Trong hội nhập kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò cực kỳ to lớn
Trang 1Lời nói đầu
Trong những năm qua, kinh tế nớc ta đã có những thay đổi mạnh mẽ,
do có những quyết sách phù hợp Nhiều sản phẩm của Việt Nam có chất lợng cao, chiếm lĩnh đợc thị trờng trong nớc và đợc xuất khẩu ra nớc ngoài Thành công đó tạo đợc nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất nớc, trong đó có ngành dệt may Tuy nhiên, trớc thềm hội nhập, để tồn tại và phát triển bền vững thì ngành dệt may cần phải củng cố, tăng cờng hơn nữa vị thế của mình trong n-
ớc và trên trờng quốc tế.
Dệt may là một ngành công nghiệp chủ chốt tạo đà cho các ngành khác phát triển, góp phần vào quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hoá đất nớc Thực tế hơn 10 năm qua cho thấy sản phẩm đã có nhiều tiến bộ về chất lợng, mẫu mã Nhng nếu so với các đối thủ cạnh tranh, chúng ta vẫn còn nhiều yếu kém, thị trờng xuất khẩu vẫn còn hạn hẹp Dù có nhiều cải tiến và hiện đại hoá công nghệ sản xuất nhng đạt đợc đến tầm cỡ khu vực.
Do đó, cần phải có những biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả cạnh tranh Đây là một công việc hết sức cần thiết, vì ngành dệt may trong n-
ớc đóng vai trò rất quan trọng không chỉ về kinh tế, mà còn cả về xã hội.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may
đối với nền kinh tế cũng nh những thách thức mà ngành này phải đối mặt trong bối cảnh hiện nay, em đã mạnh dạn chọn đề tài “Hoạt động kinh
doanh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam thực trạng và giải pháp”.
Mục đích khi chọn đề tài này là làm sáng tỏ về thực trạng kinh doanh hàng dệt may Việt Nam trong những năm qua Trên góc độ cá nhân, xin đợc
có ý kiến đánh giá những thành công, tồn tại, phân tích thuận lợi và khó khăn của ngành để từ đó đa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động kinh
Trang 2Với mục đích nghiên cứu, bài viết đợc chia làm ba phần chính:
- Chơng I: Tình hình xuất khẩu và tiêu dùng hàng dệt may trên thế giới.
- Chơng II: Tình hình sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may ở Việt Nam hiện nay.
- Chơng III: Giải pháp để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam.
Xin gửi tới các cán bộ, chuyên gia của Tổng công ty Dệt may Việt Nam
(VINATEX), đơn vị đã cung cấp những tài liệu quý giá để hoàn thành bài viết này Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Hoàng ánh đã hớng dẫn
em thực hiện bài viết và đã có những ý kiến quý báu để bài viết đợc hoàn thiện hơn.
Do nhiều điều kiện khách quan và chủ quan không cho phép, bài viết sẽ không tránh khỏi những sai sót Do vậy em rất mong nhận đợc góp ý, đóng góp của các thầy cô và những ngời cùng quan tâm tới đề tài này.
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Trang 3Chơng I Tình hình sản xuất và tiêu dùng hàng dệt may
trên thế giới
1 Giới thiệu chung lịch sử phát triển ngành dệt may trên thế giới:
May mặc là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống con ngời, do vậy ngành dệt may đã xuất hiện từ xa xa trên thế giới Mặc dù, với quá trình phát triển lâu dài
nh vậy, nhng chỉ có các sự kiện lịch sử lớn gần đây mới ảnh hởng lớn mạnh mẽ tới công nghiệp dệt may tới Ta có thể chia lịch sử ngành này thành ba giai đoạn chính:
1.1 Giai đoạn trớc chiến tranh thế giới thứ hai:
Thời gian này, phần lớn lãnh thổ trên thế giới là thuộc địa của các nớc Tây Âu và Hoa Kỳ Các nớc thuộc địa bị lệ thuộc nhiều vào các nớc này về kinh
tế Hệ thống thuộc địa chủ yếu là nơi khai thác nguyên vật liệu và tiêu thụ các sản phẩm từ chính quốc
Do vậy, trên thế giới thực sự chỉ có nghành công nghiệp dệt may ở các
n-ớc Tây Âu và Hoa Kỳ mới phát triển và cung cấp phần lớn sản phẩm dệt may Tuy nhiên, hàng dệt may thờng đợc tiêu thụ ở chính thị trờng nơi sản xuất, mà ít
có sự buôn bán trao đổi giữa các nớc, ngoại trừ việc nhập khẩu sợi lanh, bông và lụa từ các thuộc địa
Tóm lại, đặc điểm chung của thời kỳ này là ngành dệt may chỉ tập trung
ở một số nớc và giao dịch thơng mại tơng đối hạn chế
1.2 Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 1997:
Giai đoạn này, chỉ còn vài cuộc chiến tranh cục bộ nhằm giành chủ quyền và độc lập dân tộc Thế giới phân thành hai đối cực là xã hội chủ nghĩa
Trang 4giới Do đó, đã dẫn tới sự chuyển giao công nghệ và vốn từ các nớc t bản sang các quốc gia mới thành lập ở khu vực Châu á và Châu Phi Cuối giai đoạn này,
hệ thống xã hội chủ nghĩa bị sụp đổ và các nớc trong khối này hầu hết đều chuyển sang hình thức nền kinh tế theo mô hình chuyển đổi
Về dệt may, đặc biệt từ những năm của thập kỉ 70, chúng ta đợc chứng kiến những sự phát triển và thay đổi to lớn về luợng và về chất
- Sự vơn lên của các quốc gia và lãnh thổ ở Châu á, đặc biệt khu vực
Đông á, nh là Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Thái Lan, Inđônêxia, vv Với chiến lợc phát triển kinh tế hớng về xuất khẩu, nhằm thu ngoại tệ phục vụ cho công nghiệp hoá đất nớc, dệt may đã trở thành ngành trọng điểm và đợc các nớc này quan tâm mạnh đặc biệt Dựa trên lợi thế nhân công rẻ, họ đã đầu t cho ngành dệt may để làm ra sản phẩm có giá thành rẻ, đủ sức cạnh tranh trên thị trờng quốc tế Đồng thời, các nớc trên giải quyết đợc một lợng lớn công ăn việc làm, tháo gỡ vấn đề thất nghiệp
- Sự ra đời và phát triển sợi nhân tạo thay thế một phần sợi tự nhiên Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, ngày càng có nhiều loại tơ, sợi tổng hợp đ-
ợc tạo ra Loại sợi này có tính năng mới và độ bền hơn hẳn sợi tự nhiên, dẫn tới việc chúng đợc sử dụng ngày một nhiều trong quá trình chế tạo sản phẩm may mặc
- Do giá nhân công tăng cao tại các nớc phát triển nh Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Canada, Nhật Bản nên đã dần chuyển giao các công nghệ dệt may sang các…nớc kém phát triển Họ chỉ giữ lại những gì có giá trị cao nh sản xuất hàng thời trang, hay tập trung sang nghành dệt và chế biến tơ sợi hoá học tổng hợp nhằm khống chế nguồn cung cho ngành dệt may trên thế giới
Chính vì sự phân công mang tính quốc tế nh vậy đã dẫn tới sự phát triển mạnh thơng mại hàng dệt may trên thế giới Cuối giai đoạn này, hầu nh nguồn
Trang 5cung hàng may mặc cho thế giới là từ các nớc đang phát triển và các nớc công nghiệp mới.
1.3 Giai đoạn sau năm 1997:
Tình hình chính trị trên thế giới tơng đối ổn định, song nó đợc tách ra thành một giai đoạn riêng bởi vì tình hình kinh tế trên thế giới có nhiều biến
động khiến bản đồ kinh tế có sự thay đổi đáng kể
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nổ ra cuối năm 1997 ở Thái Lan, sau
đó lan rộng ra nhiều nớc khác đã để lại những hậu quả kinh tế lâu dài Cuộc khủng hoảng này đã chỉ ra những yếu điểm của các nền kinh tế mới phát triển
Điều đó đã dẫn tới sự suy giảm của cả nền kinh tế nói chung và công nghiệp dệt may nói riêng
Tuy nhiên, thời gian này cũng chứng kiến sự phát triển vợt bậc của Trung Quốc về sản xuất hàng dệt may Vợt qua cuộc khủng hoảng năm 1997 một cách thuyết phục, với sự ổn định chính trị, chính sách tiền tệ hợp lý của Chính phủ, cùng với chiến lợc cạnh tranh và phát triển sản phẩm, các doanh nghiệp đã đa Trung Quốc lên vị trí hàng đầu trong các nớc xuất khẩu hàng dệt may trên thế giới Điều đó, các nớc xuất khẩu hàng dệt may đều phải coi Trung Quốc nh đối thủ cạnh tranh tiềm tàng
2 Vai trò của ngành dệt may trong nền kinh tế:
Dệt may đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt với các nớc đang phát triển Vai trò đó thể hiện ở ba khía cạnh trong nền kinh tế:
- Đây là ngành cung cấp cho xã hội những sản phẩm thiết yếu của đời sống hàng ngày
Trang 6- Ngành dệt may góp phần quan trọng trong việc giải quyết công ăn việc làm bởi vì đây là ngành cần rất nhiều lao động, mặc dù không cần nhiều vốn so với các ngành công nghiệp khác
- Dệt may dễ đem lại lợi nhuận về ngoại tệ để có thể nhập thiết bị cho các ngành khác, nhất là ở các nớc đang phát triển
Thông qua việc phát triển công nghiệp may mặc, sản xuất hàng xuất khẩu, các quốc gia đang phát triển chỉ phải đầu t một lợng vốn nhỏ, nhng có thể thu về một lợng ngoại tệ lớn cho việc nhập khẩu máy móc và công nghệ cho các ngành khác
Để chứng minh luận điểm trên, ta có thể thấy rõ sự đóng góp to lớn của ngành dệt may cho nền kinh tế qua hai trờng hợp điển hình cụ thể ở khu vực
Đông Nam á Đó là Inđônêxia và Thái Lan
- Tại Inđônêxia, dệt may đã có những sự phát triển vợt bậc Năm 2001,
giá trị xuất khẩu hàng dệt may đạt mức 7,68 tỷ USD (Đôla Mỹ), chiếm 17,58% tổng giá trị của các sản phẩm xuất khẩu phi dầu mỏ, chiếm 20,39% tổng giá trị xuất khẩu của các sản phẩm chế tạo Ngành dệt may của Inđônêxia tạo ra hơn 1,2 triệu việc làm và con số này còn tăng lên trong tơng lai khi ngành dệt may
đợc mở rộng
- Tại Thái Lan, dệt may cũng đóng góp một phần không nhỏ cho nền
kinh tế Năm 2000, chiếm vị trí dẫn đầu trong số các ngành xuất khẩu Giá trị xuất khẩu đạt 5,3 tỷ USD, chiếm 8,1 % trong tổng giá trị xuất khẩu của Thái Lan Là ngành đóng góp nhiều nhất vào tổng sản phẩm quốc nội Chiếm tỷ lệ 13,8% đóng góp của ngành công nghiệp chế tạo Là ngành tạo ra nhiều việc làm nhất với gần 1,1 triệu lao động năm 2001, tức 21,2 % lực lợng lao động trong ngành công nghiệp
Trang 73 Tình hình sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may trên thế giới:
Trong những năm qua, dệt may trên thế giới có mức tăng trởng tơng đối
đều đặn và phục hồi khá nhanh sau khủng hoảng tài chính năm 1997 Đến năm
2000, hầu hết các nớc dẫn đầu trong sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may đều có
đợc sự tăng trởng trở lại Ta có thể thấy đợc qua bảng số liệu số 1 và xem xét một vài nớc xuất khẩu điển hình nh Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêxia…
3.1 Trung Quốc:
3.1.1 Về sản xuất:
Trong những năm qua, tốc độ tăng trởng trung bình của ngành dệt may Trung Quốc là 9%/ năm Hiện nay, Trung Quốc có hơn 13.600 công ty sản xuất, xuất khẩu hàng may mặc và có 43,1 triệu nhân công Trong khi đó, Trung Quốc vẫn là một trong 10 quốc gia có chi phí nhân công rẻ nhất trong ngành dệt may với chỉ có 0,7 USD/ giờ
3.1.2 Về xuất khẩu:
Trung Quốc là nớc dẫn đầu ở cả thị trờng dệt và may Năm 2000, giá trị xuất khẩu hàng dệt là 16,14 tỷ USD, chiếm 10,2% thị phần trên thế giới, giá trị xuất khẩu hàng may mặc là 36,07 tỷ USD, chiếm tới 18% thị phần, chiếm 12% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc Theo Bộ Thơng mại Trung Quốc, năm 2002, nớc này sản xuất đợc 20 tỷ sản phẩm may mặc và có doanh thu 48 tỷ USD Nếu chia số sản phẩm này cho dân số trên thế giới thì có nghĩa
là Trung Quốc có thể cung cấp cho mỗi ngời 4 sản phẩm
Những phân tích trên cho thấy, Trung Quốc là nớc có nhiều thế mạnh về may mặc Hơn nữa, Chính phủ cũng u tiên chú trọng phát triển ngành dệt may
Đây là bài học điển hình cho các nớc khác
3.2 Thái Lan:
Trang 8Năm 2001, Thái Lan có 4.544 công ty sản xuất hàng dệt may Trong đó, khoảng 90% nhà máy nằm ở Băngkok và các vùng lân cận (Băngkok, Samut Prakarn, Samut Sakhon, Nontaburi, Patumtani Nakhon Pathom) Cũng trong năm 2001, công nghiệp dệt may Thái Lan có số nhân công 1.081.540 ngời Đây cũng là số nhân công lớn nhất so với các ngành công nghiệp chế tạo khác Các sản phẩm chính gồm có tơ, sợi, vải tổng hợp các loại và quần áo Sản lợng của các sản phẩm này đợc thống kê nh sau:
Bảng 1: Sản lợng đầu ra của ngành dệt may Thái Lan năm 2001
Bảng 2: Xuất khẩu hàng dệt may của Thái Lan trong năm 2001
Trang 93.3 Inđônêxia:
3.3.1 Về sản xuất:
Ngành dệt may Inđônêxia có khoảng hơn 2.600 doanh nghiệp và hơn 1,2 triệu lao động Inđônêxia đã cố gắng duy trì đợc mức tăng trởng liên tục của ngành dệt may, kể cả khi có cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 Chính phủ Inđônêxia có chính sách chú trọng đặc biệt đến ngành dệt may
Trang 10Inđônêxia đứng trong “top” 15 nớc dẫn đầu thế giới về xuất khẩu hàng dệt may trên thế giới Với tốc độ tăng trởng đều đặn của sản xuất và xuất khẩu, năm 2001, kim ngạch xuất khẩu đạt 7,68 tỷ USD, chiếm 17,6% kim ngạch xuất khẩu của nớc này
Bảng 3: Xuất khẩu hàng dệt may của Inđônêsia năm 1997 - 2001
Đơn vị: triệu USD
Sợi 762 889 1.177 1.326 1.244 Vải 1.354 1.345 1.614 1.913 1.526 Hàng may mặc 2.678 2.406 3.526 4.281 4.000 Hàng dệt may khác 243 235 437 549 800 Tổng giá trị 7.319 7.321 7.157 8.204 7.678
Nguồn: Báo cáo của Inđônêsia tại hội nghị hàng dệt may khu vực Châu á - Thái Bình Dơng năm 2002.
Với sự phát triển liên tục, kể cả khi có khủng hoảng trên thế giới và trong khu vực, sự kỳ vọng đạt đợc 9 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu vào năm 2004 của Inđônêxia là có khả năng Đây là nớc có tiềm năng đáng để các nớc khác kính nể
Bảng 4: Năng lực sản xuất của ngành dệt may Inđônêsia
Đơn vị: 1.000 tấn
Tơ 797 8566 905 1.039 1.049 Sợi 1.937 2.074 2.107 2.298 2.3215 Vải 1.752 1.894 1.904 1.972 1.992 Hàng may mặc 486 564 572 573 584
Trang 11Nguồn: Báo cáo của Inđônêsia tại Hội nghị hàng dệt may khu vực Châu á - Thái Bình Dơng năm 2002.
Để chứng minh sự ổn định đó, ta hãy so sánh giữa khả năng công suất sản xuất của Inđônêxia với sản lợng thực tế đợc nêu trong bảng sau:
Bảng 5: Sản lợng thực tế của ngành dệt may Inđônêsia
Đơn vị: 1.000 tấn
Sợi 1.584 1.783 1.912 2.056 2.025 Vải 1.241 1.341 1.346 1.546 1.561 Hàng may mặc 460 535 543 554 565
Nguồn: Báo cáo của Inđônêsia tại Hội nghị hàng dệt may khu vực Châu á
- Thái Bình Dơng năm 2002.
Ta thấy rằng hiệu suất sản xuất của Inđônêxia rất cao, trung bình 95% năng lực công suất Điều này cho thấy rằng, nếu chú trọng đầu t nhiều hơn nữa thì sản lợng còn có khả năng tăng cao hơn
Inđônêxia là nớc phát triển tơng đối đồng đều cả hai mặt hàng dệt và may Thành công đó có đợc là nhờ chiến lợc phát triển các sản phẩm phi dầu
mỏ có từ giữa thập kỷ 80 Giờ đây, xuất khẩu hàng dệt may là nguồn thu ngoại
tệ lớn nhất của Inđônêxia
3.4 Các nớc khác:
Ngoài ba nớc tiêu biểu kể trên, Trung Quốc là nớc dẫn đầu trên thế giới
về hàng dệt may, Thái Lan và Inđônêxia là hai nớc cùng khu vực có các điều kiện tơng đối giống Việt Nam, còn lại hoạt động sản xuất cũng nh xuất khẩu
Trang 12Kỳ, Đài Loan, Hàn Quốc, Đức Tuy nhiên, thị phần của các n… ớc này đang bị thu hẹp một cách nhanh chóng, mà nguyên nhân chủ yếu do giá nhân công vốn
đã cao nay lại càng cao lên nhanh chóng Đây là điều kiện bất lợi cho họ Nhng
đó cũng chính là điều kiện thuận lợi cho cho các nớc có giá nhân công rẻ, trong
đo có Việt Nam
4 Nhu cầu tiêu dùng hàng dệt may trên thế giới:
Do sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thế giới, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa nói chung và hàng dệt may nói riêng không ngừng tăng Với sự vợt trội về kinh tế Hoa Kỳ cùng với EU và Nhật Bản đã trở thành những thị trờng tiêu dùng hàng hoá với số lợng lớn trên thế giới Song trong những năm gần
đây, với sự phát triển kinh tế thần kỳ của mình, Trung Quốc đợc biết đến nh một thị trờng mới đầy hấp dẫn Trung Quốc chiếm tỷ lệ lớn trong tổng tiêu dùng hàng dệt may trên thế giới
Trang 13Biểu đồ 1: Tiêu dùng hàng dệt may ở một số khu vực thị trờng
Đơn vị: triệu tấn
Nguồn : Textile Outlook International.
Tuy nhiên, cứ với đà tăng trởng nh hiện nay thì chỉ đến năm 2005, Trung Quốc sẽ trở thành thị trờng lớn nhất trên thế giới Điều này hoàn toàn có thể xảy
ra, vì Hoa Kỳ cũng nh EU đang áp dụng rất nhiều rào cản kỹ thuật đối với hàng hoá nhập khẩu từ nớc ngoài Còn Nhật Bản, dù có chính sách phi hạn ngạch, với
số dân 193 triệu ngời (năm 2000) và có mức tiêu dùng đầu ngời rất cao cũng không thể sánh đợc với thị trờng 1,2 tỷ dân của Trung Quốc Có thể nói trong những năm tới đây, Trung Quốc sẽ là thị trờng đầy tiềm năng cho hàng dệt may
Ngoài ra, cũng có thể thấy qua con số thống kê lợng hàng nhập khẩu của các nớc này trong những năm 1980 – 2000:
1980 1995 2005
Trang 14Bảng 6: Nhập khẩu hàng dệt may của một số nớc trên thế giới
Nớc, lãnh
thổ
Giá trị năm
Tỷ lệ (%) Mức thay đổi (%)/năm
1980 1990 2000 1990
– 2000
Italia 6,12 4,6 5,7 3,7 0 3 -9 2 Mêxicô 6,1 0,2 0,9 3,6 20 20 41 26 Nhật Bản 4,94 2,9 3,8 2,9 2 -25 4 9 Canada 4,13 2,3 2,2 2,5 6 4 -1 3
Nguồn: www.wto org
Biểu đồ số 1 và bảng số liệu 6 cho thấy Hoa Kỳ đang là thị trờng tiêu thụ hàng dệt may lớn nhất trên thế giới Mức tiêu thụ sản phẩm dệt may của Hoa
Kỳ là 9,6 triệu tấn năm 2001 Tiếp theo sau là Trung Quốc với mức tiêu thụ 8,7 triệu tấn Các vị trí tiếp sau thuộc về EU và Nhật Bản
Trang 15Qua phân tích vai trò của dệt may trong nền kinh tế quốc dân, tình hình nhu cầu tiêu thụ, sản xuất và xuất khẩu một số nớc tiêu biểu trên thế giới, ta rút
ra nhận xét: dệt may chiếm một vị thế quan trọng không thể thiếu đợc đối với chính sách phát triển kinh tế của mỗi nớc, đặc biệt những nớc đang phát triển Hỗu hết các nớc mạnh về dệt may đều có những điểm tơng đồng với Việt Nam Bài học của họ rất có ích cho chúng ta Đồng thời, ta cũng nên phát huy những -
u điểm của họ và những nhợc điểm mà các nớc này mắc phải
Chơng II Tình hình sản xuất và xuất khẩu hàng
dệt may ở Việt Nam
1 Lịch sử phát triển ngành dệt may Việt Nam:
Ta đã biết, sản phẩm may mặc rất thiết yếu đối với nhu cầu của con ngời, nên nó đã xuất hiện từ rất sớm Việt Nam cũng vậy, dệt may cũng có một quá trình phát triển lâu dài Nơi đây có hàng loạt làng nghề thủ công trồng bông, nuôi tằm, xe tơ, kéo sợi, dệt vải trải dài theo chiều dài đất n… ớc Tuy nhiên,
Trang 16trẻ, mới chỉ có gần nửa thập kỷ phát triển Nhng trái lại đây là ngành có những thay đổi nhảy vọt Cùng với sự chuyển mình và phát triển của nền kinh tế, dệt may cũng có những giai đoạn phát triển tơng ứng Ta có thể chia làm ba giai
đoạn nh sau:
1.1 Giai đoạn trớc năm 1986:
Năm 1954, sau khi hoà bình đợc lập lại, Miền Bắc đợc hoàn toàn giải phóng và có điều kiện phát triển kinh tế chi viện Miền Nam đấu tranh chống đế quốc, thống nhất đất nớc Thời kỳ này, ngành dệt may Việt Nam đã đợc Đảng
và Chính phủ quan tâm tạo điều kiện đầu t phát triển Kết quả tạo công ăn việc làm, cũng nh sản xuất đợc nhiều sản phẩm cho xã hội
Với sự giúp đỡ của các nớc anh em, bè bạn, chúng ta đã cải tạo và xây mới một loạt nhà máy có công suất lớn nh: Dệt 8-3, Dệt Vĩnh Phú, Dệt kim
Đông Xuân, Dệt Nam Định, May 10, May Thăng Long Đồng thời, hàng loạt…các hợp tác xã, tổ sản xuất thủ công đợc thành lập nhằm cung cấp thêm sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân
Năm 1975, sau khi đất nớc hoàn toàn thống nhất, non sông thu về một mối, ngành dệt may lại có thêm cơ hội phát triển khi đợc bổ sung đội ngũ thợ lành nghề của các làng nghề trải dài từ miền Trung vào miền Nam Đảng, Chính phủ đề ra chơng trình phát triển kinh tế tập trung Ba vấn đề lớn cấn giải quyết
là lơng thực - thực phẩm - hàng tiêu dùng Hàng loạt nhà máy mới đợc đầu t xây dựng nh Sợi Hà Nội, Sợi Vinh, Sợi Huế, Sợi Nha Trang, May Việt Tiến, May Nhà Bè, May Hữu Nghị…
Do quy mô phát triển khá lớn, nên dệt may đã đủ sức trở thành một ngành kinh tế mạnh trong nền kinh tế quốc dân Điều này dẫn tới một nhu cầu cần có một tổ chức đứng ra quản lý chung, thay vì trực tiếp chịu sự giám sát của
Bộ Công Nghiệp nhẹ Xuất phát từ nhu cầu đó, Chính phủ đã thành lập Liên hiệp các xí nghiệp dệt và Liên hiệp các xí nghiệp may Hai cơ quan này có
Trang 17nhiệm vụ quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp dệt
và may
Tới năm 1990, hai cơ quan trên sát nhập lại và lấy tên là Liên hiệp Sản xuất - Xuất nhập khẩu dệt may Đây là mô hình tổ chức quản lý đặc trng cho cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung
Sự phát triển trên thực sự là qua trình chuẩn bị rất tốt cho ngành dệt may Việt Nam Giờ đây, những doanh nghiệp nh May 10, May Việt Tiến, May Nhà
Bè, May Thăng Long, Dệt 8 - 3 đ… ợc coi là những tên tuổi lớn trong ngành dệt may Việt Nam đều đợc xây dựng trong thời gian này Nhờ đầu t theo kế hoạch nên có sự phát triển tơng đối cân bằng giữa ngành may và ngành dệt
Tuy nhiên, trong giai đoạn này vẫn còn những hạn chế do cơ chế chung của cả nền kinh tế Các doanh nghiệp chỉ sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch nhà n-
ớc giao, mà không có sự linh động sáng tạo trong sản xuất, cũng nh cải tiến sản phẩm, nâng cao chất lợng Điều đó dẫn đến cần có những thay đổi nhận thức mới để tạo ra một thời kỳ chuyển biến mới
Trang 18ớc Đông Âu Khi thị trờng xã hội chủ nghĩa tại các nớc Đông Âu sụp đổ, cũng
nh việc Việt Nam chuyển nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trờng đã khiến cho các doanh nghiệp (phần lớn là doanh nghiệp nhà nớc) gặp không ít khó khăn Họ vấp phải những khó khăn về tổ chức sản xuất, về nguyên liệu đầu vào, cũng nh tiêu thụ đầu ra
Quen với cơ chế làm ăn thời bao cấp, doanh nghiệp đợc cấp vốn, đầu vào
có sẵn, sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch đợc giao, đầu ra đợc bao tiêu toàn bộ, thì nay, phải hoạt động nh một chủ thể kinh tế hoàn toàn độc lập Các doanh nghiệp bắt đầu lộ ra những nhợc điểm: quy mô sản xuất nhỏ, thiếu vốn hoạt
động, công nghệ cũ kỹ, lạc hậu, kỹ năng tổ chức sản xuất thiếu khoa học
1.2.2 Tình hình sản xuất kinh doanh chung của ngành dệt may:
Theo Nghị định số 338/NĐ - CP của Chính phủ, các doanh nghiệp dệt
may không thuộc sự quản lý, điều hành của Liên hiệp Sản xuất - Xuất nhập khẩu dệt may nữa, mà chuyển cho Bộ Công nghiệp Các doanh nghiệp do đó phải tự hạch toán độc lập Đây thực sự là một thời điểm khó khăn cho ngành dệt may Việt Nam
Thời kỳ này, nhiều doanh nghiệp do không thích ứng đợc với tình hình mới, nên kinh doanh bị thua lỗ liên tục, đứng trên bờ vực phá sản Để tự cứu mình nên các doanh nghiệp hoạt động tách rời Vì thế nên đã xuất hiện t tởng cục bộ mạnh ai nấy làm, cá lớn nuốt cá bé Các doanh nghiệp cạnh tranh với
Trang 19nhau, phát triển kinh doanh một cách tự phát, dù có những điểm tốt là dần tạo cho doanh nghiệp tính độc lập, tự thân vận động, cải tiến và phát triển, nhng cũng gây không ít những thiệt hại cho ngành dệt may Việt Nam khi không có
sự điều tiết, bất chấp hậu quả cho ngời khác cũng nh cho toàn ngành
Tình hình trên dẫn tới một nhu cầu tất yếu là phải có định hớng và quản
lý chặt chẽ của Nhà nớc Các doanh nghiệp cần có một tổ chức liên kết để liên kết sức mạnh riêng tạo nên sức mạnh tổng hợp chung của toàn ngành
Từ nhu cầu đó, Chính phủ đã thành lập Tổng công ty Dệt may Việt Nam, tên giao dịch quốc tế là Vietnam National Textile and Garment Corporation, viết tắt là VINATEX, trên cơ sở Nghị định 91/NĐ - CP VINATEX hoạt động
nh một pháp nhân độc lập và trực thuộc Bộ Công nghiệp
VINATEX có cơ cấu tổ chức, hoạt động theo phơng thức tập đoàn kinh
tế, nhằm tập hợp các doanh nghiệp, tập trung vốn, tổ chức phân công chuyên môn hoá hòng tạo nên sức mạnh tổng hợp và sức cạnh tranh lớn trên thị trờng quốc tế Việc thành lập VINATEX đã tạo điều kiện cho dệt may Việt Nam phát triển đóng góp hơn nữa cho nền kinh tế quốc dân
Ngày nay, khi nói đến sự thành công của ngành dệt may Việt Nam không thể không nói đến VINATEX Xin sơ lợc một số nét về cơ cấu tổ chức và hoạt
động của Tổng công ty này
1.2.2.1 Cơ cấu tổ chức của VINATEX:
VINATEX gồm 55 thành viên với 45 doanh nghiệp, 2 Viện nghiên cứu Kinh tế, Kỹ thuật, Thiết kế Thời trang, 3 trờng đào tạo công nhân, 4 công ty cơ khí và 1 công ty tài chính
Trang 20Các thành viên của Tổng công ty có quan hệ chặt chẽ về sản xuất, kinh
tế, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, vv Cơ cấu đó nhằm tạo sự đồng…
bộ trong toàn ngành từ đầu t, cung cấp nguyên vật liệu tới tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và xuất khẩu
Đồng thời, VINATEX cũng là một tổ chức liên kết các doanh nghiệp trong nớc với nớc ngoài, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội tiếp xúc, ứng dụng khoa học công nghệ, tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh và đào tạo nhân viên quản lý, công nhân sản xuất
1.2.2.2 Sản xuất kinh doanh:
Tổng công ty Dệt may Việt Nam đợc thành lập là bớc ngoặt đáng chú ý,
nó đánh dấu một thời kỳ phát triển nhảy vọt chung của cả ngành dệt may Việt Nam Mức đầu t vào công nghệ cùng với việc giảm bớt lao động d thừa phản
ánh cam kết của ngành tới công tác cải tiến chất lợng liên tục (Continuous Quality Improvement – CQI), đặc biệt là hiện đại hoá, tăng năng suất và đẩy mạnh công tác marketing Công việc nghiên cứu, triển khai ứng dụng (R&D) rất
đợc chú trọng Kết quả đến nay cho thấy Tổng công ty Dệt may Việt Nam vẫn
là một trong những đơn vị hoạt động có hiệu quả nhất trong các Tổng công ty
90, 91 khác Các chỉ tiêu ké hoạch đề ra của Tổng công ty đèu đạt và vợt Tích cực đổi mới, tăng cờng tập đầu t vào những lĩnh vực xơng sống là phơng châm
đề ra của VINATEX Ta có thể thấy rõ điều này qua bảng về kết quả hoạt động kinh doanh trong thời gian 1993- 1997:
Bảng 7: Kết quả thực hiện chỉ tiêu của VINATEX giai đoạn 1993 - 1997
Trang 21Nguồn: Báo cáo tổng kết Ban kế hoạch đầu t– (VINATEX).
Qua bảng trên cho thấy Tổng Công ty Dệt may Việt Nam có tốc độ phát triển khá cao Sản lợng tăng 10% đến 19%, doanh thu tăng từ 15% tới 30%, kim ngạch xuất khẩu tăng từ 13% tới 24%, có năm lên tới 154% Số liệu về tốc độ phát triển có thể tổng hợp theo bảng sau:
Bảng 8: Tốc độ phát triển của VINATEX gia đoạn 1993 - 1997
độ phát triển, ta xem xét biểu đồ 2
Trang 22Biểu đồ 2: Tốc độ phát triển của VINATEX giai đoạn 1993 - 1997
Qua biểu đồ, ta thấy tốc độ tăng của kim ngạch xuất nhập khẩu tăng nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ tăng trởng của giá trị sản lợng và tổng doanh thu Điều này cho thấy Tổng Công ty đang cố gắng lấy bộ phận xuất khẩu làm trung tâm trong hoạt động kinh doanh của mình
Trong giai đoạn này, còn có những điểm đáng chú ý khác nữa là chính sách vĩ mô của Nhà nớc và Chính phủ đối với nền kinh tế quốc dân nói chung
và ngành dệt may Việt Nam nói riêng:
- Luật đầu t nớc ngoài vào Việt Nam và Việt Nam ra nớc ngoài đợc ban
hành là điều kiện tiên quyết cho phát triển kinh tế Chính phủ đã có những chính sách khuyến khích đầu t nớc ngoài đã khiến cho ngành dệt may thu hút đ-
ợc một lợng vốn lớn Hình thức đầu t chủ yếu là đầu t trực tiếp (FDI), theo mô
Trang 23hình liên doanh Yếu tố trên tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dệt may có cơ hội tiếp cận với công nghệ tiên tiến, hiện đại, phơng thức quản lý kinh doanh mới Ngành dệt may đợc đổi mới về cả chất và lợng
- Cùng với đà tăng trởng nhanh chóng, ngành dệt may đã mở rộng thị ờng xuất khẩu Với chủ trơng chính sách đa phơng hoá, đa dạng hoá, không chỉ
tr-quan hệ với các nớc xã hội chủ nghĩa, các nớc Đông Âu, mà còn từng bớc thiết lập quan hệ ngoại giao và thơng mại với nhiều nớc khác trên thế giới Từ đó mở
ra những thị trờng mới nh EU, Nhật Bản, ASEAN Đây là nguồn gốc tạo nên…
sự phát triển vợt bậc trong ngành dệt may Việt Nam
- Tuy nhiên, đối với ngành dệt may, sự phát triển nhanh chóng đó cũng bộc lộ những nhợc điểm phải giải quyết Ngoài yếu tố nh ít vốn, công nghệ lạc
hậu, trình độ quản lý kém cỏi đã đợc giải quyết một phần nào nhất là từ cuối thập niên 90 thế kỷ 20 Chúng ta còn một nhợc điểm lớn nữa là sự phát triển mất cân đối giữa ngành dệt và ngành may Nếu trớc đây, quy hoạch các nhà máy dệt và nhà máy may đợc phát triển đồng đều theo kế hoạch của Nhà nớc, thì trong giai đoạn này quá trình đầu t lại tập trung vào phát triển vào ngành may
Ngành dệt mới chỉ đủ khả năng cung cấp 10% sợi cotton và 20% lợng vải cần cho nhu cầu sản xuất trong nớc Phần nguyên liệu còn lại phải nhập khẩu
Điều này dẫn đến phụ thuộc quá nhiều vào nguồn cung cấp đầu vào của nớc ngoài Nó có thể gây ít ảnh hởng tới các hợp đồng gia công xuất khẩu theo ph-
ơng thức CMT (Cutting - Making -Trimming) Nhng nếu chuyển sang xuất khẩu trực tiếp thì sẽ gây ra không ít bất lợi
1.3 Giai đoạn từ 1997 tới nay:
Giai đoạn này, Việt Nam có những tiến bộ vợt bậc, góp phần quan trọng vào quá trình ổn định, phát triển kinh tế Năm 1999, chiếm 8,58% tổng giá trị
Trang 24may xuất khẩu là một trong những những mặt hàng có tốc độ tăng trởng lớn nhất trong số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam Ta có thể thấy rõ trong bảng sau:
Bảng 9: Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam so với các hàng khác.
Hàng dệt may Triệu USD 1.975 2.710 37,2%
Giày dép các loại Triệu USD 1.559 1.828 17,2%
Hàng thủ công
mỹ nghệ
Nguồn : Bộ Thơng mại.
Năm 2001 và 2002, mặc dù kinh tế thế giới vẫn ở trong tình trạng ảm
đạm, trì trệ, mức tiêu dùng xuống thấp, dẫn tới giá cả các mặt hàng giảm làm cho kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam nh
Trang 25gạo, cà phê giảm Nhng trái lại ngành dệt may vẫn có sự phát triển thể hiện ở mức tăng trởng cao trong kim ngạch xuất khẩu (37,2%).
Tỷ lệ đóng góp của ngành dệt may trong tổng giá trị ngành công nghiệp chế biếnkhoảng 10% hàng năm và giá trị xuất khẩu hàng dệt may chiếm khoảng
13 % trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
Bảng 10: Đóng góp của ngành dệt may trong nền kinh tế quốc dân Chỉ
Năm
GD
P (Tỷ đồng)
Ngàn
h dệ
t m
ay (T
ỷ
đ ồ n g)
Tỷ lệ đóng
gó
p và
o G
DP (%
)
Tổng kim
ngạ
ch xuất khẩ
u (Tỷ
đồn g)
Trang 26trở thành thị trờng lớn nhất của ngành dệt may Việt Nam Kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt trên 900 triệu USD Chi tiết cụ thể về thị trờng này sẽ đợc ngiên cứu rõ hơn trong phần phân tích về các thị trờng chính của ngành dệt may Việt Nam.
Qua nghiên cứu các giai đoạn phát triển trên, ta thấy đợc những tiềm năng, những mặt mạnh cần phát huy, cũng nh những tồn tại cần giải quyết, tranh thủ thời cơ để ngành dệt may Việt Nam có chỗ đứng trên thị trờng thế giới
2 Tình hình sản xuất, xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam:
2.1 Tình hình sản xuất:
Nh ta đã biết, trong thời gian qua dệt may Việt Nam đã có những sự phát triển nhảy vọt, đóng góp to lớn vào sự ổn định và phát triển kinh tế của đất nớc Minh chứng đó đợc thể hiện qua các số liệu thực tế:
Bảng 11: Tỷ lệ phát triển trong nền kinh tế quốc dân
Toàn ngành công nghiệp (%) 13,6 8 15,79 14,3Ngành công nghiệp dệt may (%) 14 12 15 12,5Tổng kim ngạch xuất khẩu (%) 34,4 23,3 23,9 10,5Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt
may (%)
Nguồn : Bộ Thơng mại.
Bảng cho thấy từ năm 1993 – 2000, dệt may Việt Nam luôn giữ một tốc
độ tăng trởng cao và ổn định với mức tăng trởng hàng năm là từ 12% tới 15% Theo số liệu thống kê năm 2001, Việt Nam có 1.031 doanh ngiệp hoạt động trong lĩnh vực dệt may Trong số này có 231 doanh nghiệp nhà nớc, 449 t nhân,
Trang 27351 liên doanh và 100% vốn nớc ngoài Tổng số lao động hơn 1,6 triệu ngời, tính cả 700.000 ngời làm việc trong nông nghiệp nh trồng dâu nuôi tằm, trồng bông cung cấp nguyên liệu cho dệt may.
Công suất của toàn ngành dệt may hàng năm đạt khoảng 10.000 tấn bông, 150.000 tấn sợi các loại, 500 triệu mét vải dệt kim, 70.000 tấn vải dệt thoi
và 500 triệu sản phẩm hàng may sẵn
2.2 Tình hình xuất khẩu:
Trong những năm qua, nhất là sau khi Việt Nam mở rộng quan hệ ngoại giao và thơng mại với nhiều nớc trên thế giới, đặc biệt là EU thì lợng hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam không ngừng tăng Tổng kim ngạch xuất khẩu và cơ cấu mặt hàng đợc thể hiện qua bảng dới đây:
Bảng 13: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may các năm 1995 2001–
Trang 28ra các nớc khác và kéo dài đến vài năm sau, nhng dệt may Việt Nam lại có đợc kim ngạch xuất khẩu tăng trởng chút ít năm 1998 và nhảy vọt tới 29% năm
1999 (1.747 triệu USD) Mức tăng trởng của ngành dệt may Việt Nam đợc thể hiện cụ thể trong bảng tỷ lệ sau:
Bảng 14: Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu các năm 1996 - 2001
Trang 293 Một số thị trờng trọng điểm của dệt may Việt nam:
Sau hơn 10 năm tham gia vào thơng mại quốc tế, ngành dệt may Việt Nam đã có đợc chỗ đứng trên thị trờng quốc tế Các thị trờng chủ yếu là EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản và ASEAN Ngoài ra, các nớc Đông Âu, Trung Đông là những khách hàng tiềm năng cần khai thác
Tổng quan chung về thị trờng xuất khẩu của Việt nam đợc thể hiện trong bảng sau:
Bảng 16: Cơ cấu thị trờng xuất khẩu của ngành dệt may
3.1 Thị trờng Đông Âu:
Trang 30Đây là thị trờng đông dân số, có sức tiêu thụ lớn Điểm nổi bật nhất là thị trờng không cần hạch ngạch Một lợi điểm nữa là Đông Âu có nguồn nguyên liệu bông dồi dào, máy dệt rẻ, thuốc nhuộm hoá chất đa dạng và có nhiều công trình đang đầu t vào Việt Nam nên có triển vọng đổi hàng lớn Các doanh nghiệp Việt Nam dễ dàng thực hiện mục tiêu cân đối nhập khẩu nguyên liệu, thu hút vốn và tiết kiệm ngoại tệ.
Trớc năm 1990, Việt Nam xuất khẩu chủ yếu sang thị trờng này theo
ch-ơng trình hợp tác theo hiệp định giữa các nớc xã hội chủ nghĩa
Sau năm 1990, do có biến động chính trị, đã kéo theo những thay đổi cơ bản về kinh tế Cơ chế kinh tế thị trờng hình thành và quá trình t nhân hoá diễn
ra với tốc độ nhanh
3.1.2 Nhu cầu tiêu thụ:
Đông Âu là thị trờng dễ tính Hiểu rõ điều đó, Trung Quốc luôn là nớc xuất khẩu hàng dệt may lớn sang khu vực này, nhờ các chính sách mềm dẻo thích hợp, nắm bắt kịp thời diễn biến thị trờng Thái Lan cũng là nớc xuất khẩu khá lớn vào Đông Âu Ví dụ, năm 1992, Thái Lan đã xuất đợc 20 triệu USD hàng may mặc sang Ba Lan
Các doanh nghiệp Đông Âu mong chờ tìm đợc lợi nhuận cao từ Tây Âu Nhng do hàng hoá của họ thiếu sức cạnh tranh bởi trình độ kỹ thuật còn thấp Các nớc này hy vọng muốn làm ăn và tiêu dùng hàng hoá của các nớc Tây Âu, nhng thực tế, sức mua thị trờng còn hạn chế bởi mức sống bình quân còn thấp Trớc thực tế đó, không ít các nớc thuộc khu vực này mong muốn nối lại quan hệ làm ăn với Việt Nam và các nớc Đông Nam á
3.1.3 Tình hình xuất nhập khẩu:
Trang 31Đông Âu là thị trờng truyền thống, vốn rất quen thuộc và có quan hệ lâu năm với Việt Nam, cũng nh sự hiểu biết đối với ngành dệt may nớc ta Song do thời gian qua các doanh nghiệp không chú trọng nên hiện nay, buôn bán hàng may mặc giữa Việt Nam với các nớc Đông Âu mới chỉ là xuất khẩu tiểu ngạch Nhng do nhiều nguyên nhân nên hoạt động này cũng kém hiệu quả.
Hiện nay, dù có yêu cầu cao hơn về mẫu mã chủng loại, chất lợng, song nhìn chung Đông Âu vẫn là khu vực dễ tính Điều đó phù hợp với trình độ dệt may của Việt Nam Việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nơi đây là điều hoàn toàn
có khả năng thực hiện
Để Việt Nam để có thể trở lại tiếp cận thị trờng này, cần tích cực mở rộng hoạt động tiếp thị, tìm ra phơng thức kinh doanh hợp lý Cần có sự can thiệp ở cấp vĩ mô giữa nhà nớc với nhà nớc thì hàng dệt may mới có thể thâm nhập mạnh mẽ
3.2 Thị trờng EU:
3.2.1 Đặc điểm thị trờng:
Liên minh Châu Âu (EU) gồm 25 nớc thành viên, diện tích bằng 1/6 địa cầu, dân số lên hơn 500 triệu ngời Giá trị tổng sản phẩm xã hội hơn 5.000 tỷ USD EU đạt trình độ cao về kỹ thuật hiện đại Có thế mạnh về hầu hết các ngành kinh tế, song lại rất thiếu nguyên nhiên liệu Về thơng mại, EU chiếm 1/5 kim ngạch mậu dịch toàn thế giới, trong đó xuất khẩu chiếm 21% Các bạn hàng thơng mại lớn nhất của EU là Hoa Kỳ, Nhật Bản và ASEAN
EU có lịch sử phát triển công nghiệp dệt may lâu đời, là trung tâm mốt thời trang với nhiều công ty tạo mốt thời trang nổi tiếng thế giới nh Fendi, Piere
- Cardin, Christian Dior, Yves Saint - Laurent, vv Đây là nơi có nhiều thông…tin nhất về thời trang EU có kỹ thuật sản xuất những sản phẩm may mặc cao cấp truyền thống với các loại sợi thiên nhiên nh len, tơ tằm, sợi tổng hợp …
Trang 32Thời gian qua, với xu hớng chuyển dịch ngành công nghiệp dệt may sang các nớc có giá nhân công rẻ, các nớc ngành dệt may tại các nớc EU nh Đức, Italia, Pháp đang suy giảm rõ rệt Nhất từ năm 1986 - 1991 Mức sản xuất hàng dệt may này của Anh giảm 24,1%; Pháp giảm 17,8%; Đức giảm 10,3%
Do đó, kéo theo số nhân công giảm Năm 1978, có 3,25 triệu, thì đến năm
1993, chỉ còn 2,85 triệu lao động
Sự mở rộng ngành dệt may EU dới các hình thức liên kết sản xuất ở nớc ngoài đang ngày càng tăng, nhất là với các nớc Châu á Ngoài ra, hình thức gia công ở nớc ngoài (OPT - Oversea Processing Trade) cũng phát triển mạnh Giai
đoạn 1986 - 1991, EU đã bành trớng OPT ra ngoài Châu Âu 15,5% Đức là nớc
có hoạt động OPT mạnh nhất Do vậy, sản xuất hàng may mặc tại EU giảm 6,8
3.2.2 Nhu cầu tiêu thụ:
EU là thị trờng rộng lớn, có nhu cầu tiêu thụ hàng dệt may lớn nhất, sản phẩm đa dạng, phong phú và tinh tế Năm 1996, lợng hàng dệt may thị trờng này tiêu thụ đạt giá trị 341 tỷ USD Theo số liệu thống kê, cứ 100 ngời đợc hỏi thì đều có yêu cầu về mốt, thẩm mỹ, thời trang rất cao, chiếm 85 - 90%, chỉ 10 - 15% có nhu cầu để bảo vệ thân thể
Mức tiêu thụ ở thị trờng này vào loại cao trên thế giới: 17 kg ời/năm Trong khi đó ở các nơi khác mức tiêu thụ thấp hơn: Thái Lan: 2,8 kg; Inđônêsia: 2,0 kg; Trung Quốc: 5,5 kg; Hồng Kông: 11,9 kg; Hàn Quốc: 14,3 kg; Việt Nam chỉ có 0,84 kg
Trang 33vải/ng-Ngời tiêu dùng ở EU đợc chia làm bốn nhóm: nhóm dẫn mốt, nhóm ăn mặc đứng đắn, nhóm sau mốt, nhóm thực dụng Trong đó, tỷ lệ nhóm dẫn mốt cao nhất ở Tây Ban Nha, Bỉ, Italia, Đan Mạch và Đức Tỷ lệ thấp nhất là ở Anh Tuy nhiên, nhìn chung toàn EU, nhóm những ngời thực dụng và nhóm những ngời sau mốt chiếm khoảng 70-75% tổng số ngời tiêu dùng, nên sản phẩm dệt may của thị trờng này đòi hỏi sự phong phú về mẫu mốt và có giá bán cao hơn các khu vực khác trên thế giới
Năm 1996, giá trị nhập khẩu 38,8 tỷ USD quần áo và 16,9 tỷ USD hàng dệt
Trong cơ cấu mậu dịch, ngoài số tự sản xuất tiêu dùng chiếm 39% khối ợng quần áo (bằng 44,8 tỷ USD) đợc trao đổi trong nội bộ EU, còn lại nhập từ Châu á chiếm 17,5% (bằng 18 tỷ USD)
l-Nhu cầu về hàng dệt may EU ngày càng tăng đợc bù đắp bằng hàng nhập khẩu từ các nớc có giá lao động thấp Vì lý do đó, sản phẩm dệt may xuất khẩu
ở các nớc Châu á cũng sẽ gia tăng với tốc độ cao Chẳng hạn, Trung Quốc xuất sang Đức 37 triệu bộ đồ lót, sang Đan Mạch 160 triệu bộ với giá 0,32 USD/bộ Trong khi đó ở ở Đức giá thờng là 10 USD/bộ, ở Italia giá là 17 USD/bộ Bởi vậy, sức hấp dẫn về giá cả cạnh tranh của khu vực Châu á - Thái Bình Dơng,
đặc biệt là Trung Quốc sẽ lôi cuốn mạnh mẽ thị trờng EU
Trang 34Tổ chức quốc tế Kurit Saluen Assosiate đa ra đánh giá về xu hớng thị ờng dệt may EU nh sau: “Vải dệt và quần áo nhập khẩu từ các nớc ngoài khối
tr-EU sẽ ngày càng khống chế thị trờng Châu Âu trong những năm tới Các hình thức bán lẻ đa dạng và sự cạnh tranh của nền công nghiệp dệt và may mặc từ các nớc đang phát triển ngày càng thúc đẩy xu hớng phát triển này ở thị trờng Châu Âu”
Cho đến nay EU đã ký nhiều hiệp định thơng mại song phơng và đa
ph-ơng với các nớc, các tổ chức kinh tế và các khu vực kinh tế Với ASEAN, EU đã
ký hiệp định hợp tác, tạo điều kiện tăng cờng trao đổi buôn bán và đầu t
Sau 10 năm hợp tác, EU là thị trờng quen thuộc Đây là thị trờng đòi hỏi chất lợng cao, điều kiện thơng mại nghiêm ngặt, mức bảo hộ đặc biệt cao EU nổi tiếng là khách hàng khó tính về mẫu mã, chất lợng, thời gian giao hàng Mặt khác, mối quan hệ truyền thống lâu đời giữa EU với 50 bạn hàng khác trên thế giới đã thẩm định tính nghiệt ngã này Đây là bức tờng thành cản trở sự thâm nhập của ta vào thị trờng này Nếu xem xét kỹ, thì nó cũng mở ra một thị trờng rộng lớn để các doanh nghiệp có cơ hội vơn lên thích ứng và phát triển Qua đó
sẽ cải thiện đợc năng lực sản xuất, chất lợng sản phẩm, mẫu mã, chủng loại,
ph-ơng thức kinh doanh, tiếp thị
Thực tế cho thấy, EU giữ một vị trí rất quan trọng và là thị trờng trọng
điểm So với các nớc có quota vào EU thì Việt Nam mới chiếm khoảng 0,7% tổng kim ngạch nhập khẩu của EU, chỉ bằng 5% lợng hàng của Trung Quốc, 10
- 20% của ASEAN Lý do, ta có những khó khăn nh mặt hàng có khả năng lớn
nh jacket, áo sơ mi thì bị hạn chế số lợng mới chỉ đạt 50% công suất Hạn ngạch ký kết còn hạn chế: năm 1993 - 1995 có 151 Cat, năm 1996 còn có 54 Cat
Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu sang EU tăng đều, nhng do nguyên phụ liệu sản xuất trong nớc của ta còn hạn chế, mẫu mã cha phù hợp thị hriếu
và cha có bạn hàng mua bán trực tiếp mà hầu hết vẫn phải thông qua gia công