1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mức độ Đạm và kali với chế phẩm vi sinh Dasvila cho hiệu quả cao trên lúa

60 585 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mức độ đạm và kali với chế phẩm vi sinh Dasvila cho hiệu quả cao trên lúa
Tác giả Đoàn Văn Hổ
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Nông Nghiệp
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường
Năm xuất bản 2010
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 2,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mức độ Đạm và kali với chế phẩm vi sinh Dasvila cho hiệu quả cao trên lúa

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP- TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: ĐOÀN VĂN HỔ

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: ĐOÀN VĂN HỔ

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP- TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BAN GIÁM HIỆU KHOA NN- TNTN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

BAN GIÁM HIỆU KHOA NN- TNTN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

Trang 3

TÓM LƯỢC

Thí nghiệm được thực hiện vào vụ Hè Thu 2010 tại ấp Vĩnh Hiệp 1 thuộc xã Vĩnh Nhuận, huyện Châu Thành, An Giang; Trên loại hình thổ nhưỡng Humi Umbric Gleysols (ký hiệu GLuh, đất glây, đọng mùn, dinh dưỡng kém) Bố trí thí nghiệm 2 nhân tố (4 mức độ N: 00, 40, 80 và 120kg/ha và 4 mức độ Kali: 0, 20, 40, 60kg

K2O/ha) theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 18 nghiệm thức (trong đó có nghiệm thức đối chứng: sản xuất như nông dân (không xử lý DASVILA, sử dụng công thức phân 120- 50- 40) và (không xử lý DASVILA, sử dụng công thức phân 00-00-00), 3 lần lập lại Giống được sử dụng là OM 4218 NC, ngoại trừ đối chứng sản xuất theo nông dân có bón Lân, các nghiệm thức khác không bón Lân Nhân tố Kali và tương tác Kali với N không có ý nghĩa Đối với nhân tố N năng suất thực tế giữa các nghiệm thức khác biệt rất có ý nghĩa, các nghiệm thức không bón N có năng suất thấp từ 4,516 – 4,791 tấn/ha khác biệt có ý nghĩa với các nghiệm thức có bón N năng suất 5,366 – 6.213 tấn/ ha; năng suất trung bình ở các mức độ N và so với đối chứng sản xuất theo nông dân (không xử lý DASVILA, sử dụng công thức phân 120- 50- 40) khác biệt không ý nghĩa; năng suất trung bình: ở các mức độ 00N là 4,678 tấn/ha, 40 N là 5,558 tấn/ha, 120 N là 5,698 tấn/ha và 80N cao nhất là 5,979 tấn/ha Các số liệu quan sát được phân tích tương quan hồi quy bằng mô hình toán Với hệ số tương quan rất chặt chẽ (R2=1), từ phương trình hồi quy và hạch toán kinh tế có thể ước lượng nếu áp dụng mức độ phân 80-00-60 sẽ đạt năng suất 6,213 tấn/ha có lợi nhuận quy lúa cao nhất: 3,397 tấn/ha, hiệu quả đồng vốn là 117% (không tính chi phí cơ hội) hoặc 27% (có tính chi phí cơ hội); còn nếu áp dụng mức

độ 70-00-00 sẽ đạt năng suất 5,908 tấn/ha, lợi nhuận quy lúa đạt 3.311kg/ha nhưng hiệu quả đồng vốn đạt cao nhất là 127% (không tính chi phí cơ hội) hoặc 28% (có tính chi phí cơ hội) Đề nghị áp dụng công thức phân 70-00-00 trong điều kiện có

xử lý DASVILA, trên giống OM 4218 vụ Hè Thu

Từ khoá: Đạm, Kali, DASVILA

Trang 4

2.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 3

2.2 Tổng quan về tình hình sản xuất lúa huyện Châu Thành, An Giang 9

3.2.3 Thu thập và phân tích số liệu 17

Trang 5

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

BVTV: Bảo vệ thực vật

CLC: Chất lượng cao

Cty TNHH : Công ty trách nhiệm hữu hạn

ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long

ĐX : Đông Xuân

HT : Hè Thu

N : Đạm

NNPTNT : Nông nghiệp phát triển nông thôn

NSG: Ngày sau gieo

Trang 6

Hình 2.1: Vi khuẩn Rhizobium trong nốt sần của cây điền thanh 3

Hình 2.2: Vi sinh vật cố định nitơ trên rễ cây 3

Hình 2.3: Vi khuẩn Azospirillum phóng đại lên 1500 lần 3

Hình 4.1: Diễn biến chiều cao theo thời gian sinh trưởng của các nghiệm thức 23

Hình 4.2: Diễn biến số chồi theo thời gian của các nghiệm thức 26

Hình 4.3: Đồ thị phương trình hồi quy năng suất với mức độ Đạm 32

Hình 4.4: Đồ thị phương trình hồi quy lợi nhuận với mức độ Đạm 33

Trang 7

Chương 1 GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Bón phân là một trong những biện pháp kỹ thuật được thực hiện phổ biến, thường mang lại hiệu quả lớn, nhưng cũng chiếm phần khá cao trong chi phí sản xuất nông nghiệp Chế độ bón phân hợp lý và cân đối đảm bảo không ngừng cải thiện các đặc tính vật lý và sinh học của đất Đất tốt nói chung, là loại đất giàu các chất dinh dưỡng, có kết cấu vật lý tốt, và có hoạt động sinh học cao

Nghiên cứu của Dobermann & Fairhurst cho thấy, để có năng suất 6T/ha, cây lúa cần 162kg N/ha, trong đó có 115kg N từ phân bón, 2kg N từ nước mưa, 5kg N từ nước tưới và 40kg N từ cố định khí N2 Tuy nhiên cây chỉ sử dụng 63kg N cho hạt lúa, 40kg N cho rơm rạ, còn lại 60kg N bị thất thoát do trực di 10kg và bay hơi 50kg (Báo Nông Nghiệp 04.11.2009)

Lượng đạm bị khử và bốc hơi làm ô nhiễm môi trường không khí (Reeves và ctv, 2002) Đạm rửa trôi làm ô nhiễm nguồn nước (Shrestha và Ladha, 1998) Để giải quyết các vấn đề trên, việc nghiên cứu cố định đạm cho cây lúa đóng vai trò quan trọng nhằm thay thế nguồn đạm hoá học, giảm ô nhiễm môi trường và không làm cạn kiệt nguồn chất hữu cơ của đất trồng lúa (Jey1abal và Kuppuswamy, 2001) (Trích dẫn bởi Nguyễn Hữu Hiệp, Tạp chí Sở KH&CN TP Cần Thơ số 2-2005) “Dasvila” là tên gọi loại phân bón vi sinh được Hội đồng Khoa học công nghệ Cục Trồng trọt, Bộ NNPTNT nghiệm thu công nhận vào đầu năm 2009 Sản phẩm

do Cty TNHH một thành viên dịch vụ phát triển nông nghiệp Đồng Tháp (Dasco) triển khai từ kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc ĐH Cần Thơ Tại Hội thảo đánh giá kết quả khảo nghiệm phân vi sinh Dasvila tổ chức tại huyện Lấp Vò (Đồng Tháp) vào tháng 9/2008 (sau vụ hè thu) cho thấy, ruộng lúa bón phân vi sinh bằng cách trộn dịch vi khuẩn với hạt giống trước khi sạ, vi khuẩn này sẽ sống cộng sinh trong rễ, lá và thân lúa, giúp cố định đạm và hòa tan lân Nhờ vậy, nông dân tiết kiệm được 30-50% phân đạm hóa học và 100% lân Tính ra, mỗi hecta lúa bón phân

vi sinh Dasvila, nông dân tiết kiệm từ 1-3 triệu đồng (TTXVN 18/03/2009)

Trang 8

An Giang có diện tích, sản lượng lúa lớn nhất cả nước (diện tích gieo trồng 566.525 ha sản lượng khoảng 3,46 triệu tấn, năm 2009) Với nhiều vùng lúa thâm canh 2 vụ và một số vùng sản xuất 3 vụ lúa trong năm Do yêu cầu thâm canh, tăng

vụ cho lúa phải sử dụng nhiều phân bón, nhưng người nông dân sử dụng chủ yếu phân hóa học nên chi phí phân bón cao, ngoài ra còn ảnh hưởng xấu đến môi trường Nhằm giảm chi phí, tăng lợi nhuận cho nông dân sản xuất lúa, giảm ô nhiễm môi trường…Việc nghiên cứu ứng dụng phân vi sinh DASVILA để giảm sử dụng phân hóa học và xác định mức độ N, Kali thích hợp cho năng suất hiệu quả kinh tế cao nhất là cần thiết trong tình hình hiện nay

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm ra mức độ Đạm và Kali cho hiệu quả cao khi sử dụng chế phẩm vi sinh DASVILA cho lúa trong vụ Hè Thu

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Khi sử dụng chế phẩm vi sinh cố định đạm và phân giải lân (chủng chế phẩm vi sinh vào rể lúa giảm lượng đạm và lân cho lúa) là xây dựng “các nhà máy phân tí hon” cho cây lúa Vậy công suất làm việc của các nhà máy này đã thỏa mản bao nhiêu cho cây lúa? (Đối với Lân theo khuyến cáo đã đủ trong nghiên cứu này không

đề cập đến)

- Cây lúa cần thêm bao nhiêu Đạm và Kali để đủ cho nhu cầu (không thừa không thiếu) để vừa đạt năng suất, vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế cao?

1.4 Nội dung, phạm vi nghiên cứu

- Nhằm giải quyết các câu hỏi đặt ra trên đây nội dung nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi xác định mức độ Đạm và Kali áp dụng cho năng suất và hiệu quả cao nhất, không nghiên cứu các biến động về dinh dưỡng, độ phì trong đất …

- Bố trí thí nghiệm (có đối chứng với điều kiện sản xuất của nông dân), chăm sóc, theo dõi tình hình sâu bệnh, đo đếm các chỉ tiêu nông học cây lúa (chiều cao, số chồi, thu hoạch đo đếm thành phần năng suất, tính toán năng suất lý thuyết, năng suất thực tế) Phân tích thống kê các chỉ tiêu theo dõi Trên cơ sở đó có những kết luận và khuyến nghị nhân rộng nghiệm thức tối ưu cho sản xuất lúa tại địa bàn

Trang 9

Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Phân đạm ( tên khoa học là nitơ - N2) là thức ăn không thể thiếu của cây trồng

Các nguồn phân đạm chủ yếu được bón cho cây là phân chuồng và phân đạm vô cơ

(urê) Trong không khí có rất nhiều đạm (78%), nhưng cây trồng không hấp thụ trực

tiếp được Tuy nhiên một số vi sinh vật có khả năng sử dụng nguồn đạm trong

không khí được gọi là Vi Sinh Vật Cố Định Nitơ Ví dụ Rhizobium sống trong các

nốt sần của các cây họ đậu và điền thanh, hay Azospirillum, Azotobacter, sống ở

vùng rễ của các loại cây khác trong đất Các vi sinh vật này hút đạm ( N2) trong

không khí và biến đạm từ dạng cây trồng không hấp thụ được (N2) thành dạng đạm

mà cây trồng hấp thụ được (NH3) Như vậy là cây trồng có thể sử dụng nguồn đạm

vô tận trong không khí nhờ có sự giúp đỡ của các vi sinh vật cố định nitơ Các vi

sinh vật này hoạt động giống như các nhà máy phân đạm tí hon (Nguyễn Thanh

Hiền, 2009)

Hình 2.1: Vi khuẩn Rhizobium trong Hình 2.2: Vi sinh vật cố định nitơ Hình 2.3: Vi khuẩn Azospirillum

nốt sần của cây điền thanh trên rễ cây phóng đại lên 1500 lần

Azospirillum

Giống Azospirillum gồm các vi khuẩn có khả năng cố định đạm, có dạng hình

que thẳng hay hơi cong, đường kính khoảng 1µm, dài 2,1-3,8 µm Tế bào có chứa

chất dự trữ poly- hydroxybutyrate (PHB) Tế bào giống Azospirillum thuộc gram âm

hay thay đổi, có thể chuyển động trong môi trường lỏng nhờ có một chiên mao ở

một đầu tế bào Nhiệt độ tốt nhất để phát triển là 35-370C Trên môi trường khoai

tây agar khuẩn lạc có màu đỏ nhạt hay đậm và thường nhăn nheo và không nhầy Vi

Trang 10

khuẩn phát triển tốt trên nguồn muối các acid hữu cơ như malate, succinate, lactate hay pyruvate Tế bào có thể sử dụng fructose và một số đường khác Nguồn đạm thích hợp là muối ammonium Vi khuẩn không thể sử dụng đường đôi Một số dòng cần biotin Tế bào vi khuẩn sống tự do trong đất hay cộng sinh với rễ của các loại

ngũ cốc, các loại cỏ và cây có củ

Bảng 2.1 : Các loại cây có sự hiện diện của các loài vi khuẩn Azospirillum

Vi khuẩn Loại cây Bộ phận của cây

Ngũ cốc Rễ, thân, hạt

Cỏ Rễ, than Mía Rễ, thân, lá

Azospirillum brasilense

Cây cọ dầu Rễ, thân, trái Ngũ cốc Rễ, thân, hạt, nhựa nguyên

Cỏ Rễ, lá Mía Rễ, thân, lá Cây có củ Củ, rễ

Azospirillum lipoferum

Cây cọ dầu Rễ, thân, trái Ngũ cốc Rễ, thân, hạt Mía Rễ, than

Azospirillum amazonense

Cây cọ dầu Rễ, thân, trái

Nguồn: Döbereiner và ctv (1995)

Trong vòng 2 thập niên trở lại đây, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm tìm ra các nguồn vi sinh vật có khả năng cố định đạm cho lúa và một số cây họ hòa bản khác Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã phát hiện được các nhóm vi khuẩn có khả năng cố định đạm cho cây lúa và giúp tăng năng suất cây lúa từ 15 % đến 54 % (Omar và ctv, 1989) Các nhóm vi khuẩn này đã và đang được phân lập tại nhiều vùng sinh thái khác nhau để tìm các loài thích hợp cho điều kiện khí hậu, đất đai của mỗi nước và các giống lúa sản xuất (Okon và ctv 1994; Baldani và ctv.1997)

Trang 11

Döbereiner và Day (1975) phát hiện ra giống Azospirillum thì các nhà khoa

học mới thực sự quan tâm đến các vi khuẩn cố định đạm ở cây họ hòa bản Trong những năm gần đây, người ta phát hiện nhiều nhóm vi khuẩn sống ở trong vùng rễ, trong rễ cây, thân cây và lá các cây không thuộc họ đậu như lúa, bắp, mía, sorghum,

và một số loại cỏ Các vi khuẩn này giúp cây tăng trưởng tốt hơn và làm gia tăng năng suất (Bashan và ctv, 2004), hòa tan lân dạng khoáng khó tan và các chất dinh dưỡng khác (Seshadri và ctv, 2002; Richardson, 2003), sản xuất kích thích tố thực vật (Vande Broek và Vanderleyden, 1995; Arshad và ctv, 1991; Tien và ctv, 1979); hay kiểm soát các vi sinh vật gây bệnh cho cây trồng (Rangarajan và ctv, 2003) Các loài vi khuẩn trên đã được nghiên cứu khá tường tận và mỗi loài giúp tăng năng suất

cây trồng khác nhau Ví dụ, Azospirillum giúp tăng năng suất lúa từ 32-81% ở điều

kiện nhà lưới (Mirza và ctv, 2000; Malik và ctv, 2002) Nhưng ở điều kiện ngoài đồng, vi khuẩn này chỉ làm tăng năng suất lúa được 10-30% (Kapulnik và ctv, 1981, 1987; Rao và ctv, 1983; Watanabe và Lin, 1984; Balandreau, 2002) Vi khuẩn

Burkholderia tăng năng suất lúa 13-22% (Tran Van và ctv, 2000) Vi khuẩn Herbaspirillum tăng năng suất lúa 44-90% trong điều kiện nhà lưới (Mirza và ctv,

2000) (Trích dẫn bởi Nguyễn Hữu Hiệp, Tạp chí Sở KH&CN TP Cần Thơ số 2005)

Ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), các nghiên cứu bước đầu của Nguyễn Hữu Hiệp và ctv.(2002, 2003) cho thấy khi chủng vi khuẩn cố định đạm và phân giải

lân cho cây đậu nành đã giúp gia tăng năng suất đậu nành một cách đáng kể

Trong những năm gần đây ở nhiều nước trên thế giới, người ta đã tổ chức sản xuất công nghiệp một số loại phân vi sinh vật và đem bán ở thị trường trong nước Một số loại phân vi sinh vật được bán rộng rãi trên thị trường thế giới Tuy nhiên, các loại phân vi sinh vật còn rất ít và chỉ là bộ phận nhỏ so với phân hoá học trên thị trường phân bón

Phân vi sinh vật cố định đạm Có nhiều loài vi sinh vật có khả năng cố định N

từ không khí Đáng chú ý có các loài: tảo lam (Cyanobacterium), vi khuẩn

Azotobacter, Bradyrhizobium, Rhyzobium; xạ khuẩn Actinomyces, Klebsiella

(khucthuydu, 2007)

Phần lớn các loài vi khuẩn cố định đạm thường sống cộng sinh với các cây họ đậu Chúng xâm nhập vào rễ cây và sống cộng sinh trong đó, tạo thành các nốt sần ở

Trang 12

rễ cây Chúng sử dụng chất hữu cơ của cây để sinh trưởng đồng thời hút đạm từ không khí để cung cấp cho cây, một phần tích luỹ lại trong cơ thể chúng Tảo lam cộng sinh với bèo hoa dâu và hút đạm tích luỹ lại làm cho bèo hoa dâu có hàm lượng đạm cao, trở thành cây phân xanh rất quý

Thời gian gần đây, cùng với những tiến bộ của khoa học và công nghệ, các nhà khoa học đã sử dụng công nghệ gen để tạo ra các chủng vi sinh vật cố định đạm có nhiều đặc điểm tốt: khả năng cố định đạm cao, khả năng cộng sinh tốt Công nghệ sinh học cũng giúp tạo ra những chủng vi sinh vật có đặc tính cạnh tranh cao với các loài vi sinh vật trong đất Mặt khác, công nghệ sinh học đã cho phép các nhà khoa học tách được gen quy định đặc tính cố định đạm từ vi khuẩn và đem cấy vào nhân

tế bào cây trồng, làm cho một số loài cây trồng cũng tạo được khả năng cố định đạm như vi khuẩn

Hiện nay trên thị trường phân bón nước ta, phân vi sinh vật cố định đạm được bán dưới các tên thương phẩm: Phân nitragin chứa vi khuẩn nốt sần cây đậu tương; Phân rhidafo chứa vi khuẩn nốt sần cây lạc; Azotobacterin chứa vi khuẩn hút đạm tự do; Azozin chứa vi khuẩn hút đạm từ không khí sống trong ruộng lúa Loại phân này

có thể trộn với hạt giống lúa

Vi sinh vật hoà tan lân Cây chỉ có thể hút được lân từ đất dưới dạng hoà tan

trong dung dịch đất Vì vậy, cây chỉ có thể hút được lân ở dạng dễ tiêu trong đất Lân ở dạng khó tan trong đất cây không hút được Vì vậy, có nhiều loại đất như đất

đỏ bazan, đất đen, v.v hàm lượng lân trong đất khá cao, nhưng cây không hút được

vì lân ở dưới dạng khó hoà tan Trong đất thường tồn tại một nhóm vi sinh vật có khả năng hoà tan lân Nhóm vi sinh vật này được các nhà khoa học đặt tên cho là nhóm HTL (hoà tan lân, các nước nói tiếng Anh đặt tên cho nhóm này là PSM (phosphate solubilizing microorganisms) (khucthuydu 09.10.2007)

Nhóm hoà tan lân bao gồm: Aspergillus niger, một số loài thuộc các chi vi khuẩn Pseudomonas, Bacillus, Micrococens Nhóm vi sinh vật này dễ dàng nuôi cấy

trên môi trường nhân tạo Nhiều nơi người ta đã đưa trộn sinh khối hoặc bào tử các loại vi sinh vật hoà tan lân sau khi nuôi cấy và nhân lên trong phòng thí nghiệm, với bột phosphorit hoặc apatit rồi bón cho cây Sử dụng các chế phẩm vi sinh vật HTL đem lại hiệu quả cao ở những vùng đất cây bị thiếu lân

Trang 13

Một số loài vi sinh vật sống cộng sinh trên rễ cây có khả năng hút lân để cung

cấp cho cây Trong số này, đáng kể là loài VA mycorrhiza Loài này có thể hoà tan

phosphat sắt trong đất để cung cấp lân cho cây Ngoài ra loài này còn có khả năng

huy động các nguyên tố Cu, Zn, Fe… cho cây trồng Nhiều nơi người ta sử dụng VA

mycorrhiza đã làm tăng năng suất cam, chanh, táo, cà phê… Nuôi cấy VA mycorrhiza trên môi trường nhân tạo rất khó Vì vậy hiện nay các chế phẩm có chứa

VA mycorrhiza chỉ có bán rất hạn chế trên thị trường phân bón Mỹ (khucthuydu,

2007)

Vai trò chất Đạm, Lân và Kali đối với cây: Có 13 chất dinh dưỡng khoáng thiết

yếu đối với sinh trưởng và phát triển của cây Trong đó có 3 nguyên tố đa lượng là:

N, P, K; 3 nguyên tố trung lượng là: Ca, Mg, S và 7 nguyên tố vi lượng: Fe, Mn, Zn,

Cu, Mo, B, Cl Ngoài ra, còn một số nguyên tố khác cần thiết cho từng loại cây như:

Na, Si, Co, Al…

Đạm là chất dinh dưỡng rất cần thiết và rất quan trọng đối với cây Đạm là nguyên tố tham gia vào thành phần chính của clorophin, prôtit, các axit amin, các enzym và nhiều loại vitamin trong cây Bón đạm thúc đẩy quá trình tăng trưởng của cây, làm cho cây ra nhiều nhánh, phân cành, ra lá nhiều; lá cây có kích thước to, màu xanh; lá quang hợp mạnh, do đó làm tăng năng suất cây Phân đạm cần cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng, đặc biệt là giai đoạn cây sinh trưởng mạnh Trong

số các nhóm cây trồng đạm rất cần cho các loại cây ăn lá như rau cải, cải bắp v.v Tuy nhiên khi thừa đạm, cây phát triển mạnh, dễ đổ ngã, ra hoa chậm, ít hạt, hạt lép nhiều, quả dễ rụng, nhiều sâu bệnh, phẩm chất quả giảm (Phân vô cơ đa lượng Cục Trồng trọt, 2007)

Lân có vai trò quan trọng trong đời sống của cây trồng Lân có trong thành phần của hạt nhân tế bào, rất cần cho việc hình thành các bộ phận mới của cây Lân tham gia vào thành phần các enzim, các prôtêin, tham gia vào quá trình tổng hợp các axit amin Lân kích thích sự phát triển của rễ cây, làm cho rễ ăn sâu vào đất và lan rộng

ra chung quanh, tạo thêm điều kiện cho cây chống chịu được hạn và ít đổ ngã Lân kích thích quá trình đẻ nhánh, nảy chồi, thúc đẩy cây ra hoa kết quả sớm và nhiều Lân làm tăng đặc tính chống chịu của cây đối với các yếu tố không thuận lợi: chống rét, chống hạn, chịu độ chua của đất, chống một số loại sâu bệnh hại v.v… Thiếu lân không những làm cho năng suất cây trồng giảm mà còn hạn chế hiệu quả của

Trang 14

phân đạm Bón quá nhiều phân lân trong nhiều trường hợp có thể làm cho cây bị thiếu một số nguyên tố vi lượng Vì vậy, cần bón thêm phân vi lượng, nhất là Zn (Phân vô cơ đa lượng Cục Trồng trọt, 2007)

Kali có vai trò chủ yếu trong việc chuyển hoá năng lượng trong quá trình đồng hoá các chất dinh dưỡng của cây Kali làm tăng khả năng chống chịu của cây đối với các tác động không lợi từ bên ngoài và chống chịu đối với một số loại bệnh Kali tạo cho cây cứng chắc, ít đổ ngã, tăng khả năng chịu úng, chịu hạn, chịu rét Kali làm tăng phẩm chất nông sản và góp phần làm tăng năng suất của cây Kali làm tăng hàm lượng đường trong quả làm cho màu sắc quả đẹp tươi, làm cho hương vị quả thơm và làm tăng khả năng bảo quản của quả Kali làm tăng chất bột trong củ khoai, làm tăng hàm lượng đường trong mía Trên phương diện khối lượng, cây trồng cần nhiều K hơn N Nhưng vì trong đất có tương đối nhiều K hơn N và P, cho nên người

ta ít chú ý đến việc bón K cho cây Trong cây K được dự trữ nhiều ở thân lá, rơm rạ, cho nên sau khi thu hoạch kali được trả lại cho đất một lượng lớn Kali có nhiều trong nước ngầm, nước tưới, trong đất phù sa được bồi hàng năm Vì vậy, việc bón phân kali cho cây không được chú ý đến nhiều Hiện nay, trong sản xuất nông nghiệp càng ngày người ta càng sử dụng nhiều giống cây trồng có năng suất cao Những giống cây trồng này thường hút nhiều K từ đất, do đó lượng K trong đất không đủ đáp ứng nhu cầu của cây, vì vậy muốn có năng suất cao và chất lượng nông sản tốt, thì phải chú ý bón phân kali cho cây Mặt khác, các bộ phận thân lá cây, rơm rạ, v.v sau khi thu hoạch sản phẩm chính của nông nghiệp, hiện nay được

sử dụng nhiều để nuôi trồng nấm, làm vật liệu độn chuồng, làm chất đốt, v.v và bị đưa ra khỏi đồng ruộng, vì vậy, việc bón kali cho cây càng trở nên cần thiết Bón quá nhiều kali có thể gây tác động xấu lên rễ cây, làm cây teo rễ Nếu bón quá thừa phân kali trong nhiều năm, có thể làm cho mất cân đối với natri, magiê (Phân vô cơ

đa lượng Cục Trồng trọt, 2007)

Bón phân hợp lý không những chỉ chú ý đến việc cung cấp thêm các chất dinh dưỡng cho cây mà còn làm tốt thêm các đặc tính vật lý và sinh học của đất Bón phân vô cơ hợp lý tạo điều kiện môi trường thuận lợi cho tập đoàn vi sinh vật tăng cường hoạt động Thay vì có hệ số sử dụng phân bón hiện nay là 40 - 50%, bón phân hợp lý có thể nâng cao số sử dụng này lên 60 - 70% và cao hơn Trong điều kiện chi phí cho phân bón chiếm tỷ trọng khá lớn trong chi phí sản xuất, thì việc tiết kiệm

Trang 15

trong sử dụng phân bón mang lại cho nông dân khoản tiền không nhỏ Vì vây, bón

phân hợp lý cho cây là bón vừa đủ lượng phân theo nhu cầu của cây ở từng thời

điểm (Bón phân hợp lý cho cây trồng Cục Trồng trọt, 2007)

Bảng 2.2 : Một số triệu chứng của cây do thiếu chất

3 Các gân lá úa vàng khi lá còn xanh Mg

4 Trên lá ngũ cốc xuất hiện các đốm màu hơi nâu, hơi xám, hoặc

hơi trắng

Mn

5 Trên lá hoặc thân xuất hiện màu hơi đỏ trên nền xanh P

6 Lá non có những đốm xanh vàng với gân lá màu hơi vàng S

7 Lá non có những đốm xanh vàng với gân lá màu xanh Fe

Nguồn: Cục trồng trọt (2007)

2.2 Tổng quan về tình hình sản xuất lúa huyện Châu Thành, An Giang

Phía Bắc của Châu Thành giáp huyện Châu Phú; Phía Đông – Đông Bắc giáp

với huyện Chợ Mới; Phía Đông – Đông Nam giáp với TP Long Xuyên; Phía Nam

giáp với huyện Thoại Sơn; Phía Tây giáp với huyện Tri Tôn; Phía Tây Bắc giáp với

huyện Tịnh Biên Huyện nằm trên trục chính giao thông quốc lộ 91, chợ lớn nhất

của huyện là chợ An Châu, bệnh xá và trường học khá đồ sộ tập trung trên tuyến

quốc lộ chính Diện tích tự nhiên 35.506 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp

30.863 ha Thuận lợi của huyện là được phù sa của sông Hậu bồi đắp hàng năm và

cũng là nguồn nước cung cấp cho sản xuất nông nghiệp Huyện nằm trong vành đai

nhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều, hàng năm có hai mùa mưa nắng rõ rệt đặc biệt có mùa

nước nổi giúp cho đất đai màu mỡ hơn sau mỗi mùa nước rút Tổng diện tích gieo

trồng của cả năm 2010 là 65.499,35 ha; tăng 1.614,56 ha so 2009, trong đó cây lúa

Trang 16

năm 2010 là 63.566,2 ha chiếm trên 97% (ĐX: 29.486,8 ha; HT: 29.468,7 ha; TĐ: 4.610,7 ha) tăng 1.551,7 ha so 2009, trong đó xã Vĩnh Nhuận 7.648 ha chiếm 12% toàn huyện (ĐX: 3.349 ha; HT: 3.349 ha; TĐ: 950 ha) Năng suất bình quân cả năm đạt 6,51 tấn/ha (ĐX: 7,58 tấn/ha; HT: 5,59 tấn/ha) tăng 0,12 tấn/ha so

2009, trong đó xã Vĩnh Nhuận năng suất ĐX:7,41 tấn/ha; HT:5,30 tấn/ha thấp hơn năng suất trung bình của huyện

- Vụ đông xuân: xuống giống ngày 23/11/2009, dứt điểm ngày 30/12/2009

Cơ cấu giống: Jasmine 5.611,4ha (chiếm 19%); lúa CLC 20.121,7 ha (OM 4218,

OM 4900, OM 6161, OM 6162, OM 6561, OM 5472, OM 2395, … chiếm 68,3%);

IR 50404: 3.753,8 ha (chiếm 12,7%)

- Vụ hè thu: xuống giống ngày 01/4/2010, dứt điểm ngày 10/5/2010 Cơ cấu

giống: Jasmine: 4.076,6 ha (chiếm 13,83%); lúa CLC: 22.351,25 ha (OM 4218, OM

4900, OM 6161, OM 6162, OM 6561, OM 5472, OM 2395, …chiếm 75,85%); IR50404: 2.711,9 ha (chiếm 9,2%); nếp 328,9 ha (chiếm 1,12%)

- Vụ thu đông: xuống giống ngày 01/8/2010, dứt điểm ngày 31/8/2010 Cơ cấu giống: Jasmine: 413,7 ha (chiếm 9%); lúa CLC: 3.551 ha (OM 4218, OM 4900,

OM 6161, OM 6162, OM 6561, OM 5472, OM 2395, …chiếm 77%); IR50404: 159,4 ha (chiếm 3%); nếp 486,8 ha (chiếm 11%)

* Tình hình dịch hại trên lúa:

Tổng số lượt diện tích nhiễm dịch hại trên lúa trong 02 vụ đông xuân và hè thu là 5.084 ha; giảm 11.071,5 ha so 2009 Các đối tượng gây hại trong các vụ lúa chủ yếu như sau: sâu cuốn lá, rầy nâu, chuột, đạo ôn, đốm vằn, cháy bìa lá, lem lép hạt …(Phòng Nông Nghiệp & PTNT huyện Châu Thành Báo cáo tổng kết hoạt động nông nghiệp 2010)

Trang 17

Chương 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Phương tiện

3.1.1 Địa bàn thí nghiệm:

Thí nghiệm được bố trí trên nền đất 2 vụ lúa/ năm tại ấp Vĩnh Hiệp 1, thuộc xã Vĩnh Nhuận, huyện Châu Thành, An Giang Trên loại hình thổ nhưỡng Humi Umbric Gleysols (ký hiệu GLuh, đất glây, đọng mùn, dinh dưỡng kém) phân bố tập trung thành vùng lớn ở các huyện Châu Phú, Châu Thành và Thoại Sơn, và rãi rác với diện tích nhỏ ở huyện Tri Tôn và thị xã Châu Đốc Tổng diện tích biểu loại đất này trên toàn tỉnh là 87.887,26 ha (hay 25,80% tổng diện tích đất toàn tỉnh) Đây là loại đất có đặc tính glây xuất hiện trong vòng 50 cm lớp đất mặt Do đặc tính nêu trên, biểu loại đất này thường được phân bố trên những vùng có địa hình tương đối thấp trũng có tầng mặt tương đối dày, thường là >= 25 cm Tầng mặt này có màu sậm do tích tụ chất hữu cơ, có ít nhất là một tầng đất bên dưới nghèo dinh dưỡng, cộng với sự thấp trũng của phẫu diện có thể là các yếu tố cơ bản không có lợi lắm cho việc trồng các loại cây trồng cạn Ngoài ra độ bảo hòa base < 50% là dấu hiệu chứng tỏ độ phì tiềm tàng thấp, không có lợi cho cây trồng Tuy nhiên, có thể được cải thiện trong quá trình canh tác thông qua việc bón các loại phân chứa nhiều nguyên tố base

Trang 18

DASVILA có chứa vi khuẩn cộng sinh hoạt động trong cây lúa, sẽ cố định đạm tự

do (N2) trong không khí chuyển hóa thành đạm hữu dụng cung cấp cho cây lúa trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển, tiết kiệm 50% nhu cầu đạm cần thiết của cây lúa DASVILA nhờ chứa vi khuẩn cộng sinh hoạt động trong cây lúa, sẽ phân giải lân khó tan (CaHPO4¬, Ca3PO4, Ca5OHPO4, AlPO4, FePO4) trong đất thành dạng dễ hấp thu (H3PO4) cung cấp 100% lượng lân giúp cây lúa hấp thụ tốt trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển Không cần phải bón thêm lân DASVILA chứa vi khuẩn hoạt động tạo ra kích thích tố tăng trưởng (IAA) giúp cho bộ rễ phát triển mạnh, hấp thụ dinh dưỡng tốt hơn, tạo dạng hình cây lúa khỏe, hạn chế được

đổ ngã và sâu bệnh DASVILA tăng năng suất – chất lượng hiệu quả kinh tế cao Tiết kiệm chi phí sản xuất DASVILA an toàn cho môi trường, không gây độc cho người, động vật và thủy sản Sản phẩm do Cty dịch vụ phát triển nông nghiệp Đồng Tháp (Dasco.) triển khai từ kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc ĐH Cần Thơ (Hội đồng Khoa học công nghệ Cục Trồng trọt, Bộ NNPTNT nghiệm thu công nhận vào đầu năm 2009)

+ Phân hóa học: URÊ, KCL, DAP

+ Lúa giống OM 4218 nguyên chủng (OM 4218 được chọn từ tổ hợp lai OM 2031/

MTL 250) Thời gian sinh trưởng: 90 - 95 ngày Chiều cao cây: 90- 95 cm, đẻ nhánh

khá, thân rạ cứng; bông dài, khoe, lá cờ nhỏ, ngắn, chịu phèn nhẹ Năng suất đông

xuân 6-8 t/ha, hè thu 5-6 t/ha Ít đỗ ngã, chống chịu vàng lùn-lùn xoắn lá tốt Hơi

nhiễm bệnh cháy lá (cấp 3), nhiễm rầy nâu (cấp 5 - 7).Trọng lượng 1.000 hạt: 25,1

gram Hạt gạo dài, trong, mềm cơm vỏ trấu mỏng

+ Nylon chống chuột

+ Tre , dây chì…

Trang 19

Hình 3.1: Bản đồ đất tỉnh An Giang

Trang 20

3.1.3 Kỹ thuật canh tác

+ Chuẩn bị, gieo sạ

- Làm đê bao, làm đường nước tưới tiêu, phân lô thí nghiệm

- Vệ sinh đồng ruộng, bơm nước, làm đất

- Giống (Mật độ 160 kg giống/ha) được ngâm, ủ ra mầm 1-2 mm xử lý phun đều DASVILA vào hạt giống trước gieo sạ tối thiểu 3 giờ (Không xử lý DASVI LA đối với nghiệm thức O và P)

- Gieo sạ sau chuẩn bị hoàn tất khu thí nghiệm

+ Bón phân (Tùy theo từng nghiệm thức)

- Lần 1 (10 NSG): 30% URÊ (riêng nghiệm thức P bón 30% URÊ + 100% DAP)

- Tưới tiêu, làm cỏ bằng tay

- Phun thuốc BVTV (giai đoạn 40 NSG đến trước thu hoạch 15 ngày): Quan sát, ghi nhận và đánh giá các loại sâu, bệnh tiến hành phun xịt khi cần thiết

- Thu hoạch khi lúa chín trên 80%

3.2 Phương pháp

3.2.1 Nghiệm thức thí nghiệm

Thí nghiệm gồm 18 nghiệm thức được ký hiệu và mô tả ở Bảng 3.1

Trang 21

Bảng 3.1: Nghiệm thức thí nghiệm

Số TT Ký hiệu (Nghiệm thức) Công thức phân áp dụng (Kg/ha)

Có xử lý DASVILA N P2O5 K2O

Trang 22

3.2.2 Bố trí thí nghiệm:

Bố trí thí nghiệm 2 nhân tố Đạm (N) và Kali (K2O) theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 18 nghiệm thức (trong đó có nghiệm thức đối chứng không xử lý DASVILA sản xuất như nông dân với công thức phân 120-50-40 và công thức phân 00-00-00, 3 lần lập lại, diện tích mỗi lô 16m2 (4m x 4m) theo sơ đồ Hình 3.2

REP I REP II REP III

NƯỚC

T ƯỚ

I

TIÊU

U

Hình 3.2: Sơ đồ thí nghiệm

Trang 23

3.2.3 Thu thập và phân tích số liệu

- Các số liệu thứ cấp tại vùng nghiên cứu: báo cáo kinh tế xã hội của xã, huyện, tỉnh,

số liệu về Thổ nhưỡng, thời tiết và số liệu niên giám thống kê

- Thời gian sinh trưởng: Ghi nhận ngày sạ, ngày trổ 5%, trổ hoàn toàn và ngày thu

hoạch Thời gian sinh trường được tính từ lúc gieo lúa cho đến khi thu hoạch lúa

- Chỉ tiêu nông học: (Theo Viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế IRRI) Đếm số chồi và

đo chiều cao mỗi lô chọn 2 điểm đại diện (kích thước 0,25m x 0,4m/điểm) lấy chỉ tiêu lần 1: 10 NSG (Ngày sau gieo); lần 2: 25 NSG; lần 3: 40 NSG; lần 4: Thu hoạch

- Chiều cao cây: Chiều cao cây được tính từ gốc lúa sát mặt đất đến chóp lá cao nhất

của cây lúa Chọn và đo ngẫu nhiên 30 cây trong 2 khung

- Số chồi: Số chồi được tính là phần thân chính và phần nhánh đẻ ra từ thân chính

của cây lúa có chiều cao từ 2 cm trở lên

- Các thành phần năng suất lúa: Thu thập mẫu lúa trong 2 khung (0,2 m 2):

+ Đếm tổng số bông lúa trong 2 khung (P)

+ Tách hạt chắc và hạt lép

+ Đếm hạt lép trong 2 khung (U)

+ Đếm và cân trọng lượng 1000 hạt (W1000 hạt)

+ Cân trọng lượng hạt chắc trong 2 khung (W0,20m2)

Tất cả trọng lượng được qui về ẩm độ 14 % theo công thức sau:

Trang 24

Năng suất lý thuyết được tính theo các công thức sau:

- Năng suất lý thuyết (Tấn/ha) = số bông/m2 * số hạt/bông * % hạt chắc * W1000 hạt *10-5 + Số bông/m2 = P x 5

Năng suất thực tế được tính bằng công thức:

Năng suất thực tế (T/ha) = (W14% x 10)/S

S: diện tích thu hoạch thực tế (m2)

Tính các chỉ tiêu về kinh tế, lợi nhuận và hiệu quả của từng nghiệm thức

- Tổng chi (TC): ghi nhận tổng chi phí của từng lô thí nghiệm

- Tổng thu (TR): ghi nhận giá trị sản phẩm bán được của mỗi lô thí nghiệm

- Lợi nhuận: Tổng thu (TR) - Tổng chi (TC)

- Hiệu quả đồng vốn/vụ: (TR-TC)/TC

Phân tích số liệu

- Sử dụng MS Excel, SPSS, Graph phân tích phương sai (Anova), kiểm định Duncan, thiết lập phương trình và vẽ biểu đồ hồi qui tương quan để so sánh đánh giá ảnh hưởng của đặc tính nông học, năng suất, hiệu quả kinh tế các nghiệm thức

Trang 25

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Ghi nhận tổng quát

Cỏ dại xuất hiện nhiều và thời gian trổ trể hơn ở các nghiệm thức không bón

N (O, A, E, K, Q) Phần lớn các nghiệm thức trổ 5% vào 52NSG, ngoại trừ các nghiệm thức O, A, E, K, Q chưa trổ do không được bón Đạm so với các nghiệm thức khác; Thời gian trổ hoàn toàn: 57NSG ngoại trừ các nghiệm thức O, A, E, K, Q trổ hoàn toàn 60NSG; Thời gian thu hoạch: 87NSG không nghiệm thức nào bị ngã

có lẽ do đặc điểm giống OM 4218 cứng cây, về màu sắc lá nghiệm thức P, H, N xanh hơn các nghiệm thức khác và có sâu cuốn lá tấn công có lẽ do bón Đạm (120N) cao hơn các nghiệm thức khác

4.1.1 Tình hình thời tiết trong thời gian thực hiện thí nghiệm

Diễn biến thời tiết trong thời gian thí nghiệm ngoài đồng từ tháng 4 – 8/2010 theo số liệu được ghi nhận từ Trung Tâm Khí Tượng Thủy Văn An Giang,

Bảng 4.1 Nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa các tháng tại An Giang

Tháng Nhiệt

độ

TB (°C)

Nhiệt độ tối cao (°C)

Ngày xuất

hiện

Nhiệt độ tối thấp (°C)

Ngày xuất hiện

Lượng mưa (mm)

độ ẩm (%)

Nguồn Trung tâm Khí tượng Thủy văn An Giang 2010

Nhìn chung về nhiệt độ trong thời gian thực hiện thí nghiệm không dao động lớn, nhiệt độ trung bình giữa các tháng chỉ biến động từ 27,5 – 30,40C Tuy nhiên, tháng 4, 5 là tháng có nhiệt độ tối cao và nhiệt độ tối thấp cao hơn các tháng khác từ 0,5- 2,20C đạt cao nhất ở 370C và thấp nhất là 250C Về lượng mưa trong tháng 4 nắng hạn không có mưa, lượng mưa cao nhất xuất hiện tháng 6, 7 trung bình là 203-

Trang 26

269 mm/tháng, đây cũng là giai đoạn lúa trổ và thu hoạch nên phần nào ảnh hưởng đến quá trình ngậm sữa vào chắc của hạt lúa Mực nước cao nhất tháng 7 trên sông Tiền tại Tân Châu là 1,55m; trên sông Hậu tại Châu Đốc là 1,49m, thấp hơn trung bình nhiều năm (TBNN) cùng kỳ từ 0,55-1,00m; mực nước thấp nhất tại Tân Châu

là -0,13m, tại Châu Đốc là -0,27m, thấp hơn TBNN cùng kỳ từ 0,80-1,15m Thời điểm này đồng ruộng không bị ngập nên rất thuận lợi trong thu hoạch

4.1.2 Kỹ thuật canh tác

Kỹ thuật canh tác lúa đảm bảo theo quy trình: Chuẩn bị đất (vệ sinh đồng ruộng: đốt rơm rạ mùa vụ trước (Đông xuân), sau đó xới phơi đất (2 tuần) bơm nước vào ruộng trục chạt, xịt ốc bươu vàng, phân lô, đắp bờ, dùng nylon bao quanh khu thí nghiệm để chống chuột vào cắn phá); Chuẩn bị giống (kiểm tra tỷ lệ nẩy mầm, sau đó giống được ngâm 36 giờ, ủ 48 giờ (khi mầm mọc 1-2 mm phun DASVILA (tỷ lệ 12kg giống/ lít), tiếp theo cân trọng lượng giống tương ứng cho từng nghiệm thức); sau đó mang đi gieo theo sơ đồ bố trí thí nghiệm; 4NSG cho nước vào ruộng,

7NSG xịt cỏ, 10NSG bơm châm thêm nước và bón phân đợt 1…

Nhìn chung giống có tỷ lệ nẫy mầm tốt trên 85%, việc bơm nước, bón phân, chăm sóc, đo đếm chỉ tiêu đúng theo quy trình của đề cương, kết quả thí nghiệm không bị ảnh hưởng bởi ốc bươu vàng, chim, chuột, cỏ dại và các loại sâu bệnh gây hại

4.1.3 Cỏ dại, sâu, bệnh

Trong quá trình thí nghiệm có các loại cỏ dại như: cỏ đuôi phụng (Leptochloa

chinensis), cỏ chỉ (Cynodon dactylon), cỏ lồng vực (Echinochloa colium), cỏ lác

(Cyperus distans), cỏ chác (Fimbristylis miliacea L)…xuất hiện được xử lý bằng

thuốc hóa học giai đoạn 7 NSG và làm cỏ bằng tay 35, 45NSG

Ốc bươu vàng (Pomacea canaliculata): Để ngăn ngừa gây hại ảnh hưởng đến

kết quả thí nghiệm được xử lý bằng thuốc hóa học trước khi gieo 2 ngày

Sâu, bệnh áp dụng phương pháp phòng trừ tổng hợp IPM trong suốt thời gian

thí nghiệm, ghi nhận có một số loại sâu bệnh xuất hiện như: sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân, bệnh cháy lá, bệnh khô vằn…

Trang 27

+ Sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis): xuất hiện vào giai đoạn 75NSG vì

lúa trong giai đoạn chín nên không phun xịt

+ Sâu đục thân (Scirpophaga incertulas) Xuất hiện vào giai đoạn 25 NSG với mức

thiệt hại thấp (cấp 1-3) không xử lý thuốc

+ Bệnh cháy lá (Pirycularia oryzae Cav), Bệnh đốm vằn do nấm Rhizoctonia solani

sống trong đất gây ra xuất hiện vào giai đoạn 35 NSG nhưng ở mức độ thấp (cấp 3) được phun thuốc phòng trừ kịp thời, sau đó phun thuốc phòng ngừa vào các giai đoạn 45NSG, 55NSG, 65NSG và 75NSG bằng các loại thuốc thông dụng

1-4.2 Chiều cao cây

Chiều cao cây của các nghiệm thức tăng dần từ khi gieo đến trổ hoàn toàn, sau đó chiều cao ổn định đến thu hoạch Qua kết quả phân tích thống kê, kiểm định F (Bảng 4.2 và Hình 4.1) nhân tố Kali và tương tác Kali với N sự khác biệt không có ý nghĩa Đối với nhân tố N chiều cao cây của các nghiệm thức không có sự khác biệt ý nghĩa

ở giai đoạn 10 NSG, Chiều cao khác biệt có ý nghĩa các giai đoạn 25NSG, 40NSG

và 87NSG (thu hoạch) tương quan thuận với mức độ bón N: cao nhất 56-58 cm, 95-

96 cm tương ứng giai đoạn 40NSG và thu hoạch ở nghiệm thức P (theo nông dân),

D, H, N và T do phân N được bón ở mức cao 120N; thấp nhất 46-49 cm, 79- 83cm tương ứng giai đoạn 40NSG và 87 NSG (thu hoạch) ở các nghiệm thức E, O, K, Q

và A do không bón N trong suốt quá trình canh tác; các nghiệm thức bón 80N (C, G,

M và S có chiều cao khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức bón 120N)

Trang 28

Bảng 4.2: Diễn biến chiều cao của các nghiệm thức (Đơn vị: cm)

Nghiệm thức Chiều cao theo thời gian

87NSG (THU HOACH)

Có xử lý DASVILA

A (00- 00- 00) 16 40 cdef 52 abcde 82 fgh

B (40- 00- 00) 17 43 bcde 53 abcd 86 defg

C ( 80- 00- 00) 15 44 abcd 53 abcd 90 abcdef

D (120- 00- 00) 16 47 ab 57 a 93 ab

E (00- 00- 20) 16 37 ef 46 e 83 fgh

F (40- 00- 20) 15 39 def 50 bcde 85 efgh

G ( 80- 00- 20) 15 45 abcd 55 abc 90 abcde

(Chú thích: trong cùng một cột, các số theo cùng một chữ cái thì không khác biệt ở mức 5% trong

phép thử Duncan; Kiểm định F: * khác biệt có ý nghĩa 5%, ** khác biệt có ý nghĩa 1%, ns khác

biệt không có ý nghĩa)

Trang 29

DIỄN BIẾN CHIỀU CAO

Trang 30

Nhận xét: Giai đoạn từ khi gieo đến 10NSG (chưa bón phân), cây lúa sử dụng dinh

dưỡng chủ yếu từ hạt nên các nghiệm thức không bị tác động của phân bón đến chiều cao cây, giai đoạn này chiều cao tăng trung bình 1,6 cm/ngày; Giai đoạn 10 -

25 NSG chiều cao tăng rất chậm trung bình 1,4 cm/ngày ở các nghiệm thức E, O, K,

Q và A do không bón N; Với các nghiệm thức khác vì đã bón 2 đợt phân nên tác động đến chiều cao ở các nghiệm thức có bón N: tăng trung bình 1,8 cm/ngày ở các nghiệm thức bón 40N và tăng nhanh 2 - 2,2 cm/ ngày ở các nghiệm thức bón 80- 120N và giai đoạn từ 25- 40 NSG chiều cao tăng chậm lại ở hầu hết các nghiệm thức

có bón N trung bình 0,65 cm/ngày, riêng các nghiệm thức không bón N tăng 0,8 cm/ngày do giai đoạn này cây lúa chuyển từ sinh trưởng sang sinh sản Giai đoạn từ 40NSG đến 87 NSG (thu hoạch) do không đo chỉ tiêu nên không có số liệu Tuy nhiên từ số liệu đo 87 NSG (thu hoạch) có thể suy ra chiều cao cây lúa đạt tối đa vào khoảng 57 NSG và ổn định đến thu hoạch; suy ra trong giai đoạn từ 40NSG-57NSG

ở các nghiệm thức chiều cao tăng nhanh trở lại trung bình 2,1- 2,4cm/ngày ở các nghiệm thức có bón N và các nghiệm thức không N tăng trung bình 2 cm/ ngày

4.3 Số chồi

Khả năng nhẩy chồi một phần do đặc tính của giống lúa, nhưng nó còn chịu sự tác động của điều kiện môi trường, đất đai, nước, phân bón, kỹ thuật canh tác…Theo kết quả phân tích thống kê, kiểm định F nhân tố Kali và tương tác Kali với N không

có ý nghĩa Đối với nhân tố N nhìn chung (trình bày ở Bảng 4.3 và Hình 4.2 ) có sự khác biệt ý nghĩa 1% ở các giai đoạn 25NSG, 40NSG; Sự khác biệt không có ý nghĩa ở giai đoạn 10NSG và thu hoạch Khi có tác động bón phân vào (đợt 1: 10NSG và đợt 2: 20NSG) giai đoạn từ 10 - 25 NSG số chồi tăng rất mạnh, đối với các nghiệm thức có xử lý DASVILA số chồi tăng 2,4 lần ở nghiệm thức không bón

N và tăng 2,7; 2,9; 3,3 lần tương ứng với mức độ 40N; 80N và 120N, đối với nghiệm thức không xử lý DASVILA số chồi tăng 1,9 lần nếu không bón N và tăng 2,5 lần khi bón 120N điều này có thể lý giải nhờ tác dụng của vi khuẩn cố định N trong cây lúa đã tạo sự khác biệt này Nhưng đến giai đoạn từ 25NSG đến 40NSG số chồi giảm dần ở các nghiệm thức không bón N trung bình giảm 285 chồi/m2, các nghiệm thức có bón N giảm rất nhanh trung bình 450 chồi/m2 và đến 87 NSG (thu hoạch) số chồi vô hiệu tiếp tục giảm chỉ còn số chồi hữu hiệu (số chồi cho bông)

Ngày đăng: 10/04/2013, 15:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Vi khuẩn Rhizobium trong      Hình 2.2: Vi sinh vật cố định nitơ     Hình 2.3: Vi khuẩn Azospirillum - Mức độ Đạm và kali với chế phẩm vi sinh Dasvila cho hiệu quả cao trên lúa
Hình 2.1 Vi khuẩn Rhizobium trong Hình 2.2: Vi sinh vật cố định nitơ Hình 2.3: Vi khuẩn Azospirillum (Trang 9)
Bảng 2.1 : Các loại cây có sự hiện diện của các loài vi khuẩn Azospirillum - Mức độ Đạm và kali với chế phẩm vi sinh Dasvila cho hiệu quả cao trên lúa
Bảng 2.1 Các loại cây có sự hiện diện của các loài vi khuẩn Azospirillum (Trang 10)
Bảng 3.1: Nghiệm thức thí nghiệm - Mức độ Đạm và kali với chế phẩm vi sinh Dasvila cho hiệu quả cao trên lúa
Bảng 3.1 Nghiệm thức thí nghiệm (Trang 21)
Hình 3.2: Sơ đồ thí nghiệm - Mức độ Đạm và kali với chế phẩm vi sinh Dasvila cho hiệu quả cao trên lúa
Hình 3.2 Sơ đồ thí nghiệm (Trang 22)
Bảng 4.1 Nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa các tháng tại An Giang - Mức độ Đạm và kali với chế phẩm vi sinh Dasvila cho hiệu quả cao trên lúa
Bảng 4.1 Nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa các tháng tại An Giang (Trang 25)
Bảng 4.2: Diễn biến chiều cao của các nghiệm thức                                     (Đơn vị: cm) - Mức độ Đạm và kali với chế phẩm vi sinh Dasvila cho hiệu quả cao trên lúa
Bảng 4.2 Diễn biến chiều cao của các nghiệm thức (Đơn vị: cm) (Trang 28)
Hình 4.1: Diễn biến chiều cao theo thời gian sinh trưởng của các nghiệm thức - Mức độ Đạm và kali với chế phẩm vi sinh Dasvila cho hiệu quả cao trên lúa
Hình 4.1 Diễn biến chiều cao theo thời gian sinh trưởng của các nghiệm thức (Trang 29)
Bảng 4.3: Diễn biến số chồi của các nghiệm thức theo thời gian            (Đơn vị: chồi/m 2 )  Nghiệm thức Số chồi theo thời gian - Mức độ Đạm và kali với chế phẩm vi sinh Dasvila cho hiệu quả cao trên lúa
Bảng 4.3 Diễn biến số chồi của các nghiệm thức theo thời gian (Đơn vị: chồi/m 2 ) Nghiệm thức Số chồi theo thời gian (Trang 31)
Hình 4.2: Diễn biến số chồi theo thời gian của các nghiệm thức - Mức độ Đạm và kali với chế phẩm vi sinh Dasvila cho hiệu quả cao trên lúa
Hình 4.2 Diễn biến số chồi theo thời gian của các nghiệm thức (Trang 32)
Bảng 4.4 : Thành phần năng suất và năng suất thực tế các nghiệm thức - Mức độ Đạm và kali với chế phẩm vi sinh Dasvila cho hiệu quả cao trên lúa
Bảng 4.4 Thành phần năng suất và năng suất thực tế các nghiệm thức (Trang 34)
Hình 4.3: Đồ thị phương trình hồi quy năng suất với mức độ Đạm - Mức độ Đạm và kali với chế phẩm vi sinh Dasvila cho hiệu quả cao trên lúa
Hình 4.3 Đồ thị phương trình hồi quy năng suất với mức độ Đạm (Trang 38)
ĐỒ THỊ PHƯƠNG TRÌNH HỒI QUY        LỢI NHUẬN VỚI MỨC ĐỘ ĐẠM - Mức độ Đạm và kali với chế phẩm vi sinh Dasvila cho hiệu quả cao trên lúa
ĐỒ THỊ PHƯƠNG TRÌNH HỒI QUY LỢI NHUẬN VỚI MỨC ĐỘ ĐẠM (Trang 39)
Bảng 4.6: Hạch toán kinh tế (2) - Mức độ Đạm và kali với chế phẩm vi sinh Dasvila cho hiệu quả cao trên lúa
Bảng 4.6 Hạch toán kinh tế (2) (Trang 42)
Bảng 4.7: Bảng thuyết minh chi phí - Mức độ Đạm và kali với chế phẩm vi sinh Dasvila cho hiệu quả cao trên lúa
Bảng 4.7 Bảng thuyết minh chi phí (Trang 43)
BẢNG KẾT QUẢ NĂNG SUẤT TƯƠNG ỨNG MỨC ĐỘ N ÁP DỤNG - Mức độ Đạm và kali với chế phẩm vi sinh Dasvila cho hiệu quả cao trên lúa
BẢNG KẾT QUẢ NĂNG SUẤT TƯƠNG ỨNG MỨC ĐỘ N ÁP DỤNG (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w