Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề làm lồng chim tại xãDân Hòa - Thị trường tiêu thụ: Chịu tác động mạnh mẽ của quy luật thị trường.Bởi vậy việc đáp ứng được nhu cầu và thị
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
-
-PHÙNG THỊ BÍCH THUẦN
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ LÀM LỒNG CHIM TẠI LÀNG VÁC, XÃ DÂN HÒA, HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2HÀ NỘI - 2015
Trang 3HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
-
-KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ LÀM LỒNG CHIM TẠI LÀNG VÁC, XÃ DÂN HÒA, HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Tên sinh viên : Phùng Thị Bích Thuần
Chuyên ngành đào tạo : Quản lý kinh tế
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả nêu trong khóa luận tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong khóa luận tốtnghiệp đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 2 tháng 6 năm 2015
Tác giả khóa luận
PHÙNG THỊ BÍCH THUẦN
Trang 5LỜI CÁM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, tôi xin chân thành cảm ơn đến toàn thể các thầy cô giáo trường Học Viện Nông Nghiệp Việt nam, các thầy cô trong Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản và có định hướng đúng đắn trong học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo trực tiếp
hướng dẫn tôi, CN Nguyễn Mạnh Hiếu đã giành nhiều thời gian trực tiếp
chỉ bảo tận tình, hướng dẫn tôi những hướng đi cụ thể, giúp tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin được trân trọng cảm ơn sự chia sẻ những khó khăn và sự giúp
đỡ tận tình của các anh, chị, các chú, các bác trong UBND xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội trong thời gian vừa qua, giúp tôi có thể hoàn thành tốt khóa luận của mình
Cuối cùng, tôi xin gửi tới gia đình, bạn bè, những người đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập, nghiên cứu cũng như trong thời gian thực hiện đề tài lời cảm ơn chân thành nhất.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả khóa luận
PHÙNG THỊ BÍCH THUẦN
Trang 6TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Nước ta là một nước nông nghiệp, nông dân chiếm 70% – 80% dân số
cả nước, người nông dân cần cù chăm chỉ sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên sảnxuất nông nghiệp mang tính chất mùa vụ nên thời gian nông nhàn rất nhiều.Nếu chỉ sống bằng sản xuất nông nghiệp thì thu nhập rất thấp Vì vậy thúcđẩy phát triển làng nghề, tạo công ăn việc làm cho nông dân sẽ thúc đẩy kinh
tế nông thôn phát triển hơn nữa
Tuy nhiên việc phát triển các làng nghề vẫn gặp nhiều khó khăn như:thị trường tiêu thụ không ổn định, thiếu vốn, giá cả đầu vào tăng cao, trình độtay nghề của lao động còn hạn chế… đang là những thách thức đối với cáclàng nghề ở nước ta hiện nay Làng nghề làm lồng chim tại làng Vác, xã DânHòa, huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội cũng đang gặp phải rất nhiều khó
khăn Xuất phát từ vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Giải pháp phát triển làng nghề làm lồng chim tại làng Vác, xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội”.
*Mục tiêu nghiên cứu này nhằm:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển làng nghề
- Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề làm lồng chim làng Vác
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề làm lồng
chim tại làng Vác
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển làng nghề làm lồng chim
tại làng Vác trong thời gian tới
*Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp thu thập sốliệu truyền thống Chọn địa điểm nghiên cứu là xã Dân Hòa Tài liệu sơ cấpthu từ việc điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên 60 hộ trong xã Phương pháp phântích và xử lý thông tin sử dụng công cụ chính là excel để từ đó đưa ra giảipháp phù hợp
*Kết quả nghiên cứu:
Thực trạng làng nghề làm lồng chim những năm gần đây
Trang 7- Số lao động làm lồng chim, sản lượng sản xuất của nghề lồng chim
và giá trị sản xuất của nghề làm lồng chim có sự sụt giảm nhẹ
- Chất lượng lao động còn hạn chế, số lao động tay nghề cao không nhiều
- Nghề làm lồng chim được làm bằng thủ công là chủ yếu với rất nhiềucông đoạn tỉ mỉ đòi hỏi sự khéo léo của người thợ
- Khoa học kỹ thuật chưa được áp dụng phổ biến trong làng nghề
- Vốn sản xuất ít so với tiềm năng phát triển và đang thiếu, vay vốn chosản xuất gặp nhiều khó khăn
- Giá nguồn nguyên liệu đầu vào tăng cao, cung chủ yếu là các tỉnhvùng núi phía Bắc như: Cao Bằng, Hòa Bình…Sản phẩm tiêu thụ rộng khắpcác tỉnh và xuất khẩu nhưng thị phần nhỏ
Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề làm lồng chim tại xãDân Hòa
- Thị trường tiêu thụ: Chịu tác động mạnh mẽ của quy luật thị trường.Bởi vậy việc đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu của khách hàng là vấn đề quantrọng đòi hỏi người làm lồng chim phải nghiên cứu, sáng tạo ra những sảnphẩm có chất lượng và mẫu mã phù hợp
- Vốn của hộ: Để phát triển nghề làm lồng chim thì việc có đủ vốn tạođiều kiện cho các hộ kinh doanh lồng chim phát triển là rất cần thiết Vấn đềđặt ra là cần phải tìm ra nguồn vốn cho làng nghề
- Nguồn nhân lực: Sản xuất trong các làng nghề chủ yếu là thủ công vì thế kinh nghiệm, tay nghề của người lao động có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của làng nghề
- Kỹ thuật công nghệ: là yếu tố quan trọng giúp nâng cao năng suất lao động
- Nguyên liệu đầu vào: Có vai trò quan trọng quyết định đến chất lượngcủa sản phẩm
-Kết cấu cơ sở hạ tầng: Kết cấu hạ tầng tốt sẽ là điều kiện và nhân tố quan trọng thúc đấy sản xuất phát triển Nếu kết cấu hạ tầng kém thì quy mô sản xuất của các hộ sản xuất trong làng nghề sản xuất lồng chim cũng chậm được mở rộng, làng nghề sẽ kém phát triển
Trang 8- Thương hiệu: Trong tình hình kinh tế thị trường hiện nay, được công nhận thương hiệu là một việc rất quan trọng trong công cuộc bảo tồn và phát triển làng nghề Khi có thương hiệu, khách hàng có thể phân biệt được sản phẩm của làng nghề này với làng nghề khác, hàng hóa sẽ bán chạy hơn, giá bán cao hơn và dễ xâm nhập thị trường
- Chính sách, chủ trương của Nhà nước: Các chính sách chủ trương củaNhà nước là rất quan trọng đối với phát triển các làng nghề, vì vậy Nhà nước cần
có những chính sách, giải pháp để hỗ trợ, thúc đấy làng nghề phát triển hơn nữa
Giải pháp phát triển làng nghề làm lồng chim
- Giải pháp về thị trường: mở rộng thị phần và thị trường tiêu thụ sản
phẩm, tìm kiếm thị trường mới cho sản phẩm của làng nghề
- Giải pháp về sản phẩm: Cải tiến sản phẩm, đa dạng hóa mẫu mã để
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dung
- Giải pháp về nguyên liệu đầu vào: Tìm kiếm các vùng nguyên liệu
đầu vào mới, giảm giá đầu vào
- Giải pháp về vốn: đa dạng hoá hình thức vay vốn và huy động vốn,
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
- Giải pháp về lao động: Đào tạo, nâng cao tay nghề cho người lao động
- Giải pháp về kỹ thuật, công nghệ: kết hợp công nghệ truyền thống với
công nghệ hiện đại, áp dụng tiến bộ kỹ thuật đưa máy móc thiết bị công nghệcao vào sản xuất
- Giải pháp về kết cấu hạ tầng: nâng cấp hệ thống đường giao thông, hệ
thống cung cấp thông tin
- Gắn làng nghề với phát triển du lịch: quy hoạch và phát triển làng
nghề, tổ chức công tác tuyên truyền quảng bá rộng rãi mô hình làng nghề gắnvới làng du lich; nâng cấp cơ sở hạ tầng, xây dựng các cơ sở sản xuất có quy
mô lớn phục vụ du khách đến thăm quan
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN iii
MỤC LỤC vi
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ix
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tương nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Một số khái niệm 4
2.1.2 Các đặc điểm cơ bản của làng nghề 7
2.1.3 Vai trò của làng nghề 9
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển của làng nghề 12
2.2 Cơ sở thực tiễn 15
2.2.1 Kinh nghiệm về phát triển làng nghề một số nước trên thế giới 15
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở Việt Nam 17
2.2.3 Các nghiên cứu có liên quan về phát triển làng nghề 24
2.2.4 Bài học kinh nghiệm về phát triển làng nghề 24
PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 27
3.1.1 Vị trí địa lý 27
Trang 103.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng 27
3.1.3 Điều kiện kinh tế, xã hội 29
3.2 Phương pháp nghiên cứu 37
3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 37
3.2.2 Phương pháp xử lý thông tin 38
3.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 38
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong đề tài 40
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
4.1 Thực trạng phát triển nghề làm lồng chim tại làng Vác, xã Dân hòa, huyện Thanh Oai, Hà Nội 42
4.1.1 Khái quát làng nghề làm lồng chim tại làng Vác, xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội 42
4.1.2 Thực trạng phát triển sản xuất và tiêu thụ lồng chim tại làng nghề 46
4.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề làm lồng chim 59
4.1.4 Thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức của làng nghề làm lồng chim 65
4.2 Một số giải pháp phát triển làng nghề làm lồng chim 69
4.2.1 Giải pháp về thị trường 69
4.2.3 Giải pháp về sản phẩm 72
4.2.4 Giải pháp về vốn 72
4.2.5 Giải pháp về lao động 73
4.2.6 Giải pháp về kỹ thuật và công nghệ 74
4.2.7 Giải pháp về kết cấu hạ tầng 75
4.2.8 Gắn làng nghề với phát triển du lịch 76
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
5.1 Kết luận 77
5.2 Kiến nghị 78
5.2.1 Đối với Nhà Nước 78
5.2.2 Đối với chính quyền địa phương 78
5.2.3 Đối với hộ và các cơ sở sản xuất 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 81
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã qua 3 năm 2012- 2014 29
Bảng 3.2 Tình hình dân số, lao động của xã Dân Hòa qua 3 năm 2012-2014 32 Bảng 3.3 Tình hình cơ sở hạ tầng của xã Dân Hòa năm 2014 34
Bảng 3.4 Tình hình phát triển kinh tế của xã Dân Hòa qua 3 năm 2012-2014 36
Bảng 3.5 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 37
Bảng 3.6: Phân lọai hộ điều tra 38
Bảng 4.1 Cơ cấu số hộ làm lồng chim của xã Dân Hòa qua 3 năm 2012 - 2014 .43 Bảng 4.2 Cơ cấu sản phẩm lồng chim của xã Dân Hòa qua 3 năm 2012 - 2014 .44 Bảng 4.3 Giá trị sản xuất lồng chim của xã Dân Hòa qua 3 năm 2012 - 2014 45
Bảng 4.4: Thông tin chung về các hộ điều tra năm 2014 46
Bảng 4.5 Phân công lao động trong nghề làm lồng chim 49
Bảng 4.6: Tình hình vốn đầu tư bình quân của các hộ/năm 50
Bảng 4.7: Nguyên liệu đầu vào của các hộ sản xuất năm 2014 52
Bảng 4.8: Tình hình sử dụng kỹ thuật công nghệ của hộ sản xuất năm 2014 53
Bảng 4.9: Giá bán bình quân 1 sản phẩm lồng chim năm 2015 55
Bảng 4.10: Cơ cấu hộ tiêu thụ theo vùng miền, chân lục năm 2014 56
Bảng 4.11: Hiệu quả sản xuất bình quân của các hộ sản xuất lồng chim năm 2014 58
Bảng 4.12: Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề làm lồng chim .59
Bảng 4.13: Hiệu quả sản xuất bình quân/năm của nhóm hộ áp dụng KH-KT và nhóm hộ không áp dụng KH-KT 62
Trang 12Làng nghềNguyên vật liệuSản xuất – kinh doanhThương mại – dịch vụTiểu thủ công nghiệpKinh tế xã hội
Ủy ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa
Trang 13PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một đất nước có nhiều làng nghề thủ công, đặc biệt làvùng châu thổ sông hồng Với đặc trưng của vùng sản xuất nông nghiệp mùa
vụ và chế độ làng xã, nghề thủ công xuất hiện khá sớm và gắn liền với lịch sửthăng trầm của dân tộc Các làng nghề đã hình thành, tồn tại và phát triểncùng với sự phát triển của xã hội, của cộng đồng
Làng Vác, xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội là làngnghề được mọi người biết đến với nghề làm lồng chim Làng nghề làm lồngchim ở làng Vác đã có từ lâu đời, theo lối cha truyền con nối Cho đến nay,dân làng Vác vẫn tự hào mỗi khi kể lại chuyện lồng chim làng Vác từng đoạthuy chương tại các kỳ đấu xảo ở Hà Nội thời Pháp thuộc Tuy nhiên một sốnăm gần đây trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước suy giảm, cùng vớinhững tác động của cơ chế thị trường và quá trình công nghiệp hóa mạnh mẽ
đã khiến nhiều làng nghề rơi vào tình trạng lao đao, thậm chí bị mai một Cáclàng nghề phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc duy trì sự phát triển sảnxuất như thị trường tiêu thụ không ổn định, thiếu vốn, giá cả đầu vào tăngcao, trình độ tay nghề của lao động chưa cao… đang là những thách thức đốivới các làng nghề thủ công nói chung và đối với làng nghề làm lồng chim Vácnói riêng
Vấn đề đặt ra là làm sao để duy trì, phát triển sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm lồng chim vác? Giải pháp nào thúc đẩy mục tiêu đó? Nghiên cứu thựctrạng nghề làm lồng chim tại làng vác hiện nay nhằm tạo cơ sở khoa học chocác giải pháp phát triển nghề, gìn giữ những giá trị văn hóa cổ truyền, nângcao đời sống cho nhân dân địa phương trong điều kiện công nghiệp hóa, hiệnđại hóa nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa truyền thống
Trang 14Xuất phát từ vấn đề trên, em tiến hành nghiên cứu đề tài “ Giải pháp phát triển làng nghề làm lồng chim tại làng Vác, xã Dân hòa, Huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội ’’
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng tới quá trìnhphát triển của làng nghề làm lồng chim, từ đó đề ra một số giải pháp nhằmđẩy mạnh phát triển làng nghề làm lồng chim Vác, xã Dân Hòa, huyện ThanhOai, thành phố Hà Nội
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển làng nghề
- Đánh giá thực trạng phát triển của làng nghề làm lồng chim tại làng Vác
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề làm lồngchim tại làng Vác
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển làng nghề làm lồng chim tạilàng Vác trong thời gian tới
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tương nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển làng nghề làm lồng chim Vác
- Đối tượng điều tra: Các hộ làm lồng chim trên địa bàn xã Dân Hòa, cán bộ
quản lý địa phương
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và các
yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của làng nghề làm lồng chim, từ đó đề xuấtmột số giải pháp phát triển làng nghề làm lồng chim tại làng Vác, xã DânHòa, huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội
Trang 15Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại làng nghề làm lồng chim xã Dân
Hòa, Huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội, từ đó suy rộng ra cả khu vựcnghiên cứu
Phạm vi về thời gian: tài liệu thứ cấp thu thập trong 3 năm gần đây từ
2012 – 2014 Tài liệu sơ cấp thông qua điều tra các hộ sản xuất lồng chimnăm 2015
Tiến hành đề tài trong thời gian từ 01/2015 đến 05/2015
Trang 16PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
nó làm nghề sinh sống Với quan niệm này thì làng nghề hiện không có nhiều
Có quan niệm cho rằng làng nghề là làng có làm nghề thủ công nhưng khôngnhất thiết tất cả dân làng đều làm nghề Với quan niệm này, rất khó xác địnhthế nào là làng nghề, bởi vì hầu như ở các làng, xã ở nước ta đều có nghề thủcông như nghề rèn, nghề đan lát, nghề mộc, nghề chạm khảm
Đề tài Khảo sát một số làng nghề truyền thống – chính sách và giảipháp (1996) của Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học quan niệm “Làng nghề làmột cộng đồng dân cư, một cộng đồng sản xuất nghề TTCN và nông nghiệp ởnông thôn” Quan niệm này mới nêu chung chung về mặt định tính mà chưanêu được mặt định lượng của làng nghề
Theo giáo sư Trần Quốc Vượng(1994) thì làng nghề là làng tuy vẫn cótrồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi gà, lợn, nhưng ở đó đã nổi trội mộtnghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bánchuyên nghiệp, sống chủ yếu bằng nghề đó
Tác giả Trần Yến(2004) quan niệm, làng nghề là một thiết chế KT –
XH ở nông thôn, được cấu thành bởi yếu tố làng và nghề, tồn tại trong mộtkhông gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sốngbằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế - xã hội vàvăn hóa
Thông tư số 116/2006/TT-BNN của bộ NN&PTNT hướng dẫn thựchiện một số nội dung Nghị định số 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ “Về phát
Trang 17triển ngành nghề nông thôn” quy định “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân
cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tựtrên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất
ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”
Từ một số quan niệm trên ta thấy rằng thuật ngữ làng nghề gồm hai yếutốt làng và nghề
*Làng là một tổ chức ở nông thôn nước ta, là sản phẩm tự nhiên phátsinh từ quá trình định cư và cộng cư của con người, ở đó họ sống, làm việc,quan hệ, vui chơi, thể hiện mối ứng xử văn hóa với thiên nhiên, xã hội và bảnthân họ Về cơ bản, cơ cấu làng được biểu hiện dưới hình những hình thức:
- Tổ chức theo khu đất cư trú Theo hình thức này, làng được chiathành nhiều xóm Các xóm thường cách nhau, mỗi xóm sinh hoạt riêng Xómphân thành nhiều ngõ, ngõ có một hay nhiều nhà
- Tổ chức theo huyết thống, dòng họ Dòng họ có vị trí và vai trò quantrọng trong làng Có làng có nhiều dòng họ, có làng chỉ có một dòng họ
- Tổ chức theo cơ cấu hành chính Làng có khi gọi là xã, có khi gọi làthôm, dưới thôn có xóm
- Tổ chức theo lớp tuổi Hình thức này chỉ dành riêng cho nam giới,phụ nữ không được vào Hiện nay, hình thức tổ chức này rất ít tồn tại
*Nghề trước hết được hiểu là nghề thủ công cụ thể như nghề dệt vải,nghề đúc đồng, nghề khảm trai, nghề gốm sứ, mây tre đan Lúc đầu nghề chỉlàm phụ trong các gia đình ở nông thôn, chủ yếu lúc nông nhàn Nhưng dầndần số người làm nghề thủ công càng nhiều, tách rời khỏi nông nghiệp và họsinh sống chính bằng thu nhập từ nghề đó ngay tại làng quê Ngày nay ngoàinghề thủ công trên, các hoạt động cung ứng dịch vụ ở nông thôn cũng đượcxếp vào nghề người ta gọi chung là nghề phi nông nghiệp Ngành nghề phinông nghiệp được mở rộng, bao gồm các hoạt động kinh tế phi nông nghiệpnhư: công nghiệp, TTCN, các dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống
Trang 18Như vậy, có thể quan niệm rằng làng nghề là một cụm dân cư như làng,thôn, ấp, bàn, buôn, phum, sóc, (gọi chung là làng) có sản xuất kinh doanhngành nghề nông thôn mà số hộ làm nghề và thu nhập từ các nghề đó chiếm
tỷ trọng cao
2.1.1.2 Lý thuyết về sự tăng trưởng, phát triển và phát triển làng nghề
Tăng trưởng được hiểu là sự gia tăng về mặt số lượng của một sự vật
nhất định Trong kinh tế, tăng trưởng thể hiện sự gia tăng hơn trước về sảnphẩm hay lượng đầu ra của một quá trình sản xuất hay hoạt động Tăngtrưởng kinh tế có thể hiểu là kết quả của mọi hoạt động kinh tế trong lĩnh vựcsản xuất cũng như trong lĩnh vực dịch vụ tạo ra trong một thời kỳ nhất định
Phát triển bao hàm ý nghĩa rộng hơn,không những tăng thêm về lượng
mà còn tăng thêm về chất, bên cạnh thu nhập bình quân đầu người còn baogồm nhiều khía cạnh khác Sự tăng trưởng cộng thêm các thay đổi cơ bảntrong cơ cấu của nền kinh tế, sự tăng lên của sản phẩm quốc dân do ngànhcông nghiệp tạo ra, sự tham gia của một quốc gia trong quá trình tạo ra cácthay đổi nói trên là những nội dung của sự phát triển Phát triển là việc nângcao phúc lợi của nhân dân, nâng cao các tiêu chuẩn sống, cải thiện sức khoẻ
và đảm bảo sự bình đẳng cũng như quyền công dân
Phát triển làng nghề trên cơ sở lý luận về tăng trưởng và phát triển, là
sự tăng lên về quy mô và phải đảm bảo hiệu quả sản xuất của làng nghề Sựtăng lên về quy mô làng nghề được hiểu là sự mở rộng về sản xuất của từnglàng nghề và số lượng làng nghề, trong đó làng nghề cũ được củng cố và làngnghề mới được hình thành Từ đó giá trị sản lượng của làng nghề khôngngừng được tăng lên, nó thể hiện sự tăng trưởng của làng nghề Sự phát triểncủa LN phải đảm bảo hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường (Nguyễn ChíThành, 2002)
Trang 192.1.2 Các đặc điểm cơ bản của làng nghề
2.1.2.1 Đặc điểm về địa lý, văn hóa
Làng nghề trước hết là nơi ở của cư dân ở nông thôn Trong làng có nhàthờ họ, đình, chùa chiền, miếu mạo, đền thờ, hệ thống giao thông, vườn cây,
ao cá, Làng nghề chứa đựng những giá trị tinh thần đậm nét, được phản ánhqua các tập tục, tín ngưỡng, lễ hội và nhiều quy định khác Các làng nghềtruyền thống còn hình thành các quy ước, luật lệ để gìn giữ bí quyết, bảo tồnnghề Trong làng nghề, còn mang rất đậm yếu tố văn hóa phần nào có nhữngyếu tố tâm linh Do đó, làng nghề còn là một di sản văn hóa quan trọng cầnđược bảo tồn và phát huy trong sự nghiệp phát triển văn hóa dân tộc và pháttriển đất nước
2.1.2.2 Đặc điểm về sản xuất
Sản xuất trong các làng nghề chủ yếu sử dụng kỹ thuật thủ công Nhiềuloại sản phẩm hoàn toàn dựa vào đôi tay khéo léo của người thợ Hiện nay,tuy đã áp dụng công nghệ - kỹ thuật vào 1 số khâu sản xuất nhưng một sốcông đoạn không thể áp dụng được, vẫn đòi hỏi phải duy trì kĩ thuật thủ công
Do đó, năng suất lao động ở các làng nghề không cao, chất lượng sản phẩmkhông đồng đều Do vậy, trong các sản phẩm làng nghề, công lao động chiếm
tỷ lệ cao trong giá thành sản phẩm Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trongviệc tạo thêm việc làm cho người dân nông thôn
2.1.2.3 Đặc điểm về thị trường
Thị trường là một yếu tố rất quan trọng, nó có ý nghĩa quyết đinh tới sự tồn tại
và phát triển đối với mỗi làng nghề Nếu thị trường các yếu tố đầu vào là yếu tốquyết định của quá trình sản xuất thị các yếu tố đầu ra lại có ý nghĩa quyết địnhcho sự tồn tại và phát triển của các làng nghề thông qua việc tiêu thụ sản phẩm.Thị trường cung cấp nguyên vật liệu: Nguyên liệu sản phẩm làng nghề chủyếu có nguồn gốc từ tự nhiên được nhập chủ yếu từ các tỉnh Cao Bằng, HòaBình như: Gỗ, tre, trúc, Điều đáng lưu ý là nguyên liệu thực vật như tre,
Trang 20trúc, rất dễ bị mối mọt nếu không khai thác đúng mùa vụ, không đủ tuổihoặc không được xử lý tốt thì một số nguyên liệu thực vật dễ hút ẩm nên cácmặt hàng làm từ nguyên liệu này dễ bị mốc, ngay cả trong quá trình sản xuất,lưu kho và trong quá trình vận chuyển
Thị trường công nghệ: Công nghệ sử dụng trong các LN cũng mang nhữngnét riêng biệt Qua quá trình lao động miệt mài của người thợ thủ công, họ đã tạo
ra những dụng cụ để phục vụ cho sản xuất Ngày nay dưới tác động của cuộccách mạng khoa học kỹ thuật thị trường công nghệ trong các làng nghề đã cóbước phát triển mới, thay thế những công đoạn thủ công để nâng cao năng suấtlao động, tăng hiệu quả sản xuất
Thị trường vốn: Trong quá trình sản xuất vai trò của vốn là khá lớn, tuy đãđược hình thành nhưng vẫn còn nhỏ bé so với sức phát triển của sản xuất Cáclàng nghề đang thiếu một khối lượng vốn lớn để phục vụ cho quá trình sảnxuất Các nguồn vốn tự có, vốn chiếm dụng và vốn vay là những nguồn vốnchủ yếu, có tác động quan trọng tới sự mở rộng quy mô sản xuất và duy trì sựphát triển của làng nghề
Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Đây là loại thị trường quan trọng, nó đóngvai trò quyết địng tới sự sống còn của làng nghề Sự ra đời của các LN là xuấtphát từ sự đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của người nông dân Cùngvới sự phát triển của sản xuất, thay đổi công nghệ và sự trao đổi hàng hoáđược mở rộng thì thị trường tiêu thụ các sản phẩm của các làng nghề ngàycàng khẳng định được chỗ đứng và vị thế của mình
2.1.2.4 Đặc điểm về lao động
LN truyền thống là một yếu tố không thể tách rời với nông nghiệp nôngthôn Do đó, lao động ngành nghề phần lớn là lao động nông nhàn với quy môsản xuất hộ gia đình Do nhu cầu phát triển của LN ngày càng lớn nên laođộng dần dần mở rộng ra khỏi phạm vi hộ gia đình và một phần thuê ngoài.Người lao động sản xuất ở các làng nghề tuy dồi dào, nhưng còn thiếu nhânlực quản lý và lao động kỹ thuật
Trang 212.1.3 Vai trò của làng nghề
2.1.3.1, Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn là nhằm phát triển kinh tế nôngthôn lên một bước mới về chất, làm thay đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động,
cơ cấu việc làm, cơ cấu giá trị sản lượng và cơ cấu thu nhập của dân cư nôngthôn bằng các nguồn lợi từ các lĩnh vực trong nông nghiệp và phi nôngnghiệp.Với mục tiêu như vậy, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thônngày càng được thúc đẩy, nó diễn ra ngay trong nội bộ ngành nông nghiệp và
cả các bộ phận hợp thành khác của cơ cấu kinh tế nông thôn Trong quá trìnhvận động và phát triển, các LN có vai trò tích cực trong việc góp phần tăng tỷtrọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng nôngnghiệp, chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngànhnghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn Trong thực tế, sự ra đời và pháttriển của các LN ngay từ đầu đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế xã hội nông thôn
Ở nông thôn, khi nghề thủ công xuất hiện thì kinh tế nông thôn không chỉ cònnông nghiệp thuần nhất, mà bên cạnh là các ngành thủ công nghiệp, thươngmại và dịch vụ cùng tồn tại và phát triển
2.1.3.2 Góp phần giải quyết việc làm tăng thu nhập cho người lao động ở nông thôn
Phát triển toàn diện kinh tế, xã hội nông thôn, tạo việc làm nâng cao đờisống cho dân cư nông thôn là vấn đề quan trọng ở nước ta hiện nay Là mộtnước sản xuất nông nghiệp là chính, dân số tập trung ở nông thôn chiếm tỷ lệcao, lao động chỉ tập chung vào những tháng mùa vụ, còn những lúc nôngnhàn thì không có việc làm Do vậy, vấn đề giải quyết công ăn việc làm cholao động nông thôn trở nên hết sức khó khăn, đòi hỏi sự hỗ trợ về nhiều mặt
và đồng bộ của các ngành nghề và các lĩnh vực
Trang 22Trong những năm gần đây hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp trong
đó bao gồm các nghề truyền thống đã thu hút hơn 11 triệu lao động và đóngvai trò rất quan trọng đối với vấn đề xóa đói giảm nghèo, góp phần nâng caochất lượng cuộc sống cho người lao động Tại các làng nghề, trung bình mỗi
cơ sở doanh nghiệp chuyên làm nghề tạo việc làm ổn định cho 27 lao độngthường xuyên và 8 - 10 lao động thời vụ Đặc biệt, ở làng nghề dệt, thêu ren,mây tre đan thì mỗi cơ sở có thể thu hút 200 - 250 lao động Mức thu nhậpcủa người lao động ở các làng nghề cao gấp từ 3 - 4 lần so với thu nhập củangười lao động thuần nông Nhiều làng nghề không những thu hút lao động ởtại địa phương mà còn thu hút lao động ở các địa phương khác Sự phát triểncủa các LN đã kéo theo sự phát triển và hình thành nhiều nghề khác, nhiềuhoạt động dịch vụ liên quan xuất hiện, tao thêm nhiều việc làm mới, thu hútnhiều lao động, tăng thu nhập cho người lao động và mức sống của dân cưnông thôn (Lê Hồng Anh và Nguyễn Hồng Hạnh, 2009)
2.1.3.3 Thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và lực lượng lao động, hạn chế di dân
Khác với một số ngành nghề công nghiệp, đa số các nghề thủ côngkhông đòi hỏi số vốn đầu tư lớn, bởi rất nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ công,thô sơ do thợ thủ công tự sản xuất được; đặc điểm của sản xuất trong các làngnghề là qui mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao động ít nên phù hợp với khả năng huyđộng vốn và các nguồn lực vật chất của các gia đình, đó là lợi thế để các làngnghề có thể huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân vào sản xuất kinhdoanh Mặt khác, do đặc điểm sản xuất lao động thủ công là chủ yếu, nơi sảnxuất cũng chính là nơi ở của người lao động nên bản thân nó có khả năng tậndụng và thu hút nhiều lao động, từ lao động thời vụ nông nhàn đến lao độngtrên độ tuổi hay dưới độ tuổi lao động, trẻ em vừa học và tham gia sản xuấtdưới hình thức học nghề hay giúp việc, lực lượng này chiếm một tỉ lệ đáng kểtrong tổng số lao động làng nghề
Trang 23Sự phát triển của làng nghề đã có vai trò tích cực trong việc hạn chế didân tự do ở nông thôn Quá trình di dân tự do hình thành một cách tự phát do
sự tác động của qui luật cung cầu lao động; diễn ra theo hướng di chuyển từnơi thừa lao động và giá nhân công rẻ đến nơi thiếu lao động với giá nhâncông cao, từ nơi có đời sống thấp đến nơi có đời sống cao Quá trình này xéttrên bình diện chung của nền kinh tế đã có những tác động tích cực làm giảmsức ép việc làm ở khu vực nông thôn, đáp ứng nhu cầu lao động giản đơn ởthành phố; đồng thời làm tăng thu nhập, nâng cao đời sống xã hội, giảm bớtđói nghèo cho người dân nông thôn Tuy nhiên, nó lại có những tác động tiêucực tới đời sống KT-XH, gây áp lực đối với dịch vụ, cơ sở hạ tầng xã hội ởthành thị và là một khó khăn lớn trong vấn đề quản lí đô thị
Việc phát triển các làng nghề được thúc đẩy ở khu vực nông thôn,ngoại thị là chuyển biến quan trọng tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập vàcải thiện đời sống nông dân Phát triển làng nghề theo phương châm “Lynông, bất li hương” không chỉ có khả năng giải quyết việc làm, nâng caothu nhập cho người lao động mà còn có vai trò tích cực trong việc hạn chếdòng di dân tự do ra đô thị
2.1.3.4 Đa dạng hóa nông thôn và xây dựng nông thôn mới
Đa dạng hoá kinh tế nông thôn là một biện pháp thúc đẩy nền kinh tếhàng hoá ở nông thôn phát triển, tạo ra một sự chuyển biến mới về chất gópphần phát triển kinh tế, xã hội nông thôn Sự phát triển của làng nghề đã phá
vỡ thế độc canh trong các làng thuần nông, mở ra hướng phát triển mới đemlại hiệu quả cao trong việc sử dụng hợp lý các nguồn lực ở nông thôn Pháttriển LN cùng với việc tăng thu nhập của người dân đã tạo ra một nguồn tíchluỹ khá lớn và ổn định cho ngân sách địa phương cũng như cho các hộ giađình Vì vậy, nguồn vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn được huy động
từ sự đóng góp của người dân và hỗ trợ từ ngân sách địa phương Trongnhững năm qua cơ sở hạ tầng ở nông thôn và đặc biệt là ở các làng nghề rất
Trang 24được chú ý phát triển Hệ thống đường giao thông và các hệ thống điện đượccải tạo và xây dựng, các hoạt động về dịch vụ, y tế, văn hoá, giáo dục đượcphát triển Phát triển LN không chỉ tạo điều kiện mà còn là nhân tố kích thích
sự phát triển cơ sở vất chất kỹ thuật và nâng cao dân trí ở nông thôn, thúc đẩy
xã hội nông thôn tiến lên, văn minh hiện đại, thu hẹp dần khoảng cách giữathành thị và nông thôn
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển của làng nghề
Thực tế, có nhiều nhân tố tác động đến sự phát triển của các LN và cácnhân tố này tác động, ảnh hưởng lẫn nhau Khái quát các nhân tố này theo 3nhóm là các nhân tố về kinh tế, nhân tố về chính sách và nhóm các nhân tố vềđiều kiện tự nhiên, văn hóa xã hội
2.1.4.1 Các nhân tố về kinh tế
Sự tồn tại và phát triển các LN phụ thuộc rất lớn vào sự biến đổi của thịtrường, những LN có khả năng đáp ứng và thích ứng với sự thay đổi nhu cầucủa thị trường thì có sự phát triển nhanh chóng Chính thị trường đã tạo địnhhướng cho sự phát triển của các LN Các hộ trong LN phải hướng ra thịtrường, xuất phát từ quan hệ cung cầu của hàng hóa dịch vụ, xuất phát từ nhucầu thị hiếu của người tiêu dùng trên thì trường để hoạch định, cải tiến SXKDphù hợp Ngày nay thị trường không còn bó hẹp là thị trường hàng hóa dịch
vụ mà các loại thị trường khác nhau như: thị trường tài chính, thị trường laođộng, thị trường bất động sản, thị trường khoa học – công nghệ đểu có ảnhhưởng đến sự phát triển của các LN
Trình độ kỹ thuật và công nghệ: Nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuấtkhẩu ngày càng cao, sự cạnh tranh của cơ chế thị trường đòi hỏi phải đa dạnghóa các sản phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm Do vậy các LNcũng phải không ngừng đổi mới trang thiết bị, công nghệ tiên tiến vào quátrình SXKD Trình độ kỹ thuật và công nghệ ảnh hưởng trực tiếp tới năngsuất, chất lượng, giá thành sản phẩm và do đó ảnh hưởng lớn đến năng lực
Trang 25cạnh tranh của sản phẩm Nó có thể quyết định sự tồn tại hay suy vong của cơ
sở sản xuất sản phẩm đó
Kết cấu hạ tầng: Các LN chỉ có thể phát triển mạnh ở những nơi có hệthống kết cấu hạ tầng đảm bảo và đồng bộ Trong điều kiện hội nhập kinh tế,cạnh tranh khốc liệt, thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng khắp, nguồn nguyênliệu cũng phải vận chuyển nơi xa về thì nhu cầu về hệ thống giao thông vậntải phát triển thuận lợi cho các LN giảm chi phí vận chuyển tạo điều kiện giaolưu phát triển thị trường, ký kết hợp đồng, liên doanh liên kết.v.v Hệ thốngcung cấp điện, nước, thoát nước, bưu chính viễn thông v.v cũng có ảnhhưởng rất lớn tới phát triển của các LN, đặc biệt là quá trình CNH, HĐH nôngnghiệp và nông thôn, những hạ tầng này tạo điều kiện cho áp dụng các tiền bộkhoa học công nghê, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khỏe ngườilao động, góp phần phát triển KT-XH bền vững
Vốn cho SXKD: Đây là nguồn lực quan trọng của quá trình SXKD Các
LN muốn đầu tư phát triển, mở rộng cơ sở sản xuất, đầu tư trang thiết bị mới,đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường v.v đều phải cần đến nhu cầu vốn.Vốn nhiều hay ít do nhu cầu quy mô, đặc điểm sản xuất sản phẩm các ngànhnghề ở từng LN Ngày nay các LN đang phát triển theo xu thế hiện đại, đadạng, chuyên môn hóa, sản phẩm hàng loạt thì nhu cầu về vốn là rất lớn Sựđáp ứng về vốn có một ý nghĩa quyết định cho sự hội nhập, cạnh tranh và pháttriển của các LN
Nguyên vật liệu: Sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương trướcđây là đặc điểm của LN và là nhân tố góp phần hình thành LN Nhưng trảiqua quá trình sản xuất lâu dài nguồn nguyên liệu sẵn có trong vùng đang dầncạn kiệt, đòi hỏi người sản xuất phải mua nguyên liệu từ các vùng khác Đâycũng là yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất
Nguồn nhân lực: Những nghệ nhân, và những người thợ thủ công có vaitrò đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển các LN Những nghệ
Trang 26nhân, những thợ thủ công lành nghề là những người truyền nghề, dạy nghề,đồng thời là những người sáng tạo ra các sản phẩm độc đáo Ngày này việcphát triển sản xuất theo hướng CNH, HĐH, hộp nhập, thị trường cạnh tranhđòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực cao.
2.1.4.2 Nhân tố về chính sách
Quá trình hội nhập và phát triển đòi hỏi cùng với quá trình đổi mới chínhsách Hệ thống các chính sách của nhà nước có những tác động to lớn có ý nghĩaquyết định tới sự phát triển KT-XH nói chung và các LN nói riêng Sự can thiệpcủa nhà nước vào các hoạt động SXKD trong điều kiện phát triển kinh tế thịtrường là một tất yếu, mà các công cụ quan trọng nhất là chính sách, đặc biệt làchính sách kinh tế Các chính sách này có vai trò trong việc hoạch định, hỗ trợ
LN phát triển, tạo môi trường SXKD cho sự phát triển của LN
2.1.4.3 Các nhân tố về điều kiện tự nhiên, truyền thống
Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, các nguồn tài nguyênthiên nhiên là những nguồn lực và là cơ sở của lợi thế so sánh của mỗi vùng,miền nói chung và các LN nói riêng Các nhân tố này có thể trở thành điềukiện để hình thành và phát triển LN, cũng có thể là đối tượng lao động để LNkhai thác và chế biến Vị trí địa lý thuận lợi cũng sẽ tạo cho sự giao lưu kinh
tế, mở rộng hợp tác, hội nhập kinh tế, phát triển thị trường tạo điều kiện chocác LN phát triển
Yếu tố truyển thống: Yếu tố này cũng có vai trò ảnh hưởng nhất định đến
sự phát triển LN Trong các LNTT các nghệ nhân, thợ cả có tay nghề cao lànhững hạt nhân để bảo tồn duy trì và phát triển LN Những nét độc đáo củasản phẩm truyền thống gắn với đặc trưng văn hóa của từng làng nghề lànhững giá trị vô hình tạo nên sự tồn tại phát triển của các LN Những luật lệ,quy ước, phong tục tập quán của các LN cũng tạo ra những phong cách riêng
về đạo đức nghề nghiệp và cũng có khi thúc đẩy LN và cũng có thể kìm hãn
sự phát triển các LN Những yếu tố truyền thống phải được kết hợp chặt chẽ
Trang 27với việc tiêp thu những yếu tố mới, đặc biệt là về khoa học công nghệ, thịtrường hội nhập và cạnh tranh để các LN và sản phẩm của nó vừa giữ đượcbản sắc văn hóa dân tộc vừa được xã hội, thị trường tiếp nhận và thúc đẩyphát triển.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm về phát triển làng nghề một số nước trên thế giới
Quá trình CNH – HĐH, đô thị hoá, thương mại hoá ở các nước đã cólúc làm cho những nét độc đáo, tinh sảo của những làng nghề bị phai nhạt, lu
mờ Nhưng với cách nhìn nhận mới, chính phủ các nước chú trọng làng nghề
là một bộ phận quá trình CNH nông thôn Ở Nhật Bản, Ấn Độ, TrungQuốc, người ta cho rằng muốn phát triển công nghiệp nông thôn phải chú ýđến ngành nghề và LN Từ đó tạo thị trường rộng lớn cho các sản phẩm củacác làng nghề, đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực ở nông thôn để phát triển
LN Các nước còn chú trọng rất lớn đến vai trò của nông nghiệp trong việcgiúp đỡ, hỗ trợ về tài chính, tín dụng cho làng nghề phát triển SX - KD Ởmỗi quốc gia, mỗi dân tộc có những ngành nghề, làng nghề SX - KD nhữngsản phẩm mang đậm nét của quốc gia, dân tộc đó Và cũng tuỳ thuộc vào điềukiện và chiến lược phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc mà làng nghề pháttriển có sự khác nhau
2.2.1.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản là một trong những nước có nền công nghiệp phát triển vàoloại bậc nhất thế giới Bên cạnh những ngành kinh tế hiện đại với các khucông nghiệp tập trung quy mô lớn thì ở các vùng thị trấn, thị tứ, làng xã ởnông thôn một mạng lưới các cơ sở công nghiệp vừa và nhỏ được xây dựng
Và đặc biệt các cơ sở công nghiệp gia đình ở nông thôn, các hộ làm nghề thủcông được chú trọng phát triển Các nghề thủ công truyền thống ở Nhật Bản:nghề đan lát, dệt chiếu, dệt lụa, rèn kiếm, các nghề thủ công mỹ nghệ, gốm
sứ, sơn mài
Trang 28Trong đó đáng chú ý có nghề rèn là nghề thủ công truyền thống pháttriển ở nhiều nơi trên đất nước Nhật Bản Thị trấn Takeo tỉnh Giphu là mộttrong những địa phương có nghề cổ truyền từ 700 – 800 năm, đến nay vẫntiếp tục hoạt động Hiện nay có khoảng trên dưới 200 hộ gia đình với khoảng
1000 lao động là thợ thủ công chuyên nghiệp, hàng năm sản xuất ra 9-10 triệunông cụ các loại với chất lượng cao, mẫu mã đẹp Mặc dù hiện nay Nhật Bản
đã trạng bị đầy đủ máy móc nông nghiệp và trình độ cơ giới hoá các khâucanh tác 95% nhưng nghề sản xuất nông cụ cũng không giảm sút nhiều
Trong quá trình công nghiệp hoá nông thôn, chính phủ Nhật Bản đãrất chú trọng tới việc khôi phục và phát triển các nghề thủ công truyền thống
ở các tỉnh, các vùng khác nhau của đất nước Một loạt những quy định củapháp luật ra đời nhằm khôi phục và phát triển nghề thủ công mỹ nghệ truyền
thống gọi tắt là “Luật nghề truyền thống”.
2.1.2.2 Kinh nghiệm của Ấn Độ
Ấn Độ có nhiều nghề và làng nghề được hình thành từ rất lâu tronglịch sử và còn tồn tại đến ngày nay Hiện nay có hàng triệu người đang sốngbằng nghề thủ công Các nghề ở Ấn Độ bao gồm nghề tác kim hoàn, đồ transức, gốm mỹ nghệ, sản xuất tơ lụa Trong sỗ những nghề thủ công thì nghềchế tác kim hoàn và trang sức là một trong những nghề mũi nhọn, nghề hoạtđộng có hiệu quả cao và thu ngoại tệ nhiều nhất Ngành công nghiệp đã quýcủa Ấn Độ đứng đầu trên thị trường thế giới, các mặt hàng này chủ yếu đượcxuất khẩu sang Mỹ, Hồng Kông
Ấn Độ cũng rất chú trọng và có nhiều biện pháp, chính sách để hỗ trợcác nghề Ngoài chính sách hỗ trợ về vốn, đầu tư cơ sở hạ tầng thì chình phủcòn rất chú trọng đến việc tăng cường và bồi dưỡng nguồn nhân lực Thợ thủcông được chính phủ quan tâm cả về mặt vật chất lần tinh thần, trong đó cácnghệ nhân và thợ cả được coi như vốn quý của quốc gia Hàng năm chính phủ
tổ chức cấp giải thưởng quốc gia cho thợ cả Những sự quan tâm đó đã
Trang 29khuyến khích, động viên những người thợ giỏi tâm huyết với nghề, góp phầnvào việc duy trì và phát triển các nghề của đất nước
2.1.2.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là nước có nhiều nghề phát triển Từ xa xưa nó đã thực sựnổi tiếng với các sản phẩm nghề dệt, nghề gốm, nghề giấy, nghề đúc kimhoàn trải qua nhiều biến đổi trong các thời kỳ lịch sử, nhiều nghề thủ côngtruyền thống vẫn được bảo tồn và phát triển Phát triển nghề được chính phủTrung Quốc rất quan tâm coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọngcủa công cuộc công nghiệp hóa nông thôn Nhiều chính sách đã được banhành và thực hiện thành công Các chính sách hỗ trợ nghề thủ công bao gồm:Chính sách hỗ trợ về vốn, chính sách thuế, chính sách xuất khẩu, chính sáchbảo hộ nội địa
Trung Quốc đã có một thời gian, hàng của các làng nghề sản xuất rahầu hết không bán được do không đáp ứng được nhu cầu thị trường về chấtlượng, mẫu mã sản phẩm nhiều cơ sở đã bị thua lỗ, phá sản Nguyên nhân củakhó khăn trên là do kỹ thuật thủ công lạc hâu, quy mô sản xuất nhỏ và phântán, năng suất thấp, chất lượng kém Để khắc phục những khó khăn này thìchính phủ Trung Quốc đã đề ra chương trình “Đốm lửa” nhằm chuyển giaocông nghệ và khoa học ứng dụng tiên tiến tới những vùng nông thôn, kết hợpkhoa học kỹ thuật với kinh tế
Với chương trình “Đốm lửa” thì nghề thủ công của Trung Quốc đã dầndần ra khỏi khó khăn và tạo ra một đột phá mới trong phát triển các nghề thủcông của mình
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở Việt Nam
2.2.2.1 Kinh nghiệm của tỉnh Hà Tây(cũ)
Tỉnh Hà Tây (cũ) từ xưa vốn đã nổi tiếng là mảnh đất “làng nghề, làng
văn”,hiện có 411 làng nghề, chiếm 1/5 số lượng làng nghề cả nước, với
những sản phẩm thủ công truyền thống nổi tiếng trên toàn quốc như lụa Vạn
Trang 30Phúc, khảm tai Chuyên Mỹ, hàng mây tre đan Phú Vinh, tượng gỗ Sơn Đồng,giò chả Tân Ước, nem Phùng, sơn mai Hạ Thái, tranh thếu Quất Động, đồ tiệnNhị Khê Giá trị sản xuất từ khu vực kinh tế này đem về cho Hà Tây khoảng
3000 tỉ đồng mỗi năm Trong đó nhiều LN đạt mức doanh thu mỗi năm trên
70 tỉ đồng, giải quyết việc làm cho 140.000 hộ nông dân và nhiều lao động ởcác doanh nghiệp, hợp tác xã Trong những gần đây, cùng với sự phát triểncủa LN mới, lao động LN tăng hàng năm hơn 14%, giá trị sản xuất tăng dầnhằng năm gần 29,2%
Để có đượcc những kết quả trên, chính quyền và nhân dân các làngnghề tỉnh Hà Tây đã phối hợp cũng thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, kết hợp nhiều nguồn khác nhau để giải quyết vốn cho sản xuất.
Để có vốn đầu tư, bên cạnh nguồn vốn tự do có ( chiếm khoảng 70 –80% tổng số vốn đầu tư của các làng nghề), các làng nghề Hà Tây đã huyđộng nguồn vốn hỗ trợ từ các chương trình của Nhà nước Nguồn vốn này đếnvới các làng nghề dưới nhiều hình thức gián tiếp như: hàng năm tỉnh hỗ trợkinh phí cho đầu tư xây dựng cơ bản, nhất là hệ thống cơ sở hạ tầng: điện,đường, trạm ; ngoài ra, các làng nghề còn được tỉnh hỗ trợ các vốn từ cácchương trình của Nhà nước như: chương trình xóa đói giảm nghèo, chươngtrình quốc gia giải quyết việc làm, hỗ trợ khuyến khích phát triển ngành nghềnông thôn và LN ( tổ chức các lớp truyễn nghề, nhân cấy nghề, đào tạo nghềcho người lao động) Tuy nhiên, nguồn vốn này thường nhỏ, khó tiếp cận vàkhông thường xuyên, đối tượng trực tiếp hưởng nguồn vốn này chủ yếu là các
LN còn có hộ nghèo cần giải quyết việc làm, còn đối với những LN đã pháttriển thì vốn này chẳng đáng là bao Do đó, người dân đã tìm đến nguồn vốnvay Vốn vay tín dụng đang trở thành một nguồn vốn quan trọng đối với sựphát triển của các LN Hiện nay ở Hà Tây có 4 tổ chức tín dụng chính thứccung cấp tín dụng thương mại cho các LN, đó là: Ngân hàng Nông nghiệp và
Trang 31Phát triển nông thôn, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Đầu tư và pháttiển, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân Trong đó, Ngân hàng Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn giữ vai trò chủ đạo Bên cạnh đó, các doanh nghiệp LNcòn liên kết để trợ giúp nhau về vốn bằng nhiều hình thức như trước vốn đểdoanh nghiệp vệ tinh tiến hành sản xuất (có khi đến 30 – 40% chi phí sảnxuất) mà không phải trả lãi
Thứ hai, không ngừng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Không giới hạn việc tiêu thụ trong phạm vi địa phương, các làng nghề
đã tìm cách mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm Nhờ có nhiều nét độc đóanên sản phẩm các LN ở Hày Tây không những được tiêu thụ ở thị trườngtrong vùng mà còn tiêu thị rộng rãi trên phạm vi cả nước Số lượng hàng xuấtsang các nước Nga, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan,Mỹ ngày càng nhiều Ngoài ra, các LN còn chú trọng khai thác thị trường dulịch dịch vụ Đây là thị trường có tiềm năng lớn với khối lượng khách nướcngoài ngày một nhiều, do đó sản phẩm Ln bán ra cho du khách không ngừngtăng lên
Thứ ba, tăng cường tuyên truyền, quảng bá sản phẩm dưới nhiều hình
thức (tham gia hội trợ, hội nghề, xây dựng các trang web quảng cáo )
Với lợi thế thị trường vùng ven thủ dô Hà Nội – nơi tập trung các hộinghề nghiệp của cả nước – Hà Tây thường xuyên được tiếp cận với nhữngythoong tin về thị trường, quảng cáo mặt hàng, triễn lãm và hội chợ Hàngnăm, Sở du lịch Hà Tây tổ chức hội chợ LN truyền thống Hà Tây thu húthàng vạn lượt người đến tham quan Qua đó giới thiệu với du khách các nghề
cổ truyền và sản phẩm thủ công nổi tiếng của tỉnh như khảm trai Chuyên Mỹ,nghề thuê ở Quất Động, nghề dệt ở Vạn Phúc, nghề nón làng Chuông, nghềquạt làng Vác, mây tre Phúc Vinh, tượng gỗ Sơn Đồng, nghề rèn Đa Sĩ
Trang 32Thứ tư, gắn LN với phát triển du lịch.
Đây đang là một hướng phát triển du lịch và LN ở nhiều quốc gia trênthế giới Bên cạnh những lợi ích kinh tế, xã hội, hình thức du lịch này còn gópphần bảo tồn và phát huy những bản sắc dân tộc độc đáo của từng địaphương Là tỉnh tập trung nhiều LN nhất cả nước, Hà Tây thu hút khách thamquan bằng cách tổ chức lễ hội du lịch LN truyền thống thường xuyên nhằmquảng bá các sản phẩm của LN trong tỉnh Tại những kỳ hội chợ, nhiều LN đã
có cơ hội kỳ hợp đồng xuất khẩu tại chỗ, mang lại giá trị hàng tỉ đồng/năm.Bên cạnh đó, Sở cũng thường xuyên tổ chức cac tour đi về trong ngày Giámỗi tour như vậy thường không quá 300.000 đồng/người Năm 2007, sau khikhảo sát hàng trăm LN trong tỉnh, lãnh đạo tỉnh Hà Tây quyết định chọn thíđiểm 10 LN kí hợp du lịch để quy hoạch trong đợt 1 Năm 2008, 3 LN dulịch trong số 10LN mây tre đan Phú Nghĩa, khảm trai Ngọ Hạ, tạc tượng SơnĐồng đã được đưa vào hoạt động Chỉ riêng làng mây tre đan Phú Nghĩa(huyện Chương Mỹ) đã có 5.000 – 6.000 lượt khách đến thăm quan trongnăm, chủ yếu là khách du lịch nước ngoài, nhiều khách du lịch đã lưu lại hànggiờ trong các gia đình để “xin thử tay nghề”
Thứ năm, thành lập các hiệp hội LN để giao lưu học hỏi kinh nghiệm
và điều hành giám sát chất lượng sản phẩm như Hiệp hội thủ công mỹ nghệ
LN Hà Tây, Hiệp hội những người làm nghề sơn mài ở Hạ Thái, Hiệp hộinghề rèn Đa Sỹ Các hiệp hội LN đã góp phần không nhỏ vào việc cũng hợptác giới thiệu sản phẩm, truyền bá kinh nghiệm, tạo thương hiệu cho sản phẩm
và hướng nghiệp, dạy nghề cho thanh niên, góp phần duy trì và phát triểnnghề truyền thống, tổ chức quỹ phúc lợi đề phát triển mọi mặt văn hóa, xã hội
ở nông thôn tỉnh Hà Tây
Trang 33Thứ sáu, chú trọng đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng sản
phẩm và đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuát khẩu
Trong những năm gần đây, hầu hết các doanh nghiệp trong các LN ở
Hà Tây nói riêng và cả nước nói chung đều đầu tư máy móc, trang thiết bịhiện đại Nhờ đó năng suất lao động cũng như chất lượng sản phẩm tăng cao
Có thể lấy LN làm chăn, gối bông Trát Cầu làm ví dụ Để cạnh tranh đượctrên thị trường hiện nay, các doanh nghiệp LN Trát Cầu đã có một sự vươnlên mạnh mẽ trong công nghệ làm sản phẩm, làng có trên 30 bộ máy vi tínhcông nghệ cao của Hàn Quốc, Nhật Bản để làm chăn, gối Do đó máy móccông nghệ cao lại kết hợp với những tinh tế truyền thống nên năng suất, chấtlượng sản phẩm cao hơn trước kia nhiều lần Trước đây, 2 sợ bông làm được
1 – 2 chăn/ngày thì hiện tại với 4 thợ/1 dàn máy làm được 90 – 100 chănbông/ngày Chất lượng chăn cũng không ngừng tăng cao, nếu làm thủ côngthì chỉ có giá trị 50 – 60 nghìn đồng/ chăn thì đến nay giá trị đã lên tới 320nghìn đồng/ chăn Thị trường tiêu thụ sản phẩm của LN cũng không ngừngđược mở rộng, ngoài thị trường trong nước sản phẩm còn được xuất sang một
số nước Đong Nam Á như Lào, Campuchia
2.2.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh
Tỉnh Bắc Ninh được cả nước biết đến không chỉ bởi những làn điệuquan họ mượt mà, đằm thắm mà còn là địa phương có nhiều nghề thủ công cổtruyền như LN luyện và cán thép Đa Hội, làng mộc Đồng KỴ, dệt nhuộm, inhoa ở các xã Tương giang (Từ Sơn), Hoài Thượng, Song Hồ (Thuận Thành),Cao Đức (Gia Bình), thêu ren Đại Lai (Gia Bình), tơ tằm nội duệ (Tiên Du),Vọng Nguyệt (Yên Phong), gốm sứ Phù Lãng ( Quế Võ)… Tuy là một tỉnhmới được tái lập ( năm 1997), nhưng GDP của Bắc Ninh luôn có bước tăngtrưởng cao, với nhịp độ bình quân hàng năm đạt 12,9% (riêng năm 2005 tăng
Trang 3414,5%); giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tăng gấp nhiều lầntrước khi tái lập tỉnh, trong đó phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của các LN.
Có được kết quả như trên , tỉnh Bắc Ninh đã và đang thực hiện nhiềugiải pháp quan trọng như xây dựng và quản lý các cụm công nghiệp LN, đadạng hóa các hình thức tổ chức ản xuất kinh doanh, mở rộng và phát triểnđồng bộ thị trường LN, nâng cao chất lượng hàng hóa của LN, đào tạo pháttriển nguồn nhân lực…, trong đó nổi bật là chủ trương xây dựng các khu vàcụm công nghiệp LN
Sau 10 năm quy hoạch xây dựng, đến nay tỉnh Bắc Ninh đã phát triểnđược 25 cụm công nghiệp LN với diện tích mặt bằng 628ha Cụm côngnghiệp đã thu hút được 761 cơ sở sản xuất kinh doanh với diện tích đất chothuê 197,3ha Tổng số vốn đăng ký kinh doanh 2.114 tỷ đồng và hơn 20 triệuUSD Năm 2006, giá trị công nghiệp đã đạt 3361,8 tỷ đồng Các khu côngnghiệp vừa và nhỏ, cụm công nghiệp LN đã thu hút, sử dụng gần 15,400 laođộng, chủ yếu là lao động địa phương, góp phần giải quyết tình trạng dư thừalao động trên địa bàn hiện nay
Sự thành công bước đầu của tỉnh Bắc Ninh trong việc phát triển các LNtheo hướng xây dựng các khu, cụm công nghiệp đã để lại môt số bài học kinhnghiệm sau:
Một là, có các chính sách ưu đãi để khuyến khích nhiều doanh nghiệptham gia vào các cụm công nghiệp LN Mọi doanh nghiệp khi vào cụm côngnghiệp sẽ được hưởng ưu đãi cao nhất như: miễn tiền thuê đấttrong 10 nămliên tục và giảm 5% cho những năm tiếp theo hoặc được miễn giảm thuế thunhập doanh nghiệp và được xét hỗ trợ thêm tù 10 – 30% giá trị đền bù thiệthại về đất nếu có
Trang 35Hai là, xây dựng các cum công nghiệp LN phù hợp với đặc điểm riêngcủa từng làng, từng nghề Vì vậy, Bắc Ninh có chủ trương chỉ thực hiện việc
di dời dối với những khâu sản xuất đồng bộ, những công đoạn lắp ráp hoànchỉnh sản phẩm Đối với hoạt động sản xuất những chi tiết nhỏ lẽ, không ảnhhưởng đến môi trường, sức khỏe của cộng đồng thì vẫn được sản xuất, kinhdoanh ở những hộ gia đình nhằm đảm bảo phù hợp với điều kiện và tập quánlao động của người dân trong làng nghề
Ba là, lập ra Ban quản lý khu công nghiệp làng nghề để điều hành cáckhu,các cụm công nghiệp làng nghề hoạt động có hiệu quả Ban quản lý cáckhu công nghiệp làng nghề có nhiệm vụ giúp các cấp, các ngành, trước hết làUBND cấp xã, huyện thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước đối với các khucông nghiệp làng nghề Ban quản lý này là một đơn vị sự nghiệp có thu,có tưcách pháp nhân, được sử dụng con dấu và mở tài khoản theo quy định hiệnhành của nhà nước Ban quản lý các khu công nghiệp làng nghề là cơ quan trựctiếp quản lý các khu công nghiệp làng nghề, đồng thời là đầu mối phối hợp các
cơ quan chuyên môn của UBND huyện, thị xã, các tổ chức kinh tế - xã hội vàUBND các xã có khu công nghiệp LN để giải quyết những vấn đề phát sinhtrong việc quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp LN
Bốn là, UBND huyện, thị xã lãnh đạo trực tiếp ban quản lý các khucông nghiệp LN, đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của cácnghành chức năng thuộc UBND tỉnh Ban quản lý các khu công nghiệp là đầumối triển khai, thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, trựctiếp xây dựng điều lệ quản lý các khu công nghiệp làng nghề, trực tiếp triểnkhai quy hoạch chi tiết, đươc UBND huyện ủy quyền quản lý trước, trong vàsau khi đầu tư đối với các khu công nghiệp làng nghề
Trang 362.2.3 Các nghiên cứu có liên quan về phát triển làng nghề
Hiện nay có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề phát triển các LN ởnông thôn nước ta Các nghiên cứu xoay quanh việc làm thế nào để bảo tồn,phát triển cac làng nghề, nâng cao vai trò trong phát triển kinh tế mỗi địaphương, xây dựng các mô hình LN phủ hợp với sự phát triển của đặc điểm tựnhiên, văn hóa của từng vùng
“Giải pháp phát triển làng nghề tại huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam” của
Nguyễn Văn Khỏe (2010) Tác giả cứu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởngđến phát triển làng nghề tại huyện Kim Bảng, đề xuất phương hướng và cácgiải pháp thúc đẩy sự phát triển làng nghề nhằm giải quyết việc làm, nâng caothu nhập cho người dân và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thônhuyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam
Nghiên cứu của TS Dương Bá Phượng (2001), “Bảo tồn và phát triển
các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa”, NXB Khoa học xã hội Hà
Nội Bảo tồn và phát triển làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa tức làkết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại, vừa gìn giữ giá trị văn hóa tốtđẹp của sản phẩm làng nghề, vừa nâng cao năng suất, chất lượng, cải tiến mẫu
mã của sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Nghiên cứu đãchỉ ra được nguồn gốc, vai trò làng nghề, thực trạng làng nghề hiện nay, tiềmnăng, hạn chế, xu hướng vận động của làng nghề và một số giải pháp về cơchế, chính sách bảo tồn và phát triển làng nghề mà chưa đưa ra được các giảipháp cụ thể cho từng làng nghề cụ thể
2.2.4 Bài học kinh nghiệm về phát triển làng nghề
Từ thực tiễn phát triển LN ở một số nước và của Việt Nam ở trên, có thếrút ra một số kinh nghiệm sau:
Trang 37- Một là, phát triển làng nghề gắn với quá trình công nghiệp hóa nông thôn.
Trong quá trình đô thị hoá, thương mại hóa ở các nước đã có lúc làmcho nét độc đáo, tinh xảo của các LN bị phai nhạt, lu mờ Nhưng với cách nhìnnhận mới, các nước đã chú trọng và coi LN là một bộ phận của quá trình côngnghiệp hóa nông thôn Do vậy khi tiến hành công nghiệp hóa họ thường kếthợp thủ công với công nghệ hiện đại tùy điều kiện cơ sở vật chất của mỗi nước,mỗi vùng Đồng thời tổ chức các cơ sở sản xuất gần vùng nguyên liệu và đặt tạilàng xã có LN để tiện cho việc phát triển sản xuất, giao lưu hàng hóa
- Hai là, chú trọng đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực ở nông thôn.
Đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực ở nông thôn có vai trò quan trọngđối với sự nghiệp phát triển của LN Vì thế các nước đều chú ý đầu tư chogiáo dục và đào tạo tay nghề cho người lao động để họ tiếp thu được kỹ thuậttiên tiến Bởi vì, việc hình thành một đội ngũ lao động có tay nghề cao là rấtquan trọng Nếu thiếu yếu tố này thì việc tiếp thu khoa học công nghệ sẽkhông thành công như mong đợi Nhìn chung các nước đều triệt để sử dụngnhững phương pháp huấn luyện tay nghề cho người lao động như: bồi dưỡngtại chỗ, bồi dưỡng tập trung, bồi dưỡng ngắn hạn theo phương châm thiếu gìhuấn luyện nấy Xúc tiến thành các trung tâm, các viện nghiên cứu để đào tạomột cách có hệ thống mà các cơ sở sản xuất hoặc các địa phương có nhu cầu
Để đào tạo và bồi dưỡng tay nghề cho người lao động, các nước cũng rất chú
ý đến kinh nghiệm thực tiễn, tức là mời những nhà kinh doanh, những nhàquản lý có kinh nghiệm trong việc công nghiệp hóa nông thôn để báo cáo một
số chuyên đề tập huấn hoặc mang sản phẩm đi triển lãm, trao đổi
- Ba là, nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc giúp đỡ, hỗ trợ về tài chính cho làng nghề phát triển sản xuất kinh doanh.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của LN, từ vài thập kỷ gần đâyNhà nước rất quan tâm, có nhiều chủ trương chính sách đề cập đến vấn đề
Trang 38phát triền LN Trong đó chủ trương hỗ trợ về tài chính, tín dụng đóng vai tròhết sức quan trọng trong sự phát triển của LN Sự hỗ trợ tài chính, vốn củaNhà nước được thông qua các dự án cấp vốn, bù lãi suất ngân hàng, hoặc bùgiá đầu ra cho người sản xuất Nhà nước tạo điều kiện cho các LN đổi mớicông nghệ mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa và sức cạnhtranh trên thị trường
- Bốn là, phải biết lựa chọn sản phẩm mang tính đặc thù của từng làng,
tùng địa phương dựa trên điều kiện địa lý, kinh tế, lợi thế so sánh và bản sắcvăn hóa của từng làng, từng vùng để sản xuất ra sản phẩm đặc trưng cung cấpcho thị trường trong nước và thế giới
- Năm là, đẩy mạnh sự liên kết giữa các cơ sở sản xuất, các hộ gia đình
trong các LN, giữa các làng nghề với nhau, giữa các cơ sở sản xuất tiểu thủcông nghiệp với nông dân trong chế tạo sản phẩm, xác định giá cả, tiêu thụsản phẩm, đào tạo, bồi dưỡng tay nghề cho lao động
Trang 39PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Vị trí địa lý
Xã Dân Hòa nằm cách trung tâm huyện Thanh Oai 5 km về phía Nam,
có ranh giới địa lý như sau: Phía Bắc giáp xã Phương Trung; Phía Tây giáp xãCao Dương; Phía Đông giáp xã Tân Ước; Phía Nam giáp xã Hồng Dương Xã
có đường giao thông 21B chạy qua và ngã tư, chợ vác rất thuận lợi cho việcphát triển ngành nghề và kinh doanh dịch vụ phát triển kinh tế gia đình
3.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng
3.1.2.1 Địa hình
Địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi phát triển nông nghiệp đadạng với các sản phẩm có giá trị kinh tế cao như: thóc nếp đặc sản, lợn nạc,thủy sản, cây gia vị, rau an toàn, hoa và cây cảnh
3.1.2.2 Thời tiết và khí hậu
Xã Dân Hòa cũng như nhiều địa phương khác thuộc đồng bằng châuthổ sông Hồng, chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu nhiệt đới gió mùa:
- Một năm chia làm hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 4 đến tháng
9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau
- Nhiệt độ bình quân năm 23,40C, nhiệt độ trung bình hàng thángcao nhất là 28,80C (tháng 7), thấp nhất là 16,20C (tháng 1)
- Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1600 – 1700 mm, nhưng phân
bố không đều giữa các tháng trong năm Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5đến tháng 8 với 75% tổng lượng mưa, những tháng còn lại ít mưa (chỉchiếm khoảng 25% tổng lượng mưa), đặc biệt là tháng 11 và tháng 12lượng mưa thấp
Trang 40- Số giờ nắng trung bình/năm là 1832,9 giờ (trung bình 5,1giờ/ngày) Số giờ nắng cao nhất là tháng 7 với 265 giờ, tháng ít nhất làtháng 3 với số giờ nắng từ 70 đến 90 giờ.
- Hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc (vào mùa khô hanh)
và gió mùa đông nam vào mùa nóng ẩm
- Thảm thưc vật: Hệ thống cây trồng phong phú đa dạng, bao gồm các câyhàng năm như lúa, ngô, rau, cây ăn quả, hoa, cây cảnh Hệ thống cây xanh trongcác khu dân cư chiếm tỷ lệ trung bình Để phát triển nông nghiệp theo hướngbền vững trong tương lai cần tiếp tục chuyển dịch cơ cấu sản xuất để phát triểnmạnh sản xuất hàng hóa và chú trọng bảo vệ môi trường
- Cảnh quan và môi trường: Đình, chùa làng xã Dân Hòa đã được Bộvăn hóa thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 1985 Cáccông trình đình chùa mang đậm nét văn hóa của làng quê Việt Nam