1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô hình canh tác trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004

100 493 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Mô Hình Canh Tác Trồng Trọt Và Chăn Nuôi Trong Mùa Lũ Năm 2004
Tác giả Nguyễn Thị Khánh Ly
Người hướng dẫn Ths. Nguyễn Phú Dũng
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Phát Triển Nông Thôn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2005
Thành phố Long Xuyên
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô hình canh tác trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004 tại huyện An Phú ,tỉnh An Giang

Trang 1

NGUYỄN THỊ KHÁNH LY MSSV: DPN010732

CÁC MÔ HÌNH CANH TÁC TRỒNG TRỌT VÀ CHĂN NUÔI TRONG MÙA LŨ NĂM 2004 TẠI HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Ths Nguyễn Phú Dũng

Tháng 06 2005 TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Trang 2

CÁC MÔ HÌNH CANH TÁC TRỒNG TRỌT VÀ CHĂN NUÔI TRONG MÙA LŨ NĂM 2004 TẠI HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

Do sinh viên: NGUYỄN THỊ KHÁNH LY thực hiện và đệ nạp

Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xét duyệt

Long Xuyên, ngày tháng năm 2005

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Ths Nguyễn Phú Dũng TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn đính kèm

với tên đề tài: CÁC MÔ HÌNH CANH TÁC TRỒNG TRỌT VÀ CHĂN NUÔI TRONG MÙA LŨ NĂM 2004 TẠI HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG

Do sinh viên: NGUYỄN THỊ KHÁNH LY

Thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng ngày:

Luận văn đã được Hội đồng đánh giá ở mức:

Ý kiến của Hội đồng:

Long Xuyên, ngày tháng.…năm 2005

Trang 4

TIỂU SỬ CÁ NHÂN

Họ và Tên: Nguyễn Thị Khánh Ly

Sinh ngày 28 tháng 08 năm 1980

Nơi sinh: Ấp Bời Lời A, xã Vĩnh Bình Nam, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang

Con Ông: Nguyễn Văn Miếm

Trang 5

LỜI CẢM TẠ

Trong suốt thời gian thực hiện đề tài tôi đã gặp nhiều khó khăn, vướng mắc nhưng được sự động viên, giúp đỡ của các thầy cô và bạn bè…đã tạo cho tôi lòng tin, kiến thức để vững bước vượt qua khó khăn Đến hôm

nay, tôi đã hoàn thành đề tài Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn chân

- Các cán bộ ấp và xã của huyện An Phú đã tận tình giúp đỡ tôi liên hệ nông hộ trong thời gian điều tra

- Các bạn cùng lớp ĐH2PN2 của Trường Đại Học An Giang đã hết lòng tham gia, động viên và góp sức cùng tôi thực hiện tốt đề tài

Long Xuyên, ngày 30 tháng 05 năm 2005

Trang 6

Nguyễn Thị Khánh Ly

TÓM LƯỢC

Đề tài: “Các mô hình canh tác trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm

2004 tại huyện An Phú tỉnh An Giang”

Kết quả điều tra hiện trạng canh tác và đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình canh tác trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004, tại huyện An Phú tỉnh An Giang, điển hình qua 4 mô hình canh tác như: rau nhút, nấm rơm, bò vỗ béo và rau màu với những nội dung tuổi, trình độ học vấn, giới tính, nghề nghiệp, diện tích nông hộ, kỹ thuật canh tác, những trở ngại, hiệu quả kinh tế,…cho thấy phần lớn nông dân sử dụng đất cho sản xuất nông nghiệp với diện tích bình quân từ 0,3 – 1,8 ha/hộ, cao nhất là những hộ trồng rau màu với 1,8 ha/hộ và thấp nhất là những hộ trồng nấm rơm (0,3 ha/hộ) Thu nhập bình quân của mô hình rau nhút là 13,4 triệu đồng/ha/vụ, nấm rơm 82,3 triệu đồng/ha/vụ, bò vỗ béo 10,5 triệu đồng/con và rau màu 80,1 triệu đồng/ha/vụ

Về kỹ thuật, có một số nông hộ áp dụng những kỹ thuật mới còn lại phần đông là áp dụng kỹ thuật của riêng mình Chính vì vậy mà họ gặp không

ít khó khăn trong sản xuất Lợi nhuận từ việc trồng rau nhút là 5,9 triệu đồng/ha/vụ, nấm rơm 43,2 triệu đồng/ha/vụ, bò vỗ béo 4 triệu đồng/con và rau màu 64,1 triệu đồng/ha/vụ Bên cạnh đó, những hộ làm các mô hình trên, hàng năm họ còn thu thêm lợi nhuận từ các mô hình khác khoảng 20 – 69,1 triệu đồng/ha, làm thuê trong nông nghiệp là 0,8 – 2,6 triệu đồng/tháng

Đối với những hộ sống ở mùa lũ gặp không ít trở ngại dẫn tới họ thiếu vốn trong sản xuất, phải vay mượn từ người khác, có những hộ không có đất thế chấp cho ngân hàng họ phải vay từ tư nhân với lãi suất rất cao Những trở ngại lớn để phát triển mô hình đối với nông dân trong vùng này là vốn, giống và kỹ thuật, riêng ở mô hình nuôi bò vỗ béo trong mùa lũ thì thức ăn là yếu tố quan trọng

Trang 7

Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Đặc điểm tự nhiên - sản xuất và kinh tế xã hội

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

2.1.1.2 Đặc điểm đất đai

2.1.1.3 Đặc điểm khí hậu thuỷ văn

2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

2.1.2.1 Hiện trạng phân bố và sử dụng đất nông nghiệp

2.1.2.2 Hiện trạng về dân số và lao động

2.1.3 Diễn biến sản xuất nông nghiệp

2.1.3.1 Vai trò của ngành nông nghiệp

2.1.3.2 Diễn biến sản xuất nông nghiệp

Chương 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Phương tiện nghiên cứu

3.2 Phương pháp và nội dung điều tra

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

3.2.2 Phương pháp tiến hành

3.2.2.1 Chọn hộ điều tra

3.2.2.2 Nội dung điều tra

iiiiiiviviii11133334556788812121212121213

Trang 8

3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu

Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN

4.1 Phân bố mẫu điều tra trên toàn huyện An Phú

4.2 Đặc điểm chung của nông hộ điều tra trên toàn huyện

4.2.1 Tuổi trung bình của nông hộ

4.2.2 Trình độ văn hóa và kinh nghiệm sản xuất của nông hộ

4.3 Tài sản và phương tiện sản xuất của nông hộ

4.3.1 Phương tiện sinh hoạt

4.3.2 Phương tiện sản xuất

4.4 Nguồn thông tin cho sản xuất nông hộ

4.4.1 Nguồn thông tin cho sản xuất nông nghiệp

4.4.2 Người thu nhận và số lượng thông tin cho sản xuất nông nghiệp

4.5 Sử dụng đất và thu nhập sản xuất trong nông hộ

4.5.1 Đặc điểm phân bố đất đai trên nông hộ

4.5.2 Các mô hình sản xuất trong hộ

4.5.2.1 Mô hình rau nhút

4.5.2.2 Mô hình nấm rơm

4.5.2.3 Mô hình bò vỗ béo

4.5.2.4 Mô hình rau màu

4.6 Chi phí và đầu tư khác trong sản xuất nông hộ

4.6.1 Tổng chi phí khác trong sản xuất nông hộ

4.6.2 Tổng thu nhập khác trong sản xuất nông hộ

4.6.3 Lợi nhuận khác trong sản xuất nông hộ

4.7 Yếu tố quyết định thành công của mô hình

Pc – 1

Trang 9

Phương tiện đi lại của nông hộ

Phương tiện nghe nhìn của nông hộ

Máy sản xuất nông nghiệp của nông hộ

Phương tiện phục vụ sản xuất của nông hộ

Chi phí phân bón

Chi phí thuốc trồng rau nhút

Đối tượng mua sản phẩm rau nhút

Đối tượng mua sản phẩm của rau màu

1919212127273050

Tỷ lệ và dân số huyện An Phu ở năm 2001, 2002 và 2003

Phân bố mẫu điều tra

Đặc điểm của nông hộ

Nguồn thông tin cho sản xuất nông nghiệp của nông hộ

Người nhận và số lượng thông tin cho sản xuất nông nghiệp

Phân bố đất đai trên nông hộ

Kỹ thuật trồng rau nhút

Trung bình chi phí đầu tư và thu nhập của nông hộ trồng rau nhút

Những trở ngại trong việc sản xuất rau nhút

Thông tin chung cho hoạt động sản xuất của trồng nấm rơm

Các yêu cầu kỹ thuật trồng nấm rơm ở nông hộ

Kỹ thuật sản xuất của trồng nấm

Bố trí trồng nấm

7

8141723242628293134353637

Trang 10

Chọn meo giống và rải meo giống

Chăm sóc và thu hoạch

Trung bình chi phí đầu tư và thu nhập của nông hộ trồng nấm rơm

Phương pháp nuôi bò vỗ béo

Trung bình chi phí đầu tư và thu nhập của nông hộ nuôi bò vỗ béo

Những trở ngại trong việc sản xuất bò vỗ béo

Các yêu cầu kỹ thuật trồng rau màu

Lượng phân sử dụng

Chăm sóc và thu hoạch

Trung bình chi phí đầu tư và thu nhập của nông hộ trồng rau màu

Chi phí và đầu tư khác trong nông hộ

Yếu tố quyết định thành công của mô hình

Vay vốn của nông hộ

Chi tiêu trong gia đình của nông hộ

3839414344454647485153555658

Trang 11

Chương 1 GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

An Giang là một trong những tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, có hai sông Tiền và sông Hậu chảy qua, là tỉnh có tiềm năng rất lớn cho sản xuất nông nghiệp Huyện An Phú thuộc tỉnh An Giang với diện tích tự nhiên: 208,97 km2 là huyện đầu nguồn có đường biên giới quốc gia (Việt Nam và Campuchia) dài nhất so với các huyện thị khác Dân số huyện An Phú là 165.846 người (Ủy Ban Nhân Dân tỉnh An Giang, 2003), đa số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm 72,25% dân số

Là một huyện đầu nguồn nằm hẳn trong vùng ngập sâu nên An Phú gặp nhiều khó khăn trong việc chuyển đổi cơ cấu cây – con trong sản xuất Với lượng nước lũ hàng năm gây thiệt hại lớn cho con người, tài sản của nhân dân, cơ sở hạ tầng và giao thông nông thôn,… Bên cạnh đó, lũ cũng đã mang đến một lượng phù

sa không ít cho sản xuất nông nghiệp và ngành nuôi trồng thủy sản cho toàn huyện

Trong những năm gần đây, tỉnh An Giang đã phát động khuyến khích nông dân, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi, trồng màu,…góp phần tạo việc làm

và tăng thu nhập cho người dân trong mùa lũ Hiện tại, người dân An Phú đã

và đang thực hiện những mô hình sản xuất trong mùa lũ với những mức độ thành công và thất bại khác nhau Để đánh giá chính xác hiện trạng sản xuất trong mùa lũ trên địa bàn huyện An Phú, đồng thời cũng làm cơ sở cho mục tiêu chung của tỉnh An Giang là ứng dụng khoa học công nghệ và chính sách vào các mô hình canh tác có hiệu quả để tăng thu nhập cho người dân trong

mùa nước nổi Vì thế, đề tài “Các mô hình canh tác trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004 tại huyện An Phú tỉnh An Giang” nhằm tiến hành

điều tra thực trạng sản xuất trong mùa nước nổi trên địa bàn huyện An Phú là rất cần thiết

1.2 Mục tiêu

- Điều tra hiện trạng các hệ thống canh tác của 4 mô hình sản xuất

nông nghiệp khác nhau trên huyện An Phú

- Đánh giá hiện trạng kinh tế và xã hội

Trang 12

- Tổng kết các kỹ thuật canh tác và các mô hình sản xuất của nông dân trong mùa lũ để chọn ra mô hình canh tác có hiệu quả.

- Xác định các yếu tố trở ngại và nhu cầu cần hỗ trợ để phát triển hệ thống canh tác có triển vọng trong tương lai

Trang 13

Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Đặc điểm tự nhiên - sản xuất và kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang nói chung và huyện An Phú nói riêng

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Tỉnh An Giang nằm ở phía Tây Nam của nước Việt Nam, giữa hai con sông Tiền và Hậu và dọc theo hữu ngạn sông Hậu thuộc hệ thống sông Mekong Vị trí địa lý của tỉnh từ 100 đến 110 vĩ Bắc và 104,70 đến 105,50 kinh Đông

- Phía Đông: giáp tỉnh Đồng Tháp

- Phía Nam: giáp tỉnh Kiên Giang và Cần Thơ

- Phía Tây và Bắc: giáp Campuchia

Diện tích toàn tỉnh 3406,23 km2 chiếm 8,58% diện tích Đồng Bằng Sông Cửu Long và khoảng 1,03% diện tích cả nước (Dương Văn Nhã, 2004) (phụ chương 1)

An Phú là huyện đầu nguồn có đường biên giới quốc gia dài nhất so với các huyện thị khác, cách trở giao thông và thường chịu nhiều thiệt hại do thiên tai lũ lụt gây ra Huyện An Phú có diện tích tự nhiên 208,97 km2, dân số 178.613 người (năm 2003), gồm 12 xã và 1 thị trấn

- Phía Tây và Bắc: giáp Campuchia

- Phía Nam: giáp thị xã Châu Đốc và huyện Phú Tân

- Phía Đông: giáp huyện Tân Châu

Gồm 37 tuyến địa giới cấp xã, dài 126,871 km, trong đó 7 tuyến trùng với biên giới quốc gia, 12 tuyến trùng với tuyến huyện, được xác định bằng 39 mốc địa giới hành chính

An Phú có 5 xã Đa Phước, Quốc Thái, Khánh Bình, Nhơn Hội, Vĩnh Trường được Ủy Ban dân tộc miền núi công nhận là khu vực dân tộc đồng bằng và 7 xã giáp biên giới là Vĩnh Hội Đông, Phú Hội, Nhơn Hội, Khánh

Trang 14

An, Khánh Bình, Quốc Thái và Phú Hữu Huyện lỵ cách Long Xuyên 71 km theo đường quốc lộ 91 và tỉnh lộ 956.

2.1.1.2 Đặc điểm đất đai

* Địa hình

An Giang có cao độ thấp dần từ biên giới Campuchia đến lộ Cái Sắn

và từ bờ sông Hậu đến giáp ranh tỉnh Kiên Giang, địa hình đồi núi chỉ tập trung chủ yếu hai huyện: Tri Tôn và Tịnh Biên Nhìn chung, địa hình tỉnh An Giang tương đối thấp và khá bằng phẳng

* Phân loại đất

An Phu là môt huyện đâu nguôn cua tinh An Giang, vơi tông diện tich đât nông nghiệp là 53.745 ha, trong đo diện tich trông lua là 22.759 ha (Cục thống kê tinh An Giang, 2003) Điêu này, đa tao nên thê manh cho An Phu vê san xuât lua Do đăc điêm đât đai đa dang, môi vung co môt nhom đât khac nhau vơi nhưng thay đôi vê tinh chât đât, đia hinh, tâp quan canh tac

Tư kêt qua nghiên cưu cho thây An Giang phân thành 3 nhom đât chinh: nhom đât phen, nhom đât phu sa và nhom đât đôi nui

Trong đo, đăc điêm đât đai cua An Phu thuôc nhom đât phu sa Đăc tinh chung cua đât phu sa là chưa nhiêu hưu cơ, pH thâp, it bi bào mon và xâm thưc mà chu yêu luôn đươc bôi đâp hàng năm vơi tưng mưc đô khac nhau trong nhưng điêu kiện trâm tich khac nhau (Ủy Ban Nhân Dân tinh An Giang, 2003)

Nhóm đất phù sa xám nâu được bồi, ít hữu cơ chiếm một diện tích khá lớn ở 4 huyện cù lao: Chợ Mới, Phú Tân, An Phú, Tân Châu và dải cánh đồng ven sông Hậu thuộc huyện Châu Phú, Châu Thành Đây là phần đất bị ngập nước hàng năm vào mùa lũ, địa hình khá bằng phẳng và trải rộng, vật liệu trầm tích chủ yếu là sét, bột, lẫn chất hữu cơ, bề dày lớp phù sa từ 1 – 2

m Đất không có khả năng gây hại cho cây trồng, đất dẻo chặt, thích hợp với nhiều loại cây Đất có phản ứng hơi chua, hàm lượng lân trao đổi khá thấp, tổng lượng sulfat hòa tan cũng ở mức độ thấp 0,1 – 0,2% nhưng hơi tăng ở các tầng dưới Hàm lượng hữu cơ tầng mặt 3,8% và càng xuống tầng dưới càng thấp, tổng lượng đạm từ trung bình đến thấp (0,1 – 0,2%), đất nghèo lân

Trang 15

và kali Về thành phần cơ giới, sét chiếm 45%, bột chiếm 49%, cát chiếm 1,4% Do đó, đất có sa cấu pha bột nhưng các tầng dưới hàm lượng sét rất cao.

Hiện nay nhóm đất này chiếm diện tích khoảng 24.455 ha đất dùng

để trồng lúa 2 vụ là chủ yếu Một số nơi như ở An Phú, Châu Phú, đất có thể trồng một vụ lúa, một vụ màu như mè, đậu, dưa,…thực vật hoang dại tương đối ít (Ủy Ban Nhân Dân tỉnh An Giang, 2003)

2.1.1.3 Đặc điểm khí hậu thủy văn

* Khí hậu

Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào cuối tháng 11 Lượng mưa của các tháng mùa khô cộng lại không vượt quá 150 mm, chiếm khoảng 15% tổng lượng mưa của cả năm Trong mùa mưa lượng mưa chênh lệch nhau không nhiều biến động trong khoảng 130 – 280 mm, số ngày mưa trung bình 121 – 125 ngày/năm (Dương Văn Nhã, 2004)

Về mùa lũ, lưu lượng tăng nhanh từ tháng 7 và đạt giá trị lớn nhất vào tháng 10, sau đó giảm vào tháng 11 Lượng nước lũ tràn vào vùng Tứ Giác Long Xuyên theo sông Hậu chiếm khoảng 20 – 25% và lượng lũ tràn từ Campuchia qua các cầu Châu Đốc đến Nhà Bàng chiếm khoảng 25 – 80% tổng lượng nước lũ vào vùng này Khả năng xuất hiện lũ lớn tại Tân Châu thường có mực nước lũ bằng hoặc cao hơn 4 m, điều này có nghĩa là đại bộ phận đất đai tỉnh An Giang thường xuyên bị ngập vào mùa lũ (Dương Văn Nhã, 2004)

* Thủy văn

Mực nước lũ năm 2004 tăng cao từ tháng 7 đến tháng 10 khoảng 2,1 – 6,1 m, bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 11 mực nước hạ xuống đến mức thấp nhất 2,5 m (Phòng xây dựng và phát triển nông thôn huyện An Phú, 2004)

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Trong những năm gần đây, tỉnh An Giang mặc dù có những ảnh hưởng của thiên tai, giá cả nông sản, kinh tế của tỉnh vẫn duy trì tăng trưởng trên 6%/năm Tỷ trọng nông nghiệp chiếm trong tổng nền kinh tế năm 1997

là 43,6% và 39,5% vào năm 2001 Diện tích gieo trồng lúa năm 2000 và 2001

Trang 16

là 456,2 ha với sản lượng tương ứng là 2,4 triệu tấn và 2,2 triệu tấn (Dương

Ngọc Thành và ctv, 2004).

2.1.2.1 Hiện trạng phân bố và sử dụng đất nông nghiệp

An Giang với tổng diện tích đất tự nhiên 340.623 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp năm 2002 là 260.446 ha lên 261.575 ha vào năm 2003, tức tăng 1.129 ha Trong khi đó, huyện An Phú với tổng diện tích đất tự nhiên 208,02 km2, diện tích trồng lúa năm 2002 chiếm 22.507 ha lên 22.759 ha vào năm 2003, tức tăng 253 ha

Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của huyện có sự thay đổi theo hướng gia tăng tỷ lệ sử dụng đất Diện tích trồng lúa 2 vụ/năm từ năm 2002 đến

2003 tăng như vụ Đông Xuân từ 11.868 ha lên 11.993 ha, vụ Hè Thu từ 10.503 ha lên 10.742 ha, riêng vụ Thu Đông giảm từ 136 ha xuống còn 24 ha (Bảng 1)

Việc gia tăng tỷ lệ sử dụng đất một phần do điều kiện đất, nước ngày càng thuận lợi, gia tăng dân số, thị trường nông sản ngày càng cao và sự tiến

bộ của khoa học kỹ thuật đưa vào đồng ruộng Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp chủ yếu là cây lúa

Với điều kiện hiện nay, người dân đã chuyển đổi diện tích sử dụng đất với nhiều loại cây trồng khác như rau màu, ngô,…do thị trường tiêu thụ

ổn định, lợi nhuận đem lại cao Ngoài việc trồng lúa, hiện nay huyện An Phú

có diện tích trồng ngô rất lớn so với các loại rau màu khác Năm 2002 là 2.924 ha lên 3.458 ha vào năm 2003, tức tăng 534 ha Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng sản phẩm nông nghiệp hàng hóa và hàng xuất khẩu kết hợp với công nghiệp hóa tạo thế mạnh

về địa bàn sản xuất, thị trường tiêu thụ và tiến bộ khoa học kỹ thuật Đây là mục tiêu quan trọng của nền nông nghiệp trong tương lai

(Cục thống kê tỉnh An Giang, 2004)

Trang 17

Bảng 1: Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp cho các loại cây trồng ở huyện

An Phú

Loại cây trồng Diện tích trồng

năm 2002 (ha)

Diện tích trồng năm 2003 (ha)

26.21722.75911.99310.742 24 3.458 859 368 14 67 3 44,1

Nguồn: Cục thống kê tỉnh An Giang, 2004

2.1.2.2 Hiện trạng về dân số và lao động

Theo số liệu thống kê năm 2003 đươc thê hiện ở Bang 2, huyện An Phu co số dân là 178.613 ngươi, trong đo nam là 88.266 ngươi và 90.347 ngươi là nư Mât đô dân số binh quân 859 ngươi/km2, trong đo số dân sống ở nông thôn là 167.168 ngươi và 11.445 ngươi ở thành thi Điêu này cho thây huyện An Phu co tỷ lệ dân số sống trong khu vưc nông nghiệp chiêm đa số (Cục thống kê tỉnh An Giang, 2004)

Dân số trong huyện ngày càng cao trong khi điêu kiện kinh tê phat triên châm, sưc ep dân số cung là trở ngai đê phat triên kinh tê cua huyện Dân số chu yêu tâp trung ở linh vưc nông nghiệp, do đo muốn phân bố lai lao đông cho đông đêu vào cac linh vưc khac là môt vân đê kho khăn Tỷ lệ can

bô khoa hoc kỹ thuât cao tâp trung ở thành thi là số đông, đối vơi nông dân

Trang 18

san xuât vân con năng theo kinh nghiệm,…vi vây mà không tranh khoi lang phi tiên vốn và tài nguyên (Cục thống kê tinh An Giang, 2004).

Bang 2: Tỷ lệ và dân số huyện An Phu ở năm 2001, 2002 và 2003

Tỷ lệ và dân số huyện An Phu 2001 2002 2003 Dân số toàn huyện (người)

11.162 160.868

176.917 87.574 89.343

11.318165.599

178.613 88.266 90.347

11.445 167.168

Nguồn: Cục thống kê tỉnh An Giang, 2004

2.1.3 Diễn biến sản xuất nông nghiệp

2.1.3.1 Vai trò của ngành nông nghiệp

An Phú chủ yếu sản xuất nông nghiệp chiếm 72,3%, lâm nghiệp (0,9%) và 26,8% là sản xuất khác Chính vì vậy, nền kinh tế nông nghiệp chiếm vị trí quan trọng so với các ngành kim ngạch khác Cho nên An Phú cần phải tích cực chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất trên cơ sở khai thác triệt để, đáp ứng yêu cầu đa dạng của thị trường và đang trở thành một yêu cầu bức thiết (Phòng xây dựng và phát triển nông thôn huyện An Phú, 2004)

2.1.3.2 Diễn biến sản xuất nông nghiệp

Vào những năm gần đây, vị trí bắp lai được coi là quan trọng đứng sau lúa tại An Giang, trồng tập trung tại Châu Phú, Tân Châu, An Phú và Chợ Mới với diện tích gieo trồng năm 2000 là 4.000 ha, năng suất bình quân tại

An Giang khá cao đạt 9 tấn/ha vụ Đông Xuân, vụ Hè Thu và Xuân Hè đạt 7,5

tấn/ha, bình quân nông dân đạt 7 - 9 triệu đồng/ha (Dương Ngọc Thành và ctv, 2004).

Toàn tỉnh An Giang có tổng diện tích sản xuất lúa vụ 3 là 35.352 ha (tăng 16.497 ha so năm 2001), với tổng số 42.502 hộ tham gia, năng suất bình quân đạt 5,2 tấn/ha, sản lượng lương thực đạt 183.113 tấn (tăng 86.824 tấn so

Trang 19

với năm 2001), đã góp phần giải quyết việc làm thường xuyên cho 51.286 lao động và hàng trăm ngày lao động trong mùa nước nổi Nhìn chung, năm 2002

là năm có diện tích sản xuất lúa vụ 3 cao nhất từ trước đến nay, nhiều huyện

có diện tích vụ 3 tăng lên đáng kể so với năm 2001 như huyện Phú Tân, từ

211 ha tăng lên 9.185 ha (tăng 8.974 ha), huyện Chợ Mới từ 13.824 ha tăng lên 17.404 ha (tăng 3.580 ha), huyện Thoại Sơn từ 101 ha tăng lên 2.708 ha (tăng 2.607 ha),… Nguyên nhân là do thị trường lúa được giá, dễ tiêu thụ nên nông dân mở rộng diện tích sản xuất thêm lúa vụ 3 trong năm (Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh An Giang, 2003)

Tình hình lũ năm 2004, mực nước lũ nhỏ, cao hơn so với cùng kỳ,

An Phú có nhiều thuận lợi cho đời sống sinh hoạt của nhân dân Bên cạnh việc sản xuất lúa 3 vụ đã đem lại hiệu quả cao còn có các mô hình trồng nấm rơm với diện tích trồng 12 ha, có khoảng 30 hộ tham gia, diện tích từng điểm bình quân từ 400 – 600 m2, giải quyết việc làm cho khoảng 150 lao động, sau

45 ngày thu hoạch đạt 3 – 4,5 triệu đồng/500 m2 Ngoài ra, còn có các mô hình trồng rau nhút, trồng ấu, rau muống,… (Phòng xây dựng và phát triển nông thôn huyện An Phú, 2004)

Các mô hình nuôi trồng thủy sản trong mùa nước nổi cũng đem lại hiệu quả kinh tế cao Có khoảng 5.336 hộ tham gia và giải quyết việc làm thường xuyên cho 8.627 lao động, trong đó:

• Nuôi cá lồng, bè nhỏ được tiêu thụ nội địa chủ yếu cá lóc, cá rô đồng, cá lóc bông, bống tượng, cá trê phi với tổng số 1.355 lồng, tăng 655 lồng so với năm 2002 có 1.141 hộ tham gia và giải quyết việc làm cho 2.710 lao động, sản lượng 3.609 tấn

• Nuôi cá hầm: 1.246 ha chủ yếu là cá tra gần 2.500 hộ tham gia và giải quyết việc làm thường xuyên 3.783 lao động, sản lượng nuôi trong 5 tháng mùa nước ước đạt 18.690 tấn

• Nuôi chân ruộng: 354 ha chủ yếu nuôi tôm càng xanh, tăng 47 ha

so năm 2002, có 416 hộ tham gia và giải quyết việc làm thường xuyên cho 708 lao động, sản lượng ước đạt 266 tấn Lãi thu được,

Trang 20

đối với nuôi cá từ 5 – 10 triệu đồng/ha, nuôi tôm càng xanh lãi thu được cao hơn từ 15 – 25 triệu đồng/ha.

• Nuôi đăng quầng chủ yếu nuôi tôm càng xanh 48,6 ha, có 97 hộ tham gia (phần lớn là hộ nghèo) và giải quyết việc làm thường xuyên cho gần 50 lao động, sản lượng ước đạt 30 tấn Thu được lãi cao từ 10 – 15 triệu đồng/ha

• Nuôi trong vèo, mùng lưới chủ yếu là các loại cá đen phát triển mạnh với số lượng 1.421 cái (diện tích mặt nước nuôi 35.115

m2), có 1.182 hộ tham gia (phần lớn là hộ nghèo) và giải quyết việc làm cho 1.421 lao động, sản lượng ước đạt 1.354 tấn Qua điều tra, khảo sát hộ nuôi diện tích 8 – 10 m2, lãi thu được từ 2 –

4 triệu đồng

(Nguyễn Văn Phương và Vũ Quang Cảnh, 2004)

Để tận dụng mặt nước ao, lòng hồ, vùng trũng và mặt nước trên đất ruộng để trồng gồm có:

• Rau nhút: diện tích trồng 3,5 ha (rải rác ở các xã), có khoảng 30

hộ tham gia và giải quyết việc làm cho khoảng 65 lao động Năng suất từ 9 – 12 tấn/ha, lợi nhuận đạt được từ 10 – 12 triệu đồng/ha (Phòng xây dựng và phát triển nông thôn huyện An Phú, 2004)

• Ấu: diện tích trồng khoảng 3 ha tập trung ở xã Vĩnh Trường, Khánh An, Khánh Bình có khoảng 10 hộ tham gia, năng suất đạt

từ 7 – 12 tấn/ha, lợi nhuận đạt được từ 7 – 8 triệu đồng/ha (Phòng xây dựng và phát triển nông thôn huyện An Phú, 2004)

• Rau muống: diện tích trồng khoảng 13 ha, có khoảng 32 hộ tham gia, giải quyết việc làm cho khoảng 62 lao động, lợi nhuận đạt từ

6 – 10 triệu đồng/ha (Phòng xây dựng và phát triển nông thôn huyện An Phú, 2004)

• Sen: 102 ha tăng 73 ha so năm 2002, có 263 hộ tham gia và giải quyết việc làm thường xuyên cho 715 lao động Thu lãi cao từ 10 – 15 triệu đồng/ha từ việc bán ngó, bán gương và tranh thủ rằm bán bông, tỷ lệ lãi/chi phí là 2 - 3 lần (Tỉnh Ủy An Giang, 2004)

Trang 21

Nắm bắt được nhu cầu tiêu thụ trong mùa nước nổi, nhiều hộ nông dân trong tỉnh tranh thủ trồng dưa leo, cà chua, cải các loại, bầu, bí, mướp, hành, hẹ, khổ qua, ớt,…theo nhiều mô hình sản xuất đã đem lại hiệu quả kinh

tế cao điển hình như:

• Trồng cải (cải bắp, cải các loại): lãi thu được từ 18 – 21 triệu đồng/ha (bình quân 1,8 – 2,1 triệu đồng/1000 m2), tỷ lệ lãi/chi phí là 1,3 – 1,5 lần

• Dưa leo, cà chua: lãi thu được từ 11 – 13 triệu đồng/ha (bình quân 1,1 – 1,3 triệu đồng/1000 m2), tỷ lệ lãi/chi phí là 0,6 – 0,8 lần

• Bầu, bí, mướp: năng suất bình quân đạt 25 tấn/ha, lãi thu được 19,5 triệu đồng/ha (bình quân 1,9 triệu đồng/1000 m2),

tỷ lệ lãi/chi phí là 1,1 lần

• Hành, hẹ: năng suất bình quân đạt 20 tấn/ha, lãi thu được 18,6 triệu đồng/ha (bình quân 1,9 triệu đồng/1000 m2), tỷ lệ lãi/chi phí là 1,6 lần

Việc trồng bầu, bí, mướp, hành, hẹ, khổ qua, ớt có số đông hộ nghèo tham gia, diện tích sản xuất của từng hộ không lớn từ 300 – 1.000 m2, nhưng thu được lãi cao Ở các huyện đầu nguồn An Phú, Tân Châu và Châu Đốc nhiều nơi đất thổ cư bị ngập nhưng nông dân còn có sáng kiến đổ đất vào cần

xé, can nhựa, bắt giàn kê cao khỏi mặt nước để trồng cây chủ yếu là bầu, bí, mướp, khổ qua vừa đáp ứng nhu cầu cho bữa ăn hàng ngày và bán chợ, ngoài

ra cũng góp phần có thu nhập ổn định cuộc sống trong mùa nước nổi Nhìn chung, lãi thu được từ việc trồng rau màu các loại gấp từ 3 – 5 lần so với cây lúa Mô hình sản xuất 3 vụ trong năm đã làm tăng giá trị sử dụng đất, đạt doanh thu từ 21 – 29 triệu đồng/ha, lãi thu được từ 12 – 17 triệu đồng/ha (Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh An Giang, 2003)

Trang 22

Chương 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

3.1 Phương tiện nghiên cứu

- Địa bàn nghiên cứu huyện An Phú – An Giang

- Máy vi tính để nhập số liệu và xử lý số liệu

- Bảng câu hỏi để phỏng vấn nông hộ, phiếu phỏng vấn cần có thông tin đầy đủ

- Xe máy để đi đến trực tiếp từng hộ nông dân Ngoài ra còn có thêm một số vật dùng có liên quan như giấy, viết,…

3.2 Phương pháp và nội dung điều tra

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

Thu thập thông tin từ huyện xã, người am hiểu để xác định 4 mô hình có triển vọng trong mùa lũ trên địa bàn của huyện, chọn ngẫu nhiên 15 - 20 hộ cho mỗi loại mô hình để tiến hành điều tra bằng bảng hỏi đã được chuẩn bị trước (Phụ

Trang 23

3.2.2.2 Nội dung điều tra

Nguồn lực nông hộ: Ghi nhận những thông tin chung của nông hộ như: tên, tuổi, trình độ chủ hộ, nhân khẩu, lao động, nghề nghiệp, những đặc điểm đất đai nông hộ, bố trí và sử dụng đất, tài sản, phương tiện, nhà ở,…

Hoạt động sản xuất và thu nhập: Ghi nhận các hoạt động sản xuất trong nông hộ như: sản xuất cây hàng năm, sản xuất cây lâu năm từ khâu chuẩn bị đất đến khâu thu hoạch, chi phí lao động, chi phí vật tư cho từng vụ, từng loại cây trên diện tích nông hộ Trong chăn nuôi và trồng trọt ghi nhận kiểu nuôi, chi phí và thu hoạch sản phẩm

Các trở ngại khó khăn: Ghi nhận các trở ngại khó khăn trong sản xuất và đời sống của nông hộ

Phương hướng giải quyết: Ghi nhận các đề xuất phát triển của nông hộ

3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu

Sử dụng phần mềm Excel và SPSS để phân tích số liệu

Trang 24

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Phân bố mẫu điều tra trên toàn huyện An Phú

Căn cứ vào số phiếu điều tra tổng cộng là 75 phiếu cho 4 mô hình Rau màu: 20 phiếu, rau nhút: 20 phiếu, nấm rơm: 15 phiếu và bò vỗ béo: 20 phiếu, phân bố trên 5 xã của huyện An Phú là Khánh An, Khánh Bình, Quốc Thái, Vĩnh Trường và Đa Phước Trong đó, Vĩnh Trường có 20 phiếu (chiếm 26,7%), Quốc Thái (16 phiếu chiếm 21,3%), Khánh An (6 phiếu chiếm 8%), Khánh Bình (25 phiếu chiếm 33,3%), và Đa Phước (8 phiếu chiếm 10,7%)

Số phiếu phân bố trên 5 xã đại diện với những điều kiện khác nhau theo tỷ lệ được thể hiện ở Bảng 3 đại diện số hộ trên toàn huyện

Bảng 3: Phân bố mẫu điều tra

Các xã điều tra trong huyện Số mẫu điều tra Tỷ lệ (%) Toàn huyện An Phú

10,7

4.2 Đặc điểm chung của nông hộ điều tra trên toàn huyện

4.2.1 Tuổi trung bình của nông hộ

Qua số liệu điều tra được thể hiện ở Bảng 4, tuổi trung bình của các

chủ hộ ở 4 mô hình từ 47 – 51 tuổi, đây là độ tuổi có nhiều kinh nghiệm trong

sản xuất:

Trang 25

- Mô hình rau nhút: chủ hộ ở độ tuổi nhỏ hơn hoặc bằng 30 tuổi chiếm 5%, 31 – 40 tuổi (25%), 41 – 50 tuổi (10%) và khoảng 60% chủ hộ ở

độ tuổi trên 50 tuổi

- Mô hình nấm rơm, chủ hộ ở độ tuổi nhỏ hơn hoặc bằng 30 tuổi chiếm 6,7%, 31 – 40 tuổi (33,3%), 41 – 50 tuổi (13,3%) và khoảng 46,7% chủ hộ ở độ tuổi trên 50 tuổi

- Mô hình rau màu, chủ hộ ở độ tuổi 31 – 40 tuổi chiếm 25%, 41 – 50 tuổi (40%) và khoảng 35% chủ hộ ở độ tuổi trên 50 tuổi

- Mô hình bò vỗ béo, chủ hộ ở độ tuổi nhỏ hơn hoặc bằng 30 tuổi chiếm 5%, 31 – 40 tuổi (20%), 41 – 50 tuổi (35%) và khoảng 40% chủ hộ ở độ tuổi trên 50 tuổi

Như vậy, chủ hộ ở độ tuổi trên 50 tuổi chiếm tỷ lệ cao từ 35 – 60%, cao nhất là những hộ trồng rau nhút (60%) và thấp nhất là những hộ trồng rau màu (35%) Đây là độ tuổi có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất và rất khó khuyến cáo trong việc áp dụng kỹ thuật canh tác mới

4.2.2 Trình độ văn hóa và kinh nghiệm sản xuất của nông hộ

Trình độ văn hóa của chủ hộ tương đối thấp, trong đó 25% chủ hộ không biết chữ, 52,1% có trình độ văn hóa cấp I, 15,4% ở cấp II và cấp III là 7,5%

Trong khi đó với kinh nghiệm sản xuất nhiều năm làm cho những nông hộ tích lũy càng nhiều kinh nghiệm trong quá trình sản xuất và được thể hiện ở các mô hình canh tác sau:

- Mô hình rau nhút: những hộ có kinh nghiệm sản xuất nhỏ hơn hoặc bằng 10 năm chiếm khoảng 95% và từ 11 – 20 năm chiếm khoảng 5%

- Mô hình rau màu: những hộ có kinh nghiệm sản xuất nhỏ hơn hoặc bằng 10 năm chiếm 75%, 11 – 20 năm (15%) và 10% là 21 – 30 năm

- Mô hình nấm rơm: những hộ có kinh nghiệm sản xuất nhỏ hơn hoặc bằng 10 năm chiếm 80% và 11 – 20 năm chiếm 20%

- Mô hình bò vỗ béo: những hộ có kinh nghiệm sản xuất nhỏ hơn hoặc bằng 10 năm chiếm 80% và 11 – 20 năm chiếm 20%

Trang 26

Từ kết quả trên cho thấy, trình độ văn hóa của chủ hộ còn ở mức thấp, sự hiểu biết của họ chưa cao, với kinh nghiệm sản xuất nhiều năm của

họ khoảng 5 – 10 năm chiếm 75 – 95% nên kỹ thuật canh tác chỉ quen theo cách truyền thống của mình

Ngoài ra số nhân khẩu trung bình trong hộ từ 4,1 – 5,6 người, số nhân khẩu này tương đối cao Nguồn lực lao động tương đối dồi dào trung bình từ 1,8 – 2,8 người/hộ, trong đó lao động chính trong nông nghiệp chiếm

45 – 85%, cao nhất là những hộ làm mô hình rau màu và thấp nhất là những

hộ làm mô hình rau nhút Lao động làm thuê trong nông nghiệp chiếm 13,3 – 30%, cao nhất là những hộ làm mô hình rau nhút và thấp nhất là những hộ làm mô hình bò vỗ béo Lao động làm thuê phi nông nghiệp chiếm 10 – 40%, cao nhất là những hộ làm mô hình bò vỗ béo và thấp nhất là những hộ làm

mô hình rau màu

Từ những kết quả được trình bày ở trên cho thấy, khả năng truyền đạt

kỹ thuật cho nông hộ sử dụng rộng rãi là điều rất khó khăn, đối với những người lớn tuổi có kinh nghiệm sản xuất nhiều năm cộng thêm trình độ học vấn hạn chế, nên khó thuyết phục họ áp dụng kỹ thuật mới Một phần số nhân khẩu trong hộ tương đối cao dẫn tới họ không dám tin vào người khác, vì họ chỉ nghe mà không được thấy, nếu áp dụng không thành công thì cuộc sống

họ phải vất vã Chính vì vậy, mà việc truyền đạt kỹ thuật mới còn nhiều khó khăn

Trang 27

Bảng 4: Đặc điểm của nông hộ

Nhút

Rau Màu

Nấm Rơm

Bò Vỗ Béo

Tỷ lệ (%)

1 Tuổi trung bình của chủ hộ (TB)

- Nhỏ hơn hoặc bằng 30 tuổi

3 Kinh nghiệm sản xuất (%)

- Nhỏ hơn hoặc bằng 10 năm

8 Lao động thuê trong NN (%)

9 Lao động thuê phi NN (%)

48,4

5 25 1060

3050 515 0

95 5 0

5,1 2,8 1,3 45 30 25

48,2

0 25 40 35

20 30 35 150

75 15 10

4,9 2,8 1,3 85 5 10

50,7

6,733,313,346,7

2073,3 6,7 0 0

80 20 0

4,1 1,8 1,5 53,7 13,3 33,3

47,5

5 20 35 40

30 55 15 00

80 200

5,6 2,8 1,4 60 0 40

25 52,1 15,4 7,5 0

4.3 Tài sản và phương tiện sản xuất của nông hộ

4.3.1 Phương tiện sinh hoạt

Kết quả điều tra được trình bày qua Hình 1 cho thấy, về các phương

tiện khác phục vụ cho đời sống và sinh hoạt, thì những hộ làm mô hình bò vỗ

béo và rau màu có những phương tiện đi lại bằng xe máy và xe đạp chiếm tỷ

lệ tương đối bằng nhau tương ứng với 35 – 53,3% và 70 – 90% Đối với

Trang 28

phương tiện nghe nhìn bằng ti vi khoảng 55 – 85% và đầu video ở các mô hình thì tương đối bằng nhau từ 20 – 35% (Hình 2), riêng radio chiếm tỷ lệ cao nhất ở những hộ trồng rau màu (75%) và thấp nhất ở những hộ nuôi bò

vỗ béo (40%)

Như vậy, từ những phương tiện sinh hoạt của nông hộ ở những mô hình canh tác trong mùa lũ cho ta thấy rằng, những phương tiện này phần nào đáp ứng nhu cầu trong đời sống và sinh hoạt của người dân ở đây, tuy nhiên vẫn còn nhiều hộ nông dân vẫn chưa có đầy đủ phương tiện sinh hoạt

Trang 29

20 20

Hình 2: Phương tiện nghe nhìn của nông hộ

Trang 30

4.3.2 Phương tiện sản xuất

Kết quả điều tra được trình bày qua Hình 3 cho thấy: các phương tiện máy phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như máy cày, máy suốt và máy sấy chủ yếu là thuê mướn để phục vụ cho các hoạt động sản xuất khác ngoài mô hình đang canh tác của nông hộ Còn máy bơm nước chiếm tỷ lệ cao nhất ở

mô hình rau màu (70%) và thấp nhất ở mô hình bò vỗ béo (25%), máy quạt nước chiếm tỷ lệ tương đối thấp ở các mô hình

Ngoài các máy phục vụ sản xuất nông nghiệp còn có các phương tiện khác phục vụ sản xuất như xuồng chiếm tỷ lệ cao nhất ở những hộ làm mô hình rau nhút (60%) và thấp nhất ở những hộ làm mô hình rau màu (25%), bình xịt có tỷ lệ cao

nhất ở những hộ làm mô hình rau màu (95%) và thấp nhất ở những hộ làm mô hình

Hình 3: Máy sản xuất nông nghiệp của nông hộ

Trang 31

Hình 4: Phương tiện phục vụ sản xuất của nông hộ

4.4 Nguồn thông tin cho sản xuất nông hộ

4.4.1 Nguồn thông tin cho sản xuất nông nghiệp

Theo kết quả điều tra được trình bày ở Bảng 5 cho thấy, trình độ hiểu biết về kỹ thuật của nông hộ chưa cao, những nguồn thông tin phục vụ cho sản xuất nông hộ chỉ là sự trao đổi qua lại giữa người này với người khác, từ

đó rút ra kỹ thuật của riêng mình, chiếm khoảng 46,7 – 65% nông dân lấy nguồn thông tin từ những người dân khác và 30 – 46,7% học hỏi kỹ thuật từ

bà con thân nhân

Ngoài ra họ còn xem ti vi hoặc radio về các chương trình khuyến nông, quảng cáo, nhịp cầu nhà nông,…để hiểu biết thêm kỹ thuật và thuốc phòng trị Khoảng 30 – 66,7% số hộ nắm bắt thông tin từ ti vi, cao nhất là những hộ trồng nấm rơm chiếm 66,7% và thấp nhất là những hộ trồng rau nhút chiếm 30%

Trang 32

Đối với những nông hộ sống trong vùng ngập lũ, hằng ngày họ phải đối mặt với đói nghèo, đời sống còn nhiều khó khăn Họ không có thời gian tiếp cận với nhiều nguồn thông tin khác như báo, tạp chí, kỹ thuật viên, dịch

vụ buôn bán vật tư nông nghiệp, các nhà nghiên cứu khoa học, hợp tác xã, lãnh đạo địa phương,…

Bảng 5: Nguồn thông tin cho sản xuất nông nghiệp của nông hộ

Nguồn thông tin Bò Vỗ

Béo

Nấm Rơm

Rau Nhút

Rau màu Tần

%

1 Không có thu nhận thông tin

2 Có thu nhận nguồn thông tin

- Từ người nông dân khác

- Từ bà con thân nhân

81,818,250455510015

133 32 7 710 2 0 4

80,619,446,746,766,713,3026,7

185 35 13 9 6 3 1 0

84,115,965453015 5 0

166 54 13 612 6 3 3

75,524,6653060301515

Trang 33

0

0205

0

0

0 3 0

0

0

0 200

1

0

0 1 1

5

0

0 5 5

2

0

1 6 2

10

0

53010

4.4.2 Người thu nhận và số lượng thông tin cho sản xuất nông nghiệp

Do trình độ hiểu biết của nông hộ còn kém, nông dân thường có quan niệm làm theo cách hiểu biết của mình nên họ không cần học hỏi thêm từ ai khác hoặc là từ các chương trình trên ti vi, phần lớn họ ít quan tâm đến các chương trình thời sự, mà chỉ thích các chương trình ca nhạc hoặc phim ảnh,…cho nên đa số những người nắm bắt thông tin thường là những người trực tiếp sản xuất nông nghiệp như chủ hộ, có khoảng 12,3 – 24,6% chủ hộ nắm bắt thông tin từ các nguồn khác nhau (từ những người nông dân khác, từ

ti vi, radio,…) cao nhất là những hộ trồng rau màu chiếm 24,6% và thấp nhất

là những hộ trồng rau nhút (12,3%) Tuy nhiên trong số những nông hộ này chỉ có một số nông hộ là nắm bắt thông tin thường xuyên khoảng 7,3 – 12,7%, một số khoảng vài lần chiếm 6,7 – 15,5%, còn đại đa số là nông hộ chưa bao giờ học hỏi từ người khác chiếm 75,5 - 84,1%, cao nhất là những hộ trồng rau nhút (Bảng 6) Từ kết quả này cho thấy, do rau nhút dễ trồng nên người dân ở đây không quan tâm tới kỹ thuật nhiều, một phần họ không tin tưởng vào những kỹ thuật do người khác truyền đạt Vì vậy kỹ thuật canh tác của họ còn hạn chế dẫn đến hiệu quả kinh tế chưa cao

Bảng 6: Người nhận và số lượng thông tin cho sản xuất nông nghiệp

Ai nhận thông tin Bò Vỗ

Béo

Nấm Rơm

Rau Nhút

Rau màu Tần

%

Trang 34

1 Người nhận thông tin

21 19180

15,9 1,4 0,9

9,5 8,681,3

24 1 7

21 11133

14,6 0,6 4,2

12,7 6,780,6

27 0 8

16 19185

12,3 0 3,6

7,3 8,684,1

54 0 0

20 34166

24,6 0 0

9,115,5 75,5

4.5 Sử dụng đất và thu nhập sản xuất trong nông hộ

4.5.1 Đặc điểm phân bố đất đai trên nông hộ

Qui mô đất đai bình quân trên hộ biến động lớn giữa các hộ làm những mô hình khác nhau, thấp nhất là những hộ làm mô hình nấm rơm và cao nhất là những hộ làm mô hình rau màu (Bảng 7) Do sự phân bố đất đai không đồng đều giữa các xã, mô hình rau nhút với diện tích bình quân là 1,3 ha/hộ, rau màu (1,8 ha/hộ), nấm rơm (0,3 ha/hộ) và 0,3 ha/hộ ở bò vỗ béo Điều này cho thấy, những hộ làm mô hình rau màu có diện tích lớn hơn so với những hộ làm mô hình nấm rơm Hơn nữa điều này cũng hợp lí do trồng nấm rơm không cần diện tích lớn và phù hợp với những hộ nghèo có ít đất canh tác (Bảng 7) Cũng từ số liệu điều tra được trình bày ở Bảng 7 cho thấy, bình quân diện tích đất canh tác trên hộ biến động lớn giữa các mô hình từ 0,3 – 1,8 ha/hộ, sự khác nhau rất lớn về sử dụng đất sản xuất được thể hiện ở các mô hình sau:

- Mô hình nấm rơm diện tích bình quân trên hộ 0,3 ha, đất sử dụng vào việc sản xuất chủ yếu là thuê mướn Chính vì vậy, làm cho nông

hộ gặp nhiều khó khăn trong sản xuất nông nghiệp Trong đó, diện tích đất thổ cư chiếm 24,1%, đất ruộng (74,7%) và đất vườn (1,2%)

- Mô hình rau màu với diện tích bình quân trên hộ là 1,8 ha Trong

đó, diện tích đất thổ cư chiếm 10,9%, đất ruộng (71,3%), đất vườn (2,2%), ao, mương (0,5%) và đất khác (15,1%)

Trang 35

- Mô hình rau nhút với diện tích bình quân trên hộ là 1,3 ha Trong

đó, diện tích đất thổ cư chiếm 8,6%, đất ruộng (80,5%), ao, mương (6,5%) và đất khác (4,4%)

- Mô hình bò vỗ béo với diện tích bình quân trên hộ là 0,3 ha Trong

đó, diện tích đất thổ cư chiếm 21,1%, đất ruộng (53,4%), đất vườn (6,2%), ao, mương (0,8%) và đất khác (18,5%)

Theo số liệu đã tổng kết trên cho thấy đời sống của những nông hộ nuôi bò vỗ béo và trồng nấm rơm còn nhiều khó khăn, họ không có đủ đất để sản xuất, trung bình khoảng 0,3 ha/hộ, hàng năm còn phải đương đầu với cơn

lũ tràn về làm thiệt hại đến tài sản nông hộ, làm cho đời sống của họ gặp khó khăn lại càng khó khăn hơn

Bảng 7: Phân bố đất đai trên nông hộ

Phân bố sử dụng đất đai ở nông hộ Bò Vỗ

0,3

24,174,7 1,2 0 0

1,3

8,6 80,5 06,54,4

1,8

10,971,3 2,2 0,515,1

Trang 36

4.5.2 Các mô hình sản xuất trong hộ

4.5.2.1 Mô hình rau nhút

Về kỹ thuật canh tác, qua kết quả điều tra được trình bày ở Bảng 8 cho thấy, rau nhút rất dễ trồng nên có thể trồng ở mọi thời điểm trong năm, trong đó 70% số nông hộ ở đây trồng quanh năm và còn lại là 30% trồng trong mùa lũ Về các hoạt động trước khi trồng như chuẩn bị đất, làm sạch các tản rong rêu trên bề mặt nước và tu sửa bờ thì đa số các hộ đều không thực hiện, tuy nhiên vẫn có hộ thực hiện đầy đủ các khâu trên như chuẩn bị đất chiếm 35%, làm sạch rong (25%) và tu sửa bờ (20%) Về tiêu chuẩn chọn giống, có khoảng 30% số hộ quan tâm đến tiêu chuẩn chọn cành non và đọt tốt, 10% chọn cọng dài, 20% chọn rễ lớn và đọt tốt và 35% số hộ quan tâm

chọn không sâu bệnh Lượng giống sử dụng bình quân 760 kg/ha, khoảng

cách trồng bụi cách bụi từ 0,8 – 1 m, hàng cách hàng từ 1 – 1,3 m và bình quân trên 1 ha lượng phân bón cho rau khoảng 396 kg, tuy nhiên có những hộ

sử dụng phân bón và lượng thuốc hoá học sử dụng rất ít thậm chí có hộ không

sử dụng nhưng năng suất đem lại cũng tương đối cao Đối với những hộ không sử dụng phân bón khoảng 5%, 50% có sử dụng phân bón nhưng ở mức chi phí thấp (nhỏ hơn 1 triệu đồng/ha) và lớn hơn 1 triệu đồng/ha chiếm 45% (Hình 5) Chi phí cho việc sử dụng thuốc hóa học nhỏ hơn 1 triệu đồng/ha chiếm 55%, 10% lớn hơn 1 triệu đồng/ha và còn lại 35% số hộ không sử dụng thuốc trong trồng rau nhút (Hình 6)

50%

45%

> 1 triệu đồng/ha Không sử dụng

Trang 37

Hình 6: Chi phí thuốc trồng rau nhút

7030

1,33 0,83

Trang 38

4 Tiêu chuẩn chọn giống (%)

- Cọng non, đọt tốt

- Cọng dài

- Rễ lớn, đọt tốt

- Không sâu bệnh

5 Lượng giống sử dụng (kg/ha)

6 Lượng phân bón (kg/ha)

30102035

760,3 396,4

Tuy nhiên, qua số liệu được trình bày ở Bảng 9 cho thấy, chi phí đầu

tư thấp, trung bình khoảng 8,7 triệu đồng/ha/vụ, trong đó chi phí cho giống là

1 triệu đồng/ha, phân bón (1,9 triệu đồng/ha), thuốc bảo vệ thực vật (0,7 triệu đồng/ha), lao động thuê (0,5 triệu đồng/ha), lao động nhà (4,1 triệu đồng/ha)

và chi phí khác khoảng 0,5 triệu đồng/ha Năng suất đạt được tương đối cao, bình quân khoảng 7.500 – 8.000 kg/ha/vụ Với chi phí đầu tư rất thấp, những nông hộ trồng rau nhút hàng năm đều đem lại thu nhập và lợi nhuận cao được thể hiện qua thông số giá bán bình quân 1.705 đồng/kg thì mỗi vụ trung bình trên nông hộ thu khoảng 13,4 triệu đồng/ha/vụ, lợi nhuận thu đạt 4,7 triệu đồng/ha/vụ

Như vậy, qua các kết quả trên thì rau nhút dễ trồng, ít tốn công chăm sóc, chi phí đầu tư ít nhưng cho lợi nhuận cao Do đó việc tận dụng mặt nước trong việc trồng rau nhút đã góp phần tăng thêm thu nhập, giải quyết được nguồn lao động nhàn rỗi trong mùa lũ

Bảng 9: Trung bình chi phí đầu tư và thu nhập của nông hộ trồng rau nhút Chi phí đầu tư và thu nhập Chi phí

(triệu đồng/ha)

Thu nhập

Trang 39

4 Tổng thu (triệu đồng/ha)

5 Lợi nhuận (triệu đồng/ha)

6 Thu hoạch (kg/ha)

7.9341.705

13,4 4,7

165 172 203,5 167,3 139,3 111,5

Theo số liệu điều tra được thể hiện ở Hình 7 cho thấy: đa số những

hộ trồng rau nhút sau khi thu hoạch chủ yếu bán cho bạn hàng chiếm 95%, còn lại là bán cho hàng xóm 5% Rau cắt xong được vận chuyển đến chợ cân lại cho bạn hàng hoặc có thể những người này đến nhà mua Số lượng rau cắt/lần từ 100 – 200 kg/lần tương đối lớn nên những hộ trồng phải đem cân nhanh, tránh làm rau héo khó bán

Trang 40

5%

Tư nhân Hàng xóm

Hình 7: Đối tượng mua sản phẩm

Rau nhút là loại dễ trồng đem lại thu nhập cao Bên cạnh đó, trồng rau nhút cũng gặp một số trở ngại như đất, giá bán, giá mua, thuê mướn, ngập

lũ, kiến thức,… Tuy nhiên, những trở ngại này cũng không ảnh hưởng nhiều đến việc trồng rau nhút Hàng năm khi lũ lớn, độ ngập sâu tương đối cao, gây thiệt hại cho việc trồng rau nhút, nước làm cuốn trôi rau dẫn tới thu nhập giảm xuống, khoảng 40% số hộ gặp trở ngại về vấn đề này Trong khi đó, trở ngại về giá bán chỉ chiếm 5%, giá mua (5%) và thuê mướn là 5% (Bảng 10)

Tóm lại, rau nhút rất dễ trồng, có thể trồng được quanh năm, chi phí đầu tư thấp, dễ tiêu thụ, đem lại lợi nhuận cao và ít gặp trở ngại trong sản xuất Ngoài ra việc trồng rau nhút cũng góp phần giải quyết được nguồn lao động nhàn rỗi trong mùa lũ

Bảng 10: Những trở ngại trong việc sản xuất rau nhút

Trở ngại trong việc sản xuất rau nhút % nông hộ thực hiện

Ngày đăng: 10/04/2013, 15:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp cho các loại cây trồng ở huyện - Mô hình canh tác trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004
Bảng 1 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp cho các loại cây trồng ở huyện (Trang 17)
Hình 1: Phương tiện đi lại của nông hộ - Mô hình canh tác trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004
Hình 1 Phương tiện đi lại của nông hộ (Trang 29)
Hình 2: Phương tiện nghe nhìn của nông hộ - Mô hình canh tác trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004
Hình 2 Phương tiện nghe nhìn của nông hộ (Trang 29)
Hình 3: Máy sản xuất nông nghiệp của nông hộ - Mô hình canh tác trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004
Hình 3 Máy sản xuất nông nghiệp của nông hộ (Trang 30)
Hình 4: Phương tiện phục vụ sản xuất của nông hộ - Mô hình canh tác trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004
Hình 4 Phương tiện phục vụ sản xuất của nông hộ (Trang 31)
Bảng 5: Nguồn thông tin cho sản xuất nông nghiệp của nông hộ - Mô hình canh tác trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004
Bảng 5 Nguồn thông tin cho sản xuất nông nghiệp của nông hộ (Trang 32)
Bảng 6: Người nhận và số lượng thông tin cho sản xuất nông nghiệp - Mô hình canh tác trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004
Bảng 6 Người nhận và số lượng thông tin cho sản xuất nông nghiệp (Trang 33)
Hình 5: Chi phí phân bón - Mô hình canh tác trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004
Hình 5 Chi phí phân bón (Trang 37)
Hình 7: Đối tượng mua sản phẩm - Mô hình canh tác trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004
Hình 7 Đối tượng mua sản phẩm (Trang 40)
Bảng 15: Chọn meo giống và rải meo giống - Mô hình canh tác trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004
Bảng 15 Chọn meo giống và rải meo giống (Trang 47)
Bảng 16: Chăm sóc và thu hoạch - Mô hình canh tác trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004
Bảng 16 Chăm sóc và thu hoạch (Trang 49)
Bảng 17: Trung bình chi phí đầu tư và thu nhập của nông hộ trồng nấm rơm Chi phí đầu tư và thu nhập Chi phí - Mô hình canh tác trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004
Bảng 17 Trung bình chi phí đầu tư và thu nhập của nông hộ trồng nấm rơm Chi phí đầu tư và thu nhập Chi phí (Trang 51)
Hình 8: Đối tượng mua sản phẩm của rau màu - Mô hình canh tác trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004
Hình 8 Đối tượng mua sản phẩm của rau màu (Trang 60)
Bảng 25: Chi phí đầu tư và lợi nhuận khác trong nông hộ - Mô hình canh tác trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004
Bảng 25 Chi phí đầu tư và lợi nhuận khác trong nông hộ (Trang 63)
Bảng 28: Chi tiêu trong gia đình của nông hộ - Mô hình canh tác trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004
Bảng 28 Chi tiêu trong gia đình của nông hộ (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w