Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thôngtin cũng như sự phát triển của kinh tế thế giới đã tạo điều kiện cho các quốc gia thiếtlập các mối quan hệ quốc tế với nhau, liên
Trang 1CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ
I/ KHÁI NIỆM, SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGHỀ LUẬT SƯ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1/ KHÁI NIỆM NGHỀ LUẬT SƯ
Trên thế giới có rất nhiều cách hiểu về nghề luật sư, trên mỗi lĩnh vực khác nhauluật sư dược hiểu, được nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau, song có thể khẳngđịnh rằng trong xã hội, luật sư là một nghề cao quý và càng được tôn vinh hơn nữatrong điều kiện nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển dưới chế độ xã hội chủnghĩa mà nhà nước là của dân do dân và vì dân
Là một nghề mà ngay từ khi mới ra đời – trước công nguyên, tại Hy Lạp và La
Mã nó được coi là nghề cao quý, những người hàng nghề luật sư hồi đó không gọivới thuật ngữ luật sư như bay giờ mà họ được tôn thờ như những hiệp sĩ “không khígiới”.Những hiệp sĩ này chỉ bằng ba tấc lưỡi cùng với sự hiểu biết pháp luật và xã hộithay cho sức mạnh cơ bắp và thể lực đẻ đứng ra bênh vực cho những người thân cô,thế cô, nghèo hèn, phụ nữ và trẻ em bị các thế lực đương thời áp bức Các hiệp sĩ nàydần dần đông lên và tập hợp lại tại thành Roman -Ý thành một đoàn thể có quyềnbiện hộ trước hoàng đế vào khoảng thế kỷ thứ IV sau Công nguyên Đến thế kỷ thứVIII thì xuất hiện danh xưng luật sư do nhà vua công nhận cho 17 vị luật sư đầu tiên
có quyền biện hộ trước toà án
Chế độ phong kiến xuất hiện và phần lớn các quốc gia phong kiến đều chịu ảnhhưởng của một số tôn giáo khác nhau Một số quốc gia tôn giáo đã trở thành quốcgiáo, do vậy các mục đích chính trị luôn bị ảnh hưởng bởi các tư tưởng tôn giáo, kể
Trang 2cả nghề luật sư được coi là một nghề cao quý nhưng vào thời điểm này cũng bị áp lựccủa chế độ kiến và quyền lực tôn giáo khống chế, đã làm lệch lạc tư tưởng và giảmsút niềm tin trong dân chúng.
Tư bản chủ nghĩa với bản chất bóc lột mà quyền lực chính trị nằm trong tay một
số ít những nhà tư bản đã xuất hiện sau khi nhà nước phong kiến sụp đổ Dưới chế độngười bóc lột người thì quyền con người nhân thân và tài sản thường bị giai cấp bóclột xâm phạm Từ đó nghề luật sư dần dần được khôi phục trước tiên để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của giai cấp tư sản, sau là góp phần bảo vệ chế độ Nghề luật sưchính thức trở thành một nghề kiếm tiền, phục vụ khách hàng
Nghề biện hộ ngày càng phát triển và trở thành nghề tự do được các văn bảnpháp luật của nhà nước quy định Lịch sử nghề biện hộ ở mỗi nước gắn liền với chế
độ chính trị nước đó và phục vụ quyền lợi của giai cấp thống trị
Ở Việt nam trong bối cảnh hiện nay, chúng ta chủ chương xây dựng Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân Với nền kinh tế thị trường thìluật sư là một nghề không thể thiếu trong xã hội Sự cần thiết của nghề luật sư trướchết để đảm bảo thực hiện một trong các quyền hiến định của công dân Quyền đượcbảo vệ khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm Hiến pháp 1946 của nước Việtnam dân chủ cộng hoà non trẻ long trọng tuyên bố: “Người bị cáo có quyền tự bàochữa lấy hoặc mời luật sư” (Điều 67) Đến Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm
1980, quyền đó được khẳng định theo hướng vùa là quyền của công dân vừa là trchsnhiệm của nhà nước đảm bảo thực hiện “quyền bào chữa của người bị cáo được đảmbảo” (Điều 101 Hiến pháp năm 1959 và Điều 133 Hiến pháp năm 1980)
Đến Hiến pháp năm 1992, một lần nữa nhắc lại quy định của Hiến pháp năm
1980 về quyền bào chữa của bị can, bị cáo Nhưng chế định luật sư tư bản Hiến phápnày quy định cụ thể hơn Điều 132 Hiến pháp năm 1992 quy định “Quyền bào chữacủa bị can, bị cáo được đảm bảo Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bàochữa cho mình Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác
Trang 3bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủnghĩa”.
Luật sư là một nghề trong xã hội, hoạt động của luật sư là trợ giúp pháp lý trongcác lĩnh vực đại diện, bào chữa trước toà; tư vấn pháp luật phổ biến, giáo dục và gópphần hoàn thiện pháp luật
Theo quy định tại Điều 2 Luật luật sư năm 2006 thì Luật sư là người có đủ tiêuchuẩn điều kiện hành nghề theo quy định của Luật luật sư, thực hiện dịch vụ pháp lýtheo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (gọi chung là khách hàng )
Mọi quốc gia trên thế giới đều tồn tại nghề Luật sư, tuy nhiên, tuỳ vào chế độchính trị, điều kiện kinh tế, văn hoá và phong tục tập quán khác nhau mà nghề Luật
sư xuất hiện với các đặc thù khác nhau Trên đây là một số nét sơ lược sự ra đời vàphát triển nghề luật sư ở ba quốc gia lớn trên thế giới, qua đó cho thấy sự khác biệtcủa chế định Luật sư giữa các quốc gia với nhau
Xã hội ngày một phát triển tiến bộ hơn, lịch sử ở các nước cho thấy chế địnhLuật sư đã ra đời từ rất lâu Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thôngtin cũng như sự phát triển của kinh tế thế giới đã tạo điều kiện cho các quốc gia thiếtlập các mối quan hệ quốc tế với nhau, liên kết với nhau tạo nên các tổ chức quốc tếnhư khối thịnh vượng chung Châu Âu EU, tổ chức thương mại toàn cầu WTO, khối
tự do mậu dịch ASIAN … Nghề Luật sư không còn là một nghề trong phạm vi ranhgiới quốc gia nữa, mà theo dó cũng phát triển để bắt kịp tốc độ phát triển của thế giới,đáp ứng nhu cầu của xã hội mới Cho nên, trên thế giới dần hình thành những tiêu chíchung cho nghề Luật sư của các nước
II SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM
So với một số quốc gia trên Thế giới như đã trình bày ở trên cụ thể là Anh, Mỹ,Pháp và một số nước khác như Đức, Tây Ban Nha thì Việt Nam là một nước có lịch
sử nghề Luật sư còn rất non trẻ, tính đến nay nghề Luật sư tại Việt Nam chỉ tồn tạiđược khoảng 130 năm Như vậy, so sánh với một số quốc gia trên Thế giới nghề Luật
Trang 4sư ở Việt Nam còn rất mới Do đó không thể tránh được những điểm hạn chế trongpháp luật cũng như kinh nghiệm trong thực tế của các Luật sư trong qua trình hànhnghề.
1 Giai Đoạn Trước Năm 1945
Đối với pháp luật Phong kiến Nhà nước Phong kiến trung ương tập quyền đã xâydựng cho mình một hệ thống pháp luật độc quyền Pháp luật cho phép ít người cóquyền năng trong tay để thống trị giai cấp nông dân, áp bức bóc lột giai cấp nôngdân, áp đặt địa vị của người nông dân phải phụ thuộc vào giai cấp thống trị
Với một Nhà nước và hệ thống pháp luật như vậy thì người nông dân chiếm đa
số trong xã hội phải phụ thuộc một cách chặt chẽ vào giai cấp địa chủ mà đứng đầuvẫn là nhà Vua Thêm vào đó Nhà nước Phong kiến với cơ cấu hành chính theo hệthống nhất nguyên, ngoài quyền lực của Hoàng Đế ra, không có cơ cấu lập pháp,hành pháp và tư pháp Cho nên xã hội Phong kiến là một xã hội hoàn toàn không cónền dân chủ Vì thế đất nước Việt Nam qua các triều đại Phong kiến nghề Luật sưkhông tồn tại, bởi vì giai cấp thống trị cho rằng nghề Luật sư là những kẻ chọc bánh
xe, xui khiến kiện cáo, xui khiến dục biện, sẽ làm đảo lộn trật tự xã hội mà trật tự ấy
do giai cấp thống trị bằng chư quan của mình Chính vì vậy từ năm 1930 trở về trướcngười Pháp chiếm độc quyền nghề Luật sư
Cách mạng tháng tám thành công, chính quyền về tay nhân dân, bộ máy tư phápđược tổ chức lại Chỉ hơn một tháng sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà rađời, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh ngày 10/10/1945 về tổ chức các đoàn thểLuật sư
Sắc lệnh ngày 10/10/1945 duy trì tổ chức Luật sư cũ với một số điểm sửa đổicho thích hợp với tình hình mới
Tiếp đến Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 do Sắc lệnh số 44/SL sửa đổi mở rộng
tổ chức bào chữa, cho phép công dân không phải Luật sư có thể bào chữa cho đương
sự trước toà xét xử các việc hộ và thương mại, cho bị cáo trước toà xét xử về hình
Trang 5Để cụ thể hoá Sắc lệnh 69/SL, Bộ tư pháp đã ban hành nghị định số 1/NĐ- VY ngày12/1/1950 ấn định điều kiện để làm bào chữa viên và phụ cấp của bào chữa viên Sau khi bộ Tư pháp không còn tồn tại, công tác hành chính tư pháp do Toà án tốicao đảm nhiệm, trong đó có công tác bào chữa Năm 1963, Văn phòng luật sư thíđiểm được thành lập lấy tên là Văn phòng luật sư Hà Nội với các nhiệm vụ được quyđịnh như sau:
+ Bào chữa cho bị cáo trong những vụ án hình sự và bảo vệ quyền lợi hợp phápcho đôi bên đương sự trong các vụ án dân sự trước toà;
+ Giải đáp pháp luật cho nhân dân và cán bộ;
+ Làm giúp cho đương sự đơn từ và các văn kiện pháp luật như: hợp đồng, khếước …
+ Góp phần tuyên truyền pháp luật thông qua xét xử tại phiên toà
2 Pháp Lệnh Tổ Chức Luật Sư Năm 1987
Hiến pháp năm 1946, 1959 và 1980 dều thể hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bàochữa của bị can, bị cáo Song Điều 113 Hiến pháp năm 1980 còn quy định: “tổ chứcLuật
sư được thành lập để giúp bị can, bị cáo và cácc đương sự khác về mặt pháp lý” Đó
là cơ sỡ pháp lý cho việc xây dựng văn bản pháp luật về tổ chức Luật sư ở Việt Nam.Ngày 18/12/1987, Hội đồng Nhà nước đã thông qua Pháp lệnh tổ chức luật sư.Pháp lệnh cụ thể hoá quy định của Hiến pháp về chế định Luật sư, tạo cơ sỡ cho việchình thành và phát triển đội ngũ Luật sư ở Việt Nam Có thể nói từ khi thành lậpnước đến nay, đây là văn bản pháp luật tương đối hoàn chỉnh quy định về tổ chức vàhoạt động Luật sư Pháp lệnh chứa đựng những quy định cơ bản liên quan đến tổchức và hoạt động của Luật sư, phù hợp với điều kiện của nước ta lúc bấy giờ
Hoạt động tích cực của đội ngũ Luât sư bằng các biện pháp được pháp luật quyđịnh đã giúp Toà án và các cơ quan tiến hành tố tụng khác làm rõ sự thật khách quan,đảm bảo việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền,
Trang 6lợi ích hợp pháp cho các bị can, bị cáo và các đương sự khác, đòng thời cũng bảo vệ
và tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa Qua đó, các Luật sư cũng nâng cao uy tínnghề nghiệp của mình mà biểu hiện cụ thể là ngày càng có nhiều vụ việc Luật sưtham gia do công dân, tổ chức trực tiếp mời để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho
họ Các Đoàn luật sư đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chức năng giúp đỡpháp lý cho công dân, tổ chức, bảo đảm cử luật sư tham gia vụ án theo yêu cầu của
cơ quan tiến hành tố tụng, giúp đỡ miễn phí hoặc giảm phí cho người nghèo, đốitượng chính sách
Hình thức tư vấn pháp luật cho công dân và tổ chức đã được nay mạnh ở một sốĐoàn luật sư, có đoàn đã tổ chức thực hiện tốt hình thức giúp đỡ pháp lý quan trọngnày Trong cơ chế thị trường, để kinh doanh có hiệu quả, đúng phấp luật các cá nhân,
tổ chức kinh tế rất cần sự giúp đỡ của Luật sư, rất cần đến dịch vụ tư vấn pháp luật Ơcác Đoàn luật sư đã có Luật sư giỏi chuyên thực hiện các hoạt động tư vấn trong lĩnhvực kinh doanh
3 Pháp Lệnh Luật Sư Năm 2001
Nếu như Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 có vai trò rất quan trọng tạo cơ sởpháp lý cho việc hình thành đội ngũ Luật sư ở nước ta thì Pháp lệnh luật sư đã được
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 25-7-2001 là bước tiến quan trọng trongquá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế Luật sư ở nước ta, đưa chế định Luật sư củanước ta xích gần với thông lệ Quốc tế Pháp lệnh luật sư không chỉ nâng cao vị thếLuật sư trong xã hội mà còn đưa Luật sư của nước ta lên ngang tầm với Luật sư củacác nước trên thế giới và trong khu vực
Pháp lệnh luật sư năm 2001 bao gồm: lời nói đầu, 8 chương, 45 điều so với Pháplệnh luật sư năm 1987 có 6 chương 25 điều
Pháp lệnh luật sư quy định về tổ chức Luật sư và hành nghề Luật sư bao gồm:điều kiện hành nghề Luật sư, hình thức tổ chức hành nghề Luật sư, thù lao Luật sư,quản lý hành nghề Luật sư, khen thưởng, xử lý vi phạm giải quyết khiếu nại, tố cáo
về tổ chức Luật sư và hành nghề Luật sư Với nội dung như vậy, Pháp lệnh có tên gọi
Trang 7là Pháp lệnh Luật sư, bỏ đi hai từ “tổ chức” so với Pháp lệnh cũ Đây là Pháp lệnhmới thay thế cho Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 và đã thể hiện trong Điều 44của Pháp lệnh luật sư.
4 Luật Luật Sư Năm 2006
Từ khi ban hành Pháp lệnh Tổ chức Luật sư năm 1987, Pháp lệnh luật sư năm
2001 cho đén khi Luật luật sư năm 2006 ra đời, các Văn phòng luật sư đã thực sự cónhững đóng góp to lớn cho hoạt động xét xử của Toà án các cấp Hiện nay, nghànhToà án nhân dân chưa có các số liệu thống kê chính thức về tỷ lệ tham gia của Luật
sư trong các vụ án hình sự và phi hình sự Tuy nhiên, theo thống kê trong 2 năm(2001 và 2002), ở Toà án nhân dân thành phố Hò Chí Minh có đến 2.076/4.363 vụ ánhình sự xét xử sơ thẩm và phúc thẩm có Luật sư tham gia ( chiếm tỷ lệ 47.58%) Tínhriêng 3 năm ( từ năm 2000 đến năm 2002), số lượng vụ án các loại do các Luật sưthuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh đảm nhận bào chữa theo yêu cầu củađươc sự và theo chỉ định của Toà án lên tới 8.193 vụ Điểm cần đặc biệt nhấn mạnh
là, vào những năm trước đây trong quan niệm của người dân và cả trong nghành Toà
án, việc Luật sư tham gia bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị cáo,đương sự còn bị hạn chế rất nhiều mặt, nhiều trường hợp mang tính hình thức vì mọiviệc đã được quyết định trước khi xét xử, vai trò của Luật sư còn hết sức mờ nhạt.Nhưng trong những năm gần đây, nhất là sau khi Pháp lệnh Luật sư năm 2001 ra đời,hình ảnh của các Luật sư tham gia tố tụng trước Toà án, các cuộc tranh luận, đối đápgây cấn tại các phiên toà hình sự lớn đã thu hút sự chú ý rộng rãi của dư luận Quanniệm về bản chất của hoạt động Luật sư đang có chuyển biến tích cực cùng xã hội.Vai trò của Luật sư trong thực tiễn xét xử được nhìn nhận khách quan, thiện cảm hơn.Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49 ngày 02/06/2005 của BộChính trị Đảng Cộng Sản Việt Nam về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tưpháp và chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đã tạo thêm lực đẩy lớn, khẳngđịnh vai trò Luật sư trong việc bảo vệ quyền con người
Trang 8CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1/ VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ
Nhận thức về vị trí, vai trò trong đời sống xã hội và về thị trường dịch vụ pháp
lý hiện ngày càng phát triển trong bản thân bạn và trong mỗi người cũng là điều rấtquan trọng Xét về một phương diện nào đó, Luật sư là chủ thể thực hiện pháp luậtthông qua các thiết chế và khuôn khổ pháp lý, lý do nhà nước quy định và tổ chức,được tiến hành các biện pháp pháp lý, thực hiện các quyền và nghĩa vụ khi cung cấpdịch vụ pháp lý cho khách hàng, bảo đảm sự áp dụng thống nhất pháp luật Trongđiều kiện nước ta hiện nay, sự tham gia của luật sư trong hoạt động xét xử tại toà ánkhông chỉ thể hiện sự bảo đảm dân chủ của tiến trình tố tụng, mà còn là cơ sở choviệc thực hiện quyền trong hoạt động tư pháp Có thể nói, sự tham gia của đội ngũLuật sư Việt Nam trong những năm qua đã có sự ảnh hưởng to lớn đến kết quả hoạtđộng của Toà án, đến quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về luật sư hiện nay
Với tư cách là chủ thể thực hiện pháp luật , bạn cần hiểu rõ Luật sư đóng vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật , thông qua các bình diện sau :
Trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa,Luật sư góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã hội, là cầu nối chuyển tải pháp luậtvào đời sống tạo thế ổn định và minh bạch trong sự phát triển xã hội Bộ máy Nhànước có được sự trợ giúp pháp lý để vân hành tố tụng tư pháp với sự đối trọng cầnthiết và người dân có được chỗ dựa về mặt pháp lý bảo vệ các quyền, lợi ích hợppháp
Theo phạm vi hành nghề, Luật sư có vai trò trong việc bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp cho bị can, bị cáo, các đương sự ; có nhiệm vụ trong hoạt động tư vấn pháp
Trang 9luật và các dịch vụ pháp lý khác; có nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nângcao ý thức pháp luật của nhân dân, góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật.
Luật sư có vai trò phản ánh các chuẩn mực, các giá trị xã hội, niềm tin vàonhững quyền cơ bản, nhân phẩm và giá trị con người
Luật sư có vai trò trong việc bảo vệ thiết chế xã hội chủ nghĩa
II/ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Qua hơn 10 năm thi hành pháp lệnh luật sư 1987 và Bộ luật tố tụng hình sự, vịtrí và vai trò của luật sư đã được xã hội công nhận và tôn trọng, cũng như hoạt độngcủa Đoàn luật sư cũng phần nào đáp ứng nhu cầu trợ giúp pháp lý trong nhân dân,đặc biệt là trong tố tụng hình sự Pháp lệnh tổ chức luật sư 1987 và Bộ luật TTHS
1988 đã xác định rõ vị trí và vai trò của luật sư trong TTHS, tạo điều kiện thuận lợicho hoạt động nghề nghiệp của luật sư phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những ưuđiểm trong các quy định của pháp luật và Bộ luật TTHS không tránh khỏi nhữngnhược điểm trong pháp luật cũng như những bất cập khi áp dụng trên thực tế trongđiều kiện nền kinh tế mở cửa cùng với những thay đổi trong xã hội Trong bối cảnhnền kinh tế đang trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới đã làm cho những quyđịnh của pháp luật trong đó bao gồm pháp lệnh tổ chức luật sư và bộ luật TTHS trởnên không còn phù hợp với yêu cầu của xã hội Điều đó gây hạn chế cho hoạt độngcủa luật sư nói chung và hoạt động của luật sư trong lĩnh vực TTHS nói riêng, làmảnh hưởng đến vị trí, vai trò của luật sư đồng thời làm rào cản đối với luật sư tronghoạt động nghề nghiệp của mình
Pháp lệnh luật sư 2001 ra đời chấm dứt hiệu lực của pháp lệnh tổ chức luật sư
1987 đã đáp ứng phần nào yêu cầu của xã hội, đánh dấu một bước quan trọng trong
sự phát triển nghề luật sư ở Việt Nam đồng thời tạo điều kiện cho quá trình hội nhập
về nghề luật sư trong khu vực và trên thế giới
Cùng với sự ra đời của pháp lệnh luật sư 2001, Bộ luật TTHS cũng có một sốsửa đổi, bổ sung đáng kể Tại điều 36 Bộ luật TTHS quy định về quyền và nghĩa vụcủa luật sư đã được sửa đổi, bổ sung ngày 9/6/2000 theo hướng mở rộng hơn quyền
Trang 10của luật sư trong hoạt động tố tụng Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế, xã hộithay đổi, việc quy định quyền và nghĩa vụ của luật sư như vậy vẫn còn một số bất cậptrong khi áp dụng trên thực tế, chưa phù hợp với pháp lệnh luật sư mới, làm hạn chếrất nhiều đến vai trò của người luật sư trong hoạt động nghề nghiệp của mình Quaphân tích nội dung những vấn đề có liên quan đến hoạt động của luật sư trong quátrình tố tụng có thể thấy những bất cập trong từng giai đoạn của quá trình tố tụng hìnhsự.
1/ LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA
1.1 Về Việc Tham Gia Của Luật Sư Trong Khi Khởi Tố Bị Can
BLTTHS quy định Luật sư cĩ
Điều 36 Bộ luật TTHS quy định :
“ Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can Trong trường hợp phảigiữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì viện trưởng Viện kiểmsát nhân dân quyết định để người bào chữa tham gia từ khi kết thúc điều tra”
Như vậy, theo Điều 36 Bộ luật TTHS, khi một người bị cơ quan điều tra khởi tố,tức là khi người đó chính thức bị cơ quan điều tra buộc tội thì có quyền mời luật sưbào chữa cho mình, trừ một số trường hợp phải giữ bí mật điều tra Quy định như vậycòn một số những bất cập sau:
Thứ nhất: Trong tố tụng hình sự, việc khởi tố bị can diễn ra sau khi khởi tố vụ
án Theo điều 38 Bộ luật TTHS, cơ quan có thẩm quyền chỉ được khởi tố vụ án hình
sự khi xác định đã có dấu hiệu của tội phạm và việc buộc tội chỉ có thể được tiếnhành với mọi người cụ thể khi có căn cứ cho rằng họ đã thực hiện hành vi phạm tội.Như vậy, trước khi khởi tố bị can, người đó đã bị tình nghi là phạm tội và có thể bị cơquan điều tra bắt giữ Nhưng phải đến khi khởi tố bị can hay khi người này chínhthức bị buộc tội thì mới có quyền mời luật sư bào chữa cho mình Pháp luật tố tụng
có một số nước ( như nước Mỹ) cho phép luật sư tham gia tố tụng từ khi người bị tìnhnghi phạm tội bị bắt giữ, nghĩa là trước khi khởi tố bị can Những người bị tình nghi
là phạm tội và bắt giữ cho đến trước khi khởi tố bị can, trong thời gian này họ đã bị
Trang 11hạn chế một số quyền công dân, cụ thể là quyền tự do đi lại Vậy tại sao pháp luậtkhông cho phép họ có quyền mời luật sư được bào chữa cho mình ngay từ thời điểmnày? Nếu luật sư được tham gia tố tụng từ thời điểm này, luật sư sẽ có thẩm quyền cótheo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định không, trong quá trình bắt giữ và tạmgiam có xảy ra những tiêu cực làm ảnh hưởng tới quyền của công dân hay không,giám sát thời hạn tạm giữ, tạm giam có đúng với thời hạn do pháp luật quy địnhkhông Mặt khác được tham gia của luật sư tại thời điểm này góp phần giúp các cơquan tiến hành tố tụng hạn chế những sai sót trong quá trình bắt giữ và tạm giam bịcan
Thứ hai: Luật quy định “… trong trường hợp phải giữ bí mật điều tra đối với tội
xâm phạm an ninh quốc gia … người bào chữa tham gia từ khi kết thúc điều tra”.Đây là một quy định thiếu cơ sỡ pháp lý Quyền tự do bào chữa, nhờ người khácbào chữa của bị can, bị cáo được hiến pháp ghi nhận, là quyền hiến định của côngdân Nếu theo quy định của điều luật trên, pháp luật đã hạn chế quyền tự bào chữahoặc nhờ người khác bào chữa mà Hiến pháp đã trao cho công dân Việc giữ bí mậtđiều tra trong quá trình điều tra là trách nhiệm của cơ quan điều tra, với những biệnpháp do pháp luật quy định, cơ quan điều tra có trách nhiệm tìm ra sự that của vụ án.Trong quá trình điề tra, nếu có những tình tiết liên quan đến bí mật quốc gia, cơ quanđiều tra có trách nhiệm giữ bí mật chứ không vì việc giữ bí mật đó mà làm hạn chếquyền của công dân Mặt khác, người bị buộc tội là xâm phạm đến an ninh quốc giatrước khi bản án xét xử của toà án có hiệu lực pháp luật, họ vẫn chưa phải là tộiphạm Do đó, họ vẫn còn tư cách của một công dân, họ bình đẳng như những bị can,
bị cáo khác Trong khi các bị can, bị cáo khác có quyền nhờ luật sư bào cữa thì họkhông thể Hơn nữa những vụ án xâm phạm an ninh quốc gia thường là những vụ ánmang tính chất nghiêm trọng và phức tạp, nếu không cho phép luật sư tham gia từđầu trong vụ án này thì gây rất nhiều khó khăn cho các luật sư trong việc thu thậpnhưngữ bằng chứng của vụ án, cũng như việc lập ra những phương án, kế hoạch đểbào chữa cho bị can, bị cáo Như thế sẽ không thể bảo vệ một cách hữu hiệu cho thânchủ của mình trước toà Để đảm bảo quyền cá nhân và phát triển nguyên tắc dân chủ
Trang 12trong công tác xét xử, nâng cao hơn vị trí, vai trò của luật sư trong tố tụng hình sựcan phải giải quyết vấn đề cho phép luật sư tham gia tố tụng đối với tất cả các vụ ántrong mọi giai đoạn của quá trình tố tụng Sẽ hữu hiệu hơn nếu luật quy định chặt chẽ
về
trách nhiệm của luật sư trong việc giữ những bí mật liên quan đến vấn đề an ninhquốc gia mà khi tham gia quá trình điều tra luật sư biết được
Pháp luật TTHS hiện hành quy định người bào chữa có quyền tham gia tố tụng
từ khi khởi tố bị can Tuy nhiên, trên thực tế rất ít luật sư được mời tham gia vụ án từthời điểm này, chỉ có một số vụ án lớn, có tính chất điển hình, các bị can có khả năngkinh tế … luật sư mới được mời ngay từ khi bị can bị khởi tố Có thể kể đến một sốnguyên nhân dẫn đến tình trạng này như sau:
- Trình độ iểu biết pháp luật của các bị can, bị cáo còn hạn chế Không mấy aibiết được người bào chữa có quyền tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can Vì vậy, hầunhư họ không nhờ người bào chữa từ thời điểm này Ví dụ anh Bùi Minh Hải tạiĐồng Nai: Anh cho biết mình hoàn toàn không biết có quyền đó, anh cứ nghĩ khi bịkhởi tố thì quyền sinh, quyền sát thuộc về cơ quan điều tra, còn luật sư anh tưởng cứphải ra toà mới giúp Hay vụ án Tăng Văn Muộn bị toà án nhân dân huyện Mộ Đức –Quảng Ngãi tuyên án phạt tù về tội bức tử Sau khi Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhândân tỉnh Quảng Ngải mở phiên toà giám đốc thẩm và tuyên anh vô tội, được hỏi tạisao anh không kháng cáo sau khi xét xử sơ thẩm, anh đã trả lời: “ Suốt ngày đi đốncủi đong gạo nuôi con, có biết gì về pháp luật đâu”
- Người dân Việt Nam chưa có thói quen sống và làm việc theo phấp luật, cưa
có thói quen nhờ người bào chữa và chưa thấy rõ vai trò của người bào chữa trongcác vụ án hình sự Ơ những nước có nền tư pháp tiên tiến, trong phần lớn các vụ án,bịcan, bị cáo luôn cần có luật sư bảo vệ quyền lợi cho mình Cau đầu tiên thường thấycác bị can nói với cơ quan điều tra là: tôi sẽ không nói gì cho đến khi luật sư của toi
có mặt Người dân Việt Nam trong một số vụ án cứ nghĩ rằng mình đã phạm tội, bằngchứng rành rành rồi can gì đến luật sư cho tốn kém, có luật sư cũng không thay đổi
Trang 13được gì Thực tế không phải như vậy, trong rất nhiều vụ án có sự tham gia của luật sư
từ khi khởi tố bị can đã tránh được một số sai lầm của cơ quan điều tra cũng như bảo
vệ đựơc quyền và lợi ích hợp pháp của bị can trong giai đoạn này
- Vì một lý do nào đó mà cơ quan tiến hành tố tụng không giải thích quyền vànghĩa vụ của bị can khi khởi tố bị can, hoặc giải thích mà không rõ ràng, cụ thể làmcho các bị can không hiểu, không biết mình có những quyền và nghĩa vụ gì trong tốtụng, vì vậy trong đa số các vụ án bị can không mời luật sư bào chữa cho mình từ khikhởi tố bị can
- Thu nhập của người dân còn thấp, không phải ai cũng có khả năng thuê luật sưtrong các vụ việc mà họ vướng phải Vì thế cũng hạn chế phần nào số lượng vụ án cóluật sư tham gia
1.2 Thực Tiễn Về Sự Tham Gia Của Luật Sư Trong Quá Trình Điều Tra
Vụ An Hình Sự
Khoản 2 Điều 36 Bộ luật TTHS quy định: “ người bào chữa có quyền có mặt khihỏi cung bị can và nếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi bị can và có mặt trong nhữnghoạt động điều tra khác” Trong nghị định 89/CP ngày 01/11/1998 của chính phủcũng quy định người bị tạm giữ, tạm giam có thể được gặp thân nhân, luật sư hoặcngười bào chữa khác nhưng phải do cơ quan đang thụ lý án quyết định
Pháp luật quy định như trên đã làm hạn chế quyền tham gia của luật sư trong quátrình điều tra vụ án hình sự, cũng như làm hạn chế tính chất dân chủ trong hoạt đọng
tố tụng làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của bị can,bị cáo Sở dĩ Bộ luậtTTHS quy định như vậy là muốn đảm bảo cho quá trình điều tra thu được kết quảcao, luật cho phép các cơ quan điều tra được dùng các biện pháp nghiệp vụ để điềutra tội phạm, phòng ngừa việc tiết lộ thông tin về kết quả điều tra ra ngoài qua việcluật sư tiếp xúc với bị can, bị cáo nhằm hạn chế tình trạng luật sư tiết lộ thông tin cho
bị can, bị cáo tạo điều kiện cho bị can, bị cáo chuẩn bị sẵn kế hoạch đối phó với cơquan điều tra, che giấu tội phạm, tiêu huỷ chứng cứ, tẩu tán tài sản … Tuy nhiên, việcdựa trên những lý luận này để đưa ra quy định như trên là không thuyết phục Cơ
Trang 14quan điều tra bằng biện pháp nghiệp vụ pháp luật cho phép để điều tra tìm ra sự thậtcủa vụ án, bảo vệ pháp luật Trên thực tế có rất nhiều trường hợp các biện phápnghiệp vụ mà cơ quan điều tra sử dụng là các biện pháp bức cung, dùng nhục hình vàmột số biện pháp nghiệp vụ khác mà pháp luật TTHS không cho phép để lấy lời khaicủa bị can, bị cáo và thu thập chứng cứ dẫn đến việc làm sai lệch hồ sơ vụ án, làmcho kết quả xét xử không đúng người, đúng tội, xử oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm.Nhà nước ta là một nhà nước dân chủ, vì vậy khi quyền lợi của công dân được đảmbảo thì lợi ích nhà nước mới được đảm bảo, và ngược lại.
Trên thực tế, việc tham gia của luật sư trong cả quá trình điều tra gặp rất nhiềukhó khăn Trong khi luật quy định luật sư có mặt khi hỏi cung bị can và nếu điều traviên đồng ý thì được hỏi bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác, việcthực hiện quyền này của luật sư không phải dễ dàng Luật quy định đây là quyền củangười bào chữa, nhưng lại bỏ ngõ không quy định trách nhiệm của điều tra viên phảitạo điều kiện cho luật sư thực hiện quyền này, vì thế được tham gia khi hỏi cung bịcan cũng như trong các hoạt động điều tra khác luật sư luôn phải phụ thuộc vào điềutra viên Thực tế cho thấy, cơ quan điều tra với trách nhiệm điều tra vụ án do đó họluôn muốn kết thúc điều tra một cách nhanh chóng, vì vậy trong quá trình điều tra họ
có thể sử dụng những biện pháp mà pháp luật không cho phép để điều tra Trongnhững trường hợp đó họ không muốn sự có mặt của luật sư Luật cũng quy địnhngười bào chữa có quyền có mặt khi hỏi cung bị can Đây là quyền của người bàochữa mà không cần sự cho phép của điều tra viên Tuy nhiên luật không quy địnhtrách nhiệm của điều tra viên phải thông báo chính xác thời gian, địa điểm hỏi cung
bị can Vì thế, để được tham gia vào việc hỏi cung bị can thì luật sư rất vất vả và mấtthời gian Điều tra viên lúc thì hẹn lúc này, lúc lại hẹn khi khác để thực hiện việc hỏicung bị can, còn luật sư cứ phải chạy theo điều tra viên, cho đến lúc luật sư cảm thấymỏi mệt không thể chạy theo nữa thì bỏ hẳn ý định tham gia hỏi cung bị can, và nhưthế quyền tham gia của luật sư trong hoạt động này không được đảm bảo
Quan điểm của một số điều tra viên cho rằng nếu luật sư tham gia từ giai đoạnđiều tra thì sẽ tạo ra những khó khăn trong việc phát hiện tội phạm, đảm bảo bí mật