11.355 con trâu, bò và 12.386 con lợn mắc bệnh

Số phải xử lý tiêu hủy và chết là 3.765 con trâu, bò và 11.122 con lợn Type

vi rút lưu hành chủ yếu là type O, type A chỉ có ở Phú Yên và type Asia 1 có

ở Quảng Trị và Thanh Hóa [3]

Năm 2008, dịch có giảm so với các năm trước, có 122 xã của 43 huyện thuộc 14 tỉnh có dịch, làm 2.408 con trâu, bò và 67 con lợn mắc bệnh Số chết, tiêu hủy là 218 con trâu, bò và 39 con lợn Type O vẫn là type vi rút xuất hiện nhiều nhất trong các ổ dịch, tháng 12/2008 phát hiện type A tại Nghệ An [9]

Năm 2009, dịch xảy ra ở 229 xã thuộc 87 huyện của 27 tỉnh, thành phố với tổng số 7.861 con trâu, bò mắc bệnh, 432 con phải tiêu hủy Trên lợn dịch xảy ra ở 35 xã thuộc 23 huyện của 16 tỉnh, thành phố với tổng số 499 con lợn mắc bệnh, trong đó có 429 con phải tiêu hủy [9]

Dịch LMLM xảy ra trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung Bộ, duyên hải Miền Trung, Tây Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc Dịch xảy ra trên quy

Trang 24

mô rộng vào tháng 9/2009, cao điểm nhất có tới trên 90 ổ dịch xuất hiện trong tháng, các tháng khác xảy ra ít hơn và rải rác tại nhiều địa phương Dịch LMLM type A xuất hiện tại một số tỉnh miền núi phía Bắc (Sơn La, Bắc Giang và Hà Giang), Tây Nguyên (Kon Tum), đồng bằng sông Cửu Long (Long An) là những vùng đã lâu không có type vi rút này [3]

Năm 2010, dịch xảy ra ở 297 xã thuộc 103 huyện của 28 tỉnh, thành phố là Bắc Ninh, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ

An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Gia Lai, Đắc Lắc, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng, Phú Thọ và Thái Nguyên, với tổng số 16.333 con trâu, bò mắc bệnh, trong đó có

419 con trâu, bò phải tiêu hủy Có 16 tỉnh, thành phố có lợn mắc bệnh LMLM, với tổng số 1.675 con lợn mắc bệnh, trong đó có 848 con phải tiêu hủy [10]

* Dịch LMLM xảy ra trên quy mô rộng vào tháng 12/2010, với trên 98

ổ dịch Tháng 11/2010 có 56 ổ dịch LMLM xuất hiện Các tháng khác dịch xảy ra ít hơn và rải rác ở nhiều địa phương [9] Các ổ dịch LMLM từ đầu năm

2010 đến nay đều do vi rút LMLM type O gây ra [10]

1.2 Tình hình dịch LMLM tại tỉnh Lào Cai từ 2009 - 2014

Vi rút LMLM có thể lây nhiễm cho tất các động vật có móng guốc chẵn Vi rút nhiễm vào động vật cảm thụ, nhân lên, sau đó được bài thải qua các đường tự nhiên (hơi thở, phân, nước dãi, tinh dịch,…) hoặc qua sản phẩm của động vật (sữa, thịt, xương, da, lông, ) Như vậy, động vật cảm thụ là khâu đóng vai trò quyết định trong sự lưu hành vi rút Để thu thập thông tin về đặc tính cảm thụ và vai trò của các vật nuôi chính trong sự lây nhiễm và lưu hành của vi rút LMLM tại tỉnh Lào Cai, chúng tôi đã hồi cứu và thống kê tình hình các loài vật mắc bệnh trong 6 năm liên tục, từ 2009 đến 2014

Kết quả được trình bày ở bảng 1.1

Trang 25

Bảng 1.1: Tổng hợp số ổ dịch LMLM ở các huyện của tỉnh Lào Cai

Qua bảng 1.1 cho thấy:

- Trong 6 năm, từ 2009 - 2014, tại tỉnh Lào Cai đã xảy ra 88 ổ dịch

Trang 26

LMLM, nghĩa là số ổ dịch xuất hiện bình quân ở mỗi huyện, thị là 1,629 ổ dịch/năm (88/9 huyện/6 năm = 1,629)

- Số lượng ổ dịch biến động theo các địa phương khác nhau, từ 6 đến

13 ổ dịch, trong 6 năm huyện ít xảy ra dịch là: Si Ma Cai (6 ổ dịch), thành phố Lào Cai (7 ổ dịch) và Bắc Hà (8 ổ dịch); các huyện có nhiều ổ dịch xảy ra hơn là: Bảo Yên (13 ổ dịch), Bát Xát (12 ổ dịch), Mường Khương (12 ổ dịch)

- Số lượng ổ dịch được hiểu theo nghĩa rộng của ổ dịch và được giới hạn trong phạm vi không gian là một đơn vị hành chính cấp xã (xã có dịch gọi

là một ổ dịch): thời gian hết dịch được xác định là sau 21 ngày kể từ khi con gia súc mắc bệnh cuối cùng và đã thực hiện các biện pháp phòng dịch, được tính là kết thúc ổ dịch

Trong 6 năm thì 5 năm có dịch, số ổ dịch biến động theo thời gian (năm) được minh họa ở bảng 3.1, Biểu đồ 3.1 cho thấy, cột hiển thị số ổ dịch LMLM năm 2011 ở Lào Cai là cao nhất, sau đó đến năm 2010, 2012, 2009,

2013 Năm 2014 không có ổ dịch nào

Nhận xét chung:

Trong 6 năm 2009 - 2014, dịch LMLM đã xảy ra ở tỉnh Lào Cai, mỗi năm trung bình có 9,777 ổ dịch (tần suất là 1,629 ổ dịch/huyện/năm) Diễn biến dịch không mang tính chất chu kỳ, mà kéo dài hay tái phát liên tục trong nhiều năm tại một xã hoặc 1 huyện Năm 2009 và 2010 dịch xảy ra lẻ tẻ ở một

số huyện Năm 2011, dịch LMLM bùng phát mạnh trên toàn tỉnh (9/9 huyện, thành phố) đều mắc, số xã có dịch là 60 xã chiếm 68% (60/88) so với số xã có dịch trong 6 năm, chiếm 36 % (60/164) so với tổng số xã trên địa bàn tỉnh Năm 2012 và 2013 số ổ dịch giảm dần, từ đầu năm 2014 đến nay chưa phát hiện ổ dịch nào

1.3 Vi rút Lở mồm long móng

Vi rút LMLM thuộc họ Piconarviridae, chi Aphthovirus

Trang 27

Hình 1.2 Cấu trúc virion của vi rút LMLM type O1BFS nguồn [38]

Chú thích : (a) Một đơn vị cấu trúc protomer của vi rút LMLM (với cấu trúc mạch lá  - vòng uốn - mạch lá ) có tiếp nối nhau từ các protein VP1 - VP2 - VP3; (b) Một pentamer nằm trên virion, tạo nên hình đối xứng năm cạnh, do 5 protomer hợp thành; (c) cấu trúc của một virion hoàn chỉnh; (d) cấu trúc không gian của protomer (sử dụng phần mềm mô phỏng RasMole): màu tím chỉ các phần gồ lên trên bề mặt (G-H); màu vàng chỉ mỗi chuỗi tripeptide với 3 amino acid RDG Mỗi virion gồm: VP1 (màu xanh da trời), VP2 (màu xanh lá cây) và VP3 (đỏ) VP4 là polypeptide nằm sâu trong hạt vi rút (bị che khuất)

1.3.1 Hình thái và cấu trúc

* Hình thái: Vi rút LMLM là loại vi rút nhỏ nhất trong các loại vi rút qua lọc Dạng vi rút thành thục có đường kính là 23 nm Dưới kính hiển vi điện tử, vi rút thường có hình cầu, đường kính 20 - 28 nm, gồm 20 mặt đối xứng,

30 cạnh và 12 đỉnh

* Cấu trúc: Cấu trúc vi rút gồm phần trung tâm là axit nucleic chiếm 31%, được bao bọc bởi 1 capsid là protein, gồm 60 capsome, không vỏ bọc Hạt vi rút là phân tử ARN, là đơn vị gây nhiễm, đóng vai trò như một ARN thông tin

Dưới ảnh hưởng của các yếu tố môi trường như pH, nhiệt độ, hạt vi rút

Trang 28

có thể phân ly thành những phần tử nhỏ ARN và những tiểu phần protein của capsome (thường gọi là tiểu phần 12S) dài 7 - 8 nm [21]

Sức đề kháng của vi rút với ngoại cảnh tương đối mạnh, tùy thuộc vào chất chứa nó, đặc biệt khi nó dính vào chất khô hay protein [25]

1.3.2 Đặc tính di truyền, cấu trúc gen và kháng nguyên của vi rút LMLM

Hệ gen của vi rút LMLM bao gồm phần tử không mã hóa cho protein đầu 5’ (5’UTR) và đầu 3’ (3’UTR), phần tử mã hóa cho protein cấu trúc (1ABC) và phần tử mã hóa protein không cấu trúc (2ABC và 3ABC) Chỉ thị phân tử sử dụng nhiều nhất trong định type và nghiên cứu phả hệ vi rút LMLM là 5’ (5’UTR) và VP1 Cấu trúc của gen mã hóa cho các protein được trình bày ở hình 1.2

Hình 1.3 Cấu trúc hệ gen phân tử protein nguồn [46]

Trang 29

Hệ gen của vi rút LMLM có chiều dài 8.000 - 8.500 base pair (bp) [21]

Do đặc điểm của các vi rút ARN sợi đơn dương, có tính biến dị rất mạnh

Bộ gen chứa một khung dọc mở duy nhất ORF, với 2 vị trí khởi đầu giải mã cho một protein chung (polyprotein) Polyprotein được chia thành hơn

12 polypeptide chức năng và trung gian của các phần sẽ bị cắt [15], [48] Hầu hết các quá trình phân cắt tạo các protein trưởng thành được xúc tác bởi 3 proteinase của vi rút là Lpro, 2 A và 3 Cpro Hai đầu của bộ gen có thể được thay đổi, đầu 5’ tận cùng bởi VPg (khoảng 23 axit amin), đầu 3’ bởi chuỗi Adenyl Lpro là nhân tố quan trọng quyết định độc tính của vi rút

Những protein tạo nên capsid có tính chất kháng nguyên và khả năng sinh kháng thể, gồm 4 loại: VP1, VP2, VP3, VP4 (VP: viral protein) VP1 ở ngoài cùng tham gia vào việc cố định vi rút trên những tế bào và là một trong những loại kháng nguyên chính kích thích tạo ra kháng thể chống lại bệnh LMLM Do đó, có thể nói VP1 đóng vai trò quan trọng nhất trong sinh bệnh học vì nó là yếu tố sinh miễn dịch căn bản Protein VP1 kích thích tạo ra các kháng thể trung hòa ở trâu, bò và lợn, ba vùng kháng nguyên tương ứng đã được mô tả trên bề mặt của suptype A12 Hai trong những kháng nguyên đó

đã được phát hiện trên chuỗi polypeptide của VP1 và trong các tiểu phần có hằng số sa lắng 12S Các vùng kháng nguyên này tham gia vào phản ứng trung hòa vi rút thông qua cơ chế sau [48]:

- Sự kết hợp của các tiểu phần vi rút với kháng thể, qua đó vi rút mất khả năng xâm nhập (mất khả năng gây nhiễm)

- Phong tỏa các vị trí hấp phụ đặc hiệu

- Hạn chế khả năng xâm nhập và khả năng tái tạo vi rút

Về chức năng và cấu tạo của vi rút LMLM, các thành phần kháng nguyên của vi rút LMLM có thể được phân biệt như sau:

- Hạt vi rút có hằng số sa lắng 140 S với 60 bản sao của 4 loại protein

Trang 30

(VP1, VP2, VP3, VP4)

- Vỏ capsid trần có hằng số sa lắng 75 S, với 60 bản sao của VP0 - VP3

- Các capsome có hằng số sa lắng 12 S, đƣợc cấu tạo bằng các VP1 - VP3

- Kháng nguyên VIA có hằng số sa lắng 3,8 S; chuỗi ARN polymerase theo Schuel và Sadir, 1986

- Ngoại trừ phân tử ARN, các đơn vị cấu trúc cũng xuất hiện trong quá trình vi rút nhân lên trong mô bị nhiễm và có đặc tính kháng nguyên hoặc dị ứng nguyên Thành phần miễn dịch của một hạt vi rút hoàn chỉnh có khả năng kích thích con vật tạo ra kháng thể đặc hiệu Đặc tính này cũng đƣợc giữ nguyên trong quá trình bất hoạt và ức chế sự nhân lên của vi rút

Ngoài đặc tính kháng nguyên gây miễn dịch dịch thể đặc hiệu, hạt vi rút hoàn chỉnh còn có khả năng gây dị ứng do các kháng nguyên vỏ Phân tử ARN của vi rút LMLM không đóng vai trò quan trọng về mặt kháng nguyên

Sự sai khác về bộ gen là nguyên nhân tạo ra các biến chủng, đặc biệt thông qua sự đa dạng của phân tử VP1 Những khác biệt này dẫn đến tính kháng nguyên khác nhau và hệ quả là đặc tính huyết thanh học khác nhau giữa các type, các phân type và các biến chủng của vi rút LMLM

Cấu trúc VP1 cũng là điểm xuất phát của những công nghệ di truyền và công nghệ hóa hiện nay Mặc dù những protein khác nhƣ L, 2AC và 3AD

Trang 31

không phải là phần cấu trúc capsid, nhưng chúng cũng tạo ra các đáp ứng kháng thể ở động vật nhiễm bệnh [50]

Các phương pháp huyết thanh học dùng để xác định subtype đã mang lại nhiều kết quả quan trọng trong quá trình nghiên cứu vi rút LMLM Tuy nhiên, các phản ứng huyết thanh học được sử dụng đều phát hiện kháng thể kháng protein cấu trúc, protein vỏ của vi rút nhưng không phân biệt được đó

là kháng thể của động vật đã được tiêm vắc xin phòng bệnh hay do nhiễm vi rút [28]

Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, các kỹ thuật chẩn đoán cũng có những tiến bộ vượt bậc Ngày nay, công nghệ phân tích gen đã được

áp dụng nhiều trong công tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong sản xuất vắc xin phòng bệnh Phương pháp PCR do Millis và cộng sự phát minh năm

1983 được sử dụng rộng rãi, đem lại cuộc cánh mạng di truyền học phân tử Đây là kỹ thuật hoàn toàn mới trong việc nghiên cứu và phân tích gen và hệ gen, cơ sở tạo ra số lượng lớn các bản sao của đoạn ADN mong muốn Phương pháp phân tích gen đã được áp dụng trong nhiều nghiên cứu về vắc xin ADN phòng bệnh LMLM Người ta đã xác định được các đoạn axit amin

có khả năng kích thích đáp ứng miễn dịch nhanh, mạnh, tái tổ hợp vào ARN của vi rút dùng trong sản xuất vắc xin Khi các loại vắc xin ADN này được tiêm cho gia súc thì các đáp ứng miễn dịch đặc hiệu sẽ hình thành không chỉ chống lại các protein cấu trúc mà còn cả protein phi cấu trúc của vi rút [46]

1.3.4 Các điểm quyết định kháng nguyên

Một số protein phi cấu trúc của vi rút LMLM gây đáp ứng miễn dịch là 3D, 3A, 3AB, 3ABC, 2C, 2B, 3C và Lpro Trong thời gian gần đây, một số protein phi cấu trúc 2C, 3B, 3AB và 3ABC đã được nghiên cứu và nhiều phương pháp có độ nhạy cao đã được áp dụng Tuy nhiên, phương pháp căn bản ELISA vẫn là lựa chọn tốt hơn do có nhiều thuận lợi về tính khách quan,

độ nhạy cao, an toàn, rẻ, dễ giải thích và sử dụng, phù hợp cho số lượng mẫu

Trang 32

lớn ở thực địa [37] Brocchi và cs (1998) [32] đã tiến hành thí nghiệm dùng kháng thể đơn dòng kháng protein phi cấu trúc 3ABC với kỹ thuật ELISA ngăn trở Mackay và Cs (1998) [40] cũng đã tìm kiếm kháng thể kháng kháng nguyên 3D, 3AB và 3ABC bằng phương pháp ADN tái tổ hợp Kết quả là những gia súc được bảo vệ bằng vắc xin đã không tạo kháng thể kháng protein phi cấu trúc đặc biệt 3ABC

1.3.5 Tiến hóa của vi rút LMLM

Thành phần hệ gen của vi rút LMLM luôn luôn biến đổi, ngay cả trong cùng một type, các chủng phân lập ở các vùng địa lý khác nhau có mức độ tương đồng về thành phần nucleotide và axit amin cũng khác nhau

Theo Trịnh Văn Thịnh & Phan Đình Đỗ (1958) [26]: Tiêm bắp vi rút LMLM cho bê có thể gây bệnh trầm trọng Tiêm truyền đường phúc mạc bao giờ cũng gây bệnh, và kết quả tiêm truyền có thể tốt hơn ở bê mới đẻ và nhịn đói Khi tiêm truyền bằng đường phúc mạc không có kết quả, có thể gây bệnh

ở liều thấp vi rút bằng phương pháp tiêm nội bì Ở bò và lợn thường tiêm vào nội bì niêm mạc lưỡi (ở chuột lang tiêm vào nội bì gan bàn chân) Trong các phương pháp tiêm truyền, thì tiêm nội bì có hiệu quả nhất; những đường tiêm khác như tiêm bắp thịt, dưới da, tĩnh mạch… cho kết quả không chắc chắn và đòi hỏi liều vi rút cao hơn [21] Bệnh LMLM do gây nhiễm trong phòng thí nghiệm bằng tất cả các đường tiêm truyền đều diễn biến nhẹ hơn so với thể bệnh lây tự nhiên

Động vật thí nghiệm: Trong phòng thí nghiệm có thể gây bệnh bằng cách tiêm phúc mạc cho chuột lang, chuột đồng, chuột nhắt trắng, chuột nhắt xám, chuột đồng, thỏ nhà, thỏ rừng Trong đó, chuột lang là động vật cảm thụ nhất với vi rút LMLM

Chuột lang là động vật cảm thụ trong phòng thí nghiệm, khía da chuột lang có thể tạo mụn nước Độc lực của vi rút trên chuột lang được gia tăng bằng nhiều lần tiếp đời Trước đây, chuột lang là động vật thí nghiệm được

Trang 33

dùng trong chẩn đoán, kiểm tra hiệu lực và an toàn của vắc xin

Tiếp đời trên chuột nhắt, nhược độc hóa: trong phòng thí nghiệm, tiếp đời vi rút trên chuột nhắt trắng sau nhiều đời làm giảm độc lực của vi rút trên

bò Sau 20 lần tiếp đời qua chuột nhắt, vi rút nhân lên ở chuột không còn khả năng gây bệnh cho bò, nhưng vẫn còn khả năng gây miễn dịch Người ta dùng phương pháp này để chế vắc xin nhược độc

1.3.6 Đặc tính nuôi cấy vi rút LMLM trên tổ chức tế bào

Nhiều tác giả đã nuôi cấy vi rút LMLM trên da của thai lợn, thai bò còn sống (giữ thai sống bằng phương pháp nhân tạo) hoặc tiêm vi rút LMLM vào phúc xoang chuột nhắt con, tính kháng nguyên của vi rút không thay đổi

Mô động vật thích hợp nhất cho sự nuôi cấy vi rút LMLM là thượng bì lưỡi bò trưởng thành Lưỡi bò tươi, thu thập ngay sau khi giết mổ bò, bảo quản ngay trong điều kiện lạnh 2 - 30C không quá 8 ngày Vi rút LMLM phát triển ở thượng bì gây nhiễm hình thành mụn nước; các mảnh thượng bì lưỡi

có mụn nước là vật liệu chứa vi rút được dùng để tiếp đời hoặc thu vi rút chế vắc xin Vi rút LMLM có thể giữ nguyên độc lực sau khi tiếp đời vi rút trên

mô thượng bì lưỡi bò sau vài chục lần, phương pháp này thường được dùng

để nhân vi rút chế vắc xin vô hoạt

Môi trường tế bào tốt nhất là lấy từ tuyến yên của bò, lợn, cừu non hoặc các dòng tế bào có độ mẫn cảm [49]

Viện Pirbright trong năm 1973 đã nuôi cấy 140 chủng vi rút LMLM, gần

120 chủng trong số này đã sinh trưởng phù hợp trong môi trường BHK 21 [15]

Chế kháng nguyên: Dùng chuột lang từ 2 - 7 ngày tuổi để gây bệnh,

sau 24 giờ có thủy thũng hoặc mọc mụn nước Thu dịch thủy thũng hoặc mụn nước cấy vào môi trường tế bào, sau 24 giờ xuất hiện bệnh tích và tế bào chết Thu dịch trong môi trường có chứa vi rút được giải phòng từ tế bào để làm kháng nguyên trong phản ứng ELISA Nếu tế bào không biến đổi hoặc chuột

Trang 34

bị chết, phải cấy truyền hai lần liên tiếp, cách nhau 48 giờ với huyễn dịch vi rút - tế bào đông tan

(Bisonbonasus), trâu rừng (yak), lạc đà, nhiều loài sơn dương, hoẵng, những

loài hươu khác nhau (như hươu Dama, hươu đỏ), nai, đều nhiễm vi rút LMLM Hoẵng nhiễm vi rút LMLM có biểu hiện triệu chứng điển hình, hươu

Sira biểu hiện ít trầm trọng hơn, hươu hoang dã (Fallowdeer) và hươu chỉ

biểu hiện dưới dạng thể ẩn Các loài nhai lại cảm thụ này đóng vai trò quan trọng trong dịch tễ học của bệnh [19]

1.4.1.2 Nguồn dịch là gia súc mang trùng

Các loại gia súc nuôi và động vật hoang dã mang trùng được coi là nguồn bệnh quan trọng nhất, trong dịch tễ học của bệnh LMLM hiện nay Thú mang trùng được định nghĩa là thú mà ở đó vi rút sống có thể phân lập được 28 ngày sau khi nhiễm bệnh Thú mang trùng không chỉ có nghĩa là hoang thú mà cả động vật nuôi; trong thực tế có khoả , dê, cừu phơi nhiễm vi rút LMLM trở thành thú mang trùng, bất luận chúng đã hoặc chưa được bảo vệ bằng vắc xin Sự hình thành trạng thái mang trùng phụ thuộc vào chủng và type huyết thanh của vi rút LMLM Thời gian mang trùng phụ thuộc vào loài nhiễm bệnh và có tính cá thể

Vấn đề động vật mang trùng đặc biệt quan trọng khi cân nhắc sử dụng vắc xin để khống chế một ổ dịch, bởi vì vắc xin không ngăn chặn được sự nhiễm vi rút (bò đã được tiêm vắc xin vẫn nhiễm bệnh và mang trùng) và các phương tiện chẩn đoán hiện tại chưa đảm bảo chắc chắn 100% phát hiện hết các trường hợp động vật mang trùng

Trang 35

1.4.2 Động vật cảm thụ

Bệnh LMLM chủ yếu là của loài nhai lại và lợn Loài vật ăn thịt ít mắc bệnh hơn Ngựa, loài 1 móng và người không cảm nhiễm bệnh [12]

Trâu và bò là những loài dễ mắc nhất [19], trong đó bò có tỷ lệ nhiễm

và mức độ bệnh trầm trọng hơn trâu, sau đó đến lợn, cừu, dê Trong số các giống bò, bò lai được nuôi dưỡng tốt, khỏe mạnh thường dễ nhiễm bệnh hơn Bệnh thường xảy ra ở trâu, bò rồi lây sang lợn (trừ chủng vi rút chỉ nhiễm cho lợn) [6], vi rút LMLM chủng Cathay chỉ gây bệnh cho lợn

Trang 36

sự nhân lên của vi rút với mức độ thấp Vi rút thường cư trú ở vùng hầu của gia súc

Hình 1.5 Một số hình ảnh của lợn mắc bệnh lở mồm long móng 1.4.3 Đường xâm nhập

* Đường hô hấp: Đường xâm nhập chính của vi rút là đường hô hấp,

vi rút vào vùng hầu ở trong các tế bào của màng nhầy họng rồi lan sang các tế bào lân cận, các hệ thống lưu thông và hệ lâm ba lan dần tới các tế bào, cơ quan khắp cơ thể

* Đường tiêu hóa: Khi mầm bệnh theo thức ăn, nước uống xâm nhập

vào cơ thể qua đường tiêu hóa, chúng nhân lên trong lớp thượng bì của ống tiêu hóa, làm thành mụn nước sơ phát, sau đó theo hệ thống máu và lâm ba đến khắp cơ thể

* Da: Da nguyên lành không để vi rút đi qua, khi có vết xây xát thông

qua đó gia súc có thể nhiễm vi rút Tại những chỗ xây xát hoặc vết thương ở

Trang 37

da, nhất là vùng vú thường xuất hiện mụn nước sơ phát; vùng da tổn thương

cũng là nơi vi rút xâm nhập vào cơ thể

1.4.4 Cơ chế sinh bệnh

Vi rút LMLM phổ biến lây lan theo đường hô hấp, vi rút sinh sôi qua vùng hầu Ngoài đường hô hấp, vi rút có thể nhiễm qua da (qua vết thương trên da và niêm mạc) Khi vi rút theo thức ăn, nước uống xâm nhập vào cơ thể hoặc qua các tổn thương ở da, trước tiên nó nhân nên trong lớp thượng bì của ống tiêu hóa hoặc của da, gây thủy thũng một số tế bào thượng bì, làm thành mụn nước sơ phát, nhưng khó nhận biết vì con vật vẫn khỏe mạnh bình thường [12]

Tổn thương do vi rút gây ra tại vị trí xâm nhập không gây ra triệu chứng bệnh, vì vậy thời gian nung bệnh rất khác nhau, phụ thuộc vào độc lực của vi rút, số lượng vi rút và đường xâm nhập Thời gian nung bệnh có thể ngắn (2 - 3 ngày), có khi nên tới 10 - 14 ngày Những trường hợp liều gây nhiễm thấp, thời gian nung bệnh có thể dài hơn [22]

Sau khi nhân lên ở vùng xâm nhập và ở những hạch lâm ba lân cận, vi rút vào máu và được đưa đến các vị trí tiếp theo [12] Do tính hướng thượng

bì, vi rút hầu như rất ít nhân lên ở các phủ tạng; vi rút phát triển chủ yếu trong những tế bào thượng bì của niêm mạc và da, chủ yếu là các tế bào thượng bì non, gây sưng hạch, tổn thương (dưới dạng mụn nước) các biểu mô quanh miệng (mõm lợn), chân, vú và gốc sừng Ngoài ra, mụn nước cũng phát triển

ở những nơi ít nhìn thấy như âm hộ, vùng bẹn… Vi rút có thể qua đường tuần hoàn của con mẹ xâm nhập vào phôi thai và có thể gây xảy thai Vào giai đoạn cuối của bệnh (cuối giai đoạn sốt), vi rút có thể tiếp tục nhân lên ở những tế bào đang phân chia vùng mô lân cận, và gây nên các mụn nước thứ phát ở các vùng đó

Mụn nước xuất hiện ở cả chiều sâu của thượng bì Do áp lực của nước

ở trong mụn, mụn nước phát triển to ra, nhô lên Cùng với phản ứng viêm,

Trang 38

bạch cầu di động đến làm cho dịch lâm ba của mụn nước từ trong trở nên đục

và không bao giờ sinh mủ, gây hoại tử, xây xát gây nên bệnh lý cục bộ, ăn sâu vào trong, có khi gây bại huyết làm con vật suy yếu hoặc chết

1.4.5 Chất chứa vi rút

* Nước dãi: Độc lực của vi rút xuất hiện rất sớm trong nước dãi (10 giờ

sau khi nhiễm vi rút) Sự xuất hiện vi rút trong nước dãi trước khi sốt có thể

do sự nhân lên của vi rút ở cửa vào Số lượng vi rút cường độc trong nước dãi đạt cao nhất khi các mụn nước ở miệng vỡ, kéo dài đến ngày thứ 10 - 14 ngày sau khi có triệu chứng và biến mất sau 5 tuần [15] Vi rút được thải ra ngoài qua nước dãi lẫn nước mụn và mảnh thượng bì của mụn bị vỡ ra trên niêm mạc lưỡi và miệng Vi rút trong nước dãi tồn tại đến 2 ngày ở 370C, 3 tuần ở

200C, 5 tuần ở 40C

* Mụn nước: Vi rút có nhiều nhất trong nước của mụn mới phát dưới 5

ngày, mụn không còn vi rút sau khi hình thành mụn thứ phát Số lượng vi rút cao nhất là trong nước mụn và thành mụn, 1 ml dịch mụn nước có chứa 108 TCID50 ở ngày thứ 2 - 3 sau khi có triệu chứng và giảm rõ rệt sau 4 - 5 ngày [15]

* Máu: Vi rút LMLM xuất hiện trong máu của động vật cảm thụ vào

thời kỳ sốt, thường từ giờ thứ 18 sau khi nhiễm vi rút và có thể kéo dài 3 - 5 ngày Máu chứa ít vi rút hơn mụn nước, khoảng 105 TCID50/ml máu tại thời điểm cao nhất [15]

* Các chất thải tiết khác: Vi rút LMLM cũng được thải ra môi trường

ngoài trong các chất dịch bài tiết như nước tiểu, phân, sữa, nước mũi, nước mắt và tinh dịch Số lượng vi rút cường độc trong các chất bài tiết này thấp hơn ở nước dãi Độc lực của vi rút có trong chất bài tiết cùng một lúc với độc lực của vi rút và mất đi vào ngày thứ 4 hoặc thứ 5, ngoại trừ nước tiểu

Mô và các tổ chức khác: như tim, da, tuyến tụy; tuyến giáp, trong mật

và các hạch lâm ba cũng chứa một lượng lớn vi rút trong suốt giai đoạn bệnh

ở thể cấp tính Sản phẩm động vật và phụ phẩm, chất thải, các thú sản, sản

Trang 39

phẩm sữa, thịt, máu, xương, da, lông, móng, sừng đều chứa vi rút; rác thải của nhà bếp, nước rửa đun không kỹ cũng làm phát tán vi rút [16] Vi rút có thể giữ nguyên hoạt tính trên lông gia súc đến 4 tuần [15]

Chất thải, vật dụng chăn nuôi: tường, nền, máng ăn, chất lót chuồng, rơm cỏ, nước rửa chuồng, các đồ vật và dụng cụ đều có thể chứa vi rút và trở thành nguồn cơ giới truyền lây vi rút

1.4.6 Con đường và phương thức truyền lây

Phương thức truyền bệnh LMLM rất đa dạng Vi rút gây bệnh LMLM

có thể lây truyền trực tiếp giữa con mắc bệnh và con khỏe khi nhốt chung hoặc chăn thả chung trên đồng cỏ Vi rút từ nước bọt, dịch mụn nước, các chất bài xuất, bài tiết của con vật mắc bệnh xâm nhập vào con khỏe Bệnh cũng có thể truyền lây gián tiếp thông qua thức ăn, nước uống, máng ăn, máng uống, nền chuồng, dụng cụ chăn nuôi, dụng cụ thú y, sản phẩm chăn nuôi; phương tiện vận chuyển, tay chân, quần áo người chăn nuôi bị nhiễm vi rút

Bệnh lây truyền trực tiếp từ đàn này sang đàn khác, từ địa phương này sang địa phương khác do sự di chuyển của con vật nhiễm bệnh đến đàn chưa

có bệnh là hình thức lây truyền chủ yếu Do nhu cầu giao lưu, buôn bán động vật, sản phẩm động vật của các tỉnh, các vùng và các nước ngày càng phát triển, cùng với sự chênh lệch về giá cả đã thúc đẩy sự vận chuyển bất hợp pháp, tư thương đã tìm mọi cách để vận chuyển gia súc ra khỏi vùng dịch để kiếm lời Người chăn nuôi vì không rõ nguồn gốc hoặc tham giá rẻ đã mua về nuôi, từ đó mầm bệnh phát tán khắp nơi [15]

Chó, mèo, gà, chim muông, hoang thú, côn trùng không mắc bệnh nhưng có thể truyền bệnh theo con đường cơ học từ nơi này đến nơi khác Những con vật đã khỏi bệnh nhưng vẫn mang vi rút trong móng chân, máu, nước tiểu và là nguồn gốc gây ra các ổ dịch mới Gió cũng là một yếu tố quan trọng trong việc làm lây lan bệnh qua không khí

Ngoài ra, vi rút có thể truyền từ mẹ sang bào thai Bê sinh ra mắc bệnh

Trang 40

thường chết nhanh [18]

* Thời điểm lây lan: Vi rút xuất hiện trong nước bọt trước khi xuất

hiện các triệu chứng và tăng cao khi vỡ các mụn nước ở miệng; vi rút có mặt trong các chất thải tiết khác như nước tiểu, phân cũng đồng thời vi rút với sự xuất hiện vi rút của mụn nước Mọi chất thải tiết và không khí đều mang vi rút Như vậy, vi rút được lan truyền ngay khi động vật chưa có triệu chứng và khả năng lây truyền tăng cao khi mụn nước vỡ Sau 4 ngày kể từ lúc mụn nước vỡ ra, khả năng lây nhiễm giảm hoặc không còn, trừ khi vi rút tồn tại trên da, lông của một vài con vật (giữ được mầm bệnh như một vật mang trùng) trong thời gian dài [19]

* Phạm vi lây lan: Tốc độ gió, hướng gió là yếu tố quan trọng trong

việc lây lan bệnh LMLM qua không khí Truyền lây vi rút trong không khí là kiểu truyền lây “không kiểm soát được”, đáng sợ hơn nhiều lần so với các phương thức truyền lây “kiểm soát được” (như sự tiếp xúc trực tiếp của gia súc khỏe với gia súc mắc bệnh hoặc gián tiếp qua con người hay các vật dụng khác)

Mùa truyền lây: Ở vùng nhiệt đới, bệnh LMLM thường ở thể nhẹ, ít gây chết Đặc điểm bệnh LMLM có thể do ảnh hưởng của yếu tố khí hậu Trong sức nóng nhiệt đới, những chất, những bộ phận chứa vi rút bị tiêu diệt nhanh, làm giảm mức độ truyền lây Cũng có thể vì chính lý do nhiệt độ này, ở Việt Nam và các nước nhiệt đới khác bệnh LMLM lây lan quanh năm, nhưng thường phổ biến hơn vào mùa xuân, vào mùa mưa phùn, đất ẩm ướt, ánh nắng

dịu của mùa đông

Ngày đăng: 25/06/2015, 09:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Quang Anh, Hoàng Văn Năm (2000), "Tình hình bệnh lở mồm long móng tại Đông Nam Á và thế giới", Tạp chí Khoa Học Kỹ Thuật Thú y, 8(3): 90 - 93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh lở mồm long móng tại Đông Nam Á và thế giới
Tác giả: Bùi Quang Anh, Hoàng Văn Năm
Năm: 2000
3. Cục Thú y, Báo cáo tổng kết năm các năm: 2003, 2004, 2005, 2006, 2007, 2009, 2010, 2011, 2012, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm các năm: 2003, 2004, 2005, 2006, 2007, 2009, 2010, 2011, 2012, 2013
Tác giả: Cục Thú y
4. Cục Thú y, Báo cáo tổng kết đề tài độc lập cấp nhà nước. Nghiên cứu giải pháp dịch tễ học phát hiện và khống chế bệnh LMLM, (2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục Thú y, Báo cáo tổng kết đề tài độc lập cấp nhà nước
5. Hồ Đình Chúc & Ngô Thành Long (2003). “ Phát hiện trâu, bò nhiễm vi rút lở mồm long móng bằng kít ELISA CHEKIT – FMD -3ABC”. Tạp chí Khoa Học Kỹ Thuật Thú y tập số 10: 14 - 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Đình Chúc & Ngô Thành Long (2003). “ Phát hiện trâu, bò nhiễm vi rút lở mồm long móng bằng kít ELISA CHEKIT – FMD -3ABC”. "Tạp chí Khoa Học Kỹ Thuật Thú y tập số
Tác giả: Hồ Đình Chúc & Ngô Thành Long
Năm: 2003
6. Lê Minh Chí (1996), “Báo cáo tổng kết công tác phòng chống dịch lở mồm long móng năm 1995”, Cục Thú y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác phòng chống dịch lở mồm long móng năm 1995”
Tác giả: Lê Minh Chí
Năm: 1996
8. Cục Thú y (2005), Chương trình Quốc gia khống chế và thanh toán bệnh lở mồm long móng giai đoạn 2006 - 2010. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, 7(4):1 - 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục Thú y (2005), Chương trình Quốc gia khống chế và thanh toán bệnh lở mồm long móng giai đoạn 2006 - 2010
Tác giả: Cục Thú y
Năm: 2005
11. Cục Thú y (2003). Sổ tay phòng chống bệnh lở mồm long móng gia súc, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay phòng chống bệnh lở mồm long móng gia súc
Tác giả: Cục Thú y
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
12. Donalsson A.I. (2000). “Bệnh lý học và dịch tễ học của bệnh lở mồm long móng” (tài liệu do Lê Minh Hà dịch), Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, 7(4): 43 - 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh lý học và dịch tễ học của bệnh lở mồm long móng” (tài liệu do Lê Minh Hà dịch), "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Donalsson A.I
Năm: 2000
13. Nguyễn Tiến Dũng (2000), "Bệnh lở mồm long móng (bài tổng hợp)" Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, 7(5): 8 - 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh lở mồm long móng (bài tổng hợp)
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2000
14. Đào Trọng Đạt (2000), “Góp phần vào việc đấu tranh phòng chống bệnh lở mồm long móng”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, 7(2): 6 - 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần vào việc đấu tranh phòng chống bệnh lở mồm long móng”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Đào Trọng Đạt
Năm: 2000
15. Nguyễn Văn Hƣng (2011), Nghiên cứu sự phân bố và lưu hành của vi rút lở mồm long móng ở vùng Duyên hải miền Trung. Luận án tiến sỹ khoa học nông nghiệp, Viện Thú y Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự phân bố và lưu hành của vi rút lở mồm long móng ở vùng Duyên hải miền Trung
Tác giả: Nguyễn Văn Hƣng
Năm: 2011
16. Nguyễn Viết Không, Nguyễn Văn Hưng, Lê Thắng, Trương Văn Dung, Trần Thị Thanh, Trịnh Quang Đại (2006). “Phát hiện type Asia 1 vi rút LMLM lần đầu tiên tại Khánh Hòa bằng kỹ thuật RT –PCR”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, 8 (4): 97 - 98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát hiện type Asia 1 vi rút LMLM lần đầu tiên tại Khánh Hòa bằng kỹ thuật RT –PCR”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Nguyễn Viết Không, Nguyễn Văn Hưng, Lê Thắng, Trương Văn Dung, Trần Thị Thanh, Trịnh Quang Đại
Năm: 2006
17. Tr. Doel. Merial Ltd. Pirbright, UK (2003), “Miễn dịch lở mồm long móng tự nhiên và do tiêm phòng; những triển vọng cải tiến vắc xin”, Tạp chí Khoa Học Kỹ Thuật Thú y, 10 (2): 75 - 86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn dịch lở mồm long móng tự nhiên và do tiêm phòng; những triển vọng cải tiến vắc xin”, "Tạp chí Khoa Học Kỹ Thuật Thú y
Tác giả: Tr. Doel. Merial Ltd. Pirbright, UK
Năm: 2003
18. Tr. Doel. Merial Ltd. Pirbright, UK (2003), “Miễn dịch lở mồm long móng tự nhiên và do tiêm phòng; những triển vọng cải tiến vắc xin”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, 10(3): 74 - 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn dịch lở mồm long móng tự nhiên và do tiêm phòng; những triển vọng cải tiến vắc xin”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Tr. Doel. Merial Ltd. Pirbright, UK
Năm: 2003
19. Nguyễn Lương (1997), Dịch tễ học Thú y (phần chuyên khoa), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 32 - 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học Thú y (phần chuyên khoa)
Tác giả: Nguyễn Lương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
10. Cục Thú y, Trang Web của Cục Thú y - Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn. http://www.cucthuy.gov.vn Link
51. Website http://www.bullshit.com/showthread.php?5655-FDA-being-full-of-shit-claims-raw-milk-is-full-of-germs/page2) Link
52. Website http://www.daff.gov.au/animal-plant-health/pests-diseases weeds/animal/fmd/pic-cattle) Link
53. Website http://en.mercopress.com/2010/04/15/fmd-emergency-in-korea-26.000-animals-at-211-farms-culled) Link
54. Website http://www.fao.org/corp/google_result/en/?cx=018170620143 701104933%3Aqq82jsfba7w&q=FMD+stituation+map+2008&cof=FORID%3A9&x=12&y+7#1247 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Cấu trúc virion của vi rút LMLM type O1BFS nguồn [38] - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh lào cai
Hình 1.2. Cấu trúc virion của vi rút LMLM type O1BFS nguồn [38] (Trang 27)
Hình 1.3 Cấu trúc hệ gen phân tử protein nguồn [46] - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh lào cai
Hình 1.3 Cấu trúc hệ gen phân tử protein nguồn [46] (Trang 28)
Hình 1.5. Một số hình ảnh của lợn mắc bệnh lở mồm long móng  1.4.3. Đường xâm nhập - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh lào cai
Hình 1.5. Một số hình ảnh của lợn mắc bệnh lở mồm long móng 1.4.3. Đường xâm nhập (Trang 36)
Hình 1.7. Hình ảnh sau khi mụn vỡ - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh lào cai
Hình 1.7. Hình ảnh sau khi mụn vỡ (Trang 44)
Hình 3.1. Biểu đồ số ổ dịch LMLM xảy ra qua các năm tại Lào Cai - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh lào cai
Hình 3.1. Biểu đồ số ổ dịch LMLM xảy ra qua các năm tại Lào Cai (Trang 61)
Hình 3.2: Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM qua các năm - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh lào cai
Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM qua các năm (Trang 63)
Hình 3.5: Số ca mắc bệnh LMLM ở bò qua các năm theo mùa (2009 - 2014) - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh lào cai
Hình 3.5 Số ca mắc bệnh LMLM ở bò qua các năm theo mùa (2009 - 2014) (Trang 68)
Hình 3.6: Số ca bệnh LMLM ở trâu, bò qua các năm theo mùa - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh lào cai
Hình 3.6 Số ca bệnh LMLM ở trâu, bò qua các năm theo mùa (Trang 69)
Hình 3.11: Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò chết do mắc bệnh LMLM theo tuổi - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh lào cai
Hình 3.11 Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò chết do mắc bệnh LMLM theo tuổi (Trang 76)
Hình 3.12: Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò chết do bệnh LMLM theo mùa (2009 - 2014) - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh lào cai
Hình 3.12 Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò chết do bệnh LMLM theo mùa (2009 - 2014) (Trang 77)
Hình 3.13: Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò chết do bệnh LMLM theo năm - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh lào cai
Hình 3.13 Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò chết do bệnh LMLM theo năm (Trang 78)
Hình 3.17: Biểu đồ diễn biến dương tính ABC-ELISA ở trâu, bò được tiêm - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh lào cai
Hình 3.17 Biểu đồ diễn biến dương tính ABC-ELISA ở trâu, bò được tiêm (Trang 83)
Bảng 3.18: Tổng hợp kết quả xét nghiệm mẫu biểu mô từ trâu, bò - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh lào cai
Bảng 3.18 Tổng hợp kết quả xét nghiệm mẫu biểu mô từ trâu, bò (Trang 84)
Hình 3.19. Bản đồ dịch tễ bệnh lở mồm long móng - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh lào cai
Hình 3.19. Bản đồ dịch tễ bệnh lở mồm long móng (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w