1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính tại xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

95 757 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 849,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các vấn đề liên quan đến quản lýchuỗi giá trị cá rô phi đơn tính xã Ngọc Châu chưa được quan tâm nhiều, đặcbiệt là các vấn đề như xác định giá trị gia tăng và mức độ phân phối lợi nhuậnt

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong khoáluận này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng và công bố trongbất kỳ nghiên cứu nào

Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đều

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõnguồn gốc

Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Thiện Việt

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập ở trường và thời gian thực tập, tôi đã nhậnđược sự giúp đỡ rất nhiều của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài trường.Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến những người đã giúp đỡ tôi hoànthành tốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài tốt nghiệp

Đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô giáo trong KhoaKinh Tế & PTNT Học viện Nông nghiệp Việt Nam Đặc biệt, tôi xin gửi lờicảm ơn sâu sắc đến thầy giáo TS Nguyễn Hữu Khánh và thầy giáo CN PhanXuân Tân là người đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập vàhoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Tiếp đến, tôi xin chân thành cảm ơn tới UBND xã Ngọc Châu và cáccán bộ xã, các đoàn thể trên địa bàn xã đã tạo điều kiện cho tôi được thực tập,học hỏi và nghiên cứu Qua đó, nâng cao hiểu biết và kinh nghiệm thực tiễntrong hoàn thiện khóa luận, cũng như thực hiện tốt công việc sau này

Sau cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã giúp đỡ tôitrong quá trình học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Thiện Việt

Trang 3

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Thủy sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ViệtNam Năm 2010 giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 4.5 triệu USD, chiếm 7,5%tổng kim ngạch xuất khẩu và đóng góp khoảng 5,3% GDP của Việt Nam(VASEP, 2010) Sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt trên

150 quốc gia trên toàn thế giới, trong đó EU, Mỹ, Nhật là những thị trườngchủ chốt, chiếm khoảng 60% về khối lượng và 70% về giá trị xuất khẩu(VASEP, 2010)

Bắc Giang là tỉnh thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc, có tiềm năng

và lợi thế phát triển nuôi thủy sản nước ngọt, tổng diện tích các loại hình mặtnước (mặt nước lớn, sông suối, ao hồ, ruộng trũng ) có khả năng đưa vào sửdụng để nuôi thủy sản khoảng 26.120 ha Trong những năm qua, ngành thủysản Bắc Giang đã và đang trên đà phát triển cùng với sự phát triển chung củangành thuỷ sản cả nước, đã thu được những thành tựu đáng kể: năm 2005diện tích nuôi thủy sản 9.765 ha, đến năm 2011 diện tích nuôi thủy sản đạt12.009 ha, so với năm 2005 tăng 2.244 ha (đạt tốc độ TTBQ giai đoạn 2005-

2011 là 3,28%/năm) Sản lượng nuôi thủy sản tăng từ 2005 là 6.028 tấn, đếnnăm 2011 đạt 21.396 tấn, tăng 13.368 tấn so với năm 2005 (đạt tốc độ TTBQ

về sản lượng là 23,5%/năm)

Xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang với dân số hơn 1.500

hộ, trên 7.000 nhân khẩu, trong đó có 1.323 hội viên nông dân, xã Ngọc Châu

có những điều kiện về tự nhiên, xã hội thuận lợi cho phát triển nuôi thủy sản.Một trong những loài cá tiêu biểu của xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnhBắc Giang đang được người dân nuôi và phát triển mạnh là cá rô phi đơn tính

Tuy nhiên trong quá trình phát triển nuôi cá rô phi đơn tính ở xã NgọcChâu, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang chưa thoát khỏi tình trạng tự phát theophong trào, sản phẩm chủ yếu dưới dạng bảo quản sơ cấp nên chưa nâng cao

Trang 4

được giá trị gia tăng cho sản phẩm, không đáp ứng được nhu cầu truy suấtnguồn gốc Hệ thống thương mại, tiêu thụ còn yếu kém làm cho sản phẩm vẫnchưa được biết đến nhiều trên thị trường Các vấn đề liên quan đến quản lýchuỗi giá trị cá rô phi đơn tính xã Ngọc Châu chưa được quan tâm nhiều, đặcbiệt là các vấn đề như xác định giá trị gia tăng và mức độ phân phối lợi nhuậntrong toàn chuỗi và trong từng nhóm chủ thể tham gia chuỗi nhằm đưa ra giảipháp phát triển hợp lý chuỗi ngành hàng, tạo sự công bằng và nâng cao lợi thếcạnh tranh của sản phẩm cá rô phi đơn tính

Để thấy rõ được chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính xã Ngọc Châu cũng nhưmột số giải pháp đề xuất để hoàn thiện hơn nhằm đáp ứng được nguồn cung cá rôphi đơn tính ra thị trường đảm bảo thu nhập cũng như lợi nhuận phù hợp cho tất

cả các bên tham gia vào trong chuỗi giá trị, chính vì thế tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài “Chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính tại xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang”.

Để đạt được mục tiêu chung nói trên chúng tôi đưa ra các mục tiêu cụthể đó là: Góp phần hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị nóichung và chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính nói riêng Đánh giá thực trạng chuỗigiá trị cá rô phi đơn tính tại xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính tại xãNgọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang Đề xuất một số giải pháp nhằmtăng cường mối quan hệ giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị cá rô phi đơntính tại xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang Đối tượng nghiên cứucủa đề tài là nghiên cứu các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị gồm: ngườisản xuất, người thu gom, người bán buôn, người bán lẻ, người tiêu dùng

Để nắm được cơ sở lý luận của để tài, trong nghiên cứu tôi đã đưa ramột số khái niệm liên quan bao gồm: Chuỗi giá trị; Tác nhân; Sản phẩm; Cá

rô phi và đặc điểm cá rô phi đơn tính; Phân loại phương pháp nghiên cứu vềchuỗi giá trị; Vai trò phân tích chuỗi giá trị; Đặc điểm chuỗi giá trị thủy sản;

Trang 5

Các nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính Trong quá trìnhnghiên cứu đề tài tôi đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu như thu thậpthông tin qua các tài liệu đã đăng trên sách báo, đề tài khoa học, ấn phẩm,internet, các báo cáo của địa phương kết hợp với thu thập số liệu trực tiếp quađiều tra bằng bộ phiếu câu hỏi chuẩn bị sẵn Các số liệu thu thập được xử lý vàtiến hành phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh.

Qua quá tình nghiên cứu thực tế tại địa phương tôi thu được một số kếtquả cụ thể như sau: (1) Nghiên cứu chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính xã NgọcChâu đã góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị nóichung cũng như chuỗi giá trị cá rô phi nói riêng (2) Sự hình thành phát triểncủa chuỗi giá trị cá rô phi xã Ngọc Châu đã mang lại nhiều ý nghĩa kinh tế, xãhội quan trọng như thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm chongười lao động, xóa đói, giảm nghèo, phân công lại lao động nông thôn và tạo

ra sự liên kết chặt chẽ có trách nhiệm giữa các nhà sản xuất kinh doanh vớingười tiêu dùng Tại xã Ngọc Châu, cá rô phi được sản xuất theo quy mô giađình, xản xuất cá rô phi quy mô trang trại chưa xuất hiện (3) Cá rô phi xãNgọc Châu được tiêu thụ qua 3 kênh chính Trong chuỗi giá trị cá rô phi, giữacác tác nhân đã có những mối liên kết, chia sẻ thông tin sản xuất thị trườngvới các mức độ khác nhau, Sự phân bổ thu nhập và việc làm giữa các tác nhâncho thấy có sự hợp lý nhất định, Tuy nhiên, chuỗi giá trị cá rô phi vẫn còn cónhững hạn chế như: các mối liên kết còn lỏng lẻo, kết cấu tổ chức của chuỗigiá trị còn tách biệt, tác nhân chính trong chuỗi vẫn là người sản xuất mà chủyếu là các hộ nông dân, các tác nhân khác như: người thu gom, bán buôn, bánlẻ và đặc biệt là người tiêu dùng có tác động rất ít tới sự phát triển của chuỗi.Chuỗi giá trị cá rô phi gần như mang tính một chiều, sở dĩ như vậy là do cácyếu tố ảnh hưởng sau: các yếu tố ảnh hưởng mang tính khách quan như rủi ro

về thời tiết, khí hậu, rủi ro về dịch bệnh, giá cả…khó đề phòng Để hoàn thiện

và phát triển chuỗi giá trị cá rô phi xã Ngọc Châu trong các năm tới cần

Trang 6

nghiên cứu triển khai nhóm giải pháp cho toàn chuỗi và cho từng tác nhântham gia chuỗi Do thực tế các nghiên cứu về chuỗi giá trị cung ứng hàng hóadịch vụ còn ít, số liệu chưa cập nhật Xuất phát từ ý nghĩa thúc đẩy phát triểnkinh tế của chuỗi, tôi xét thấy cần có các nghiên cứu tiếp theo về chuỗi cungứng các dịch vụ đầu vào cho sản xuất cá rô phi Ngoài ra cũng cần nghiên cứuđánh giá sâu hơn về nhu cầu thị trường và thị hiếu người tiêu dùng cá rô phi.(4) Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sản xuất cũng như ảnh hưởng tới chuỗi giátrị cá rô phi xã Ngọc Châu, những yếu tố tác động đến có những mặt xấunhưng cũng có những mặt tích cực, có 2 yếu tố chính ảnh hưởng tới chuỗi giátrị và quá trình sản xuất cá rô phi của người sản xuất đó là yếu tố chủ quan vàyếu tố khách quan Trong yếu tố chủ quan thì các yếu tố như: đất đai, kỹthuật, cơ chế quản lý có ảnh hưởng lớn tới sự tồn tại cũng như phát triển bềnvũng của chuỗi giá trị cá rô phi xã Ngọc Châu Trong yếu tố khách quan thìcác yếu tố như: khí hậu, chính sách… có tác động trực tiếp tới người sản xuất

từ đó có ảnh hưởng trực tiếp tới chuỗi giá trị cá rô phi (5) Từ phân tích thựctrạng, yếu tố ảnh hưởng đề tài có đề xuất một số giải pháp như: Các giải phápchung cho chuỗi giá trị, giải pháp hạn chế yếu tố ảnh hưởng, giải pháp vềquản lý, giải pháp về cơ chế chính sách, giải pháp về kỹ thuật sản xuất

Trang 7

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 13Bảng 3.1 Tổng hợp hiện trạng sử dụng đất xã Ngọc Châu 3 năm 2012 – 2014 37Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động xã Ngọc Châu 2012 - 2014 39Bảng 3.3 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế xã Ngọc Châu 2012 - 2014 41Bảng 3.4 Số mẫu phỏng vấn hộ 31

Trang 8

Bảng 3.6 Nhóm chỉ tiêu thể hiện điều kiện sản xuất 49

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi cá rô phi trên địa bàn xã Ngọc Châu 51

Bảng 4.2 Tình hình tiêu thụ cá rô phi đơn tính trên địa bàn xã Ngọc Châu 52 Bảng 4.3 Đặc điểm các hộ nuôi cá rô phi đơn tính trên địa bàn xã 57

Bảng 4.4 Tình hình tiêu thụ cá của hộ nuôi cá rô phi đơn tính trên địa bàn xã .58 Bảng 4.5 Giá trị gia tăng trong 100 kg cá của hộ trong năm 59

Bảng 4.6 Đặc điểm về tác nhân trung gian người thu gom 62

Bảng 4.7 Tình hình tiêu thụ cá của tác nhân thu gom 62

Bảng 4.8 Hình thức giao dịch của tác nhân thu gom với các tác nhân khác 63

Bảng 4.9 Giá trị gia tăng trong 100 kg cá của tác nhân thu gom 64

Bảng 4.10 Đặc điểm về tác nhân trung gian người bán buôn 65

Bảng 4.11 Giá trị gia tăng trong 100 kg cá của tác nhân bán buôn 66

Bảng 4.12 Đặc điểm về tác nhân trung gian người bán lẻ 68

Bảng 4.13 Giá trị gia tăng trong 100 kg cá của tác nhân bán lẻ trong năm.68 Bảng 4.14 Giá trị gia tăng của các tác nhân trong chuỗi giá tri cá rô phi xã Ngọc Châu 70

Bảng 4.15 Thu nhập thuần của các tác nhân trong chuỗi giá tri cá rô phi xã Ngọc Châu 71

Bảng 4.16 Hiện trạng về nguồn vồn của các tác nhân trong chuỗi giá trị 76

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH

Sơ đồ 4.1 Sơ đồ chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính Ngọc Châu 53Hình 3.1 Bản đồ khái quát xã Ngọc Châu 34Hình 4.1 Hình thức giao dịch của hộ với các tác nhân 59Hình 4.2 Hình thức giao dịch của tác nhân bán buôn với các tác nhân khác 66

Trang 10

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT Chữ viết tắt Diễn giải

11 TTCN : Tiểu thủ công nghiệp

3 UBND : Ủy ban nhân dân

13 VA : Giá trị gia tăng

Trang 11

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Thủy sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ViệtNam Năm 2010 giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 4.5 triệu USD, chiếm 7,5%tổng kim ngạch xuất khẩu và đóng góp khoảng 5,3% GDP của Việt Nam(VASEP, 2010) Sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt trên

150 quốc gia trên toàn thế giới, trong đó EU, Mỹ, Nhật là những thị trườngchủ chốt, chiếm khoảng 60% về khối lượng và 70% về giá trị xuất khẩu(VASEP, 2010)

Bắc Giang là tỉnh thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc, có tiềm năng

và lợi thế phát triển nuôi thủy sản nước ngọt, tổng diện tích các loại hình mặtnước (mặt nước lớn, sông suối, ao hồ, ruộng trũng ) có khả năng đưa vào sửdụng để nuôi thủy sản khoảng 26.120 ha Trong những năm qua, ngành thủysản Bắc Giang đã và đang trên đà phát triển cùng với sự phát triển chung củangành thuỷ sản cả nước, đã thu được những thành tựu đáng kể: năm 2005diện tích nuôi thủy sản 9.765 ha, đến năm 2011 diện tích nuôi thủy sản đạt12.009 ha, so với năm 2005 tăng 2.244 ha (đạt tốc độ TTBQ giai đoạn 2005-

2011 là 3,28%/năm) Sản lượng nuôi thủy sản tăng từ 2005 là 6.028 tấn, đếnnăm 2011 đạt 21.396 tấn, tăng 13.368 tấn so với năm 2005 (đạt tốc độ TTBQ

về sản lượng là 23,5%/năm)

Xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang với dân số hơn 1.500

hộ, trên 7.000 nhân khẩu, trong đó có 1.323 hội viên nông dân, xã Ngọc Châu

có những điều kiện về tự nhiên, xã hội thuận lợi cho phát triển nuôi thủy sản.Một trong những loài cá tiêu biểu của xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnhBắc Giang đang được người dân nuôi và phát triển mạnh là cá rô phi đơn tính

Trang 12

Tuy nhiên trong quá trình phát triển nuôi cá rô phi đơn tính ở xã NgọcChâu, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang chưa thoát khỏi tình trạng tự phát theophong trào, sản phẩm chủ yếu dưới dạng bảo quản sơ cấp nên chưa nâng caođược giá trị gia tăng cho sản phẩm, không đáp ứng được nhu cầu truy suấtnguồn gốc Hệ thống thương mại, tiêu thụ còn yếu kém làm cho sản phẩm vẫnchưa được biết đến nhiều trên thị trường Các vấn đề liên quan đến quản lýchuỗi giá trị cá rô phi đơn tính xã Ngọc Châu chưa được quan tâm nhiều, đặcbiệt là các vấn đề như xác định giá trị gia tăng và mức độ phân phối lợi nhuậntrong toàn chuỗi và trong từng nhóm chủ thể tham gia chuỗi nhằm đưa ra giảipháp phát triển hợp lý chuỗi ngành hàng, tạo sự công bằng và nâng cao lợi thếcạnh tranh của sản phẩm cá rô phi đơn tính

Để thấy rõ được chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính xã Ngọc Châu cũng nhưmột số giải pháp đề xuất để hoàn thiện hơn nhằm đáp ứng được cung cá rô phiđơn tính ra thị trường đảm bảo thu nhập cũng như lợi nhuận phù hợp cho tất cảcác bên tham gia vào trong chuỗi giá trị, chính vì thế tôi tiến hành nghiên cứu đề

tài “Chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính tại xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính tại xã Ngọc Châu, huyệnTân Yên, tỉnh Bắc Giang, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng caohiệu quả hoạt động của chuỗi mang lại lợi ích hợp lý hơn cho các tác nhântham gia chuỗi

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị nói chung

và chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính nói riêng

- Đánh giá thực trạng chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính tại xã Ngọc Châu,huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

Trang 13

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính tại

xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ giữa các tácnhân trong chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính tại xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên,tỉnh Bắc Giang

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Bảng 1.1 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu Câu hỏi nghiên cứu Giả thuyết nghiên cứu

1 Các tác nhân tham gia vào trong

3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi

giá trị cá rô phi đơn tính xã Ngọc

Châu?

1 Có nhiều tác nhân trực tiếp vàgián tiếp đang tham gia vào trongchuỗi giá trị cá rô phi đơn tính xãNgọc Châu

2 Tại xã Ngọc Châu cá rô phi đơntính được sản xuất và tiêu thụ hiệuquả với sự hoạt động hiệu quả củacác tác nhân trong chuỗi giá trị cá rôphi đơn tính xã Ngọc Châu

3 Các yếu tố như: văn hóa, chínhsách, thông tin, thể chế, có ảnhhưởng tích cực và tiêu cực tới chuỗigiá trị cá rô phi đơn tính xã NgọcChâu

Trang 14

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên

- Nghiên cứu các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị gồm: người sảnxuất, người thu gom, người bán buôn, người bán lẻ, người tiêu dùng

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: nghiên cứu lý thuyết cơ bản về chuỗi giá trị, đánhgiá tình hình tiêu thụ và sản xuất cá rô phi, các tác nhân tham gia vào trongchuỗi giá trị và các yếu tố ảnh hưởng tới chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính tại xãNgọc Châu

- Phạm vi không gian: Xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

- Phạm vi thời gian của số liệu: + Số liệu thứ cấp năm 2012-2014

+ Số liệu điều tra năm 2015

Trang 15

đó Chuỗi các hoạt động mang lại nhiều giá trị gia tăng hơn tổng giá trị giatăng của các hoạt động cộng lại”.

Tiếp đó, nhà nghiên cứu Kaplins Rapheal đã đưa ra khái niệm về chuỗigiá trị trong phân tích toàn cầu hóa: “Chuỗi giá trị là cả loạt những hoạt độngcần thiết để biến một sản phẩm hoặc một dịch vụ từ lúc còn là khái niệm,thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau (bao gồm một kết hợp giữa sựbiến đổi vật chất và đầu vào các dịch vụ sản xuất khác nhau), đến khi phânphối đến tay người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng” và mộtchuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt động đểtạo ra tối đa giá trị cho chuỗi

Như vậy, ta có thể giải thích định nghĩa về chuỗi giá trị theo nghĩa hẹphoặc nghĩa rộng Trong nghĩa hẹp, một chuỗi giá trị bao gồm các hoạt độngthực hiện trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định Tất cả cáchoạt động từ thiết kế, quá trình mang vật tư đầu vào, sản xuất, phân phối,marketing bán hàng, thực hiện các dịch vụ hậu mãi đã tạo thành một chuỗi kếtnối người sản xuất với người tiêu dùng Hơn nữa, mỗi hoạt động lại bổ sung

Trang 16

giá trị cho thành phẩm cuối cùng Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng là một phứchợp những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (ngườisản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ) đểbiến một nguyên liệu thô và chuyển dịch theo các mối liên kết với các doanhnghiệp khác trong kinh doanh, lắp ráp, chế biến,… Các tiếp cận theo nghĩarộng không xem xét đến các hoạt động do một doanh nghiệp duy nhất tiếnhành, mà nó xem xét cả các mối liên kết ngược xuôi cho đến khi nguyên liệuthô được sản xuất và kết hợp với người tiêu dùng cuối cùng.

- Tác nhân có thể là người thực (hộ nông dân, hộ kinh doanh, người chếbiến, người tiêu thụ…)

- Tác nhân tinh thần (các doanh nghiệp, xí nghiệp, công ty, nhà máy…)Theo nghĩa rộng người ta phân tác nhân thành từng nhóm để chỉ tậphợp các chủ thể có cùng một loại hoạt động Ví dụ, tác nhân “nông dân” đểchỉ tập hợp tất cả các hộ nông dân; tác nhân “thương nhân” để chỉ tập hợp tất

cả cá hộ thương nhân; tác nhân “bên ngoài” chỉ tất cả các chủ thể ngoài phạm

vi không gian phân tích Có một số tác nhân chỉ tham gia vào một ngànhhàng, một chuỗi nhất định và có nhiều tác nhân có mặt trong nhiều chuỗi giátrị, nhiều ngành hàng của nền kinh tế quốc dân Có thể phân loại các tác nhânthành một số nhóm tuỳ theo bản chất hoạt động chủ yếu trong ngành hàngnhư sản xuất của cải, chế biến, tiêu thụ và dịch vụ, hoạt động tài chính vàphân phối

Trang 17

Thực tế cho thấy, một tác nhân có thể có nhiều hoạt động khác nhau.

Vì vậy, khi phân tích tuỳ theo từng điều kiện cụ thể mà xác định các tácnhân tham gia trong từng chuỗi giá trị với chức năng cụ thể cho chính xác,tránh hiện tượng bỏ sót hay phân tích trùng lặp nhiều lần hoạt động của cáctác nhân

Trong phân tích chuỗi giá trị theo luồng hàng, người ta thường chiathành các tác nhân sau: Người sản xuất, người thu gom, người bán buôn,người chế biến, người bán lẻ, người tiêu dùng cuối cùng

c Sản phẩm

Trong một ngành hàng, mỗi tác nhân đều tạo ra sản phẩm riêng củamình, trừ những sản phẩm bán lẻ cuối cùng Sản phẩm của mọi tác nhân khácchưa phải là sản phẩm cuối cùng của ngành hàng mà chỉ là kết quả hoạt độngkinh tế, là đầu ra quá trình sản xuất của từng tác nhân Do tính chất phong phú

về chủng loại sản phẩm nên trong phân tích ngành hàng thường chỉ phân tích

sự vận hành của các sản phẩm chính Sản phẩm của ngành hàng thường lấytên sản phẩm của tác nhân đầu tiên

2.1.2 Cá rô phi và đặc điểm cá rô phi đơn tính

a Cá rô phi đơn tính

Cá rô phi (tên tiếng Anh Tilapia) là tên gọi chỉ chung cho các loài cánước ngọt phổ biến, sống tại các sông suối, kênh rạch, ao hồ, đây là giống cáthuộc họ Cichlidae gồm nhiều chủng, có nguồn gốc phát sinh từ châuPhi và Trung Đông Một trong những loài đặc hữu của họ cá này là Cá rô phi

đỏ (Oreochromis sp), cá rô phi xanh (Oreochromis aureus) và rô phivằn(Oreochromis niloticus) Là loài cá có giá trị kinh tế và thông dụngtrong bữa ăn, cá rô phi được du nhập đi nhiều nơi và nhiều loài đã trởthành loài xâm lấn

Trang 18

b Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cá rô phi đơn tính

Đặc điểm hình thái:

Cá rô có thân hình màu hơi tím, vảy sáng bóng, có 9-12 sọc đậm songsong nhau từ lưng xuống bụng Vi đuôi có màu sọc đen sậm song song từ phíatrên xuống phía dưới và phân bổ khắp vi đuôi Vi lưng có những sọc trắngchạy song song trên nền xám đen Viền vi lưng và vi đuôi có màu hồng nhạt

Môi trường sống: Các loài cá rô phi hiện đang nuôi có đặc điểm sinh

thái gần giống nhau

Nhiệt độ: Nhiệt độ cần thiết cho sự phát triển của cá rô phi từ 20-320C,thích hợp nhất là 25-320C Khả năng chịu đựng với biến đổi nhiệt độ cũng rấtcao từ 8-420C, cá chết rét ở 5,50C và bắt đầu chết nóng ở 420C Nhiệt độ càngthấp thì cá càng giảm ăn, ức chế sự tăng trưởng và tăng rủi ro nhiễm bệnh

Độ mặn: Cá rô phi là loài rộng muối, có khả năng sống được trong môitrường nước sông, suối, đập tràn, hồ ao nước ngọt, nước lợ và nước mặn có

độ muối từ 0-40% Trong môi trường nước lợ (độ mặn 10-25%) cá tăngtrưởng nhanh, mình dày, thịt thơm ngon

PH: Môi trường có độ PH từ 6,5-8,5 thích hợp cho cá rô phi, nhưng cá

có thể chịu đựng trong môi trường nước có độ PH thấp bằng 4

Oxy hoà tan: Cá rô phi có thể sống được trong ao, đìa có màu nướcđậm, mật độ tảo dày, có hàm lượng chất hữu cơ cao, thiếu oxy Yêu cầu hàmlượng oxy hoà tan trong nước của cá rô phi ở mức thấp hơn 5-10 lần so vớitôm sú

Đặc điểm về dinh dưỡng và sinh trưởng

Tập tính ăn: Khi còn nhỏ, cá rô phi ăn sinh vật phù du ( tảo và động vậtnhỏ) là chủ yếu (cá 20 ngày tuổi , kích thước khoảng 18mm) Khi cá trưởngthành ăn mùn bả hữu cơ lẫn tảo lắng ở đáy ao, ăn ấu trùng, côn trùng, thực vậtthuỷ sinh Tuy nhiên trong nuôi công nghiệp cá cũng ăn các loại thức ăn chếbiến từ cá tạp, cua, ghẹ, ốc, bột cá khô, bột bắp, bột khoai mì, khoai lang, bột

Trang 19

lúa, cám mịn, bã đậu nành, bã đậu phộng Trong thiên nhiên cá thường ăn từtầng đáy có mức sâu từ 1-2m.

Sinh trưởng: Khi nuôi trong ao, cá sử dụng thức ăn tự nhiên sẵn có kếthợp với thức ăn chế biến, cá rô phi vằn đơn tính lớn nhanh từ tháng đầu đếntháng thứ 5

2.1.3 Phân loại phương pháp nghiên cứu về chuỗi giá trị

Theo sự phân loại về khái niệm, có ba luồng nghiên cứu chính trongcác tài liệu về chuỗi giá trị, luồng nghiên cứu đầu tiên là luồng nghiên cứucủa Filiere, thứ hai là luồng nghiên cứu về chuỗi giá trị của Porter và cuốicùng là luồng nghiên cứu của Kaplinsky

Trong khi phân tích sử dụng linh hoạt các phương pháp và cũng có thểkết hợp cả 3 phương pháp trên để phân tích một chuỗi giá trị

Luồng tư tưởng nghiên cứu thứ nhất là phương pháp Fìliere gồm cáctrường phái tư duy và truyền thống nghiên cứu khác nhau Khởi đầu phươngpháp này được dùng để phân tích hệ thống nông nghiệp của các nước đangphát triển trong hệ thống thuộc địa của Pháp Phân tích chủ yếu làm công cụ

để nghiên cứu cách thức mà các hệ thống sản xuất nông nghiệp (đặc biệt làcao su, bông, cà phê và dừa) được tổ chức trong bối cảnh các nước phát triển.Theo luồng nghiên cứu này, khung Filiere chú trọng đặc biệt đến cách các hệthống sản xuất địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thươngmại, xuất khẩu và tiêu dùng cuối cùng

Do đó khái niệm chuỗi giá trị của Filiere luôn bao hàm nhận thức kinhnghiệm thực tế được sử dụng để lập sơ đồ dòng chuyển động của các hànghóa và xác định những người tham gia vào hoạt động Tính hợp lý của chuỗiFiliere hoàn toàn tương tự như khái niệm chuỗi giá trị mở rộng đã trình bày ởtrên Phương pháp chuỗi có hai luồng, có vài điểm chung với phân tích chuỗigiá trị đó, gồm:

Trang 20

Việc đánh giá chuỗi về mặt kinh tế và tài chính chú trọng vào vấn đềtạo thu nhập và phân phối lợi nhuận trong chuỗi hàng hóa, và phân tách cácchi phí và thu nhập giữa các thành phần được kinh doanh nội địa và quốc tế

để phân tích sự ảnh hưởng của chuỗi đến nền kinh tế quốc dân và sự đóng gópcủa nó vào GDP theo “phương pháp ảnh hưởng”

Luồng nghiên cứu thứ hai liên quan đến công trình của Micheal Porter

về các lợi thế cạnh tranh Porter đã dùng khung phân tích chuỗi giá trị để đánhgiá xem một công ty nên tự định vị mình như thế nào trên thị trường và trongmối quan hệ với các nhà cung cấp, khách hàng và đối thủ cạnh tranh khác Ýtưởng về lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp có thể được tóm tắt nhưsau: Một công ty có thể cung cấp cho khách hàng một mặt hàng hoặc dịch vụ

có giá trị tương đương với đối thủ cạnh tranh của mình như thế nào? Hay talàm thế nào để một doanh nghiệp có thể sản xuất một mặt hàng mà kháchhàng sẵn sàng mua với giá cao hơn, hoặc chiến lược tạo sự khác biệt trên thịtrường? Trong bối cảnh này, khái niệm chuỗi giá trị được sử dụng như mộtkhung khái niệm mà các doanh nghiệp có thể dùng để tìm ra các nguồn lợi thếcạnh tranh thực tế và tiềm tàng của mình để dành lợi thế trên thị trường Hơnthế nữa Porter lập luận rằng các nguồn lợi thế cạnh tranh không thể tìm ra nếunhìn vào công ty như một tổng thể Một công ty cần được phân tách thành mộtloạt các hoạt động và có thể tìm thấy lợi thế cạnh tranh trong một (hoặc nhiềuhơn) những hoạt động đó Porter phân biệt giữa các hoạt động sơ cấp, trực tiếpgóp phần tăng thêm giá trị cho sản xuất hàng hóa (hoặc dịch vụ) và các hoạtđộng hỗ trợ có ảnh hưởng gián tiếp đến giá trị cuối cùng của sản phẩm

Chuỗi giá trị thể hiện tổng giá tri, bao gồm các hoạt động giá trị và lợinhuận Hoạt động giá trị là những hoạt động đặc trưng về phương diện vật lý

và công nghệ của doanh nghiệp Đây là những bộ phận cấu thành để tạo racác sản phẩm có giá trị cho người mua Lợi nhuận là sự chênh lệch giữa tổnggiá trị và tập hợp các chi phí cho việc thực hiện các hoạt động giá trị Mỗi

Trang 21

hoạt động giá trị đều có thu mua đầu vào, nhân lực và một hình thái côngnghệ nào đó có thể thực hiện chức năng của nó Mỗi hoạt động giá trị cũng sửdụng và sáng tạo ra thông tin, chẳng hạn như dữ liệu khách hàng, thông sốhoạt động… Trên phương diện tài chính hoạt động giá trị cũng có thể tạo ranhững sản phẩm tồn kho, các khoản phải thu và nguồn vốn.

Các hoạt động giá trị có thể chia làm hai loại chính đó là:

- Hoạt động sơ cấp là những hoạt động mang tính vật chất liên quanđến việc tạo ra sản phẩm, bán và chuyển giao cho khách hàng cũng nhưnhững công tác hỗ trợ sau bán hàng

- Các hoạt động hỗ trợ sẽ bổ sung cho hoạt động sơ cấp và tương tựchúng cũng hỗ trợ lẫn nhau thông qua việc cung ứng mua hàng đầu vào, côngnghệ, nguồn nhân lực và các chức năng khác trong toàn doanh nghiệp

Luồng tư tưởng mới đây nhất là phương pháp tiếp cận toàn cầu, kháiniệm chuỗi giá trị được áp dụng để phân tích toàn cầu hóa đã được Kaplinsky

và Morris đã quan sát được rằng trong quá trình toàn cầu hóa, người ta nhậnthấy khoảng cách thu nhập trong nội địa và giữa nước ngoài tăng lên Các tácgiả này lập luận rằng phân tích chuỗi giá trị có thể giúp giải thích quá trìnhnày, nhất là trong một viễn cảnh năng động Thứ nhất, bằng cách lập sơ đồ chitiết các hoạt động trong chuỗi, phân tích chuỗi giá trị sẽ thu thập được thôngtin, phân tích được những khoản thu nhập của các bên tham gia trong chuỗi sẽ

là tổng thu nhập của chuỗi giá trị Thứ hai, phân tích chuỗi giá trị có thể làmsáng tỏ việc các công ty, vùng và quốc gia được kết nối với nền kinh tế toàncầu như thế nào? Hình thức phân tích này sẽ giúp xác định được kết quả phânphối của các hệ thống sản xuất toàn cầu, các nhà sản xuất cá thể phải nâng caonăng suất và hiệu quả các hoạt động và do đó đặt mình vào con đường tăngtrưởng thu nhập bền vững

Sản phẩm cá rô phi đơn tính còn ở dạng giản đơn, các mối liên kết giữacác tác nhân trong chuỗi còn lỏng lẻ Trong khuôn khổ nghiên cứu này, tôi

Trang 22

tiếp cận chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính theo lý thuyết Filiere và phương phápcủa Porter trong điều kiện các tác nhân tham gia thị trường hiện chỉ ở thịtrường nội địa và sản phẩm cá rô phi đơn tính chưa được phân phối và pháttriển đạt được các yêu cầu của toàn cầu hóa.

2.1.4 Vai trò phân tích chuỗi giá trị

Chuỗi giá trị có thể được phân tích từ góc độ của bất kỳ tác nhân nàotrong số các tác nhân tham gia trong chuỗi Bốn khía cạnh trong phân tíchchuỗi giá trị được áp dụng trong nông nghiệp mang nhiều ý nghĩa đó là:

Thứ nhất, ở mức độ cơ bản nhất, một phân tích chuỗi giá trị lập sơ đồmột cách hệ thống các bên tham gia vào sản xuất, phân phối, tiếp thị và bánmột (hoặc nhiều) sản phẩm cụ thể Việc lập sơ đồ này đánh giá các đặc điểmcủa những người tham gia, cơ cấu lãi và chi phí, dòng hàng hóa trong chuỗi,đặc điểm việc làm, khối lượng và điểm đến của hàng hóa được bán trongnước và nước ngoài (Kaplinsky và Morris 2001) Những chi tiết này có thểthu thập được nhờ kết hợp điều tra thực địa, thảo luận nhóm tập trung, PRA,phỏng vấn thông tin và số liệu thứ cấp

Thứ hai, phân tích chuỗi giá trị có vai trò trung tâm trong việc xác định

sự phân phối lợi ích của những người tham gia trong chuỗi Có nghĩa là, phântích lợi nhuận và lợi nhuận biên trên một sản phẩm trong chuỗi để xác định aiđược hưởng lợi nhờ tham gia chuỗi và những người tham gia nào có thể đượchưởng lợi nhờ được tổ chức và hỗ trợ nhiều hơn Điều này đặc biệt quan trọngtrong bối cảnh của các nước đang phát triển (và đặc biệt là nông nghiệp), vớinhững lo ngại rằng người nghèo nói riêng dễ bị tổn thương trước quá trìnhtoàn cầu hóa (Kaplinsky và Morris 2001) Có thể bổ sung phân tích này bằngcách xác định bản chất việc tham gia trong chuỗi để hiểu được các đặc điểmcủa những người tham gia

Thứ ba, phân tích chuỗi giá trị có thể dùng để xác định vai trò của việcnâng cấp trong chuỗi giá trị Nâng cấp gồm cải thiện chất lượng và thiết kế

Trang 23

sản phẩm giúp nhà sản xuất thu được giá trị cao hơn hoặc đa dạng hóa dòngsản phẩm Phân tích quá trình nâng cấp gồm đánh giá khả năng sinh lời củacác bên tham gia trong chuỗi cũng như thông tin về các cản trở đang tồn tại.Các vấn đề quản trị có vai trò then chốt trong việc xác định những hoạt độngnâng cấp đó diễn ra như thế nào Ngoài ra, cơ cấu của các quy định, rào cảngia nhập, hạn chế thương mại, và các tiêu chuẩn có thể tiếp tục tạo nên và ảnhhưởng đến môi trường mà các hoạt động nâng cấp diễn ra

Cuối cùng, phân tích chuỗi giá trị có thể nhấn mạnh vai trò của quản trịtrong chuỗi giá trị Quản trị trong chuỗi giá trị nói đến cơ cấu các mối quan hệ

và cơ chế điều phối tồn tại giữa các bên tham gia trong chuỗi giá trị Quản trịquan trọng từ góc độ chính sách thông qua xác định các sắp xếp về thể chế cóthể cần nhắm tới để nâng cao năng lực trong chuỗi giá trị, điều chỉnh các sailệch về phân phối và tăng giá trị gia tăng trong ngành

2.1.5 Đặc điểm chuỗi giá trị thủy sản

Có nhiều quan điểm cũng như những nghiên cứu về chuỗi giá trị và cónhững quan điểm về đặc điểm chuỗi giá trị khác nhau trong những quan điểm

đó thì theo như Lambert and Cooper (2000) một chuỗi giá trị có bốn đặctrưng cơ bản:

Thứ nhất, chuỗi giá trị bao gồm nhiều công đoạn (bước) phối hợp bêntrong các bộ phận, phối hợp giữa các bộ phận (tổ chức) và phối hợp dọc

Thứ hai, một chuỗi bao gồm nhiều tác nhân độc lập nhau, do vậy cầnthiết phải có mối quan hệ về mặt tổ chức

Thứ ba, một chuỗi giá trị bao gồm dòng vật chất và dòng thông tin cóđịnh hướng, các hoạt động điều hành và quản lý

Thứ tư, các thành viên của chuỗi nỗ lực để đáp ứng mục tiêu là manglại giá trị cao cho khách hàng thông qua việc sử dụng tối ưu nguồn lực củamình Nếu xem chuỗi GTTS là một chuỗi giá trị nông sản, thì một chuỗi giátrị nông sản gồm các tác nhân cung cấp đầu vào, sản xuất và phân phối nông

Trang 24

sản thực phẩm (Bijman, 2002) Chuỗi này chứa đựng đồng thời dòng vật chất

và dòng thông tin Chuỗi giá trị thủy sản nói chung khác với chuỗi giá trị củacác ngành khác ở các điểm:

- Đối tượng sản xuất là sinh vật, phải tuân theo quy luật sinh học vàquy luật tự nhiên, do vậy làm tăng tính biến động và rủi ro;

- Bản chất của sản phẩm, có những đặc trưng tiêu biểu như dễ hư hỏng

và sự thay đổi chất lượng, phẩm cấp sản phẩm khi chuyển dịch trên chuỗi,nên mỗi sản phẩm khác nhau yêu cầu chuỗi khác nhau;

- Thái độ của xã hội và người tiêu dùng ngày càng quan tâm về an toànthực phẩm và vấn đề môi trường

Trong một chuỗi, sự phối hợp có thể dưới nhiều hình thức: hợp nhấtdọc, hợp đồng dài hạn hoặc giao dịch trực tiếp trên thị trường Các nghiên cứugần đây đã chỉ ra rằng chuỗi GTTS nói riêng và nông sản-thực phẩm nóichung, các giao dịch đang có sự thay đổi (Bijman 2002) Hầu hết các lĩnh vựctrong ngành nông sản thực phẩm đang dịch chuyển theo hướng liên kết dọc.Theo Zuurbier (2000), phối hợp dọc là một quá trình phối hợp các giao dịchthị trường giữa nhà cung cấp và khách hàng Phối hợp dọc trong kinh doanhnông nghiệp và ngành thực phẩm bao gồm một số hoặc nhiều giao dịch traođổi các yếu tố đầu vào từ nhà cung cấp giống hoặc vốn tới người nông dân,hoặc trao đổi nguyên liệu nông sản giữa nông dân và người chế biến hoặc sảnphẩm tươi sống giữa nhà bán buôn với người bán lẻ hoặc giữa người bán lẻ vàngười tiêu dùng

2.1.6 Nội dung phân tích chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính

Phân tích chuỗi GTTS là quá trình phân tích, đánh giá sản phẩm thủysản từ nhiều cấp độ, nhiều khía cạnh để thấy được bức tranh về dòng chảy sảnphẩm, dòng thông tin, dòng tiền, các tác nhân liên quan tới sản phẩm, quan hệcủa các tác nhân với nhau và giá trị tăng thêm tại mỗi mắt xích Từ đó có thểkhám phá và xác định một cách đầy đủ những hạn chế và khó khăn cản trở

Trang 25

trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, vị trí cạnh tranh của các tácnhân tham gia vào chuỗi Chính vì vậy, phân tích chuỗi giá trị thủy sản baogồm những nội dung cụ thể sau

Thứ nhất, lập bản đồ chuỗi GTTS là xây dựng một sơ đồ có thể quansát bằng mắt thường về hệ thống chuỗi giá trị thủy sản Các bản đồ này cónhiệm vụ định dạng các hoạt động kinh doanh (chức năng), các nhà vận hànhchuỗi, dòng chảy (thông tin, tiền, sản phẩm) và những mối liên kết của họcũng như các nhà hỗ trợ chuỗi nằm trong chuỗi giá trị này

Thứ hai, phân tích đánh giá kết quả thực hiện chuỗi GTTS là phân tíchmức độ mà một chuỗi GTTS đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng cuốicùng bằng các chỉ tiêu về thời gian, sản phẩm và chi phí Để đánh giá kết quảthực hiện của chuỗi giá trị thủy sản cần đánh giá được 4 lĩnh vực: (1) Kết quả

và hiệu quả: Là phải đánh giá toàn bộ giá trị gia tăng được sản sinh ra bởichuỗi GTTS và tỷ trọng của các giai đoạn khác nhau; xác định việc phân phốilợi ích của các tác nhân tham gia trong chuỗi GTTS; Xác định ai có lợi ích từ

sự tham gia trong chuỗi; Tác nhân nào có thể có lợi từ các hỗ trợ của các tổchức (2) Tính linh hoạt: Là tiêu chí đo lường sự thỏa mãn của khách hàng vàkhả năng đáp ứng yêu cầu về số lượng, chủng loại sản phẩm cũng như sựnăng động trong phân phối (3) Khả năng đáp ứng: Là tiêu chí đo lường khảnăng chuỗi giá trị đáp ứng những mong đợi của khách hàng Bất kể kháchhàng nào mà đang được phục vụ, chuỗi giá trị phải đáp ứng được các mongđợi của khách hàng đó (4) Chất lượng sản phẩm: Chỉ tiêu chất lượng của sảnphẩm trong lý thuyết thường chia thành thuộc tính chất lượng bên trong vàbên ngoài Tổng hợp tất cả các yếu tố bên trong và bên ngoài xác định hành vimua bán (Jongen 2000)

Thứ ba, quản trị chuỗi GTTS là các mối quan hệ giữa các bên tham gia

và các cơ chế, thể chế thông qua đó các hoạt động điều phối phi thị trườngđược thực hiện

Trang 26

Thứ tư, cải thiện hay nâng cấp chuỗi GTTS, khác với việc đổi mới côngnghệ như trong sản xuất Việc cải thiện và nâng cấp là nhằm tạo ra lợi ích vàhạn chế rào cản gia nhập thị trường đối với sản phẩm của chuỗi Các dạngnâng cấp bao gồm: nâng cấp theo quy trình; nâng cấp theo sản phẩm; nângcấp chức năng; nâng cấp chuỗi Từ đây có thể đưa ra được giải pháp để pháttriển chuỗi GTTS.

2.1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới chuỗi giá trị thủy sản trong đó thì cácnhân tố được chia thành 2 nhóm chính đó là

a Nhóm các nhân tố khách quan

- Thị trường

Nhân tố thị trường có ảnh hưởng rất lớn chi phối quá trình sản xuấtkinh doanh thủy sản của các cơ sở sản xuất kinh doanh Từ đó có ảnh hưởngrất nhiều tới sự hoạt động cũng như phát triển của chuỗi giá trị ngành hàng

Về nhu cầu thị trường đổi với thủy sản nói chung và cá rô phi đơn tính nóiriêng: nhu cầu thị trường phụ thuộc vào thu nhập, cơ cấu dân cư ở các vùng,các khu vực Vấn đề giá cả cũng là một yếu tố quan trọng Giá quá cao thìngười tiêu dùng sẽ tiêu dùng ít hơn, và nếu giá quá thấp thì không đảm bảocho sản xuất Chính vì vậy sản xuất kinh doanh cá rô phi đơn tính cần phải cómức giá hợp lý để đảm bảo cả hai vấn đề này

- Chính sách và cơ chế quản ly

Các chính sách, cơ chế quản lý hợp lý sẽ tạo nhiều thuận lợi trong pháttriển sản xuất thủy sản cũng như ổn định, phát triển chuỗi giá trị sản phẩm cá

rô phi đơn tính của ngành Nhà nước có các chính sách để hỗ trợ cho sản xuấtnông nghiệp nói chung và phát triển sản xuất thủy sản nói riêng như: Chínhsách nhiều thành phần kinh tế, khuyến khích nhiều thành phần kinh tế thamgia, tăng tính cạnh tranh của thị trường; Chính sách tiêu dùng nhằm nâng caođời sống của nhân dân, tăng thu nhập cho các tầng lớp dân cư trên cơ sở đó

Trang 27

tăng sức mua của nhân dân; Chính sách đầu tư và ứng dụng tiến bộ kỹ thuậtvào nông nghiệp; Chính sách giá cả, bảo trợ sản xuất và tiêu thụ

Những chính sách của nhà nước chủ yếu tập trung vào hỗ trợ tác nhânsản xuất trong chuỗi giá trị ngành hàng mà chưa có những chính sách hỗ trợcác tác nhân khác trong chuỗi như: tác nhân thu gom, tác nhân bán buôn, tácnhân bán lẻ Chính vì vậy mà cần phải có những cơ chế quản lý của nhà nước

để hỗ trợ những phần nào khó khăn của các tác nhân trong chuỗi giá trị đểcho chuỗi giá trị ngành hàng được ổn định và phát triển

b Nhóm các nhân tố chủ quan

- Nguồn vốn của các tác nhân tham gia chuỗi

Bên canh nguồn lực về lao động thì nguồn lực về vốn là môt trongnhững vấn đề mà không thể thiếu trong phát triển sản xuất cá rô phi đơn tínhcũng như duy trì và phát triển chuỗi giá trị của ngành hàng Nhà nước cũng đã

có những chính sách hỗ trợ cho người dân vay vốn phục vụ cho sản xuất, kinhdoanh trong lĩnh vực nông nghiệp, thể hiện tập trung tại Nghị quyết Trungương lần thứ năm khóa VII gồm những nội dung chủ yếu sau:

+ Đổi mới tổ chức ngành ngân hàng thành hệ thống hai cấp: ngân hàngNhà nước và ngân hàng thương mại Các ngân hàng thương mại và các tổchức tín dụng tự nguyện do nhân dân lập ra sẽ tạo khả năng huy động nguồnvốn tối đa đáp ứng cho nhu cầu phát triển nông nghiệp

+ Huy động tối đa mọi nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế vànhân dân bằng nhiều hình thức thích họp như: tiết kiệm (có và không có kỳhạn), tín phiếu và trái phiếu kho bạc, ngân phiếu và kỳ phiếu ngân hàng

+ Mở rộng việc cho vay của các tổ chức tín dụng đến hộ sản xuất nông, lâm,ngư nghiệp và thủy sản để phát triển sản xuất, không phân biệt thành phần kinh tế

+ Ưu tiên cho vay để triển khai các dự án do Nhà nước chỉ định, chovay đối với vùng cao, vùng xa, vùng sâu, vùng kinh tế mới, hải đảo và các hộnghèo, góp phần xóa đói giảm nghèo trong nông thôn

Trang 28

Vốn trong sản xuất cá rô phi đơn tính thường là vốn tự có của ngườidân, hay vốn đi vay của các tổ chức tín dụng, ngân hàng có chính sách ưu đãi.Nhà nước cũng có các chính sách đầu tư vốn ngân sách cho nông nghiệp quacác tổ chức khuyến nông hoặc các hình thức cho vay vốn ưu đãi khác nhau.

- Trình độ sản xuất và quản ly của các tác nhân

Trình độ sản xuất của người sản xuất là yếu tố quan trọng trong pháttriển và duy trì chuỗi giá trị bởi vì tác nhân sản xuất là phần gốc của chuỗicũng như các sản phẩm được cung ứng trong chuỗi đều do tác nhân sản xuấtcung cấp Với trình độ sản xuất được cải thiện sẽ giúp cho chuỗi giá trị ổnđịnh được phần gốc từ đó có thể phát triển cũng như duy trì các tác nhân kháctham gia vào chuỗi Trình độ sản xuất được cải thiện cũng như nâng caothông qua các buổi tập huấn cũng như các buổi phổ biến kỹ thuật, tham quan

mô hình

Trình độ quản lý của các thành viên tham gia vào chuỗi được thể hiệnthông qua những quyết định của các tác nhân trong chuỗi như: quyết địnhmua, quyết định loại sản phẩm, quyết định bán… Khi những tác nhân có trình

độ quản lý tham gia trong chuỗi thì chuỗi sẽ đảm bảo được những điều kiệnphát huy tiềm năng của chuỗi

- Mối liên kết của các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị

Hiện nay với xu thế hội nhập cũng như sản xuất hàng hóa nên đòi hỏicác tác nhân trong chuỗi cần có mối liên kết chặt chẽ đảm bảo cho hạn chếnhững rủi ro cũng như những mặt tiêu cực của các tác nhân tham gia vào chuỗigiá trị của ngành Thông tin mua bán, hợp đồng mua bán, sự tương tác thườngxuyên giữa các tác nhân là những yếu tố cơ bản tác động lên các tác nhân làmcho mối liên kết giữa các tác nhân ngày càng gần hơn giúp cho thông tin về giá,sản lượng, chất lượng của sản phẩm được cập nhật thường xuyên Khi các tácnhân trong chuỗi có mối liên kết chặt chẽ cả theo chiều dọc và chiều ngang củachuỗi thì chuỗi giá trị sẽ đảm bảo, bền vững và phát triển

Trang 29

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình hình về chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp trên thế giới

Nghiên cứu về chuỗi giá trị sản xuất hàng hóa chính thức xuất hiện trêncác tạp chí khoa học quốc tế vào cuối thập kỷ 60 của thế kỷ trước (Kaplinsky,2000; Bair, 2009) Ban đầu phương pháp nghiên cứu chuỗi giá trị sản xuấthàng hóa được dùng để nghiên cứu động thái phát triển của tư bản toàn cầu,

sự phát triển cũng như quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa của các quốcgia Từ khi ra đời, cách tiếp cận nghiên cứu chuỗi ngay lập tức thu hút sự chú

ý của các nhà khoa học và nhà hoạch định chính sách vi mô và vĩ mô vì nó bổsung cho cách tiếp cận nghiên cứu phát triển kinh tế-xã hội lấy quốc gia làmtrung tâm Sang thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ trước, quá trình toàn cầu hóadiễn ra mạnh mẽ, cách tiếp cận nghiên cứu chuỗi giá trị toàn cầu trở nên rấtphổ biến, đặc biệt nhờ sự đóng góp về mặt học thuật của giáo sư kinh tế họcMichale Porter (1985) với tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh: Tạo và duy trì hoạtđộng có hiệu suất cao” (Comparative Advantage: Creating and SustainingSuperior Performance) và giáo sư xã hội học kinh tế Gary Gereffi và cộng sự(1994) với tác phẩm “Chuỗi hàng hóa và tư bản toàn cầu” (Commoditychains and Global Capitalism) Theo Bair (2009) trong vòng khoảng 2 thập

kỷ đã có hàng ngàn nghiên cứu áp dụng phương pháp tiếp cận chuỗi, nghiêncứu đủ các lĩnh vực như sản xuất dân dụng, chế tạo công nghiệp, phát triển dulịch, diệt may, sản xuất nông-lâm-thủy sản được xuất bản trên các tạp chíkhoa học quốc tế

Trong thời kỳ toàn cầu hóa, nhiều quốc gia đã thành công với chính sách

và chiến lược phát triển kinh tế theo định hướng xuất khẩu, điển hình là khốicác nước mới nổi ở Châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, ViệtNam Nền kinh tế quốc tế và quốc gia được đặc trưng bởi các đặc điểm: phântán về sản xuất và tập trung về thương mại Điều này làm cho các quốc giaphụ thuộc chặt chẽ vào nhau thông qua các chuỗi giá trị Để nâng cao khả

Trang 30

năng cạnh tranh và giảm chi phí, các công ty đa quốc gia đã phân tán hoạtđộng sản xuất ra các nước khác thông qua hoạt động thuê ngoài(outsourcing), tạo nên một mạng lưới/chuỗi các công ty thứ cấp có quan hệvới công ty mẹ ở các cấp độ khác nhau Trong sản xuất nông lâm, thủy sảncũng vậy, để đến với người tiêu dùng, sản phẩm đã đi qua một loạt các bêntrung gian ở các nước xuất khẩu và cả nước nhập khẩu Trong bối cảnh đó,khung phân tích nghiên cứu chuỗi giá trị trở thành một công cụ rất hấp dẫnđối với các nhà khoa học, các tổ chức phát triển đa phương, các tổ chức tíndụng quốc tế và cả các tổ chức phi chính phủ.

Nhìn chung các nghiên cứu ngoài nước về chuỗi giá trị cho phép cácquốc gia và các tổ chức phát triển quốc tế hiểu rõ cách thức các công ty, cácnhóm chủ thể thậm chí là các quốc gia đã tham gia như thế nào vào các chuỗigiá trị (Gibbon, 2001); lợi nhuận và giá trị gia tăng được phân bổ như thế nàocho các chủ thể tham gia trong chuỗi (Sturgeon, 2009); các yếu tố nào ảnhhưởng đến cách thức liên kết và quản trị các hoạt động trong chuỗi (Gibbon

và Ponte, 2005); thể chế và môi trường chính sách có ảnh hưởng như thế nàođến cấu trúc và hoạt động của chuỗi (Raynolds 2004; Bush and Bain, 2004);làm thế nào để nâng cấp/cải tiến tổ chức và quản trị chuỗi để nâng cao vị thếcạnh tranh, tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn, đảm bảo phân phối lợi nhuậncông bằng hơn phục vụ mục tiêu phát triển bền vững (Kaplinsky và Morris,2000; Gereffi và cộng sự, 2001)

2.2.2 Tình hình về chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp ở Việt Nam

Ở Việt Nam việc áp dụng chuỗi giá trị trong thực tế đã được nhiều tổchức quốc tế như tổ chức GTZ, ACI, SNV, CIRAD, Ngân hàng phát triểnChâu Á phối hợp cùng các cơ quan chính phủ Việt Nam tiến hành nghiên cứu,triển khai các dự án hỗ trợ nhằm phát triển Tổ chức SNV đã nghiên cứuchuỗi giá trị ngành cói của tỉnh Ninh Bình nhằm năng cao năng lực cạnh tranhngành cói qua phát triển chuỗi giá trị trình bày ở hội thảo “Ngành cói Việt

Trang 31

Nam - Hợp tác để tăng trưởng” Ngày 04/12/2008 tại Ninh Bình do NicoJanssen, cố vấn cao cấp – SNV Sau khi tiến hành chương trình nghiên cứu tổchức SNV đã giúp chuyển giao kiến thức từ nhà nghiên cứu đến nông dân,nâng cao năng lực của nhóm kỹ thuật địa phương về cung cấp dịch vụ khuyếnnông, hỗ trợ quá trình hoạch định chính sách liên quan đến ngành cói củatỉnh, hỗ trợ thành lập các nhóm đại diện như nông dân trồng và chế biến cói,hiệp hội cói, phát triển thị trường cho công nghệ sau thu hoạch, cải thiện việctiếp cận thị trường…

Trung tâm Tin học Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (ICARD),Viện Nghiên cứu Chè Việt Nam (VTRI), Viện Nghiên cứu Rau quả Việt Nam(IFFAV) và Công ty Tư vấn Nông sản Quốc tế (ACI) phối hợp thực hiện dưới

sự tài trợ của Ngân hàng Phát triển Châu Á Nghiên cứu về chuỗi giá trị chètrong khuôn khổ dự án nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường cho Ngườinghèo do ngân hàng phát triển Châu Á và quỹ phát triển Quốc tế của Anhđồng tài trợ

Chương trình hợp tác phát triển doanh nghiệp nhỏ giữa Bộ kế hoạchđầu tư và Tổ chức hỗ trợ phát triển kỹ thuật Đức (GTZ) đã triển khai dự án

“Phát triển chuỗi giá trị trái bơ Đắk Lăk” từ tháng 3/2007 có sự tham gia củaCông ty Fresh Studio Innovation Asia Ltd, DOST, CSTA, WASI, AEC Mụcđích của dự án là xây dựng chuỗi giá trị trái bơ nhằm khắc phục những điểmyếu trong chuỗi, ví dụ như nguồn cung không đồng đều, sản xuất và vận hànhkhông chuyên nghiệp dẫn đến tỉ lệ hư hại cao, lợi nhuận cho các tác nhântham gia thấp Trước đây ở Đắk Lăk cây bơ chủ yếu được trồng để làm bóngmát và chắn gió xung quanh cánh đồng cà phê, lĩnh vực quả bơ ở Đắk Lăkchưa được các nhà hoạch định chính sách để ý Sau khi triển khai dự án “Pháttriển chuỗi giá trị Đắk Lăk” đã làm nâng cao nhận thức giữa người lập chínhsách ở tỉnh về tầm quan trọng kinh tế của quả bơ ở Đắk Lăk (MPI - GTZSMEDP, 2007)

Trang 32

Giá trị gia tăng đạt được từ các hoạt động xây dựng thương hiệu, đónggói, thiết kế và marketing đã mang lại giá bán cao hơn cho người sản xuất vàlượng hàng hoá tiêu thụ nhiều hơn Trong nhiều trường hợp, các sản phẩm đã

có được thị trường mới ở các khu thương mại, siêu thị lớn ở Hà Nội và thànhphố Hồ Chí Minh, một số sản phẩm đã có được thị trường xuất khẩu Tiếp cận

và phát triển thị trường được cải thiện thông qua các hoạt động nâng cấpchuỗi và mối quan hệ hợp tác của các tác nhân trong chuỗi

Tại khu vực phía Bắc chương trình GTZ cũng hỗ trợ triển khai dự án

“Phân tích chuỗi giá trị rau cải ngọt tại tỉnh Hưng Yên” từ đầu năm 2008 với

sự tham gia của công ty Fresh Studio Innovation Asia Ltd, Sở nông nghiệp vàPhát triển nông thôn tỉnh Hưng Yên (DARD) Mục đích của dự án là cùng cácbên liên quan đến chuỗi cải ngọt tạo ra phương hướng phát triển và lập kếhoạch can thiệp trên cơ sở yêu cầu thị trường nhằm thúc đẩy chuỗi gía trị raucải ngọt thành công hơn, có khả năng cạnh tranh cao hơn từ đó mang lại lợiích cho tất cả các bên tham gia

Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) hỗ trợ về mặt tài chính để triểnkhai hàng loạt các nghiên cứu nhằm ‘‘Nâng cao hiệu quả thị trường cho ngườinghèo’’ – (M4P), với mục tiêu đánh giá các điều kiện để gia tăng sự tham giacủa người nghèo vào kênh ngành hàng sản phẩm thực phẩm, nông sản đượcđiều phối bởi các siêu thị và các điểm bán hàng truyền thống Thúc đẩy sựphát triển chuỗi và tăng thêm giá trị gia tăng cho các sản phẩm nông nghiệp

Với một số minh chứng nêu trên, chứng tỏ rằng nghiên cứu chuỗi giátrị ở Việt Nam đã được quan tâm ở cấp độ vĩ mô và vi mô, được tiến hànhtriển khai rộng rãi trên nhiều ngành, đặc biệt là các sản phẩm nông sản và rauquả Tuy nhiên, việc nghiên cứu chuỗi giá trị cho các sản phẩm lâm sản ngoài

gỗ, sản phẩm từ cây dược liệu còn ít được đề cập, đặc biệt là các sản phẩm cókhả năng phát triển thành hàng hoá, tạo thu nhập kinh tế ổn định, giúp người dânxoá đói giảm nghèo tại các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Trang 33

PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa ly

Ngọc Châu có tổng diện tích tự nhiên là 962,12 ha, nằm ở phía tây củahuyện Tân Yên - tỉnh Bắc Giang (tỉnh Bắc Giang thuộc vùng trung du miềnnúi phía bắc) cách trung tâm huyện 4 km theo đường Tỉnh 295

Địa giới hành chính được xác định như sau:

+ Phía Bắc giáp xã An Dương;

+ Phía Nam giáp xã Ngọc Thiện;

+ Phía Đông giáp xã Cao Xá;

+ Phía Tây giáp xã Lam Cốt và Song Vân

Hiện nay Ngọc Châu có 15 thôn: Thôn Quang Châu gồm 01 làng và 01 trại

Nguồn : http://wikimapia.org

Trang 34

Hình 3.1 Bản đồ khái quát xã Ngọc Châu

Trang 35

3.1.1.2 Đặc điểm địa hình

Xã Ngọc Châu có địa hình dốc dần từ đông bắc xuống tây nam, có 2dạng địa hình chính: Địa hình đồng bằng khá bằng phẳng chiếm khoảng 99%diện tích tự nhiên; Địa hình đồi núi chiếm khoảng 1% diện tích tự nhiên

3.1.1.3 Đặc điểm khí hậu thủy văn

- Về khí hậu: xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 4mùa rõ rệt, nhiệt độ cao nhất khoảng 36 - 38oC (tháng 7 - 8), nhiệt độ thấpnhất khoảng 7 - 9oC (tháng 02 - 03) Lượng mưa trung bình hàng năm 1600 -

1800 mm Nhìn chung khí hậu và thời tiết của xã Ngọc Châu tương đối thuậnlợi cho phát triển trồng trọt, chăn nuôi

- Về thuỷ văn:

+ Ngọc Châu có sông Cầu chạy dọc từ Bắc xuống Nam và hệ thốngkênh mương phân bổ đều trên khắp địa bàn xã cơ bản đáp ứng cho sản xuấtNông Nghiệp

+ Nhìn chung hệ thống kênh mương của xã khá dày, khả năng tưới tiêuchủ động là 66% Tuy nhiên hệ thống kênh mương xuống cấp nhiều, cần đượcnâng cấp trong những năm tới để đáp ứng nhu cầu sản xuất

- Nguồn nước ngầm: Theo điều tra khảo sát sơ bộ ở các điểm thuộc cácthôn xóm khác nhau kết quả cho thấy có nhiều điều kiện thuận lợi: Các giếngnước khơi và khoan có mực nước ngầm không quá sâu khoảng từ 15 - 20 m,chất lượng nước khá tốt đáp ứng tốt cho nhu cầu nước sinh hoạt của nhân dân

- Hiện tại trên địa bàn xã có hệ thống kênh mương và ao hồ tự nhiên.Đây là nguồn cung cấp nước tưới tiêu phục vụ cho sản xuất, đời sống và giảiquyết một phần nước mưa chống úng và trữ nước cho mùa khô

Nhìn chung điều kiện tự nhiên của xã Ngọc Châu tương đối phù hợpvới phát triển sản xuất nông nghiệp, CN - TTCN Tuy nhiên sản xuất trongcác lĩnh vực này hiện còn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có, chưa đượcphân bổ hợp lý

Trang 36

Trên địa bàn xã hiện chưa phát hiện có nguồn tài nguyên khoáng sảnquý hiếm hoặc có giá trị kinh tế.

Nhìn chung đặc điểm địa hình và khí hậu xã Ngọc Châu có những điềukiện phù hợp cho phát triển chăn nuôi thủy sản nói chung và chăn nuôi cá rôphi đơn tính nói riêng, xã Ngọc Châu có nhiệt độ trung bình trong giới hạnnhiệt của cá rô phi, ngoài ra xã Ngọc Châu có nhiều sông ngòi đảm bảo chonhu cầu nguồn nước cho nuôi cá Với những điều kiện về tự nhiên như vậyngoài những thuận lợi thì còn có những khó khăn nhất định như nguồn nước

từ các con sông được người dân sửa dụng trực tiếp cho nuôi cá mà chưa qua

xử lý dẫn tới nhiều bệnh hại, khí hậu còn có nhiều biến đổi và ảnh hưởng tớisinh trưởng của cá rô phi tại xã Chính vì vậy cần có những biện pháp khắcphục, hạn chế những rủi ro về tự nhiên đảm bảo cho người nông dân yên tâmsản xuất

3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

3.1.2.1 Tình hình sử dụng đất đai

Diện tích đất nông nghiệp chiếm khoảng 61,52% Người dân đã khaithác, phát huy hết tiềm năng của nguồn tài nguyên này, song thu nhập kinh

tế từ nông nghiệp vẫn có chiều hướng giảm Nguyên nhân chủ yếu do khókhăn trong việc áp dụng phương thức sản xuất canh tác và áp dụng khoa học

kỹ thuật

Trang 37

Bảng 3.1 Tổng hợp hiện trạng sử dụng đất xã Ngọc Châu 3 năm 2012 – 2014

ST

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

(Nguồn: UBND xã Ngọc Châu)

Trang 38

Tổng diện tích đất toàn xã là 962,12 ha trong đó diện tích đất nôngnghiệp là 591,93 ha chiếm 61,52% tổng diện tích đất tự nhiên của xã trongdiện tích đất nông nghiêp lớn, có 87,39 ha diện tích đất dùng cho nuôi trồngthủy sản như vậy diện tích nuôi trồng thủy sản chiếm 9,08% tổng diện tích đất

tự nhiên Diện tích đất phi nông nghiệp hiện tại là 350,53 ha chiếm 36,43%tổng diện tích đất tự nhiên, đất chưa qua sử dụng của xã còn rất ít chỉ 19,66 hachiếm 2,04% tổng diện tích đất tự nhiên

3.1.2.2 Tình hình dân số và lao động

Sự biến đổi của dân số và lao động ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh

tế cũng như sự phát triển chung của toàn xã hội Vì vậy tìm hiểu về vấn đềdân số và lao động là công việc không thể thiếu khi nghiên cứu kinh tế củamột vùng nông thôn nào đó

Tổng dân số của toàn xã tính đến 31 tháng 12 năm 2014 là 5.065 nhânkhẩu Qua số liệu ta thấy tình hình dân số qua 3 năm tại xã Ngọc Châu có sựbiến đổi rõ rệt Năm 2012 toàn xã có 5.010 khẩu nhưng đến năm 2013 giảmxuống còn 4.971 khẩu Có sự thay đổi giảm là do tỷ lệ sinh giảm, một phần là

do người dân chuyển nơi sinh sống và làm việc ở nơi khác Đến năm 2014 thìdân số tăng lên nhưng cũng không đáng kể so với năm 2012

Đến năm 2014 toàn xã đã có 1.520 hộ trong đó hộ nông nghiệp chiếm67,04%, hộ phi nông nghiệp chiếm 32,96% Cụ thể qua 3 năm số hộ nôngnghiệp tăng bình quân 0,2% và hộ phi nông nghiệp tăng bình quân 1,85%.Như vậy có thể thấy số hộ phi nông nghiệp tăng nhanh hơn số hộ nôngnghiệp Tổng số lao động qua các năm tăng tuy nhiên số lao động nôngnghiệp tăng mạnh hơn số lao động phi nông nghiệp Tóm lại tốc độ tăng dân

số, sự biến đổi về cơ cấu lao động của xã đang theo một xu hướng tích cực.Tuy nhiên để có sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong những năm tới xãcần có phương hướng cụ thể trong việc nâng cao nhận thức, tức là nâng caotrình độ cho người lao động

Trang 39

Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động xã Ngọc Châu 2012 - 2014

1.nhân khẩu nông nghiệp Người 3.25

1.lao động nông nghiệp Người 1.41

IV Một số chỉ tiêu BQ

1.BQ số nhân khẩu/hộ Người/h

Trang 40

(Nguồn: UBND xã Ngọc Châu)

Ngày đăng: 25/06/2015, 04:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban nghiên cứu hành động chính sách (2007), “Sổ tay thực hành phân tích chuỗi giá trị hiệu quả hơn cho người nghèo”, Trung tâm thông tin ADB, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thực hành phân tíchchuỗi giá trị hiệu quả hơn cho người nghèo
Tác giả: Ban nghiên cứu hành động chính sách
Năm: 2007
3. Nguyễn Thị Bình (2010), “Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng lợn thịt huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng lợn thịthuyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội”
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2010
9. Lê Huy Hiếu (2014), Nghiên cứu chuỗi giá trị Rau an toàn xã Đông Xuân, huyện Sóc Sơn, TP.Hà Nội. Luận văn tốt nghiệp, Học viện nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chuỗi giá trị Rau an toàn xã Đông Xuân,huyện Sóc Sơn, TP.Hà Nội
Tác giả: Lê Huy Hiếu
Năm: 2014
10. Trần Thị Thu Hà (2011), Nghiên cứu chuỗi giá trị thịt bò H’Mông tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chuỗi giá trị thịt bò H’Mông tạihuyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng
Tác giả: Trần Thị Thu Hà
Năm: 2011
11. Ngô Văn Nam (2010), “Nghiên cứu chuỗi giá trị của sản phẩm cây dược liệu làm thuốc tắm tại huyện Sapa, tỉnh Lào Cai”, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2010), “Nghiên cứu chuỗi giá trị của sản phẩm cây dượcliệu làm thuốc tắm tại huyện Sapa, tỉnh Lào Cai
Tác giả: Ngô Văn Nam
Năm: 2010
2. Michael Porter (1985). Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance Khác
4. Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung (1997), Giáo trình Kinh tế nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Khác
5. Phạm Vân Đình (1999), Phương pháp phân tích ngành hàng nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
6. GTZ (2007), Câm nang Value Links - Phương pháp luận để thúc đây chuỗi giá trị Khác
7. GTZ (2007), Tài liệu tập huấn dành cho giảng viên về Chuỗi giá trị, tiếp cận thị trường và nghị định 151 Khác
8. GTZ (2009), Phát triển chuỗi giá trị - công cụ gia tăng giá trị cho sản xuất nông nghiệp Khác
12. Trung tâm nghiên cứu khoa học nông vận, 2010, Phân tích chuôi giá trị Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.2 Tình hình tiêu thụ cá rô phi đơn tính trên địa - Chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính tại xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.2 Tình hình tiêu thụ cá rô phi đơn tính trên địa (Trang 52)
Hình 4.2 Hình thức giao dịch của tác nhân bán buôn với - Chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính tại xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
Hình 4.2 Hình thức giao dịch của tác nhân bán buôn với (Trang 66)
2. Hình thức bán cá của ông/bà: - Chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính tại xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
2. Hình thức bán cá của ông/bà: (Trang 89)
9. Hình thức thanh toán của Ông/bà với người bán - Chuỗi giá trị cá rô phi đơn tính tại xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
9. Hình thức thanh toán của Ông/bà với người bán (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w