1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nghiệp vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu tại công ty TNHH Liên Vận Minh Tường.doc

88 2,8K 71
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nghiệp vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu tại công ty TNHH Liên Vận Minh Tường
Tác giả Võ Đình Tuyết Lan
Người hướng dẫn ThS. Lê Đình Thái
Trường học Trường Đại Học Kỹ Thuật Công Nghệ TP.HCM
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nghiệp vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu tại công ty TNHH Liên Vận Minh Tường

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP.HCM

KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

CAO HIỆU QUẢ NGHIỆP VỤ GIAO NHẬN HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CÔNG

TY TNHH LIÊN VẬN MINH TƯỜNG

GVHD : Ths LÊ ĐÌNH THÁI SVTH : VÕ ĐÌNH TUYẾT LAN LỚP : 05DQN

MSSV : 105401120

TP.HCM 10/2009

Trang 2

Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Đốc cùng các anh chị trong công

ty TNHH Liên Vận Minh Tường đã nhiệt tình giúp đỡ, chỉ dẫn và tạo mọiđiều kiện cho em có cơ hội tiếp xúc với thực tế để kiểm tra và nâng cao kiếnthức đã học của mình với hoạt động thực tế, học hỏi kinh nghiệm và hoànthành Luận Văn Tốt Nghiệp này

Qua bốn năm học ở trường kết hợp với quá trình thực tập trong haitháng qua tại công ty TNHH Liên Vận Minh Tường đã giúp em rất nhiềutrong việc tìm hiểu, đi sâu vào thực tế, củng cố những kiến thức đã học ở nhàtrường Việc được nhận thực tập ở công ty TNHH Liên Vận Minh Tường đã

là một điều đáng quý và cũng là cơ hội học hỏi rất tốt cho bản thân em trongcông việc sau này Song với kiến thức và thời gian có hạn do đó bài luận vănnày chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhậnđược những góp ý, nhận xét, đánh giá chân thành từ quý Thầy Cô cũng như từquý Công Ty

Thành thật biết ơn Sinh viên

Võ Đình Tuyết Lan

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

 Lý do chọn đề tài:

Trong thời đại ngày nay, với xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá đangdiễn ra sôi động làm cho nền kinh tế các nước trên thế giới có điều kiện đểphát triển nhanh chóng Thị trường thế giới ngày càng trở nên thống nhất vàranh giới giữa các thị thường nội địa ngày càng trở nên mờ nhạt Các nước cómột thị trường rộng lớn để tiêu thụ hàng hoá của họ, làm cho nền sản xuấttrong nước không ngừng được mở rộng

Việt Nam đang thực hiện chính sách mở cửa để hội nhập vào nền kinh

tế khu vực và thế giới Đây là chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta

để thúc đẩy nền kinh tế của đất nước ta phát triển nhanh chóng Hội nhập vàonền kinh tế khu vực và thế giới nghĩa là chấp nhận xu hướng hợp tác trongcạnh tranh, đồng thời từng bước học hỏi, nâng cao năng lực và trở thành một

bộ phận của thế giới Muốn việc hội nhập diễn ra thuận lợi, hàng hoá ViệtNam đựơc nhanh chóng đưa ra thế giới thì hoạt động kinh tế đối ngoại trongnước phải phát triển

Một trong những hoạt động của ngành kinh doanh xuất nhập khẩu giúpcho hàng hoá được thông quan dễ dàng từ nước này sang nước khác, làm chohàng hoá của nước đó nhanh chóng đi đến thị trường nước ngoài để tiêu thụ,

đó là hoạt động giao nhận vận tải Hoạt động này ngày càng đóng vai trò quantrọng trong nền kinh tế của nước ta, một nước đang mở cửa để giao lưu, buônbán hàng hoá với thế giới Hàng hoá xuất nhập vào nước ta ngày càng tăng lênvới khối lượng lớn thì vai trò của hoạt động giao nhận càng thể hiện rõ Chính

tầm quan trọng đó đã thúc đẩy em chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng

cao hiệu quả nghiệp vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu tại công ty TNHH Liên Vận Minh Tường” cho Luận Văn Tốt Nghiệp của mình.

 Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu và đánh giá tình hình kinh doanh,chúng ta có thể rút ra những tồn tại hiện nay tại công ty TNHH Liên vận Minh

Trang 4

Tường Từ đó, đề ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinhdoanh của công ty.

 Phạm vi nghiên cứu: Chuyên đề đi sâu vào phân tích quy trìnhgiao nhận hàng hoá xuất khẩu bằng container và nhập khẩu hàng lẻ kết hợpvới phân tích tình hình hoạt động giao nhận của công ty Từ đó, rút ra nhữngtồn tại để khắc phục những hạn chế và nâng cao hiệu quả hoạt động giaonhận, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty

 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp tổng hợp và phân tích: thống kê số liệu từ các phòng ban,tập hợp thông tin nghiên cứu từ sách báo, internet … Sau đó phân tích rút racác kết luận

Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn,

và các anh chị trực tiếp thực hiện nghiệp vụ

Phương pháp liên kết: vận dụng các kiến thức đã học phân tích tìnhhình hoạt động kinh doanh của công ty nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp vớithực tế

Kết cấu của đề tài:

Lời mở đầu

Chương 1 : Cơ sở lý luận cơ bản về nghệp vụ giao nhận hàng hoá

xuất nhập khẩu

Chương 2 : Tổng quan về công ty TNHH Liên Vận Minh Tường

Chương 3 : Tình hình giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu của công

ty TNHH Liên Vận Minh TườngChương 4 : Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nghiệp vụ giao

nhận hàng hoá xuất nhập khẩu tại công tyTNHH Liên Vận Minh TườngKết luận

Kiến nghị

Trang 6

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ

NGHIỆP VỤ GIAO NHẬN HÀNG HOÁ

XUẤT NHẬP KHẨU

1.1 Tổng Quan Về Nghiệp Vụ Giao Nhận Hàng Hoá Xuất

Nhập Khẩu Trên Thế Giới

1.1.1 Khái niệm về dịch vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu

Trong buôn bán quốc tế, sau khi hợp đồng được ký kết thì người bán thực

qua hàng loạt công việc như : bao bì, đóng gói, làm thủ tục hải quan, bốc hàng,vận chuyển, chuyển tải, dỡ hàng, giao cho người nhận,…thì những công việc đógọi là dịch vụ giao nhận

Nhưng để có một khái niệm thống nhất về dịch vụ này, thì hầu như chođến hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau Theo Liên Đoàn Hiệp Hội GiaoNhận Quốc Tế FIATA “dịch vụ giao nhận là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quanđến việc vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hànghoá cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả vấn

đề hải quan tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu nhập chứng từ liên quan đếnhàng hoá ”

Trang 7

Còn theo điều luật 163 Luật Thương Mại Việt Nam 1997 thì dịch vụ giaonhận hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hànghoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủtục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự

uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác (gọichung là khách hàng)

1.1.2 Sự hình thành và phát triển của nghiệp vụ giao nhận hàng

hoá xuất nhập khẩu

Dịch vụ giao nhận hàng hoá đã có từ lâu đời trên thế giới và theo thời gian

nó cũng phát triển tương xứng với vai trò và vị trí của nó đối với nền kinh tế thếgiới nói chung và từng quốc gia nói riêng Sự hình thành và phát triển của dịch

vụ giao nhận trên thế giới gắn liền với sự ra đời và phát triển của quá trình phâncông quốc tế

Cách đây gần 500 năm, năm 1552 hãng giao nhận đầu tiên trên thế giới đãxuất hiện ở Baliday, Thuỵ Sỹ với tên gọi là E.VANSAI Hãng này kinh doanh cảvận tải, giao nhận và thu phí giao nhận rất cao khoảng 1/3 giá trị hàng hoá Nhưvậy, giai đoạn đầu dịch vụ giao nhận nằm trong thể thống nhất chưa hình thànhnên một đặc trưng chuyên biệt, cũng như chưa trở thành một ngành nghề chuyênnghiệp

Sau đó với sự phát triển của ngành vận tải quốc tế và thương mại thế giới,ngành giao nhận đã tách rời khỏi vận tải và bán buôn trở thành một ngành kinhdoanh độc lập Vì vậy, sự ra đời của dịch vụ giao nhận là một yêu cầu tất yếukhách quan, chính là sản phẩm của quá trình chuyên môn hoá và phân công laođộng

Điều đó được chứng minh qua thực tiễn, nhà sản xuất hay nhà nhập khẩu

họ tập trung vào lĩnh vực kinh doanh của chính mình là tổ chức việc sản xuất tạo

ra sản phẩm và tìm đầu ra cho sản phẩm, cho nên đa phần họ ít chú trọng đảmnhiệm tổ chức cho quá trình lưu thông hàng hoá Chính vì vậy, họ phải thông quamột người đảm nhiệm công việc tổ chức vận chuyển đưa hàng hoá vào quá trình

Trang 8

lưu thông, đưa hàng hoá từ tay người người bán ở nước xuất khẩu đến tay ngườimua ở nước nhập khẩu.

Song bản chất của nhu cầu về dịch vụ giao nhận còn có sự tác động mạnh

mẽ của ngành vận tải hàng hoá ngoại thương, đặc biệt là vận tải biển Ngành vậntải biển ra đời sớm nhất, nó thúc đẩy mạnh mẽ đến sự phát triển của nền thươngmại trên thế giới và nó đòi hỏi phải có một lĩnh vực dịch vụ hỗ trợ nó phát triểntrên mạng lưới toàn cầu mà bản thân các hãng vận tải không có khả năng vềnguồn lực để phục vụ trọn gói quá trình lưu thông hàng hoá Đồng thời các hãngvận tải cũng phải chịu những quy định giới hạn phạm vi kinh doanh của luậtpháp từng quốc gia khác nhau trên thế giới

Trong mối quan hệ biện chứng gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ, đadạng và phức tạp của mậu dịch trên thế giới và của sự tiến bộ khoa học kỹ thuậtcông nghệ mà dịch vụ ngoại thương không ngừng phong phú về nội dung lẫnhình thức Lúc ban đầu ra đời, ngành giao nhận chỉ làm một số công việc như :xếp dỡ, lưu kho hàng hoá, làm thủ tục giấy tờ, lo liệu vận chuyển nội địa, thủ tụcthanh toán tiền hàng,… Và ngày nay, dịch vụ giao nhận quốc tế còn tổ chức trọngói cả quá trình lưu thông hàng hoá, cung cấp và đảm bảo đầy đủ các dịch vụ làmgia tăng giá trị hàng hoá như : tư vấn về vận tải, tư vấn về thị trường, cung cấpcác dịch vụ hậu mãi,…

Đặc biệt trong cuộc cách mạng vận tải đường biển – Container hoá đã mở

ra một bước ngoặc mới không chỉ cho ngành vận tải mà còn cho cả lĩnh vực giaonhận hàng hoá quốc tế Đó chính là sự ra đời của vận tải đa phương thức(Multimodal Trasports Operation) mà ngành giao nhận đã có bước đi đột phátrong lĩnh vực mới - người kinh doanh vận tải đa phương thức đã mang lại hiệuquả kinh tế - xã hội cao cho lĩnh vực giao nhận quốc tế nói riêng và nền kinh tếnói chung

Bên cạnh đó ngành giao nhận quốc tế còn phát triển về hình thức tổ chức

và đi đến thống nhất, dần dần hình thành tiếng nói chung cho ngành này trênphạm vi toàn cầu Việc ra đời Hiệp hội giao nhận như Bỉ, Hà Lan, Mỹ,…Đặc biệt

là Liên Đoàn Quốc Tế Các Hiệp Hội Giao Nhận năm 1962, gọi tắt là FIATA đãđánh dấu vị trí và tầm cở, đồng thời đảm bảo tính cạnh tranh lành mạnh của nó

Trang 9

1.1.3 Phân loại hoạt động giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu

Tuỳ theo từng cách tiếp cận mà ta có các hình thức giao nhận như :

Căn cứ vào phạm vi hoạt động giao nhận ta có :

Giao nhận nội địa (giao nhận truyền thống)

- Chủ yếu là các khâu nghiệp vụ do chủ hàng trực tiếp thực hiện theonhiệm vụ của mình được chỉ định trong hợp đồng

- Tổ chức chuyên chở hàng hoá từ nơi này đến nơi khác, từ nơi sản xuấtđến nơi tiêu thụ, các điểm đầu mối và ngược lại

- Tổ chức xếp dỡ hàng hoá lên xuống các phương tiện vận tải tại các đầumối vận tải

- Lập các chứng từ có liên quan đến giao nhận hàng hoá vận chuyểnnhằm bảo vệ hàng hoá của chủ hàng

- Theo dõi và giải quyết những khiếu nại về hàng hoá trong quá trình giaonhận vận tải đồng thời thanh toán các chi phí có liên quan đến giao nhận hànghoá

Giao nhận quốc tế :

Trừ khi bản thân người giao hàng (Shipper) hoặc người nhận hàng(Consigner) muốn tự mình thực hiện bất cứ thủ tục và chứng từ nào đó Cònthông thường thì người giao nhận thay mặt chủ hàng lo liệu quá trình vận tải quacác công đoạn Người giao nhận có thể trực tiếp thực hiện các dịch vụ hay thôngqua đại lý của họ hoặc thông qua những người ký hợp đồng phụ

Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ta có :

Giao nhận thuần tuý là hoạt động thuần tuý chỉ bao gồm việc gởi hàng đihoặc nhận hàng đến

Giao nhận tổng hợp là hoạt động giao nhận bao gồm tất cả các hoạt độngnhư : xếp dỡ, bảo quản, chuyển chở…

Căn cứ vào phương thức vận tải :

Giao nhận hàng hoá bằng đường biển

Giao nhận hàng hoá bằng đường hàng không

Giao nhận hàng hoá bằng đường thuỷ

Trang 10

Giao nhận hàng hoá bằng đường sắt.

Giao nhận hàng hoá bằng đường ôtô

Giao nhận hàng hoá bằng đường bưu điện

Giao nhận hàng hoá bằng đường ống

Giao nhận hàng hoá bằng đường liên hợp vận tải

Căn cứ vào tính chất giao hàng :

Giao nhận hàng riêng là hoạt động của người kinh doanh xuất nhập khẩu

tự tổ chức, không sử dụng lao động của dịch vụ giao nhận (giao nhận hàng hoátruyền thống)

Giao nhận chuyên nghiệp là hoạt động giao nhận của các tổ chức, công tychuyên kinh doanh dịch vụ giao nhận theo sự uỷ thác của khách hàng (dịch vụgiao nhận)

1.1.4 Vai trò của dịch vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu đối

với nền kinh tế thế giới

1.1.4.1 Thúc đẩy mậu dịch thế giới phát triển

Quá trình phân công lao động diễn ra ngày càng sâu sắc thì sự phụ thuộclẫn nhau giữa các quốc gia trong nền kinh tế thế giới ngày càng tăng Thúc đẩyquan hệ mậu dịch quốc tế tăng trưởng và phát triển

Trong đó vai trò của giao nhận vận tải không những làm cầu nối cho mậudịch quốc tế diễn ra, mà còn kích thích thương mại thế giới tăng trưởng và pháttriển Sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong hoạt động giao nhận vận tải đãtạo ra chiều hướng mậu dịch quốc tế ngày càng thuận lợi hơn Đó là khoảng cáchvận chuyển cũng như chi phí sẽ không còn làm trở ngại cho quá trình lưu thônghàng hoá

Đặc biệt với sự ra đời của vận tải đa phương thức, trong đó các tổ chứcgiao nhận là người điều hành hoạt động này đã mang lại hiệu quả to lớn cho hoạtđộng thương mại trên thế giới Đơn giản hoá thủ tục hải quan cũng như thủ tụchành chính khác, không những làm giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh cho hàng

Trang 11

hoá ngoại thương mà còn rút ngắn thời gian, đảm bảo an toàn trong vận chuyểnhàng hoá xuất nhập khẩu.

Với tác động tích cực trên, khẳng định sự phát triển của nghiệp vụ giaonhận sẽ trở thành động lực quan trọng thúc đẩy mậu dịch thế giới phát triển ngàycàng đa dạng, phong phú hơn, đồng thời tạo lập môi trường thuận lợi cho tự dothương mại toàn cầu diễn ra nhanh chóng

1.1.4.2 Góp phần rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển

của các quốc gia trong nền kinh tế thế giới

Giao nhận vận tải đã tạo lập môi trường thuận lợi và động lực phát triểnmậu dịch toàn cầu Giúp các nước có điều kiện khai thác, tận dụng được lợi thế

so sánh của mình, cũng như tiếp nhận được nhiều nguồn lực từ bên ngoài Từ đó,làm cơ sở phát triển lực lượng sản xuất trong nước

Do đó, giao nhận vận tải đã tác động gián tiếp đến trình độ phát triển củaquốc gia Khi lĩnh vực dịch vụ này phát triển đến trình độ cao thì lượng thời giancần thiết trong lưu thông hàng hoá diễn ra nhanh chống hơn, tận dụng được thời

cơ kinh doanh quốc tế Đồng thời các quốc gia trong nền kinh tế thế giới có điềukiện thuận lợi tiếp thu, trao đổi kịp thời những tinh hoa của nhân loại phục vụcho nền sản xuất trong nước phát triển

1.2 Tổng Quan Về Nghiệp Vụ Giao Nhận Hàng Hoá Xuất

Khẩu Ở Việt Nam

1.2.1 Sự hình thành và phát triển của nghiệp vụ giao nhận hàng

hoá xuất nhập khẩu ở Việt Nam

Nghiệp vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập ở nước ta được hình thành chậmhơn nhiều so với các nưóc trên thế giới, bởi do những điều kiện kinh tế của nước

ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, nền sản xuất nhỏ mang tính tự cung tự cấp

và còn do ảnh hưởng bởi chiến tranh kéo dài Ngoài ra, do cơ chế tập trung quan

Trang 12

liêu bao cấp, ngành ngoại thương do Nhà nước độc quyền cho nên kìm hãm quan

hệ trao đổi mua bán với bên ngoài Vì vậy, kéo theo sự chậm phát triển củangành giao nhận vận tải nước ta

Với những lý do trên, nghiệp vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu chỉđược hình thành trong những thập niên gần đây Ban đầu hình thành, nó mangtính phân tán và hầu như hoạt động đều do chính bản thân các doanh nghiệp tự loliệu, tự tổ chức vận chuyển chưa hình thành một ngành nghề hay một cơ quan, tổchức chuyên nghiệp Để tổ chức vận chuyển lưu thông hàng hoá xuất nhập khẩu,các công ty tự hình thành nên các phòng kho vận, các chi nhánh xuất nhập khẩuhay trạm giao nhận ở các các cảng hay các ga liên vận đường sắt

Khi lực lượng sản xuất trong nước phát triển, hoạt động kinh tế đối ngoạingày càng tăng thì đòi hỏi Nhà nước phải tổ chức lại cơ cấu quản lý trong lĩnhvực giao nhận vận tải nhằm ngày một đáp ứng tốt hơn cho nền kinh tế nói chung

và ngoại thương nói riêng Với mục tiêu phát huy vai trò và tập trung lại một đầumối dễ dàng cho việc quản lý, ngành giao nhận đã có sự chuyển biến tích cực, đó

là có sự chuyên môn hoá trong lĩnh vực này Năm 1970, bộ ngoại thương (nay là

bộ Công thương) đã thành lập lập hai tổ chức giao nhận :

- Cục kho vận kiêm tổng công ty giao nhận ngoại thương

- Công ty giao nhận đường bộ

Sau đó năm 1976 thì hai tổ chức này sáp nhập lại thành một, đó là Công tyKho vận Ngoại thương (Vietrans) Với cơ chế tập trung bao cấp, đây là đơn vịduy nhất đảm nhận dịch vụ giao nhận hàng hoá ngoại thương từ sự uỷ thác củanhà xuất nhập khẩu Vì vậy khẳng định ngành giao nhận chưa phát huy vai tròkích thích ngoại thương trong nước phát triển và còn mang tính độc quyền Bướcsang cơ chế thị trường dưới sự điều tiết của Nhà nước, ngành giao nhận có điềukiện phát triển về quy mô và số lượng Tính độc quyền đối với ngành nghề nàykhông còn nữa nhiều công ty, tổ chức ra đời hoặc tự bản thân chủ hàng đứng rahoạt động giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu Tổ chức kinh doanh dịch vụ giaonhận hàng hoá ngoại thương hiện nay tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau nhưdoanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty

Trang 13

liên doanh liên kết,… Cho nên ngành giao nhận đã phát triển mạnh về số lượnglẫn chất lượng dịch vụ Đó chính là quy luật của cạnh tranh mang lại.

Ngoài ra, sự ra đời của Hiệp hội giao nhận Việt Nam (1994) (VIFAS) đãtạo điều kiện cho ngành này phát triển ổn định, hạn chế tình trạng cạnh tranhkhông lành mạnh giữa các công ty, đồng thời mở ra thời cơ mới cho các doanhnghiệp Việt Nam khi VIFAS hội nhập Hiệp hội giao nhận thế giới (FITAS)

1.2.2 Vai trò của dịch vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu đối

với nền kinh tế Việt Nam

1.2.2.1 Thúc đẩy ngoại thương Việt Nam phát triển :

Trong xu thế từng nước hội nhập vào mậu dịch tự do khu vực AFTA,APEC và mậu dịch thế giới WTO, vai trò của nền kinh tế đối ngoại hết sức quantrọng đối với sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế nước ta Hướng tới đẩymạnh xuất khẩu tạo nguồn thu ngoại tệ để nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụcho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Vì vậy để mậu dịch thương mại nước ta phát triển, thì đòi hỏi ngành giaonhận vận tải đủ lớn mạnh để phục vụ cho hoạt động thương mại Bên cạnh vai tròcủa ngành giao nhận vận tải là điều kiện cần cho hoạt động thương mại xảy ra màngành này còn tạo động lực và thời cơ cho hoạt động thương mại Việt Nam pháttriển

Nó không những có chức năng làm di chuyển hàng hoá ngoại thương làmtăng thêm giá trị hàng hoá mà còn thiết lập mở rộng mối quan hệ trao đổi buônbán ngoại thương Vai trò của nghiệp vụ giao nhận không chỉ giới hạn trongkhuôn khổ như người ta nói “kiến trúc sư vận tải” mà còn đóng vai trò khai tháctìm kiếm thị trường, mở rộng thị phần cho hàng hoá Việt Nam gia tăng xuấtkhẩu

Ngày nay, việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào hoạt độnggiao nhận ở nước ta đã mang lại hiệu quả thiết thực cho hoạt động kinh doanhxuất nhập khẩu Như hàng hoá được chuyên chở bằng container đường biển, nhất

là phương thức kinh doanh vận tải đa phương thức, thực hiện việc giao nhận từ

Trang 14

“cửa đến cửa” (Door to Door) đã cắt giảm đi một phần chi phí không cần thiếtcho hàng hoá xuất nhập khẩu Vì vậy với sự ra đời của nhiều phương thức giaonhận mới đã trở thành nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển hoạt động ngoạithương nói riêng và kinh tế đối ngoại nước ta nói chung.

1.2.2.2 Thúc đẩy nền sản xuất trong nước phát triển :

Ngành giao nhận vận tải quốc tế tác động rất lớn đến nền sản xuất trongnước Kích thích năng lực sản xuất trong nước phát triển trong vai trò người thựchiện phân phối hàng hoá đến các thị trường tiêu dùng rộng lớn trên thế giới.Đồng thời là người thực hiện việc cung ứng các nguồn lực cho hoạt động sảnxuất trong điều kiện phân công lao động quốc tế như hiện nay Nó là nhân tố gópphần đảm bảo tính ổn định và tăng trưởng cho nền sản xuất trong nước, đó chính

là bàn tay tiếp sức cho việc nắm bắt cơ hội buôn bán quốc tế

Thông qua đó nền kinh tế nước ta mới có thể giữ vững được tốc độ tăngtrưởng và đảm bảo được tính ổn định và bền vững Tạo được thuận lợi trong quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu Bên cạnh đó tính ổn địnhphát triển nhịp nhàng của nền sản xuất trong nước là điều kiện cho ngành giaonhận vận tải phát triển

1.2.2.3 Phát triển cơ sở hạ tầng :

Ngành giao nhận vận tải phát triển tất yếu kéo theo sự phát triển của cơ sở

hạ tầng và khoa học kỹ thuật, nhất là cơ sở hạ tầng phục vụ cho vận tải như : hệthống cầu cảng, sân bay, đường xá… từng bước nâng cấp và xây dựng Đồngthời phương tiện kỹ thuật phục vụ cho việc chuyên chở, bốc dỡ như : tàu biển, xecẩu, xe nâng, xe chuyên dụng cũng được cơ giới hoá hiện đại hoá

Vì vậy đòi hỏi phải đẩy mạnh đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng mới có thểđáp ứng tốc độ ngày càng tăng của sản lượng giao nhận hàng hoá xuất nhậpkhẩu Nếu không thì nó sẽ tác động ngược lại kìm hãm sự phát triển của hoạt

Trang 15

động giao nhận, cũng như gây khó khăn không ít đối với hoạt động thương mạinước ta.

1.2.3 Tình hình giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu thị trường

trong nước và xu hướng trong tương lai

1.2.3.1 Đánh giá chung ngành giao nhận hàng hoá xuất nhập

khẩu – logistics ở nước ta

Về quy mô :

Số lượng các công ty giao nhận Việt Nam đang phát triển với tốc độchóng mặt Từ một vài doanh nghiệp giao nhận quốc doanh đầu thập niên 1990,nay đã có hơn 2.000 công ty giao nhận hoạt động từ Bắc, Trung, Nam

Theo sở Kế hoạch và đầu tư, hiện nay cứ trung bình mỗi tuần có một công

ty giao nhận được cấp phép hoạt động

Phát triển ồ ạt về số lượng như thế nhưng quy mô phần lớn các công tygiao nhận Việt Nam nhỏ và manh mún

Vốn nhỏ, trang thiết bị lạc hậu và nhân lực thì đa số chỉ có 10 – 20 người/công ty Nghiệp vụ chủ yếu của các công ty trong nước chỉ là mua bán cướcđường biển, hàng không, khai thuế hải quan, dịch vụ xe tải Không nhiều công ty

đủ năng lực đảm nhận toàn bộ chuỗi cung ứng bao gồm vận chuyển đường bộ,kho bãi, đóng gói, thuê tàu

Trong khi đó các công ty Việt Nam chưa có hệ thống đại lý ở nước ngoàinên thường gặp khó khăn khi khách hàng cần dịch vụ tích hợp từ đường biển,hàng không cho tới đường bộ ở nước ngoài

Các doanh nghiệp trong nước cho biết, phương thức “bán FOB, mua CIF”của doanh nghiệp xuất, nhập khẩu trong nước khiến cho phần lớn hợp đồng vậnchuyển giao nhận rơi vào tay các tập đoàn nước ngoài

Bên cạnh đó, hàng hoá xuất nhập khẩu phục vụ khối doanh nghiệp đầu tưnước ngoài chiếm tỷ trọng khá, và các công ty này thường sử dụng công ty giao

Trang 16

nhận của nước họ Các công ty Nhật sử dụng Yusen Logistic, Nippon Express…Các công ty Đức trung thành với Kuehne Nagel, Schenker…

Doanh nghiệp Việt yếu về áp dụng công nghệ thông tin, trình độ quản lý,tiềm lực về vốn

Vấn đề chia sẻ thông tin giữa doanh nghiệp với nhau thông qua một hiệphội đủ mạnh Các công ty logistics của Nhật hoặc Hàn Quốc khi có ý định hoạtđộng ở Việt Nam đều được các tổ chức như Jetro, Kotra hỗ trợ thông tin thươngmại, tiềm năng thị trường…

Nếu với Việt Nam, logistics còn là ngành mới mẻ thì đối với nước ngoài,đây đã là ngành dịch vụ có lịch sử lâu đời với nhiều tập đoàn quy mô có bề dàyhơn 100 năm

Với chiến lược phát triển dựa vào xuất khẩu như Việt Nam, đa số cáccông ty logistics lớn của thế giới có mặt tại Việt Nam từ đầu thập niên 1990

Bắt đầu bằng văn phòng đại diện, các công ty này chuyển sang góp vốnliên doanh rồi là 100% vốn nước ngoài Một vài công ty logistics lớn trên danhnghĩa vẫn nhờ một công ty Việt Nam làm đại lý Tuy nhiên mọi hoạt động đều dophía nước ngoài quản lý, các doanh nghiệp Việt Nam thường không can thiệpđược nhiều ngoài việc ăn phí đại lý trên mỗi hợp đồng dịch vụ

Các hợp đồng vận chuyển hoặc cung cấp dịch vụ chuỗi cung ứng tại ViệtNam của các công ty lớn như Nike, Adidas, Nortel, Carrefour… thường về taycác công ty logistics toàn cầu như Kuehne Nagel, Schenker, Panalpina, DHL…Các công ty Việt Nam khó chen chân phần vì chưa có tên tuổi trên thị trườnglogistics quốc tế, phần vì các cuộc đấu thầu (Tender) hàng năm của các tập đoànlớn thường diễn ra ở nước ngoài

Các hãng tàu lớn hiện nay có các công ty logistics riêng: APL có APLLogistics, NYK có NYK Logistics, OOCL có OOCL Logistics… Riêng tập đoàn

AP Moller ngoài sở hữu hãng tàu Maersk Line ra, họ còn có ba công ty giao nhậnđang hoạt động tại Việt Nam là Maersk Logistics, DSL Star Express, Damco.Các công ty logistics của các hãng tàu này thường cung cấp luôn dịch vụ trọn góicho các khách hàng thuê tàu

Trang 17

Các công ty giao nhận Việt Nam chỉ hoạt động ở phạm vi nội địa là chủyếu, hoạt động ở phạm vi quốc tế còn rất hạn chế Chẳng hạn các dịch vụ khaithuế hải quan, dịch vụ gom hàng lẻ, đại lý cho các hãng giao nhận nước ngoài Vìthế phạm vi hoạt động chủ yếu chỉ có thể diễn ra trên phạm vi lãnh thổ quốc gianhư từ CY (Container Yard) to Door (hàng nhập) hợac từ Door to CY (hàngxuất) Trong khi đó xu thế ngày nay trên thế giới, các hãng giao nhận vươn rộng

ra phạm vi quốc tế, thiết lập mạng lưới chi nhánh toàn cầu đảm nhận giao nhậnDoor to Door

Hầu như các công ty giao nhận lớn ở nước ta phần lớn doanh thu đạt được

là từ hoạt động đại lý cho các hãng giao nhận nước ngoài Tức là hoạt động dưới

sự chỉ định của các hãng giao nhận nước ngoài, mất quyền chủ động nhận vậnchuyển hàng từ phía các nhà xuất khẩu ở Việt Nam Vì thế các công ty giao nhậnnước ta phụ thuộc rất lớn vào họ

Nghiệp vụ giao nhận theo phương thức Door to Door chưa phát triểnmạnh Bởi các công ty giao nhận ở nước ta chưa có chi nhánh ở nước ngoài nhằmthực hiện các công đoạn còn lại là giao hàng đến tận nhà hoặc kho của ngườinhận ở nước ngoài Để thực hiện nghiệp vụ giao nhận Door to Door thì phải kýkết hợp đồng đại lý với các hãng giao nhận nước ngoài Vì vậy mất đi thế chủđộng tìm kiếm khách hàng hay giành quyền vận chuyển từ những lô hàng nhậpvào Việt Nam Ngoài ra ta cũng mất đi khoảng ngoại tệ chi trả cho hoạt động đại

lý ở nước ngoài

 Về cơ sở hạ tầng :

Hạ tầng cơ sở logistics tại VN nói chung còn nghèo nàn Hệ thống cơ sở hạtầng giao thông của VN bao gồm trên 17.000 km đường nhựa, hơn 3.200 kmđường sắt, 42.000 km đường thuỷ, 266 cảng biển và 20 sân bay Tuy nhiên chấtlượng của hệ thống này là không đồng đều, có những chỗ chưa đảm bảo về mặt

kỹ thuật Hiện tại, chỉ có khoảng 20 cảng biển có thể tham gia việc vận tải hànghoá quốc tế, các cảng đang trong quá trình container hóa nhưng chỉ có thể tiếpnhận các đội tàu nhỏ và chưa được trang bị các thiết bị xếp dỡ container hiện đại,còn thiếu kinh nghiệm trong điều hành xếp dỡ container

Trang 18

Cảng Việt Nam trong tình trạng quá tải

Điểm qua các cảng đóng vai trò chủ lực trong hệ thống cảng biển ViệtNam, có thể thấy rằng ngay các cảng lớn cũng chỉ xếp dỡ hàng hoá là chính, ítcảng đạt tiêu chí của một cảng hiện đại Chúng ta chưa có quy hoạch đột phávươn ra biển

Nói về hệ thống cảng biển Việt Nam, các nhà kinh tế cho rằng, vai trò cơbản của cảng hiện chỉ đáp ứng nhiệm vụ xếp dỡ hàng hoá, hỗ trợ cho công tácxuất nhập khẩu với tư cách là một bộ phận cơ sở hạ tầng quan trọng, song hậuphương của cảng còn rất hạn chế

Theo quan điểm hiện đại, ngoài vai trò cơ bản trên, toàn bộ hệ thống củacảng còn phải thực hiện hoạt động trung chuyển đơn giản và logistics tạo giá trịgia tăng với khu hậu phương cảng tương đối rộng lớn đủ để phục vụ cho tất cảcác hoạt động kinh tế thương mại hội nhập

Với vị trí địa lý hết sức thuận lợi và mặc dù đã được Thủ tướng Chính phủphê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm

2010 (theo Quyết định số 202/1999/TTg ngày 12/10/1999) nhưng hơn 6 nămqua, quy hoạch mang tính đột phá này vẫn còn mang nặng tính chắp vá

Xin đơn cử, ở Cảng Hải Phòng, với 4 khu: Hoàng Diệu, Vật Cách, Đoạn

Xá và Chùa Vẽ, do hạn chế độ sâu của luồng, tàu có trọng tải lớn hơn 1 vạn tấnđầy tải không thể vào cảng, nên hiện nay vẫn phải tồn tại các điểm chuyển tảitrên Vịnh Hạ Long để thực hiện bốc xếp hàng hoá bằng phương thức sang mạn.Ngay cả bến container như Cảng Đình Vũ cũng chỉ cho phép tàu 2 vạn tấn neođậu làm hàng, tàu trên 3 vạn tấn đều phải chuyển tải từ xa

Trang 19

Cảng Hải Phòng

Đường hàng không hiện nay cũng không đủ phương tiện chở hàng (máybay) cho việc vận chuyển vào mùa cao điểm Chỉ có sân bay Tân Sơn Nhất làđón được các máy bay chở hàng quốc tế Các sân bay quốc tế như Tân Sơn Nhất,Nội Bài, Đà Nẵng vẫn chưa có nhà ga hàng hóa, khu vực họat động cho đại lýlogistics thực hiệngom hàng và khai quan như các nước trong khu vực đang làm.Khả năng bảo trì và phát triển đường bộ còn thấp, đường không được thiết kế đểvận chuyển container, các đội xe tải chuyên dùng hiện đang cũ kỹ, năng lực vậntải đường sắt không đựơc vận dụng hiệu quả do chưa được hiện đại hóa

 Về nguồn nhân lực:

Hiện nay có khoảng 6000 nhân viên hiện đang làm việc trong lĩnh vựclogistics tuy nhiên những người có kinh nghiệm và hiểu biết về luật pháp quốc tếlại không nhiều Hiện nguồn nhân lực chính cho ngành này đều được lấy từ cácđại lý hãng tàu, các công ty giao nhận vận tải biển và sử dụng theo khả năng hiện

có Trong khi đó, đây là lĩnh vực đòi hỏi chuyên gia không những am hiểu hệthống pháp luật, thông lệ của nước sở tại mà còn phải am hiểu pháp luật và cómối quan hệ rộng khắp trên thế giới

1.2.3.2 Những cơ hội phát triển ngành giao nhận hàng hoá xuất

nhập khẩu ở Việt Nam và xu hướng trong tương lai

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, nền kinh tế Việt Nam ngày càng rộng

mở, vươn xa tới các nước trên thế giới Cũng vì thế, Việt Nam đang đẩy nhanh

Trang 20

tiến trình hội nhập kinh tế thông qua những cải cách về cơ chế, chính sách, thủtục hành chính, xây dựng hệ thống pháp luật kinh tế và tài chính phù hợp vớithông lệ quốc tế Việc trở thành thành viên chính thức của WTO sẽ đưa ViệtNam thành một quốc gia mở cửa về thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư

Việt Nam có vị trí địa lý rất thuận lợi cho vận tải quốc tế, nằm ở khu vựcchiến lược trong vùng Đông Nam Á Bờ biển trải dài trên 2.000 km, có nhiềucảng nước sâu, các sân bay quốc tế, hệ thống đường sắt xuyên quốc gia và mạnglưới giao thông, đây là quả là một lợi thế tốt cho nghành logistic Việt Nam pháttriển Nếu có định hướng đầu tư đúng đắn thì nghành nghề này sẽ đem lại nhữnglợi ích vô cùng to lớn cho nền kinh tế nước nhà

Kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ Chức ThươngMại Thế Giới WTO thì lượng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam ngày càngnhiều, cụ thể là các nguồn vốn ODA nhằm phát triển cơ sở hạ tầng và các nguồnvốn từ các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ cho VN ngày càng tăng Cơ sở hạ tầngphục vụ cho hoạt động giao nhận – vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu ngày càngđược cải thiện tốt hơn, tạo hiệu quả cho sự phát triển ngành logistics trong tươnglai

Lĩnh vực dịch vụ đang được quan tâm phát triển, hoạt động giao nhậnhàng hoá xuất nhập khẩu cũng như logistics đã bắt đầu thu hút sự chú ý của cáccấp quản lý Nhà nước cũng như của các DN trong và ngoài nước

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, biểu hiện rõ nhất là từtháng 7- 2005 chúng ta đã bắt đầu thực hiện thông quan điện tử thí điểm ở một sốđịa phương, đến năm 2007 sẽ áp dụng trên toàn quốc Đây chính là một trongnhững điều kiện tiên quyết để ngành công nghiệp logistics VN phát triển, đápứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Theo dự báo, trong tương lai không xa, dịch vụ giao nhận kho vận sẽ trởthành một ngành kinh tế quan trọng tại Việt Nam, đóng góp tới 15% GDP cảnước Đặc biệt, trong 10 năm tới, khi kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam cóthể đạt mức 200 tỉ USD/năm thì nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics lại càng lớn

Dự báo, đến năm 2010, hàng container qua cảng biển Việt Nam sẽ đạt từ 3,6

-4,2 triệu TEU (viết tắt của Twenty - foot Equivalent Units trong tiếng Anh, tức

Trang 21

"đơn vị tương đương 20 foot" TEU là đơn vị đo của hàng hóa được container hóa tương đương với một container tiêu chuẩn 20 ft (dài) × 8 ft (rộng) × 8,5 ft (cao), khoảng 39 m³ thể tích) Con số này đến năm 2020 chắc chắn sẽ lên đến 7,7 triệu

TEU Song hành cùng sự phát triển kinh tế là tăng trưởng trong hoạt động xuấtnhập khẩu Do đó, ngành logistics lại thêm nhiều cơ hội phát triển Theo dự báocủa Bộ Thương Mại, trong 10 năm tới kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước sẽđạt tới 200 tỷ USD Điều đó cho thấy tiềm năng phát triển dịch vụ logistics ViệtNam còn khá lớn

Những năm gần đây, vận tải biển VN đang có những bước phát triển vượtđáng kể Hiện 90% hàng hóa XNK được vận chuyển bằng đường biển Đặc biệt,lĩnh vực vận chuyển container luôn đạt tốc độ tăng trưởng 2 chữ số trong nhữngnăm gần đây Tuy vậy, điều này lại dẫn đến hệ luỵ là VN đang rất cần các cảngnước sâu để có thể thoả mãn được nhu cầu xuất nhập khẩu ngày càng tăng Tổngkhối lượng hàng qua các cảng biển VN hiện nay vào khoảng 140 triệu tấn/năm(năm 2006: 153 triệu tấn), tốc độ tăng trưởng hàng năm trong vòng 10 năm tớitheo dự đoán là 20 - 25% Hiện chính phủ VN và các nhà đầu tư quốc tế đangtriển khai một loạt dự án xây dựng các cụm cảng nước sâu như ở khu vực CáiMép - Thị Vải ở phía Nam cũng như Hải Phòng ở phía Bắc Các dự án này đangphấn đấu hoàn thành vào năm 2009

Việc dịch chuyển cơ sở sản xuất của nhiều DN nước ngoài từ nơi khácđến VN đã tạo ra cơ hội rất lớn trong việc xây dựng một mạng lưới giao nhậnkho vận hoạt động hiệu quả

1.3 Khái Niệm Người Giao Nhận - Quyền, Nghĩa Vụ,

Trách Nhiệm Và Vai Trò Của Người Giao Nhận

1.3.1 Khái niệm người giao nhận

Người giao nhận là người kinh doanh dịch vụ giao nhận Trước đây, ngườigiao nhận (A Frieght Forwarder) chỉ là đại hoa hồng (Commission Agent) thaymặt cho người nhập khẩu thực hiện các công việc thông thường như : bốc dỡ

Trang 22

hàng, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục giấy, sắp xếp vận chuyển trong nước, nhậnthanh toán tiền hàng cho khách hàng của họ.

Người giao nhận có thể là chủ hàng, chủ tàu, công ty bốc dỡ hay kho hàngngười giao nhận chuyên nghiệp hoặc bất kỳ người nào khác có đăng ký kinhdoanh dịch vụ giao nhận hàng hoá Vì vậy, theo luật Thương mại Việt Namngười làm dịch vụ giao nhận hàng hoá phải là một thương nhân có giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hoá

Cùng với sự phát triển thương mại quốc tế và tiến bộ kỹ thuật trong ngànhvận tải thì dịch vụ giao nhận vận tải cũng được mở rộng hơn Ngày nay, ngườigiao nhận đóng vai trò rất quan trọng trong thương mại vận tải quốc tế Ngườigiao nhận không chỉ làm thủ tục hải quan hoặc thuê tàu mà còn cung cấp dịch vụtrọn gói về toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng hoá Mặc dù với nhiều têngọi khác nhau (Đại lý hải quan, Đại lý thanh toán, Đại lý gởi hàng và giao nhậnhàng, Người chuyên chở,…) nhưng người giao nhận vẫn là người bán dịch vụ

Người giao nhận uỷ thác giao nhận vận tải trong và ngoài nước bằng cácphương tiện vận tải khác nhau với các loại hàng hoá xuất nhập khẩu khác nhaunhư : hàng nội trợ, hàng triển lãm, hàng ngoại giao, hàng quá cảnh, hàng viện trợ,

uỷ thác và thu gom hàng hoá xuất nhập khẩu

1.3.2 Quyền và nghĩa vụ của người giao nhận

Điều 167 luật Thương mại Việt Nam quy định người giao nhận có nhữngquyền và nghĩa vụ sau đây :

- Người giao nhận được hưởng tiền công và các khoản thu nhập hợp lý

- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo hợp đồng

Trang 23

- Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi íchcủa khách hàng thì có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng nhưng phảithông báo ngay cho khách hàng.

- Sau khi ký hợp đồng, nếu thấy không thể thực hiện được những chỉ địnhcủa khách hàng thì phải thông báo cho khách hàng để nhận chỉ dẫn thêm

- Phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời gian hợp lý nếu trong hợpđồng không thoả thuận về thời gian thực hiện nghĩa vụ với khách hàng

1.3.3 Trách nhiệm của người giao nhận

1.3.3.1 Khi người giao nhận là đại lý :

Phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo hợp đồng và phải chịu tráchnhiệm về những sơ xuất, lỗi lầm và thiếu sót như :

- Giao hàng không đúng chỉ dẫn

- Thiếu sót trong việc mua bảo hiểm cho hàng hoá mặc dù đã có hướngdẫn

- Thiếu sót trong khi làm thủ tục hải quan

- Chở hàng sai nơi đến quy định

- Tái xuất không theo những thủ tục cần thiết hoặc không hoàn lại thuế

- Giao hàng mà không thu tiền từ người nhận hàng

Người giao nhận còn phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại về ngườihoặc tài sản đã gây ra cho người thứ ba trong hoạt động của mình Tuy nhiên,người giao nhận không chịu trách nhiệm về hành vi hoặc lỗi lầm của người thứ

ba như người chuyên chở hay người giao nhận khác,…mà họ đã thuê để thựchiện hợp đồng vận tải như thể đó là hành vi và thiếu sót của mình

Người giao nhận đóng vai trò là người chuyên chở không chỉ trong trườnghợp họ tự vận chuyển hàng hoá bằng các phương tiện vận tải của chính mình màcòn trong trường hợp họ phát hành chứng từ vận tải hay cam kết đảm nhận tráchnhiệm người chuyên chở Khi người giao nhận cung cấp các dịch vụ liên quanđến vận tải như đóng gói, lưu kho, bốc xếp hay phân phối… thì người giao nhận

sẽ chịu trách nhiệm như người chuyên chở nếu người giao nhận thực hiện các

Trang 24

dịch vụ trên bằng phương tiện và người của mình hoặc người giao nhận đã camkết một cách rõ ràng hay ngụ ý là : họ chịu trách nhiệm như một người chuyênchở.

Tuy nhiên người giao nhận sẽ không chịu trách nhiệm về những mất mát,

hư hỏng của hàng hoá phát sinh từ những trường hợp sau đây :

- Khách hàng đóng gói và ghi ký mã hiệu không phù hợp

- Do lỗi của khách hàng hay của người được khách hàng uỷ thác

1.3.3.2 Người kinh doanh vận tải đa phương thức (Multimodal

Transport Operator – MTO)

Trong trường hợp người giao nhận cung cấp dịch vụ vận tải đi suốt còngọi là vận tải từ cửa đến cửa (Door to Door) thì người giao nhận đã đóng vai trò

là người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO) MTO cũng là người chuyênchở và phải chịu trách nhiệm đối với hàng hoá

Người giao nhận còn được coi là “ kiến trúc sư của vận tải ” vì người giaonhận có khả năng tổ chức quá trình vận tải một cách tốt nhất, an toàn nhất và tiếtkiệm nhất

Những lợi ích mà người giao nhận mang lại :

Đối với người xuất khẩu :

Giảm được nhân sự trong công ty khi việc giao nhận hàng không thườngxuyên và không có giá trị lớn

Giảm thiểu được rủi ro đối với hàng hoá và tiết kiệm được thời gian tronglúc thực hiện giao nhận hàng với tàu do không có kiến thức chuyên ngành vàkinh nghiệm so với người chuyên nghiệp giao nhận

Trang 25

Thực hiện giao nhận hàng đúng ngày tháng do hợp đồng đã quy định,tránh việc gây chậm trễ làm người nhập khẩu có lý do yêu cầu giảm giá hànghoặc không thanh toán tiền hàng.

Nếu hàng phải chuyển tải ở một nước thứ ba, người giao nhận đảm tráchviệc nhận hàng từ tàu thứ nhất và tìm cách gửi hàng lên tàu thứ hai để đi dếncảng cuối cùng của người nhập khẩu, mà người xuất khẩu khỏi phải có đại diện ởmột nước thứ ba lo việc trên nên đỡ tốn phí

Người giao nhận do thường xuyên tiếp xúc với các hãng tàu nên biết rõhãng tàu nào có uy tín, cước phí hợp lý, tuổi của tàu, lịch trình đi và đến đảm bảođúng nhằm hạn chế rủi ro đới với hàng hoá so với người xuất khẩu không chuyênmôn về lĩnh vực này

Đối với người nhập khẩu

Tương tự như người xuất khẩu, người nhập khẩu cũng giảm bớt đượcnhân sự và giảm chi phí

Tránh được nhiều rủi ro khi nhận hàng từ tàu, nhất là đối với hàng rời nhưphân bón, bột mì, xi măng,… vì thủ tục nhận hàng phức tạp Nếu không nắmvững các thủ tục này, trong trường hợp giao hàng thiếu hoặc hư do tàu bảo quảnkhông tốt, người nhập khẩu sẽ không biết lập các chứng từ liên hệ như : giấychứng nhận hàng giao thiếu, biên bản hàng đỗ vỡ và hư hỏng, mời bảo hiểmgiám định và lập biên bản giám định,… sẽ khó khiếu nại đòi tàu bồi thường hoặcđòi công ty bảo hiểm bồi thường nếu hàng được bảo hiểm

Nhận hàng nhanh để giải toả khỏi kho bãi cảng tránh bị phạt vì lưu khoquá hạn… giúp đưa hàng hoá ra thị trường nhanh chóng

Thay mặt người nhập khậu để bảo vệ quyền lợi của họ bằng cách lập cácchứng từ liên hệ để khiếu nại tàu, cảng gây tổn thất đối với hàng

Trang 26

1.4 Phương Thức Và Nguyên Tắc Giao Nhận

1.4.1 Phương thức giao nhận

Là giao nhận hàng hoá giữa người vận chuyển với người nhận hàng Lúcnày người nhận hàng có thể là chủ hàng hay một đại lý giao nhận hàng nào đó.Các phương thức giao nhận hàng hoá là :

Giao nhận nguyên bao, nguyên kiện, nguyên bó

Giao nhận nguyên hầm, giao nhận còn cặp chì

Giao nhận theo số lượng, trọng lượng hoặc thể tích

Giao nhận theo mớn nước

Giao nhận nguyên container

1.4.2 Nguyên tắc giao nhận

Người nhận hàng có thể là chủ hàng hay đại diện, đại lý giao nhận Ởphương thức này có 4 nguyên tắc xảy ra :

- Có chứng từ hợp lệ để nhận hàng, thanh toán mọi chi phí cho cảng

- Phải nhận hàng liên tục trong một thời gian ấn định (do thoả thuận giữacảng và người nhận hàng)

- Hàng phải có ký mã hiệu, trừ trường hợp hàng trần, hàng rời, giao nhậntheo tập quán thương mại quốc tế Nếu ký mã hiệu sai sót gây sự nhầm lẫn, chậmtrễ cho việc giao nhận hàng hoá giữa cảng và người nhận hàng thì cảng khôngchịu trách nhiệm

- Nếu bao kiện còn nguyên vẹn, còn seal, chì thì cảng không chịu tráchnhiệm về hàng hoá chứa bên trong có hư hỏng hay không hư hỏng, có thiếu haykhông thiếu

Trang 27

1.5 Phương Thức Vận Chuyển Hàng Hoá

Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm đáp ứngnhu cầu di chuyển vị trí của đối tượng vận chuyển Đối tượng vận chuyển gồmcon người vật phẩm Ngày nay, do việc phát triển và bành trướng của mậu dịchquốc tế đã làm xuất hiện các phương thức vận chuyển khác nhau làm cho dịch vụgiao nhận trở nên quan trọng, không thể thiếu trong mậu dịch và vận tải quốc tế

Hiện nay Việt Nam cũng như trên toàn thế giới có các phương thức vậnchuyển sau :

1.5.1 Phương thức vận chuyển bằng đường thuỷ

1.5.1.1 Phương thức vận chuyển đường biển

Vận tải đường biển là một phương thức vận chuyển ra đời sớm nhất Khi

mà khoa học kỹ thuật chưa phát triển ở trình độ cao, khi con người chưa có khảnăng sáng tạo ra những chiếc tàu biển hiện đại có trọng tải lớn và tốc độ nhanhnhư những chiếc tàu biển đang sử dụng để chuyên chở hàng hoá trong buôn bánquốc tế như ngày nay

Thì những ưu thế của đại dương cũng đã được con người tận dụng để thựchiện việc chuyên chở hàng hoá và hành khách giữa các quốc gia trên thế giới vớinhau bằng các phương tiện vận tải thô sơ như : tàu thuyền buồm, tàu biển nhỏchạy bằng động cơ hơi nước

Trang 28

Chỉ từ khi phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa ra đời, quan hệ buônbán giữa các quốc gia trên thế giới tăng lên, dung lượng hàng hoá lưu chuyểngiữa các nước tăng lên và tất yếu nhu cầu chuyên chở hàng hoá và hành kháchtăng lên thì phương thức vận chuyển này có khá nhiều thuận lợi cho người mualẫn người vận chuyển, người bán nên đã có hơn 90% hàng hoá xuất nhập khẩuđược vận chuyển bằng đường biển Về đặc điểm kinh tế kỹ thuật, phương thứcvận tải đường biển có những ưu thế nổi bật sau :

- Nổi bật nhất là cước phí vận chuyển đường biển thấp hơn rất nhiều sovới các phương thức vận chuyển khác (bằng 1/6 giá cước vận chuyển bằngđường hàng không, 1/3 so với vận chuyển bằng đường sắt…) Đây là đặc điểm

mà khiến cho phương thức vận tải bằng đường biển được chú trọng nhất trongbuôn bán giữa các quốc gia và trở thành chủ đạo trong buôn bán quốc tế

- Vận chuyển bằng đường biển có thể vận chuyển một lượng hàng lớn,khổng lồ mà các phương tiện vận chuyển khác không thể nào vận chuyển đượcnhư vậy Vả lại việc tổ chức chuyên chở không bị hạn chế, có thể chuyên chởnhiều lần, nhiều chuyến trong cùng một lúc cho cả lượt đi lẫn lượt về

- Trong phương thức vận tải bằng đường biển các tuyến đường hàng hảiđược hình thành một cách tự nhiên nên không đòi hỏi vốn, nguyên vật liệu, sứclao động để duy trì, bảo quản trừ việc xây dựng các kênh đào và hải cảng

- Thích hợp vận chuyển hầu hết các loại hàng hoá trong thương mại quốc

tế Đặc biệt thích hợp và có hiệu quả là các loại hàng rời có giá trị thấp

- Với phương thức vận tải bằng container ngày càng trở nên thuận lợi, antoàn, nhanh gọn

Bất cứ vấn đề nào cũng có tính hai mặt của nó, hình thức vận chuyển bằngđường biển cũng không ngoại lệ Vì thế, phương thức vận tải bằng đường biểncũng có những bất lợi sau :

- Tốc độ tàu rất chậm, chậm hơn rất nhiều so với các phương tiện vận tảikhác Vì vậy, trong nhiều trường hợp vận tải biển không đáp ứng được khi hànghoá có nhu cầu vận chuyển nhanh

- Nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu, thời tiết, các loại tàu biểnthường gặp rất nhiều rủi ro như : mắc cạn, đắm cháy, mất tích…

Trang 29

Do vậy trong thương mại quốc tế, để đảm bảo tính an toàn trong kinhdoanh, song song với việc thuê tàu vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu là muabảo hiểm cho lô hàng.

1.5.1.2 Phương thức vận chuyển bằng đường sông :

Vận tải đường sông là một bộ phận cấu thành trong hệ thống vận tải thốngnhất của nước ta Với đặc điểm nước ta có nhiều sông, sông quanh sông không bịđóng băng, chạy từ lục địa ra biển nối liền với nhau nên rất thuận lợi cho việcchuyên chở hàng hoá và khách hàng Hàng hoá vận chuyển bằng đường sông củanước ta rất nhiều : than, xăng, dầu, vật liệu xây dựng, lương thực thực phẩm,…

Ưu điểm của hình thức vận chuyển bằng đường sông :

Vốn đầu tư xây dựng và phát triển ít tốn kém, các tuyến đường sông là tựnhiên, chi phí bảo dưỡng, vét lòng sông không nhiều Các công trình cho phục vụvận tải đường sông không đòi hỏi tốn nhiều nguyên vật liệu như xây dựng đườngsắt, đường ôtô

Khả năng vận chuyển tương đối lớn, trên một tuyến đường có thể tổ chứcnhiều chuyến tàu

Giá thành vận tải thấp so với các phương tiện vận tải khác Đó là do vốnđầu tư thấp, tiêu hao nhiên liệu ít, năng suất lao động cao

Trang 30

Nhược điểm của hình thức vận chuyển bằng đường sông

Chịu ảnh hưởng lớn của các điều kiện tự nhiên và thời tiết, chuyên chởhàng hoá mang tính chất thời vụ, theo mùa rõ rệt

Tốc độ chuyên chở hàng hoá thấp

Vì những đặc điểm trên mà vận tải bằng đường sông xuất hiện rất sớmnhưng phát triển chậm so với các phương thức vận tải khác Nó chỉ thích hợp vớichuyên chở nội địa Ngoài ra, nó còn thích hợp với chuyên chở xuất nhập khẩuqua hình thức liên hợp vận tải sông biển hay còn gọi là “điều vận hàng hoá xuấtnhập khẩu ”

1.5.2 Phương thức vận chuyển bằng đường bộ

1.5.2.1 Phương thức vận chuyển bằng đường ôtô

Vận tải ôtô là một bộ phận quan trọng của hệ thống vận tải ở nước ta Vậntải ôtô có nhiệm vụ chuyên chở hàng hoá giữa các trung tâm kinh tế, giữa các xínghiệp, đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ Ngoài ra nó còn có nhiệm

vụ chuyên chở hỗ trợ cho các phương thức vận tải khác như : vận tải biển, vận tảisắt, vận tải hàng không

Trang 31

Chi phí đầu tư xây dựng đường xá khá cao.

Trọng tải nhỏ nên năng suất lao động trong vận tải ôtô rất thấp

Qua đó ta thấy rằng vận tải ôtô chỉ thích hợp với việc chuyên chở hànghoá có tải trọng nhỏ, cự ly vận chuyển thấp

1.5.3 Phương thức vận chuyển bằng đường sắt

Đây là phương thức vận tải tương đối hiện đại và rất phổ biến ở tất cả cácnước trên thế giới

Chi phí đầu tư xây dựng đướng xá rất cao

Tính chất linh hoạt, cơ động thấp Nó không có khả năng chuyên chở trựctiếp từ kho đến kho, khó khăn trong việc thay đổi tuyến đường vận chuyển, thờigian chuyên chở Qua đó ta thấy vận tải đường sắt phù hợp chuyên chở hàng hoátrong phạm vi một nước

Trang 32

1.5.4 Phương thức vận chuyển bằng đường hàng không

Vận tải đường hàng không là một ngành vận tải còn non trẻ Trước đây nóchủ yếu phục vụ chuyên chở hành khách Nhưng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX,vận tải hàng không mới bất đầu phát triển một cách nhanh chóng, được sử dụngrộng rãi trong phạm vi nội địa cũng như quốc tế

Ưu điểm

Tốc độ nhanh, tốc độ khai thác lớn nhất so với các ngành vận tải khác Nóphục vụ rất tốt cho việc chuyên chở hành khách và hàng hoá, đặc biệt là đối vớihàng hoá có giá trị cao, có yêu cầu vận chuyển nhanh

Tuyến đường hoàn toàn tự nhiên, khoảng cách vận chuyển được tính theođường chim bay, vốn đầu tư không cao, khả năng thông quan không bị hạn chế

Nhược điểm

Cước phí vận chuyển cao hơn gấp nhiều lần so với tàu biển (5 – 6 lần),cũng như so với các phương thức vận chuyển khác còn lại Nguyên nhân giácước đắc là do chi phí máy bay cao, chi phí khấu hao lớn, trọng tải nhỏ

Phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu nên ảnh hưởng nhiều đến lịch trình

và tính điều đặn của vận tải hàng không

Sức chở hạn chế, có thể gặp rủi ro, tai nạn gây thiệt hại lớn

Đòi hỏi nhân viên, kỹ sư, phi công có trình độ kỹ thuật cao và giàu kinhnghiệm

Trang 33

Qua đó ta thấy vận tải hàng không thích hợp với việc chuyên chở hànghoá trên những khoảng cách xa, đến những nơi mà các phương thức vận tải kháckhông có khả năng thực hiện hoặc có thể thực hiện nhưng gặp nhiều khó khăn.

Nó thích hợp chuyên chở hàng lẻ, có giá trị cao, hàng mau hỏng và có nhu cầuvận chuyển gấp

1.6 Trình Tự Giao Nhận Hàng Hoá Xuất Nhập Khẩu Tại

Cảng

1.6.1 Trình tự giao nhận hàng hoá xuất khẩu tại cảng

1.6.1.1 Giao hàng xuất khẩu hàng rời

Đối với hàng xuất khẩu cho tàu chợ - hàng rời không nguyên container phải lưu kho bãi tại cảng : có 2 công đoạn chính

Ng

ư ời xuất khẩu giao hàng cho cảng bao gồm các công đoạn sau :

- Người xuất khẩu giao Bảng danh mục hàng hóa xuất khẩu (Cargo list) vàđăng ký với phòng điều độ để bố trí kho bãi và lên phương án xếp dỡ

- Liên hệ với phòng thương vụ để ký hợp đồng lưu kho, bốc xếp hàng hóavới cảng

- Lấy lệ nhập kho và báo với hải quan và kho hàng

- Giao hàng vào kho bãi, cảng

- Làm các thủ tục kiểm nghiệm, kiểm dịch (nếu có), thủ tục hải quan

- Báo cho cảng ngày giờ dự kiến tàu đến ETA (Estimated time of Arrival,tàu đi Estimated of Departure), chấp nhận NOR (Thông đạt sẵn sàng xếp hàng –Notice of Readiness)

- Ký hợp đồng xếp dỡ với cảng

Cảng tổ chức xếp hàng và giao hàng cho tàu :

- Trước khi xếp phải tổ chức vận chuyển hàng từ kho ra cầu cảng, lấy lệnhxếp hàng, ấn định số máng xếp hàng, bố trí xe công nhân và người áp tải (nếucần)

Trang 34

- Tiến hàng bốc và giao hàng cho tàu Việc xếp hàng lên tàu do công nhâncảng làm Hàng sẽ được giao cho tàu dưới sự giám sát của đại diện hải quan.Trong quá trình giao hàng, nhân viên kiểm đếm (Tally man) của cảng sẽ ghi sốlượng hàng giao vào bảng Tally report (Bảng kiểm đếm), cuối ngày sẽ ghi vàoDaily report (Bảng kiểm đếm hàng ngày) và khi xếp xong một tàu sẽ ghi vàoFinal report (Bảng kiểm đếm sau cùng) Phía tàu cũng có nhân viên kiểm đếm vàghi kết quả vào Tally sheet (Bảng kiểm đếm).

+ Khi giao nhận xong một lô hoặc toàn tàu, cảng phải lấy biên lai thuyềnphó (Master Receipt) trên cơ sở đó giao cho người xuất khẩu để tiến hành lập vậnđơn đường biển (Bill of lading – B/L)

+ Căn cứ vào số lượng hàng đã xếp ghi trong Tally sheet, cảng và tàu sẽlập bảng tổng kết xếp hàng lên tàu (General loading report) và hai bên sẽ ký xácnhận vào bảng này kết thúc việc giao nhận hàng với tàu

Đối với hàng xuất khẩu cho tàu chợ - hàng rời không phải lưu kho bãi tại cảng

Đây là các loại hàng hóa được để tại kho riêng của người xuất khẩu đượcvận chuyển đến cảng giao hàng chi tàu không qua các kho của cảng Các bướctiến hành giao cũng giống như giao hàng qua cảng, chỉ khác là không phải kýhợp đồng thuê kho bãi của cảng (giao tay ba)

Đối với hàng xuất khẩu hàng rời theo tàu chuyến

Chủ hàng chở thẳng hàng hóa từ kho của mình tới cảng và giao cho tàutheo nguyên tác tay ba : Tàu – cảng – chủ hàng

Chủ hàng khai hải quan và hải quan giám sát trực tiếp việc bốc hàng lêntàu

Đối với hàng có thể kiểm đếm ví dụ gạo đóng bao 50kg, mỗi mã bốc lên

là 20 bao - 1 tấn thì tàu và cảng sẽ thực hiện kiểm đếm, chi phí kiểm đếm của tàuthì tàu chịu, chi phí kiểm đếm do cảng thì do chủ hàng (nhà xuất khẩu) chịu.Trong cách giao hàng này thì cuối mỗi ngày nhân viên kiểm đếm của tàu và cảng

sẽ thống nhất số lượng thực xếp để là Master Receipt Việc làm Master Receiptcòn là cần thiết khi chủ hàng có thể thuê tàu chở hàng mà có nhiều loại khácnhau, ví dụ chở bắp và chở gạo

Trang 35

Trong thực tế là do việc bốc xếp hàng rời rất dễ giám sát, mặt khác hảiquan không thể theo dõi số lượng xếp lên tàu do là hàng rời nên trong thực tế hảiquan sử dụng kết quả của cơ quan giám định (giám định mớn nước) để ghi nhậnkết quả kiểm hóa (xem chứng thư giám định mớn nước do Bureau Veritas cấptheo yêu cầu của hải quan).

Xuất khẩu theo tàu chuyến

Tương tự tàu chợ hàng rời, áp dụng giao hàng tay ba : Tàu – Cảng – Chủhàng Khi tàu tới thì người xuất khẩu mở tờ khai và chở hàng đến cảng giao chotàu, lưu ý chi phí xếp dỡ ai chịu Hải quan xác định số lượng hàng thực xuất trên

cơ sở biên bảng giám định Tàu chuyến bao giờ cũng áp dụng giám định hầm tàulúc xuất khẩu cũng như lúc nhập khẩu Người ta thực hiện giám định chủ yếutheo mớn nước

1.6.1.2 Đối với hàng xuất khẩu đóng trong container

Nếu gửi hàng nguyên container (FCL/FCL – Full container load) Quy trình cơ bản bao gồm các công việc :

- Người xuất khẩu liên lạc với hãng tàu, thông báo các thông tin về hànghóa, nơi đi, nơi đến… Hãng tàu sẽ fax cho chủ hàng bảng lịch tàu để chủ hàngchọn chuyến tàu Sau khi đã thống nhất hàng sẽ đi chuyến tàu nào thì hãng tàu sẽfax cho chủ hàng Booking note (Bảng đăng ký lưu khoang/lưu cước) để chủ hàngđiền vào và đưa cho đại diện hãng tàu hoặc đại lý tàu

- Sau đó hãng tàu sẽ cấp Lệnh giao cont rỗng để chủ hàng mượn và seal(kẹp chì) Chủ hàng hoặc người vận tải thay mặt chủ hàng nhận container phải kývào phiếu EIR (một dạng của biên bản giao container để quy trách nhiệm khi làm

hư hỏng hoặc mất mát container)

- Chủ hàng (nhà xuất khẩu) lấy container rỗng về địa điểm đóng hàng củamình

- Chủ hàng (nhà xuất khẩu) vận chuyển và giao container cho tàu tại bãi

CY (Container yard – bãi container)

Trang 36

- Chủ hàng khai hải quan và đại diện hải quan đến kiểm tra và giám sátviệc đóng hàng vào container Sau khi đóng xong, nhân viên hải quan sẽ niêmphong, kẹp chì container.

- Chủ hàng lập Packing list và trao cho hãng tàu để lập B/L

Nếu gửi hàng lẻ không đủ một container (LCL/LCL – less than a container load) có 2 trường hợp :

- Gửi hàng thông qua công ty giao nhận với tư cách là người gom hàng(Consolidator)

- Gửi hàng trực tiếp cho hãng tàu thông qua bộ phận cung cấp dịch vụlogistics của hãng tàu ví dụ Mearsk logistics (lưu ý rằng trước đây hãng tàukhông làm nhiệm vụ gom hàng lẻ, song do sự phát triển của dịch vụ logistics nênhiện nay các hãng tàu đảm đương luôn công việc này)

Quy trình cơ bản :

Người xuất khẩu gửi Booking note cho hãng tàu hoặc đại lý của hãng tàu,cung cấp cho họ những thông tin cần thiết về hàng xuất khẩu Sau khi Bookingnote được chấp nhận, chủ hàng sẽ thỏa thuận với hãng tàu về ngày giờ giao nhậnhàng

Người xuất khẩu mang hàng đến giao cho người chuyên chở hoặc đại lýcủa họ tại trạm CFS (Container frieght station – tram đóng hàng lẻ) của hãng tàuhoặc của người gom hàng (Consolidator/Forwarder)

Người xuất khẩu mời đại diện hải quan kiểm tra, kiểm soát và giám sátviệc đóng hàng vào container của người chuyên chở hoặc người gom hàng Saukhi hải quan niêm phong, kẹp chì container, chủ hàng hoàn thành thủ tục giaohàng và yêu cầu cấp vận đơn và chứng từ vận tải

Người chuyên chở xếp container lên tàu và vận chuyển tới nơi đến

1.6.2 Trình tự giao nhận hàng hoá nhập khẩu tại cảng

Đối với hàng hóa dạng hàng rời phải lưu kho, lưu bãi tại cảng có 2 bước :

Cảng nhận hàng từ tàu bao gồm các công việc :

Trang 37

- Trước khi dỡ hàng tàu hoặc đại lý phải cung cấp cho cảng Manifest(bảng lược khai hàng hóa), sơ đồ hầm tàu để cảng tiến hành các thủ tục cần thiết

và bố trí phương tiên dỡ hàng

- Cảng và địa diện tàu tiến hành kiểm tra tình trạng hầm tàu Nếu pháthiện thấy hầm tàu ẩm ướt, hàng hóa bên trong hầm tàu lộn xộn hoặc bị hư hỏng,mất mát thì phải lập biên bản hai bên củng ký Nếu tàu không chịu ký vào biênbản thì mời cơ quan giám định lập biên bản mới tiến hành dỡ hàng

- Dỡ hàng bằng cần cẩu của tàu hoặc của cảng và xếp lên phương tiện vậntải để đưa về kho, bãi Trong quá trình chở hàng, đại diện của tàu cùng cán bộgiao nhận cảng kiểm đếm và phân loại hàng hóa cũng như kiểm tra về tình trạnghàng hóa và ghi vào Tally sheet

- Hàng sẽ được xếp lên xe để vận chuyển về kho theo phiếu vận chuyển cóghi rõ số lượng, loại hàng, số B/L

- Cuối mỗi ca và xếp xong hàng, cảng và đại diện tàu phải đối chiếu sốlượng hàng hóa giao nhận và cùng ký vào Tally sheet

- Cảng và tàu ký bào bảng kết toán nhận hàng với tàu (ROROC – Report

on receipt of cargo) xác nhận số lượng hàng hoá thực giao so với Manifest và B/L

Lập các giấy tờ cần thiết hoặc biên bản trong quá trình giao nhận như :

- Biên bản đỗ vỡ hàng (COR – Cargo outturn report) nếu hàng bị hư hỏng

- Xác nhận hàng thiếu (CSC – Certificate of shortlanded cargo) nếu tàugiao thiếu

Cảng giao hàng cho người nhập khẩu :

Khi nhận được thông báo tàu đến, người nhập khẩu phải mang vận đơngốc, giấy giới thiệu của cơ quan đến hãng tàu để nhận lệnh giao hàng (D/O –Delivery order) Hãng tàu hoặc đại lý giữ lại vận đơn gốc và trao 3 bản D/O chongười nhập khẩu

- Người nhập khẩu đóng phí lưu kho phí xếp dỡ và lấy biên lai

- Người nhập khẩu mang biên lai nộp phí, 3 bản D/O cùng Invoice vàPacking list đến văn phòng quản lý tàu để ký xác nhận D/O và tìm vị trí hàng, tạiđây lưu 1 bản D/O

Trang 38

- Người nhập khẩu mang 2 bản D/O còn lại đến bộ phận kho vận để làmphiếu xuất kho Bộ phận này giữ 1 D/O và lưu 2 phiếu xuất kho cho chủ hàng.

- Người nhập khẩu tiến hành làm thủ tục hải quan (nộp 1 D/O)

- Sau khi hải quan xác nhận “Hoàn thành thủ tục hải quan” người nhậpkhẩu có thể mang hàng ra khỏi cảng và chở hàng về kho riêng

Đối với hàng không lưu kho, bãi tại cảng

Khi người nhập khẩu có khối lượng hàng lớn chiếm toàn bộ hầm tàu hoặchàng rời, thì người nhập khẩu có thể đứng ra giao nhận trực tiếp với tàu

Trước khi nhận hàng, trước khi nhận hàng người nhập khẩu phải hoàn tấtcác thủ tục hải quan và trao cho cảng B/L, D/O

Sau khi đối chiếu Manifest cảng sẽ lên hóa đơn cước phí dỡ hàng và cấplệnh giao thẳng để chủ hàng trình cán bộ giao nhận tại tàu để nhận hàng

Sau khi nhận hàng, người nhập khẩu và người giao nhận ở cảng cùng kýbản tổng kết giao nhận và xác nhận số lượng hàng hóa đã giao nhận bằng phiếugiao hàng trên phiếu xuất kho Đối với tàu người nhập khẩu vẫn phải lập Tallysheet và ROROC (Bản kết toán nhận hàng với tàu) như trên

Đối với hàng nhập bằng container.

Nếu là hàng nguyên container (FCL/FCL)

- Khi nhận được thông báo tàu đến (Notice of arrival) người nhập khẩumang B/L gốc và giấy giới thiệu của cơ quan đến hãng tàu để lấy D/O

- Người nhập khẩu mang D/O làm thủ tục đăng ký kiểm hóa, người nhậpkhẩu có thể đề nghị đưa cả container về kho riêng hoặc trạm thông quan nội địaICD (Inland clearance deport) kiểm tra hải quan nhưng phải trả vỏ containerđúng hạn nếu không sẽ bị xử phạt

- Sau khi hoàn thành thủ tục hải quan, chủ hàng phải mang toàn bộ chứng

từ nhận hàng cùng D/O đến văn phòng quản lý tàu tại cảng để xác nhận D/O

- Lấy phiếu xuất kho và nhận hàng

Nếu là hàng lẻ (LCL/ LCL) không đủ container (Less than a container

load ) Người nhập khẩu mang vận đơn gốc hoặc vận đơn gôm hàng để lấy D/O,sau đó nhận hàng tại CFS và làm các thủ tục như trên

Trang 39

CHƯƠNG 2

TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY

TNHH LIÊN VẬN MINH TƯỜNG

Trang 40

CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH

LIÊN VẬN MINH TƯỜNG

2.1 Giới Thiệu Về Công Ty

2.1.1 Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển

Hòa nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, kinh tế Việt Nam đangchuyển từ cơ chế thị trường tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiếtcủa nhà nước tạo điều kiện cho kinh tế phát triển một cách mạnh mẽ Cùng với

xu hướng đó, ngành dịch vụ giao nhận vận tải cũng được chú trọng và ngày càngnâng cao tầm quan trọng trong hoạt động thương mại quốc tế, cộng với việc cácdoanh nghiệp có nhu cầu về xuất nhập khẩu nhưng chưa có kinh nghiệm trongviệc hoàn thành thủ tục cho hàng hóa xuất nhập khẩu Và để đáp ứng nhu cầu thịtrường đó, vào ngày 21 tháng 9 năm 2001 Công ty TNHH Liên Vận Minh Tườngđược thành lập theo quy định số 4102006599/2006/QĐ-BTC của UBNDTP.HCM Với tên giao dịch quốc tế “MASTER LINES., LTD” - là công ty kinhdoanh loại hình dịch vụ giao nhận và vận tải

Tên đầy đủ: Công ty TNHH Liên Vận Minh Tường

Tên gọi tiếng anh: MASTER LINES CO.,LTD

Địa chỉ công ty: 62/30B Nhất Chi Mai, P.13, Q.Tân Bình, TP.HCM

Điện thoại: 84-08 38117001

Fax: 84-08 38853070

Email: masterlines_ops@hcm.vnn.vn

Vốn điều lệ: 600.000.000 đ (Sáu trăm triệu việt nam đồng)

Mã số đăng ký kinh doanh: 0302408934

Ngày đăng: 21/09/2012, 17:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1:                            SƠ ĐỒ TỔ CHỨC - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nghiệp vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu tại công ty TNHH Liên Vận Minh Tường.doc
Sơ đồ 1 SƠ ĐỒ TỔ CHỨC (Trang 42)
Bảng 1: Một số chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh của công ty trong - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nghiệp vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu tại công ty TNHH Liên Vận Minh Tường.doc
Bảng 1 Một số chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh của công ty trong (Trang 45)
Sơ đồ 2 : QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT CÔNG VIỆC - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nghiệp vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu tại công ty TNHH Liên Vận Minh Tường.doc
Sơ đồ 2 QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT CÔNG VIỆC (Trang 74)
Bảng báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của công ty năm 2007- 2008 Các tài liệu và chứng từ khác - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nghiệp vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu tại công ty TNHH Liên Vận Minh Tường.doc
Bảng b áo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của công ty năm 2007- 2008 Các tài liệu và chứng từ khác (Trang 86)
SƠ ĐỒ 1 SƠ ĐỒ TỔ CHỨC - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nghiệp vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu tại công ty TNHH Liên Vận Minh Tường.doc
SƠ ĐỒ 1 SƠ ĐỒ TỔ CHỨC (Trang 87)
SƠ ĐỒ 2 QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT CÔNG VIỆC - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nghiệp vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu tại công ty TNHH Liên Vận Minh Tường.doc
SƠ ĐỒ 2 QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT CÔNG VIỆC (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w