1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận một số nội dung pháp lí cơ bản về vấn đề tổ chức quản lí công ty cổ phần trong Luật doanh nghiệp

15 497 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

vận tải; Nghị định số 28-HĐBT ngày 09/03/1988 ban hành bản quy định chính sách kinh tế đối với kinh tế tập thể sản xuất dịch vụ công nghiệp, xây dựng, vận tải… Các quy định này tuy chưa

Trang 1

Tiểu luận Một số nội dung pháp lí cơ bản về vấn đề

tổ chức quản lí công ty cổ phần

trong Luật doanh nghiệp

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Trong bất kỳ một nền kinh tế nào, các đơn vị kinh tế cơ sở cũng giữ vai trò quan trọng trong việc tạo ra các sản phẩm cho xã hội, làm cho các nguồn tài nguyên được sử dụng có hiệu quả hơn, làm cho cuộc sống của con người ngày càng hạnh phúc, ấm no hơn Các đơn vị kinh tế cơ sở bao giờ cũng là các đơn

vị nằm trong trung tâm của vòng vận hành kinh tế Vì vậy, nó luôn là đối tượng quan tâm của các nhà doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu và là đối tượng điều chỉnh vô cùng quan trọng của pháp luật

Tuy cùng giữ một vị trí quan trọng như nhau nhưng các đơn vị kinh tế lại được tổ chức khác nhau trong mỗi nền kinh tế Sự khác nhau đó có nguyên nhân chủ yếu từ cơ sở của mỗi loại cơ chế quản lý kinh tế và mặt khác nó phụ thuộc vào truyền thống của mỗi quốc gia

Hiện nay trên thế giới tồn tại khá nhiều các loại hình doanh nghiệp đa dạng, chẳng hạn như các nước theo luật Anh-Mỹ đều chia doanh nghiệp thành

ba loại cơ bản bao gồm công ty phát hành cổ phiếu và không phát hành cổ phiếu, công ty một chủ và hợp danh, hợp tác xã Đối với hệ thống luật Châu

Au lục địa, doanh nghiệp được chia thành ba loại, đó là doanh nghiệp một chủ, các công ty và hợp tác xã Tuy nhiên, có thể nói công ty cổ phần là mô hình kinh doanh điển hình trong nền kinh tế thị trường Trên thế giới, công ty cổ phần và pháp luật về công ty cổ phần đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm Ở Việt Nam, do những điều kiện lịch sử-xã hội nhất định nên việc tổ chức vận hành công ty cồ phần còn nhiều hạn chế Trong những năm gần đây, Nhà nước

ta đã cố gắng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về công ty, trong đó có pháp luật về công ty cổ phần Với sự ra đời của Luật doanh nghiệp năm 1999, chế định công ty cổ phần đã được hoàn thiện hơn, toàn diện hơn và đầy đủ hơn so với Luật công ty năm 1990 Một trong những nội dung pháp lý quan trọng về công ty cổ phần là vấn đề tổ chức quản lý nội bộ công ty đã được Luật doanh

Trang 3

nghiệp tiếp cận và giải quyết khá thành công Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được đề cập đến một số nội dung cơ bản về tổ chức quản lý công

ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp nhằm giúp cho việc giải thích và áp dụng pháp luật về công ty cổ phần được thuận lợi hơn

I KHÁI QUÁT HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP VÀ CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

1 Khái quát hệ thống pháp luật về doanh nghiệp

Ở Việt Nam, trong nền kinh tế kế hoạch tập trung, các đơn vị kinh tế cơ

sở của Nhà nước được tổ chức thành các xí nghiệp quốc doanh Các xí nghiệp quốc doanh được phân loại chủ yếu theo phương thức hoạt động Hầu hết các đơn vị sản xuất được gọi là nhà máy, xí nghiệp; các đơn vị hoạt động thương nghiệp và dịch vụ được gọi là công ty, cửa hàng… Trong quá trình phát triển, các xí nghiệp có sự liên kết với nhau tạo ra các liên hiệp xí nghiệp hay xí nghiệp liên hiệp…, nhưng cũng như nhiều nước có nền kinh tế tập trung kế hoạch hóacác xí nghiệp ở đây không được phân loại theo các nguyên tắc pháp

lý như trong nền kinh tế thị trường

Quá trình nghiên cứu về loại hình tổ chức kinh doanh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam được đặt ra từ ngay sau Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI, nhất là khi sửa đổi Hiến pháp 1980 để ban hành Hiến pháp năm 1992 Sự khủng hoảng kinh tế-xã hội đã đặt khoa học kinh tế cũng như hệ thống pháp luật Việt Nam phải xem xét lại nhiều vấn đề, trong đó có việc tổ chức, hoạt động và quản lý đối với xí nghiệp quốc doanh và chuẩn bị cho sự ra đời của các loại hình tổ chức kinh doanh ngoài quốc doanh Kết quả là Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành hàng loạt văn bản quan trọng như Quyết định số 217-HĐBT ngày 14/11/1987 quy định về các chính sách đổi mới kế hoạch hóa

và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đối với xí nghiệp quốc doanh; Nghị định số 27-HĐBT ngày 09/03/1988 ban hành Bản quy định chính sách đối với kinh tế cá thể, tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng,

Trang 4

vận tải; Nghị định số 28-HĐBT ngày 09/03/1988 ban hành bản quy định chính sách kinh tế đối với kinh tế tập thể sản xuất dịch vụ công nghiệp, xây dựng, vận tải… Các quy định này tuy chưa định hình một cách rõ nét các hình thức pháp lý của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường nhưng về phương diện lý luận đã góp phần quan trọng cho sự ra đời của các loại hình doanh nghiệp mới

và trong thực tế đã làm cho nền kinh tế khởi sắc với khí thế vận hành theo cơ chế thị trường

Mặt khác, năm 1987 Quốc hội thông qua Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã tạo ra các tiền đề thử nghiệm cho việc phát triển đa dạng các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam

Từ cuộc sống thực tiễn cũng như học hỏi kinh nghiệm các nước, ý

tưởng về soạn thảo các đạo luật về doanh nghiệp đã được hình thành vào cuối năm 1988 khi Nhà nước tổ chức dự thảo một đạo luật về kinh doanh Đây là một dự thảo rất sơ khai gồm 25 điều và mới chỉ đưa ra lấy ý kiến trong giới nghiên cứu Do có nhiều ý kiến khác nhau nên dự thảo này không được xem xét thông qua Từ đó, bắt đầu việc nghiên cứu soạn thảo Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân Hai dự luật này đã được ban hành vào năm 1990 quy định về doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp một chủ), công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn Mặc dù Luật doanh nghiệp tư nhân chỉ có 28 điều và Luật công ty chỉ có 46 điều nhưng có thể nói đây là một bước tiến vô cùng quan trọng của pháp luật Việt Nam trong việc tiếp cận với các nguyên tắc pháp lý cơ bản về hình thức pháp lý của doanh nghiệp Hai đạo luật này tồn tại đến năm 2000 khi Luật doanh nghiệp năm 1999 bắt đầu có hiệu lực Đồng thời trong thời gian đó, Quốc hội cũng thông qua Luật doanh nghiệp nhà nước năm

1995 và Luật hợp tác xã năm 1996

2 Các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam

Về hình thức pháp lý, theo các quy định hiện hành thì ở Việt Nam đang tồn tại một số loại chủ thể kinh doanh như sau:

Trang 5

Thứ nhất, đó là chủ thể kinh doanh một chủ Theo đó, chủ thể này gồm

doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh cá thể Doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh cá thể không là pháp nhân và chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ

Thứ hai, các công ty là doanh nghiệp và bao gồm công ty cổ phần, công

ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh Công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn là pháp nhân và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn bằng tài sản của công ty Doanh nghiệp theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là công ty trách nhiệm hữu hạn Công ty hợp danh không là pháp nhân và ít nhất một thành viên phải chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty

Thứ ba, đó là doanh nghiệp Nhà nước Doanh nghiệp Nhà nước là pháp

nhân, vì vậy chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn bằng tài sản của doanh nghiệp

Thứ tư, hợp tác xã là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân và chịu trách

nhiệm hữu hạn bằng tài sản của hợp tác xã

Như vậy, về cơ bản các loại chủ thể kinh doanh ở Việt Nam đã được tổ chức theo các nguyên tắc cơ bản về hình thức pháp lý doanh nghiệp Điều đó rất có ý nghĩa trong việc khuyến khích đầu tư, nhất là trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế

II MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP VÀ CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỔ CHỨC QUẢN

LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP

1 Một số quy định chung về Công ty cổ phần trong Luật doanh nghiệp

Theo quy định tại Điều 51 của Luật doanh nghiệp, công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:

- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;

Trang 6

- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3, Điều 55 và Khoản 1, Điều

58 của Luật này;

- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa

Liên quan đến các loại cổ phần trong công ty cổ phần, Điều 52 Luật doanh nghiệp quy định có hai loại cổ phần chính, đó là cổ phần phổ thông và

cổ phần ưu đãi Trong cổ phần ưu đãi có các loại cổ phần như cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định Tuy nhiên, không phải bất kỳ ai cũng có thể

sở hữu cổ phần ưu đãi mà tùy thuộc vào các quy định cụ thể trong Điều lệ công

ty hay do Đại hội cổ đông quyết định hay do Chính phủ ủy quyền Theo đó, người sở hữu cổ phần phổ thông gọi là cổ đông phổ thông và người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi

Về cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần, Luật doanh nghiệp quy định rõ tại Điều 69 rằng: Công ty cổ phần phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc); đối với công ty cổ phần trên mười một

cổ đông phải có Ban kiểm soát

Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần Đại hội đồng cổ đông có quyền: (i) quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại; quyết định mức cổ tức hàng năm của từng loại cổ phần, (ii) bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát; (iii) xem xét và xử lý các vi phạm của Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát gây thiệt

Trang 7

hại cho công ty và cổ đông của công ty; (iv) thông qua báo cáo tài chính hàng năm; (v) quyết định tổ chức lại và giải thể công ty…

Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công

ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Hội đồng quản trị có những quyền sau đây: (i) quyết định chiến lược phát triển của công ty; (ii) kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại; (iii) quyết định phương án đầu tư; (iv) bổ nhiễm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc (Tổng giám đốc) và cán bộ quản lý quan trọng khác của công

ty, quyết định mức lương và lợi ích khác của các cán bộ quản lý đó; (v) quyết định mua lại không quá 10% số cổ phần đã bán của từng loại; (vi) kiến nghị việc tổ chức lại hay giải thể công ty; (vii) kiến nghị mức cổ tức được trả, quyết định thời hạn và thủ tục trả cổ tức hoặc xử lý các khoản lỗ phát sinh trong quá trình kinh doanh…

Giám đốc (Tổng giám đốc) là người điều hành hoạt động hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao, chẳng hạn như: (i) quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của công ty; (ii) tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị; (iii) kiến nghị phương án bố trí cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty; (iv) bổ nhiễm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý, trừ các chức danh do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức…

Công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có Ban kiểm soát từ ba đến năm thành viên, trong đó ít nhất phải có một thành viên có chuyên môn về

kế toán Ban kiểm soát bầu một thành viên làm Trưởng ban và Trưởng ban phải là cổ đông Ban kiểm soát có các quyền và nhiệm vụ như sau: (i) kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong đó ghi chép sổ kế toán và báo cáo tài chính; (ii) thẩm định báo cáo tài chính hàng

Trang 8

năm của công ty, kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết hoặc theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, theo yêu cầu của cổ đông, nhóm cổ đông quy định tại Khoản 2, Điều 53 của Luật này; (iii) thường xuyên thông báo với Hội đồng quản trị về kết quả hoạt động; tham khảo ý kiến của Hội đồng quản trị trước khi trình các báo cáo, kết luận và kiến nghị lên Đại hội đồng cổ đông; (iv) kiến nghị biện pháp bổ sung, sửa đổi, cải tiến cơ cấu tổ chức, quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty…

2 Các quy định về tổ chức quản lý Công ty cổ phần trong Luật doanh nghiệp

Về lí luận, mức độ ràng buộc của pháp luật đối với việc tổ chức quản lí công ty có sự khác nhau giữa các loại hình công ty Đối với công ty cổ phần,

do những đặc điểm phức tạp về cấu trúc vốn và cơ cấu cổ đông, cơ chế tổ chức quản lí thường được qui định chặt chẽ hơn so với các loại hình công ty khác Với nhiều nội dung được sửa đổi, bổ sung, Luật doanh nghiệp đã qui định đầy

đủ và phù hợp hơn so với Luật công ty năm 1990 về vấn đề tổ chức quản lí công ty cổ phần, thể hiện ở một số nội dung pháp lí cơ bản dưới đây

a Về cơ cấu bộ máy tổ chức quản lí Công ty cổ phần

Theo Luật doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức quản lí công ty cổ phần được thiết kế theo hai mô hình khác nhau tùy thuộc vào số lượng cổ đông của công

ty (Luật công ty 1990 qui định mô hình tổ chức quản lí thống nhất cho tất cả các công ty cổ phần) Đối với những công ty cổ phần có trên 11 cổ đông, cơ cấu tổ chức quản lí bắt buộc phải có đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc (sau đây gọi chung là giám đốc) và ban kiểm soát Đây là mô hình tổ chức quản lí truyền thống và điển hình của công ty cổ phần Với mô hình này việc tổ chức quản lí công ty có sự phân công, phân nhiệm và chế ngự lẫn nhau giữa các cơ quan quản lí , điều hành và kiểm soát công ty

Trang 9

Về lí thuyết đây là bộ máy tổ chức quản lí phù hợp và hiệu quả trong trường hợp công ty cổ phần mang tính “đại chúng” tức có sự tham gia của đông đảo các cổ đông Trong những trường hợp khác, bộ máy này có thể sẽ cồng kềnh, khiên cưỡng Có lẽ xuất phát từ cách nhìn nhận đó mà Luật doanh nghiệp qui định đối với những công ty cổ phần từ 11 cổ đông trở xuống được

tổ chức quản lí theo mô hình có đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị và giám đốc

Với mô hình này, công ty cổ phần không nhất thiết phải có ban kiểm soát độc lập để thực hiện chức năng kiểm tra giám sát hoạt động của công ty Tất nhiên sẽ hoàn toàn hợp pháp nếu nhũng công ty này thiết lập ban kiểm soát trong bộ máy tổ chức quản lí của mình Theo chúng tôi, cách qui định này của Luật doanh nghiệp là hợp lí, phù hợp với thực tiễn tồn tại và hoạt động của các công ty cổ phần ở Việt Nam

Tuy nhiên, vấn đề cần bàn thêm là trên thực tế, trong quá trình tồn tại, số lượng cổ đông của công ty cổ phần có thể thay đổi rất linh hoạt Việc chuyển

từ công ty cổ phần từ 11 cổ đông trở xuống sang công ty cổ phần có trên 11 cổ đông và ngược lại là rất dễ dàng và nhanh chóng Về nguyên tắc, khi công ty kết nạp thêm cổ đông đến mức công ty có trên 11 cổ đông thì công ty phải thành lập thêm ban kiểm soát (nếu trước đó công ty không có ban kiểm soát) trong bộ máy tổ chức quản lí của mình Trong khi đó, công việc tổ chức ban kiểm soát cần phải có khoảng thời gian nhất định Việc Luật doanh nghiệp không ấn định cụ thể khoảng thời gian này là chưa bảo đảm tính chặt chẽ và hợp lí

b Về thẩm quyền và thể thức hoạt động của các cơ quan trong

bộ máy tổ chức quản lí Công ty cổ phần

Là loại hình công ty đối vốn, có tư cách pháp nhân, công ty cổ phần được tổ chức quản lí theo cơ chế có sự tách biệt khá rõ ràng giữa quyền sở hữu

và quyền quản lí công ty Quyền quản lí công ty không dàn trải, phân bổ cho

Trang 10

các cổ đông mà được tập trung ở bộ máy quản lí có tính “chuyên nghiệp” Các

cổ đông nắm quyền sở hữu công ty, có quyền bầu ra bộ máy quản lí công ty nhưng bản thân mỗi cổ đông không phải là người quản lí công ty Về phương diện khoa học, quyền quản lí công ty có thể được chia thành ba nhóm cơ bản sau:

- Quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến sự tồn tại của công ty

- Quyền xây dựng chiến lược, kế hoạch hoạt động kinh doanh và điều hành hoạt động kinh doanh của công ty

- Quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của công ty

Theo Luật doanh nghiệp, các nhóm quyền quản lí công ty cổ phần được phân chia cho các cơ quan khác nhau là đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, giám đốc, ban kuểm soát (nếu có) Sự phân chia thẩm quyền cụ thể được xác định trong điều lệ công ty trên cơ sở qui định của pháp luật

Về nguyên tắc, công ty cổ phần được tổ chức quản lí tập trung thông qua

cơ chế hội đồng Theo đó, đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất trong công ty Với vị trí của mình, đại hội đồng cổ đông có quyền tự ấn định (trong điều lệ công ty) quyền hạn và thể thức hoạt động cho mình cũng như cho các cơ quan khác trong bộ máy tổ chức quản lí công ty

Tuy nhiên, như đã trình bày, quyền tự quyết định trong tổ chức quản lí công ty phải tuân thủ khuôn khổ pháp luật Những ràng buộc của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và thể thức hoạt động của các cơ quan trong bộ máy tổ chức quản lí công ty chính là khuôn khổ đó Những ràng buộc này có tính chất

là điều khoản thường lệ của điều lệ công ty Nếu điều lệ công ty không qui định thì mặc nhiên công ty phải tuân thủ qui định pháp luật Mặt khác, nếu điều lệ công ty có qui định cụ thể hóa cho phù hợp với mỗi công ty thì không được trái với các qui định pháp luật Đây là cơ sơ lí luận quan trọng để giải thích và áp dụng các qui định trong Luật doanh nghiệp về quyền hạn, nhiệm

Ngày đăng: 25/06/2015, 08:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w