1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TỪ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VĨ MÔ ĐẾN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VI MÔ VÀ VIỆC QUẢN LÝ DÒNG TIỀN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT

14 471 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 444,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong các khía cạnh rủi ro cần được xem xét và phân tích, đó là hoạt động quản trị rủi ro dòng tiền tại các Công ty niêm yết xem xét trong bối cảnh chính sách tiền tệ được thực thi t

Trang 1

TIỂU LUẬN

“TỪ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VĨ MÔ ĐẾN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VI MÔ VÀ

VIỆC QUẢN LÝ DÒNG TIỀN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT”

NCS : Đinh Trần Ngọc Huy, MBA

Tóm tắt:

Sau cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu 2007-2011, nền kinh tế Việt Nam đã chứng kiến lạm phát ở mức 2 chữ số qua 4 năm 2007, 2008, 2010 và 2011 Biến số kinh tế này tác động không chỉ lên sự vận hành chính sách tiền tệ mà còn lên khu vực Doanh nghiệp nước ta Phân tích các biến động trong việc quản trị rủi ro dòng tiền từ

đó đưa ra các giải pháp và đề xuất - đây là 1 trong những mục tiêu nghiên cứu chính của chuyên đề này

Mở đầu:

Nhìn chung, khủng hoảng tài chính 2007-2011 ảnh hưởng toàn bộ nền kinh tế và các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam Một trong các khía cạnh rủi ro cần được xem xét và phân tích, đó là hoạt động quản trị rủi ro dòng tiền tại các Công ty niêm yết xem xét trong bối cảnh chính sách tiền tệ được thực thi trong giai đoạn này

Cấu trúc của chuyên đề bao gồm 3 Chương Chương I trình bày khái quát các vấn đề

lý luận cơ bản về quản lý rủi ro dòng tiền Chương II trình bày thực trạng và các tình huống cụ thể cũng như bài học kinh nghiệm trong quản lý rủi ro dòng tiền Chương III

sẽ trình bày tóm tắt các giải pháp liên quan và kiến nghị

Trang 2

Chương I : Lý luận cơ bản

1 Khái niệm, vai trò, chức năng tiền tệ

Có một số định nghĩa về tiền tệ, bao gồm việc định nghĩa tiền tệ như là hàng hóa, hoặc định nghĩa tiền tệ theo các chức năng là thước đo giá trị hay trung gian trao đổi và thanh toán Nhìn chung, tiền tệ có trên 3 hình thức biểu hiện, trong số đó có thể bao gồm hình thức tiền trả ngay (cash) trong các giao dịch thanh toán, hoặc hình thức tiền trả chậm (credit) thông qua phương thức chuyển khoản ngân hàng hay cheque hoặc tín dụng thương mại Trong các giao dịch thanh toán quốc tế, hình thức tiền trả chậm được sử dụng thông qua các phương thức thanh toán quốc

tế như nhờ thu, tín dụng chứng từ L/C

Tiền tệ có 1 số vai trò quan trọng trong nền kinh tế mở Khối cung tiền bao gồm tiền trong lưu thông (tiền giấy khả dụng và tiền kim loại) và tiền qua ngân hàng (chuyển khoản, tài khoản vãng lai và tiết kiệm) Ở các quốc gia đã phát triển, tiền qua ngân hàng chiếm tỷ trọng khá lớn trong cung tiền

Trong nền kinh tế và lưu thông hàng hóa, nếu không có tiền tệ, sẽ không có sự hình thành giá cả chẳng hạn như giá cả hàng hóa dịch vụ và các loại lãi suất cũng như tỷ giá hối đoái Do đó, không có tiền đề thuận lợi cho trao đổi mua bán và thanh toán giữa các vùng và các quốc gia Thêm vào đó, không có sự ra đời và phát triển của tiền tệ và các hình thái tiền tệ, nền kinh tế sẽ không có tiền đề cho

sự hình thành các dòng vốn, dòng ngân lưu, và các hình thức đầu tư tài chính, đầu

tư vốn, cũng như không có tiền đề cho sự vận hành nên các doanh nghiệp SXKD Nhất là không có sự ra đời của các chính sách tiền tệ để điều chỉnh các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế

2 Chính sách tiền tệ và lý do của CSTT

Chính sách tiền tệ (CSTT) là việc NHTW 1 nước sử dụng các công cụ của CSTT bao gồm DTBB, lãi suất chiết khấu, tái cấp vốn, hay hạn mức tín dụng để nới lỏng hay thắt chặt tiền tệ và thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô như kiềm chế lạm phát, tăng trưởng kinh tế, giảm thất nghiệp

Một số lý do ban hành CSTT bao gồm: Khủng hoảng kinh tế 2007 -2008 làm 1 số quốc gia gồm có China, Taipei, Thailand, Singapore và VN nới lỏng chính sách tiền tệ cuối 2008, và Japan thực hiện CS lãi suất 0% (xem đồ thị bên dưới)

Trang 3

Đồ thị 1 - LS tại 1 số nước Châu Á

3 Khái niệm, vai trò và tiêu chuẩn quản trị rủi ro

Trước hết, rủi ro được định nghĩa theo ISO, đó là sự kết hợp các xác suất xảy ra một sự kiện hay tình huống và các hệ quả (tích cực hay tiêu cực) kèm theo Rủi ro trong kinh doanh được phân loại thành: rủi ro tài chính (ngoại hối, lãi suất), rủi ro chiến lược (cạnh tranh, biến động ngành), rủi ro hoạt động (pháp lý, văn hóa) và rủi ro môi trường (thiên tai, nhà cung cấp) Đây là các rủi ro do các nguyên nhân bên ngoài (external factors), ngoài ra rủi ro có thể do các nguyên nhân bên trong (internal factors) chẳng hạn như: rủi ro hoạt động (chuỗi cung ứng, hệ thống thông tin quản lý), rủi ro môi trường (sản phẩm dịch vụ, cán bộ nhân viên), rủi ro tài chính (thanh khoản và dòng tiền), rủi ro chiến lược (M&A)

Quản trị rủi ro có thể được hiểu như là việc nhận diện rủi ro, đánh giá và xếp hạng

ưu tiên rủi ro Bên cạnh đó, ISO 31000 cũng đưa ra 1 định nghĩa về quản trị rủi ro như là các tác động tạo ra sự không chắc chắn lên việc thực hiện các mục tiêu (có

ý nghĩa tích cực hoặc tiêu cực), và thông qua việc sử dụng các nguồn lực một cách

Trang 4

kinh tế có thể giảm thiểu, quản lý hay kiểm soát được xác suất xảy ra và/hoặc các hiệu ứng của các sự kiện không mong muốn hay tối đa hóa mức độ hiện thực của các cơ hội Quản trị rủi ro, do đó, xem xét rủi ro theo hai mặt của một vấn đề, đó

là cả phương diện xấu và tốt của rủi ro, mặc dù theo nghĩa thông thường, QTRR gắn với việc loại trừ, ngăn ngừa khía cạnh xấu và có hại của rủi ro

Trong các doanh nghiệp, quản trị rủi ro có thể được xem là 1 bộ phận của quản trị chiến lược Nó bao gồm việc hoạch định chính sách và chiến lược để quản trị rủi

ro, hay là việc xây dựng một số chương trình giáo dục, đào tạo giúp cho việc thiết lập văn hóa nhận thức về rủi ro trong công ty

Các phương thức quản trị rủi ro bao gồm: theo ISO (International Organization for Standardization): a) né tránh rủi ro; b) chấp nhận rủi ro; c) loại bỏ nguồn gốc rủi ro; d) thay đổi hệ quả; e) thay đổi khả năng xảy ra; f) chia sẻ rủi ro với đối tác; Các tiêu chuẩn quản trị rủi ro (QTRR) bao gồm: thiết lập mục tiêu QTRR; xây dựng hệ thống QTRR phù hợp cơ cấu tổ chức; và nhận thức QTRR là 01 quá trình

Như vậy, quản trị rủi ro dòng tiền tại các công ty niêm yết có thể được hiểu là việc

sử dụng các nguồn lực một cách kinh tế và hợp lý để giảm thiểu, quản lý các tác động của các sự kiện không mong đợi lên các mục tiêu thực hiện

4 Khái niệm quản lý dòng tiền

Đây là 1 khía cạnh của việc quản trị tài chính trong các công ty Trong tài chính công ty, dòng ngân lưu cash flow có tính thanh khỏan trong ngắn hạn bao gồm thay đổi về ngân lưu kỳ này so với kỳ trước (hoặc kỳ kế tiếp) của tổng tiền cash (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng) + các khỏan đầu tư ngắn hạn – các khoản nợ ngắn hạn

5 Khái niệm quản lý rủi ro dòng tiền

Bên cạnh định nghĩa quản trị rủi ro dòng tiền như đã nêu trên, quản lý rủi ro dòng tiền có thể được hiểu là quản lý rủi ro đối với dòng ngân lưu (cash flow) của các Công ty; như vậy, bao hàm luôn cả việc quản lý rủi ro tài chính dòng ngân lưu của doanh nghiệp Quản lý rủi ro dòng tiền hướng tới việc tránh cho doanh nghiệp thiếu hụt khả năng thanh khoản

Trang 5

Các yếu tố tác động việc quản lý rủi ro dòng tiền bao gồm: chính sách tiền tệ (lãi suất, tỷ giá) và chính sách tài khóa (thuế) và các yếu tố khác

6 Phương pháp phân tích rủi ro

Bao gồm việc nghiên cứu thị trường, phân tích tác động kinh doanh, các mối nguy trong kinh doanh Phân tích SWOT, phân tích BPEST (Business, Political, Economic, Social, Technological) và phân tích PESTLE (thêm yếu tố Legal – pháp lý, và Environment – Môi trường)

7 Quy trình quản lý rủi ro dòng tiền trong công ty

Quản lý dòng ngân lưu bao gồm các hoạt động: kiểm soát, phân tích và điều chỉnh dòng ngân lưu và rủi ro, mà cụ thể là các hoạt động thu hồi các khỏan phải thu, kiểm soát chi tiêu, ước lượng nhu cầu vốn lưu động và tiền mặt, đầu tư tiền nhàn rỗi Trong khi đó, quản lý rủi ro bao gồm các nội dung: thiết lập mục đích rõ ràng, hoạch định chính sách và chiến lược, nhận diện, đánh giá và xếp hạng rủi ro, từ đó

có biện pháp ngăn ngừa và loại trừ khía cạnh xấu của rủi ro

Như vậy, quy trình quản lý rủi ro dòng tiền trong công ty niêm yết bao gồm các bước (7 bước): thiết lập mục tiêu -> hoạch định chiến lược -> nhận diện rủi ro dòng tiền -> phân tích -> đánh giá và xếp hạng rủi ro -> điều chỉnh, loại trừ và ngăn ngừa rủi ro -> kiểm soát rủi ro

Trang 6

Chương II : Cơ chế truyền dẫn CSTT và Thực trạng quản lý rủi ro dòng tiền tại các Công ty niêm yết Việt Nam

1 Tác động CSTT lên các thị trường tài chính

Nền kinh tế suy thoái hay khủng hoảng có thể do nhiều lý do bất ổn bên trong và bên ngoài, nếu không tự điều chỉnh được thì cần có sự can thiệp của nhà nước hay NHTW với các CSTT vĩ mô Các CSTT vĩ mô về lãi suất chiết khấu hay DTBB sẽ

có tác động thắt chặt hay nới lỏng tiền tệ và do đó ảnh hưởng lên khắp các TTTC bao gồm TT ngân hàng, TT chứng khóan, TT bất động sản, TT ngoại hối, TT vàng và cả TT xăng dầu

Ví dụ minh họa:

Sơ đồ 1 – Tương tác giữa CSTT vĩ mô với một số TTTC

Sơ đồ trên cho chúng ta thấy thời gian ảnh hưởng của CSTT vĩ mô lên các TTTC khác nhau có sự khác biệt Một khi TT ngân hàng biến động thiếu hụt thanh khoản (trạng thái 1), NHTW sẽ tăng lãi suất cơ bản giúp các NHTM gia tăng huy động vốn (trạng thái 2) nhưng cũng sẽ tác động lên thị trường BĐS và TTCK (xem sơ

đồ trên)

2 Cơ chế truyền dẫn CSTT vĩ mô đến CSTT vi mô

Sơ đồ 2 – Cơ chế truyền dẫn CSTT

Trang 7

Sơ đồ trên cho thấy trước hết CSTT vĩ mô thể hiện sự ảnh hưởng lên các TT tài chính (tiền tệ và vốn), tiếp theo sẽ tác động lên các DN tham gia mà cụ thể là lên h/đ quản trị dòng tiền và rủi ro dòng tiền tại các DN này Sau đó, nó tác động lên

xã hội và dân cư với các yếu tố nhân khẩu học

Sơ đồ 3 – Tác động CSTT lên lãi suất, giá cả HH và các yếu tố khác

Sơ đồ 3 thể hiện khi NHTW nới lỏng tiền tệ thông qua việc giảm DTBB hay kích cầu, nó tăng cung tiền tới MS2 Tiếp theo, MS2 tăng sẽ làm giảm lãi suất

từ i1 tới i2 Và lãi suất i2 giảm khiến cho cầu tiền (DN, ) và cầu đầu tư tăng, và

nợ vay tăng do đó làm tổng cầu tăng, kéo thao cầu HH tăng và rồi giá hàng hóa tăng

3 Hoạt động quản trị rủi ro dòng tiền

CSTT trong nền kinh tế ban hành để kiềm chế và kiểm soát lạm phát Đồng thời CSTT tác động gián tiếp lên hoạt động quản trị dòng tiền và rủi ro dòng tiền tại các DN thông qua các kênh lãi suất, tỷ giá trong các TT tài chính

Trang 8

Phụ lục 1 cho thấy diễn biến lạm phát giai đoạn 2007-2011 tương đối phức tạp, ở

mức 2 chữ số qua 4 năm 2007-2008-2010-2011 Điều này tác động đến rủi ro kinh

doanh các doanh nghiệp thông qua việc sử dụng chính sách tiền tệ thắt chặt và

linh hoạt để kiềm chế lạm phát

Về hoạt động quản trị rủi ro, Ủy Ban CKNN đang xây dựng quy chế thiết lập và

vận hành hệ thống quản trị rủi ro bao gồm các ngưỡng hay giới hạn cảnh báo rủi

ro cho công ty quản lý quỹ và các quỹ đầu tư còn các công ty chứng khoán xây

dựng hệ thống này theo quyết định 105

Thực tế hoạt động tại các công ty niêm yết cho thấy còn nhiều tồn tại chẳng hạn

như: chưa chú trọng đúng mực đến công tác quản trị rủi ro, nhất là hoạt động quản

trị rủi ro dòng tiền chưa được quan tâm đúng mức

4 Tính thanh khoản của dòng ngân lưu tại 01 số Công ty cụ thể

Tình hình tiền mặt và ngân lưu (cash flow) của 02 công ty trong lĩnh vực công

nghệ, FPT và CMC minh họa trong bảng sau:

Ngành CNTT Ngành CNTT, viễn thông

Tiền mặt 1.498.138 861.718 61.700 128.164 Các khoản tương đương tiền 1.404.244 574.409 - - Tổng tiền cash 2.902.382 1.436.127 61.700 128.164 Cộng (+) khoản đầu tư ngắn hạn 861.597 563.892 21.349 94.405 Trừ (-) nợ ngắn hạn 8.475.464 5.439.122 861.687 1.179.421 Tổng ngân lưu CF - 4.711.485 - 3.439.103 - 778.638 - 956.852 Thay đổi CF kỳ này so với kỳ

Hệ số thanh toán nhanh 0,44 0,37 0,10 0,19 Thay đổi ngân lưu (CF) của Công ty FPT qua 02 năm 2010-2011 là (-) 1.272.382

trđ, trong khi đó của công ty CMC là (+) 178.214 trđ Xét về tính thanh khoản của

dòng ngân lưu thì Công ty CMC có kết quả khả quan hơn, mặc dù hệ số thanh

toán nhanh của Công ty FPT tốt hơn Đối với các Công ty trong các lĩnh vực kinh

donah khác nhau thì tính thanh khoản của dòng ngân lưu khác nhau; do đó, quản

trị rủi ro ngân lưu cũng khác nhau

5 Quản trị rủi ro dòng tiền trong các công ty niêm yết

a Nhóm ngành vật liệu xây dựng và bất động sản

Trang 9

Một số khó khăn trong thị trường bất động sản trong giai đoạn khủng hoảng kinh

tế 2007-2011 như sau: sự e dè của các ngân hàng thương mại trong việc hỗ trợ cho vay tiếp tục các dự án bất động sản có hoặc sẽ có nguy cơ đóng băng do các ngân hàng phải đáp ứng yêu cầu dự trữ bắt buộc và thanh khoản, giá bất động sản đã tăng khá cao gây nên hiện tượng bubble (bong bóng), thị trường có sự tham gia của khá nhiều người bán trong khi các nhà đầu tư (người mua) thận trọng hơn trong bối cảnh suy thoái kinh tế nói chung, rủi ro giảm giá chứng khoán trên thị trường các công ty niêm yết trong ngành, người dân vay tiền mua nhà đất không bán được, sự dịch chuyển các nguồn vốn ngắn hạn (<1 năm) vào thị trường bất động sản Bên cạnh đó cũng có 1 số yếu tố thuận lợi như tốc độ tăng trưởng kinh

tế vẫn ổn định Việc quản trị rủi ro dòng tiền trong các doanh nghiệp thuộc ngành phần nào phụ thuộc vào mối quan hệ với ngân hàng thương mại Như vậy, dòng tiền trong thị trường bất động sản nói chung có xu hướng chậm lại

b Nhóm ngành công nghệ thông tin và viễn thông

Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới và trong nước, nhu cầu ứng dụng CNTT vào hoạt động SXKD giúp làm cắt giảm chi phí là cần thiết, ngòai ra chủ trương định hướng của Nhà nước khuyến khích phát triển ngành, do đó, đây là những thuận lợi cho sự phát triển ngành Bên cạnh đó, một số khó khăn bao gồm: lạm phát cao, giá cả tăng làm giảm thu nhập khả dụng và tiết kiệm đầu tư của người dân, khó khăn trong kinh doanh sẽ làm giảm nhu cầu đầu tư trang thiết bị

kỹ thuật và công nghệ Việc quản trị rủi ro dòng tiền trong các công ty thuộc ngành phần nào phụ thuộc vào nguồn vốn đầu tư, vốn vay ngân hàng và sự phát triển các doanh nghiệp khác

c Nhóm ngành hàng tiêu dùng, bán sĩ và bán lẻ

Trong khó khăn chung của nền kinh tế và ngành tài chính ngân hàng, các doanh nghiệp thuộc ngành hàng tiêu dùng cũng phát triển chậm lại Tuy nhiên, ngành này vẫn có thuận lợi và tăng trưởng cao và đều nhờ tính cần thiết của hàng hóa dịch vụ Một số xu hướng trong ngành như bán cổ phần cho đối tác nước ngoài (như Nhật, trung Quốc) để tăng vốn cũng hình thành tương tự như ngành ngân hàng (như thương vụ Kinh Đô bán 10% cổ phần cho Glico) Rủi ro dòng tiền là có song thấp hơn so với các ngành khác như bất động sản

d Nhóm ngành tài chính ngân hàng đầu tư bảo hiểm

Trang 10

Đây là nhóm ngành chịu sự tác động trực tiếp từ các biến số kinh tế vĩ mô của nền kinh tế trong giai đoạn khủng hoảng tài chính như lạm phát, lãi suất gia tăng làm giảm lợi nhuận đầu ra và tăng chi phí đầu vào Bên cạnh đó việc thực hiện chính sách tiền tệ theo hướng thắt chặt để kiềm chế lạm phát cũng ảnh hưởng tới rủi ro thanh khỏan của các ngân hàng thương mại

Các khó khăn chủ yếu trong ngành bao gồm: thị trường bất động sản suy thoái khiến các dự án bất động sản của ngân hàng bị chôn vốn, thêm vào đó, thị trường chứng khoán trì trệ khiến các khỏan đầu tư chứng khóan của các ngân hàng thua

lỗ, một số giám đốc ngân hàng liên quan đến 1 số vụ bê bối buộc phải đình chỉ công tác Về biến động dòng ngân lưu, dòng tiền gửi của khách hàng khó có thể tăng đột biến trong khi đó, dòng tiền vay vẫn còn loay hoay khi lãi suất cho vay còn khá cao Bên cạnh đó, một số thuận lợi trong ngành như: xu hướng M&A (giữa các ngân hàng, giữa ngân hàng và bưu điện, giữa ngân hàng và công ty tài chính) giúp ngân hàng tăng dòng vốn tự có và quy mô hoạt động

Tóm lại, các ngân hàng trong giai đoạn này đang chú trọng việc quản lý thanh khoản và rủi ro tín dụng trong công tác quản lý rủi ro dòng tiền, đồng thời chú trọng việc tăng vốn thông qua các xu hướng sáp nhập

e Nhóm ngành tiện ích công cộng điện, nước

Do sự chậm lại và suy thoái của thị trường bất động sản, hàng tiêu dùng, và các tác động xấu của khủng hoảng lên thị trường ngân hàng, nhu cầu điện nước trong giai đoạn 2007-2011 giảm đi Tuy vậy, đây là các hàng hóa thiết yếu trên thị trường nên tác động của khủng hoảng lên quản trị dòng tiền có phần nào bị hạn chế so với các ngành khác

f Nhóm ngành xăng dầu và khí thiên nhiên

Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế 2007-2009, có sự tăng giá xăng dầu trong bối cảnh 1 số công ty xăng dầu nước ngoài dần rút khỏi thị trường Việt Nam Tuy vậy, ngành dầu khí đã cho thấy sự quan trọng trong đóng góp cho nền kinh tế VIệt Nam mặc dù có giảm sút trong thời kỳ khủng hoảng 2007-2011: (xem sơ đồ sau)

Ngày đăng: 25/06/2015, 09:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 1 - LS tại 1 số nước Châu Á - TỪ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VĨ MÔ ĐẾN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VI MÔ VÀ VIỆC QUẢN LÝ DÒNG TIỀN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
th ị 1 - LS tại 1 số nước Châu Á (Trang 3)
Sơ đồ 1 – Tương tác giữa CSTT vĩ mô với một số TTTC - TỪ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VĨ MÔ ĐẾN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VI MÔ VÀ VIỆC QUẢN LÝ DÒNG TIỀN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
Sơ đồ 1 – Tương tác giữa CSTT vĩ mô với một số TTTC (Trang 6)
Sơ đồ 3 – Tác động CSTT lên lãi suất, giá cả HH và các yếu tố khác - TỪ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VĨ MÔ ĐẾN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VI MÔ VÀ VIỆC QUẢN LÝ DÒNG TIỀN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
Sơ đồ 3 – Tác động CSTT lên lãi suất, giá cả HH và các yếu tố khác (Trang 7)
Sơ đồ trên cho thấy trước hết CSTT vĩ mô thể hiện sự ảnh hưởng lên các TT tài  chính (tiền tệ và vốn), tiếp theo sẽ tác động lên các DN tham gia mà cụ thể là lên  h/đ quản trị dòng tiền và rủi ro dòng tiền tại các DN này - TỪ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VĨ MÔ ĐẾN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VI MÔ VÀ VIỆC QUẢN LÝ DÒNG TIỀN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
Sơ đồ tr ên cho thấy trước hết CSTT vĩ mô thể hiện sự ảnh hưởng lên các TT tài chính (tiền tệ và vốn), tiếp theo sẽ tác động lên các DN tham gia mà cụ thể là lên h/đ quản trị dòng tiền và rủi ro dòng tiền tại các DN này (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w