1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

giáo trình sử dụng biện pháp sinh học nghề quản lý dịch hại tỏng hợp

45 1K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 1,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay có rất nhiều biện pháp phòng trừ dịch hại đã được áp dụng để bảo vệ cây trồng trước sự tấn công của các loài dịch hại và biện pháp sử dụng thuốc hóa học là thông thường hơn cả..

Trang 1

Cơ quan chủ quản: Bộ Nông nghiệp & PTNT

Cơ quan ban hành: Bộ Nông nghiệp & PTNT

Trình độ: Sơ cấp nghề

Trang 2

TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN

Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dẫn dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo

Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm

Mã tài liệu: MĐ 04

Trang 3

LỜI GIỚI THIỆU

Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, người nông dân thường gặp rất nhiều trở ngại, một trong số đó là sự phá hại mùa màng của các loại dịch hại như côn trùng, bệnh hại, cỏ dại, ốc bươu vàng… Do vậy để bảo vệ mùa màng đảm bảo năng suất chất lượng, ổn định sản xuất thì biện pháp phòng trừ các loại dịch hại là việc làm hết sức thiết yếu đối với người nông dân

Hiện nay có rất nhiều biện pháp phòng trừ dịch hại đã được áp dụng để bảo vệ cây trồng trước sự tấn công của các loài dịch hại và biện pháp sử dụng thuốc hóa học là thông thường hơn cả Mặc dù biện pháp hóa học hiệu quả cao trong phòng trừ nhiều loài dịch hại nhưng nó cũng có những mặt tiêu cực, đó là gây ô nhiễm môi trường, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên nông sản, tiêu diệt thiên địch, gây mất cân bằng sinh thái, hiện tượng kháng thuốc và tái bùng phát mạnh hơn của các loài dịch hại,…

Trước hiện trạng đó các nhà bảo vệ thực vật phải nghiên cứu tìm ra được những biện pháp phòng trừ dịch hại vừa hiệu quả quản lý dịch hại nhưng đồng thời khắc phục được những nhược điểm của biện pháp hóa học, do đó biện pháp

“quản lý dịch hại tổng hợp” đã ra đời để đáp ứng những yêu cầu đó Tất cả hướng đến một nền sản xuất hiệu quả, bền vững và thân thiện với môi trường

Giáo trình mô đun “biện pháp sinh học” là một mô đun nằm trong giáo

trình sơ cấp nghề “QUẢN LÝ DỊCH HẠI TỔNG HỢP” Mô đun biện pháp sinh học gồm 3 bài:

Bài 1 Thiên địch bắt mồi và thiên địch ký sinh

Bài 2 Các chế phẩm vi sinh

Bài 3 Chế biến và sử dụng thuốc thảo mộc

Giáo trình này là cơ sở cho các giáo viên soạn bài giảng để giảng dạy, là tài liệu nghiên cứu và học tập của học viên học nghề “QUẢN LÝ DỊCH HẠI TỔNG HỢP” Các thông tin trong giáo trình có giá trị hướng dẫn giáo viên thiết

kế và tổ chức giảng dạy các mô đun một cách hợp lý Giáo viên có thể vận dụng cho phù hợp với điều kiện và bối cảnh thực tế trong quá trình dạy học

Để hoàn thiện bộ giáo trình này chúng tôi đã nhận được sự chỉ đạo, hướng dẫn của Vụ Tổ chức cán bộ – Bộ Nông nghiệp và PTNT; Tổng cục dạy nghề -

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Đồng thời chúng tôi cũng nhận được các

ý kiến đóng góp Ban Giám Hiệu và các thầy cô giáo Trường Cao Đẳng Nông

Trang 4

nói trên đã tham gia đóng góp nhiều ý kiến quý báu, tạo điều kiện thuận lợi để hoàn thành bộ giáo trình này

Bộ giáo trình chắc chắn không tránh khỏi những sai sót, Ban chủ nhiệm và các tác giả mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các cán bộ kỹ thuật, các đồng nghiệp để giáo trình hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Tham gia biên soạn

1 Nguyễn Văn Dũng Chủ biên

2 Ngô Hoàng Duyệt hiệu chỉnh

Trang 5

MỤC LỤC

MÔ ĐUN BIỆN PHÁP SINH HỌC 6

BÀI 1: THIÊN ĐỊCH BẮT MỒI VÀ THIÊN ĐỊCH KÝ SINH 6

1 Sử dụng thiên địch bắt mồi 6

2 Sử dụng thiên địch ký sinh 16

BÀI 2: CÁC CHẾ PHẨM SINH HỌC 23

1 Khái niệm và đặc điểm chế phẩm sinh học 23

2 Các dạng chế phẩm sinh học và cách sử dụng 24

BÀI 3: CHẾ BIẾN VÀ SỬ DỤNG THUỐC THẢO MỘC 32

1 Khái niệm và đặc điểm của thảo mộc 32

2 Chế biến thuốc thảo mộc 33

HƯỚNG DẪN GIẢNG DẠY MÔ ĐUN 41

1- Vị trí, ý nghĩa, vai trò của mô đun 41

2- Mục tiêu của mô đun 41

3- Nội dung chính 42

4- Yêu cầu về đánh giá hoàn thành mô đun 42

5- Tài liệu tham khảo 43

Trang 6

MÔ ĐUN BIỆN PHÁP SINH HỌC

Mã mô đun: MĐ-04

Giới thiệu:

Sự hiểu biết về sinh thái đồng ruộng và đấu tranh sinh học là cơ sở để lợi dụng mối quan hệ theo chiều hướng có lợi cho con người đó là các thiên địch bắt mồi và thiên địch ký sinh tiêu diệt có loại dịch hại gây ra trên đồng ruộng

Với những tác động tiêu cực của việc sử dụng thuốc hóa học quá nhiều trong bảo vệ thực vật, hiện nay các chế phẩm sinh học với lợi ích vượt trội là ít ảnh hưởng đến môi trường, nông sản và sức khỏe con người ngày càng được chấp nhận rộng rãi trong sản xuất nông nghiêp để thay thế dần thuốc hóa học Sau đây xin giới thiệu một số chế phẩm sinh học đã được nghiên cứu sử dụng từ nhiều dạng khác nhau để áp dụng trong sản xuất

Thuốc thảo mộc là việc sử dụng các loại cây có sẵn ở tự nhiên có chứa các hoạt chất sinh học để diệt trừ một số loại sâu hại cây trồng được người dân sử dụng như là các loại thuốc ít độc với con người và môi trường trong công tác bảo

vệ cây trồng

BÀI 1: THIÊN ĐỊCH BẮT MỒI VÀ THIÊN ĐỊCH KÝ SINH

Mã bài: MĐ04-1 Mục tiêu:

Sau khi học xong bài này người học có khả năng:

- Nhận diện được các côn trùng bắt mồi và côn trùng ký sinh đối với các loại dịch hại trên từng cây trồng cụ thể

- Sử dụng các thiên địch bắt mồi và thiên địch ký sinh hiệu quả trên từng đối tượng dịch hại

- Thực hiện các biện pháp canh tác tránh gây hại cho thiên địch có ích và tạo điều kiện cho chúng phát huy hiệu quả tiêu diệt dịch hại

Nội dung chính

1 Sử dụng thiên địch bắt mồi

1.1 Khái niệm thiên địch bắt mồi

Trang 7

Là những loài động vật như côn trùng, nhện, tự đi tìm kiếm săn bắt sâu hại làm thức ăn cho chúng Các sâu hại được gọi là con mồi Những con mồi thường được giết chết ngay Để hoàn thành sự phát triển mỗi cá thể bắt mồi cần tiêu diệt nhiều con mồi

1.2 Đặc điểm của thiên địch bắt mồi

Các loài bắt mồi có 2 kiểu ăn mồi: chúng có thể nhai nghiền con mồi nhờ kiểu miệng nhai (bọ rùa, bọ ngựa, nhện lớn, ), hoặc chúng có thể hút dịch dinh dưỡng từ con mồi nhờ kiểu miệng chích hút (các loại bọ xít, ấu trùng bọ mắt vàng, )

Các loài bắt mồi là nhóm thiên địch rất quan trọng trên các loại cây trồng Hầu hết chúng có kiểu sống bắt mồi cả ở pha ấu trùng và thành trùng Do vậy, mỗi cá thể trong loài bắt mồi trong cả đời có thể tiêu diệt được một lượng lớn các cá thể sâu hại Các loài bắt mồi có mặt ở khắp nơi trong tất cả các sinh quần nông nghiệp Nhiều bà con nông dân đã nhầm với sâu hại, nên khi thấy chúng xuất hiện nhiều là đem thuốc trừ sâu phun, hoặc khi chăm sóc cây trồng nếu bắt gặp là thu bằng tay và giết chết chúng

Hình 6.1.1: Thiên địch bọ nhựa bắt mồi

1.3 Cách sử dụng thiên địch bắt mồi

- Các nhà khoa học bộ môn Côn trùng, Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội đã thành công trong việc nhân nuôi và sử dụng một số thiên địch trong việc phòng trừ dịch hại bảo vệ cây trồng, hạn chế sử dụng thuốc hóa học theo hướng đấu

Trang 8

- Ba loài thiên địch đáng chú ý được chú trọng nhân nuôi và sử dụng là nhện bắt mồi, bọ xít bắt mồi và ong mắt đỏ PGS TS Nguyễn Thị Kim Oanh, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết: Nuôi nhện, bọ xít, ong mắt đỏ rồi thả trên đồng ruộng

để chúng ăn các loài côn trùng gây hại nhằm bảo vệ mùa màng, hạn chế việc lạm dụng thuốc trừ sâu hóa học như hiện nay là mục tiêu nghiên cứu của các nhà khoa học

- Nhện bắt mồi có tên khoa học là Amblyseius sp có sẵn trong môi trường tự

nhiên ở nước ta có vòng đời ngắn, sức sinh sản cao, thường phát triển mạnh từ tháng 2 đến tháng 11 hàng năm Thức ăn chủ yếu của loài nhện này là các con nhện đỏ son thường cư trú trên cây đậu và các loài cây trồng khác Quy trình nhân nuôi loài nhện này khá đơn giản: gieo đậu trong môi trường sạch cho đến khi cây ra đủ 6 lá thì thả nhện đỏ son vào với tỷ lệ 10 con trưởng thành/cây Khi thấy số lượng nhện đỏ nhiều (khoảng 500 con/cây) thì thả nhện bắt mồi vào (2-3 con)

- Chỉ sau 7-8 tuần số lượng nhện bắt mồi đã tăng lên gấp 13 lần so với ban đầu, đem thả trên những khu vực trồng rau màu cần bảo vệ, chúng sẽ tiêu diệt hết các loài nhện đỏ, nhện trắng gây hại cây trồng mà không cần phun thuốc hóa học Trong trường hợp môi trường ít nhện đỏ có thể sử dụng thêm các thức ăn khác như nhện trắng, phấn hoa, mật ong để giúp nhện bắt mồi duy trì sự sống Các thử nghiệm thả nhện bắt mồi tại vùng Thanh trì, Hoàng Mai và Gia Lâm (Hà Nội) cho thấy nhện mắt mồi có khả năng kìm hãm nhện đỏ son trên cây đậu cô ve ngoài đồng ruộng Với mật độ thả 3 con/cây trong vòng 16 ngày mật độ nhện bắt mồi đã tăng gấp 13 lần, mật độ nhện đỏ son giảm từ 70 con/cây xuống còn khoảng 3 con/cây Trong khi với công thức đối chứng (không thả nhện bắt mồi), mật độ nhện đỏ tiếp tục tăng tới 100 con/cây

Trang 9

Hình 6.1.2: Nhện bắt mồi ( Amblyseius sp)

- Việc thả bọ xít bắt mồi (Orius sauteri P) vào ruộng dưa chuột được thực hiện

tại xã Văn Đức (Gia Lâm-Hà Nội) cho thấy số lượng bọ trĩ bị khống chế, không tăng vượt quá ngưỡng gây hại (không cần phun thuốc), năng suất quả không kém

vụ trước, mã quả đẹp, không bị cong queo, biến dạng Các đánh giá cho thấy, việc sử dụng nhện và bọ xít bắt mồi tuy có tốn công hơn so với phun thuốc (giá thành tương đương) nhưng đảm bảo dưa chuột sạch, dễ bán và bán được giá cao nên tổng thu nhập cũng cao hơn Trước đây nông dân thường phải phun thuốc từ

8 tới 13 lần/vụ (hết khoảng 130.000-150.000 đồng/sào) để trừ bọ trĩ nhưng quả dưa vẫn bị cong queo Bây giờ với cách làm này đã hạn chế được ô nhiễm môi trường, bảo vệ được sức khỏe cho mọi người mà chất lượng dưa vẫn đảm bảo nên mọi nhà muốn làm theo

Trang 10

- Với ong mắt đỏ (Trichogramma ), kỹ thuật nhân nuôi đơn giản đã được chuyển

giao cho nông dân các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên, Đồng Tháp, Bình Dương và vùng trồng bông ở Nha Hố (Ninh Thuận) nuôi để diệt sâu đục thân, sâu tơ hại trên cải bắp, ngô, bông… Kết quả bước đầu cho thấy số lượng bọ trĩ

và sâu đục thân giảm không kém so với phun thuốc hóa học

- Theo tính toán của các nhà khoa học, chi phí cho việc sử dụng thiên địch hiên nay không rẻ hơn so với phun thuốc hóa học (khoảng 130.000 đồng/sào/vụ), nhưng hiệu quả bước đầu là như nhau Nếu duy trì phương pháp này chúng ta có thể tạo ra nguồn thiên địch lâu dài trong tự nhiên, từ đó giảm chi phí nhân nuôi dẫn đến sẽ giảm được giá thành Sản xuất cả 3 vụ/năm, liên tục trên đồng ruộng

có cây trồng nên việc sâu bệnh xuất hiện gây hại cây trồng là không tránh khỏi Càng thâm canh cây trồng cao thì sâu bệnh phát sinh càng nhiều, càng phun thuốc bảo vệ thực vật nhiều thì càng hủy diệt nhiều sinh vật có ích đối với con người và càng gây tính kháng thuốc với sâu hại, làm mất cân bằng sinh thái Trong mỗi hệ sinh thái nông nghiệp có những nhóm thiên địch nhất định giữ vai trò quan trọng trong điều hòa số lượng sâu hại Với mỗi loại cây trồng có cả một tập đoàn sâu hại và vi sinh vật sống trên đó, đi kèm với nó là một tập đoàn thiên địch thích nghi riêng với những côn trùng và vi sinh vật gây hại nó Nhờ hoạt động tích cực của các loài thiên địch mà mật độ quần thể gây sâu hại bị khống chế dưới ngưỡng gây hại kinh tế Thực tế hiện nay nông dân thấy xuất hiện sâu bệnh là sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ mà không nghĩ đến hậu quả, là tiêu diệt hết các loài thiên địch, ảnh hưởng rất lớn đến hệ sinh thái nông nghiệp và môi trường

Vì thế, để bảo vệ các loài thiên địch, môi trường sinh thái, hạn chế sử dụng thuốc hóa học một cách vô tội vạ, thiếu khoa học, xin giới thiệu đến bà con nông dân một số loài thiên địch có ích, thường gặp trên ruộng lúa và ruộng màu

để bà con nông dân hiểu biết vai trò của chúng, từ đó có ý thức bảo vệ những người bạn có ích này

Trang 11

Hình 6.1.4: Ong mắt đỏ (Trichogramma )

- Nhện lùn (Atypera formosana): Cơ thể rất nhỏ có thể có đến ba, bốn chục con

trong một bụi lúa, chúng kéo màng ở gần gốc lúa, di chuyển chậm bắt mồi khi con mồi mắc vào màng Một con nhện có thể ăn 3-4 con rầy nâu và rầy xanh mỗi ngày

Hình 6.1.5: Nhện lùn (Atypera formosana)

- Nhện ăn thịt (Lycosa pseudoaunulata): Thường gặp rất nhiều trên ruộng lúa,

chúng chủ động tấn công rầy rất nhanh Một con nhện trưởng thành có thể ăn từ 5- 10 con rầy nâu mỗi ngày, nhện thường làm tổ trong ruộng ngập nước hay ruộng cạn Con cái thường đẻ từ 200-600 trứng trong 3-4 tháng vòng đời của

chúng, mỗi lần đẻ 80 trứng/ổ và các ổ trứng trên lưng chúng xuất hiện khi ruộng

lúa có sâu đục thân và sâu cuốn lá

Trang 12

Hình 6.1.6: Nhện ăn thịt (Lycosa pseudoaunulata)

- Bọ rùa: bọ rùa đỏ (Micraspis sp.); bọ rùa vàng (M crocea); bọ rùa 6 chấm (Menochilus sexmaculatus); bọ rùa 8 chấm (Hamonia octomaculata) Các loài

bọ rùa này cả con trưởng thành và ấu trùng của chúng đều ăn rầy nâu trưởng thành, rầy cám (rầy non) và trứng rầy, mỗi ngày mỗi con có thể ăn từ 5-10 con rầy

Hình 6.1.7: Bọ rùa vàng (M crocea)

- Bọ xít nước (Mesovelia vitigera và Microveliadouglasi atrolineata): Có cơ thể

rất nhỏ, sinh sống trên mặt nước, cả con trưởng thành và ấu trùng đều săn lùng

ăn thịt rầy cám khi chúng rớt xuống mặt nước, mỗi con bọ xít có thể ăn thịt từ

5-7 con rầy cám mỗi ngày

Trang 13

Hình 6.1.8: Bọ xít nước (Microveliadouglasi atrolineata)

- Bọ xít mù xanh (Cyrtohinus lividipennis): Cơ thể nhỏ cỡ con rầy nâu, cánh màu

xanh, chúng tìm kiếm trứng rầy ở bẹ lá, thân cây lúa, dùng vòi hút khô trứng, mỗi ngày một con có thể ăn từ 7- 10 trứng hoặc 1-5 con rầy

Hình 6.1.9: Bọ xít mù xanh (Cyrtohinus lividipennis)

- Bọ xít nước gọng vó còn gọi con cất vó (Limnognus fossarum) thân và chân

dài, cả con trưởng thành và ấu trùng đều ăn rầy hại lúa khi chúng rớt xuống mặt nước, mỗi con có thể ăn từ 5-10 con rầy/ngày

Trang 14

Hình 6.1.10: Hình bọ xít nước gọng vó (Limnognus fossarum)

- Bọ cánh cứng ba khoang (Ophionea nigrofasciata) là loài côn trùng thân cứng

hoạt động mạnh Sâu non có màu đen bóng, trưởng thành có màu nâu đỏ chúng thường tấn công ổ sâu cuốn lá và các loại sâu non bộ cánh vảy, chúng thường xuất hiện trên cả ruộng lúa và ruộng cây màu

Hình 6.1.11: Bọ cánh cứng ba khoang (Ophionea nigrofasciata)

Trang 15

- Bọ đuôi kìm (Forficula splendida) cơ thể có màu đen bóng, giữa các đốt bụng

có khoang trắng và có điểm trắng đầu nâu, chúng thường sống ở ruộng khô và làm tổ dưới đất ở gốc cây lúa, mỗi con cái đẻ 200-300 trứng, chúng hoạt động ban đêm chui rúc vào các rãnh do sâu đục thân đục để tìm sâu non, hoặc bò lên

lá để tìm sâu cuốn lá, chúng có thể ăn 20-30 con mỗi ngày

Hình 6.1.12: Bọ đuôi kìm (Forficula splendida)

- Kiến ba khoang (Paederus fucipes) có màu nâu đỏ, giữa lưng có một vạch lớn

màu đen chạy ngang qua tạo thành 1 khoang đen Chúng thường trú ẩn trong bờ

cỏ, đống rơm rạ mục nát ngoài ruộng, chúng làm tổ dưới đất và đẻ trứng Khi ruộng lúa xuất hiện rầy nâu, sâu cuốn lá, chúng tìm đến chui vào tổ sâu ăn thịt từng con Trung bình mỗi kiến ba khoang có thể ăn từ 3-5 con sâu non/ngày Loài kiến này cũng thường xuất hiện trên ruộng cây màu

Trang 16

Hình 6.1.13: Kiến ba khoang (Paederus fucipes)

Trên đây là một số loài phổ biến trong vô số những loài thiên địch trên cây lúa và cây màu, giúp bà con nông dân hiểu biết và có ý thức bảo vệ bằng cách:

sử dụng thuốc hóa học có tính chọn lọc, có phổ tác dụng hẹp, dùng thuốc hóa học hết sức hạn chế khi cần thiết, dựa vào những ngưỡng kinh tế Ngoài ra, còn tạo nơi cư trú cho thiên địch ẩn nấp sau vụ gieo trồng, nên ứng dụng quy trình 5 giảm 3 tăng để sản xuất có hiệu quả

- Các loại động vật lớn ăn thịt có ích trên đồng ruộng như: chim cú mèo, mèo, rắn… cũng góp phần đáng kể vào việc khống chế dịch hại trên đồng ruộng

2 Sử dụng thiên địch ký sinh

2.1 Khái niệm thiên địch ký sinh

Là những loại côn trùng có ích sử dụng các loài sâu hại làm nguồn dinh dưỡng và nơi ở, trong đó thông thường loài ký sinh sử dụng hoàn toàn các mô của cơ thể vật chủ, và loài ký sinh thường gây chết vật chủ ngay sau khi chúng hoàn thành chu kỳ phát dục Hầu hết các côn trùng ký sinh sâu hại có kiểu biến thái hoàn toàn, chỉ có pha ấu trùng của chúng là kiểu sống ký sinh, còn khi pha trưởng thành thì chúng sống tự do

2.2 Đặc điểm của thiên địch ký sinh

Hiện tượng ký sinh là môt dạng qua lại của các sinh vật rất phức tạp và đặc trưng Ở đây giới hạn ký sinh trong bảo vệ thực vật, để chỉ hiện tượng ký sinh trên các loài sâu hại Dựa vào các đặc điểm ký sinh mà người ta chia ra các

Trang 17

2 loại ký sinh cơ bản sau Theo vị trí sống của ký sinh bên trong hay bên ngoài

bề mặt cơ thể vật chủ mà phân biệt ký sinh trong hay ký sinh ngoài Ký sinh trong hay còn gọi là nội ký sinh gồm các loại ký sinh mà ấu trùng của chúng sống ở bên trong cơ thể vật chủ (ong kén trắng, ) Ký sinh ngoài hay còn gọi là ngoại ký sinh gồm các loại ký sinh mà ấu trùng của chúng sống bám ở bề mặt cơ thể vật chủ (ong kiến ký sinh các loài rầy nâu, rầy lưng trắng ) Theo mối quan

hệ giữa loài ký sinh với pha phát dục của sâu hại mà phân biệt thành ký sinh

trứng, ký sinh ấu trùng, ký sinh nhộng và ký sinh thành trùng

2.3 Cách sử dụng thiên địch ký sinh

- Ruồi xám (Diptera) có màu xám xen những sọc trắng to hơn ruồi nhà, thân có

nhiều lông gai đầu to, màu hồng hơi xám Khi ruộng lúa xuất hiện sâu cuốn lá lớn Trứng nở thành giòi và ăn thịt bên trong thân ký chủ Sau khi ăn xong chúng chui ra làm kén trên lá lúa và hóa nhộng, khoảng 4 ngày nhộng nở thành ruồi, được 3 ngày thì chúng lại giao phối, tìm đến ký chủ mới để lập vòng đời thứ tiếp,

cứ như vậy ruồi xám hạn chế được mật độ sâu cuốn lá rất lớn

Trang 18

Hình 6.1.15: Ong ký sinh trứng rầy (Anagrus optabilis)

- Ong kén nhỏ ký sinh sâu đục thân (Phanerotoma sp): Loài ong này có khả

năng đẻ trứng vào bên trong cơ thể sâu đục thân bằng cách thọc cái ống dài đựng trứng của nó xuyên qua dãnh lúa vào bên trong cơ thể sâu non, cuối cùng tiêu diệt sâu non sâu đục thân

Hình 6.1.16: Ong kén nhỏ ký sinh sâu đục thân (Phanerotoma sp.)

- Ong xanh (Tetratichus schoenbii): Có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc làm

giảm mật độ sâu đục thân trên đồng ruộng Chúng chích và đẻ trứng vào bên

Trang 19

trong trứng sâu đục thân, làm cho trứng bị ung Loài ong này có thể tiêu diệt tới trên 70% trứng sâu đục thân trên ruộng

Hình 6.1.17: Ong xanh (Tetratichus schoenbii)

- Tại VN, phương pháp dùng ong Asecodes hispinarum để tiêu diệt bọ dừa đã thu

được kết quả khả quan bước đầu

Ong đen ký sinh bọ cánh cứng hại dừa (Asecodes hispinarum)

60% vườn dừa của 21 tỉnh thành đang triển khai cách "dùng ong trị bọ" này đã phục hồi lại các vườn dừa Đây là kết quả sau hai năm triển khai dự án "Phòng

Trang 20

trừ tổng hợp đối với bọ hại dừa tại Việt Nam" (do Chính phủ Việt Nam thực hiện với sự tài trợ của Tổ chức Nông Lương thế giới (FAO)

Trong tự nhiên, nhiều loài côn trùng bị các nhóm, loài tuyến trùng ký sinh Trong đó có nhiều loài tuyến trùng ký sinh gây chết cho côn trùng

(Entomopathogenic Nematodes – EPN) và trở thành thiên địch của nhiều loài sâu hại Các loài tuyến trùng này đều thuộc hai giống Steinernema (Steinernematidae) và Heterorhabditis (Heterorhabtidae) Khả năng ký sinh và

gây bệnh này thực chất là một tổ hợp liên kết của tuyến trùng và vi khuẩn (thuộc

hai giống Xenorhabdus và Photorhabdus), trong đó tuyến trùng có vai trò mang

vi khuẩn vào trong cơ thể côn trùng và vi khuẩn sản sinh độc tố để giết chết côn trùng

ở Việt Nam cho đến nay trong ngành nông lâm nghiệp để phòng chống dịch hại vẫn dựa chủ yếu vào biện pháp hoá học đã mang lại lợi ích kinh tế không thể phủ nhận nhưng việc lạm dụng thuốc hoá học đã gây ra nhiều hậu quả xấu cho môi trường và sức khoẻ con ngời Nhằm khắc phục những nhược điểm của thuốc hoá học, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển một nền nông nghiệp sinh thái bền vững việc nghiên cứu và ứng dụng biện pháp sinh học đang là vấn đề quan tâm của nhiều ngành trong cả nước

Trong các giải pháp sinh học, tuyến trùng ký sinh gây chết cho côn trùng (EPN) đã và đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm phát triển mạnh mẽ Nhiều chế phẩm thuốc sinh học tuyến trùng đã được thương mại hoá ở Mỹ, liên minh EU, Nhật Bản, Australia, Thái lan và Trung Quốc

Trong chương trình công nghệ sinh học KHCN-02 và KHCN-04, Phòng Tuyến trùng học Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh Vật thuộc Trung tâm KHTN&CNQG đã triển khai nghiên cứu sử dụng thuốc tuyến trùng EPN phòng trừ một số sâu hại cây trồng ở Việt Nam Dưới đây là một số kết quả nghiên cứu

và ứng dụng thuộc lĩnh vực này

Đến nay đã phân lập được gần 60 chủng EPN thuộc 2 giống tuyến trùng

Steinernema và Heterorhabditis Nhóm thiên địch này ở nớc ta đến nay chỉ tìm

thấy ở hệ sinh thái rừng tự nhiên và một vài chủng ở bãi cát ven biển, không tìm thấy ở hệ sinh thái nông nghiệp Các chủng này đang được bảo tồn và tuyển chọn các chủng đạt yêu cầu cho sản xuất thuốc sinh học tuyến trùng Các chủng đợc tuyển chọn làm vật liệu cho sản xuất thuốc sinh học tuyến trùng phải đạt các chỉ

tiêu cơ bản: Sinh khối lớn trong nhân nuôi invi tro, liều LC50 < 100 IJs, thời

gian bảo quản ở nhiệt độ 18-200C >60 ngày

Trang 21

Cho đến nay ở Việt Nam chưa có một quy trình công nghệ nào hoàn chỉnh

để sản xuất các chế phẩm sinh học phòng trừ sâu hại, do đó chất lượng chế phẩm thấp và không ổn định, hiệu quả phòng chống dịch hại chưa cao Nghiên cứu công nghệ sản xuất các chế phẩm EPN nhằm cung cấp các chế phẩm cho thử nghiệm trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng tiến tới thương mại hoá là một mục tiêu quan trọng

Quy trình sản xuất các chế phẩm sinh học EPN bằng in vivo trên cơ sở vật

liệu nhân nuôi là sâu tuổi 5 (Last instar larvae) của bướm sáp lớn (Galleria mellonella)

Từ năm 1999-2000, Viện ST&TNSV đã chuyển giao cho sở nông nghiệp

Ninh Thuận một thử nghiệm sản xuất chế phẩm EPN theo quy trình in vivo phục

vụ cho phòng trừ sâu hại nho, đã có kết quả bước đầu tốt Quy trình này thích hợp cho quy mô sản xuất nông nghiệp nhỏ ở nớc ta, có thể chuyển giao đến từng

Quy trình sản xuất in vitro yêu cầu đầu tư lớn hơn, có thể sản xuất

2500-3000 lit chế phẩm trong một năm có thể phòng trừ sinh học cho hàng trăm ha Hiện nay Viện đã tuyển chọn đợc 7 chủng EPN đa vào sản xuất 7 loại chế phẩm sinh học đợc đặt tên là BIOSTAR từ 1-7 Các chế phẩm này có phổ diệt

sâu rộng, có khả năng sinh sản tốt cho sinh khối cao trong sản xuất in vivo và in vitro và bảo quản được từ 2-6 tháng ở nhiệt độ 18-20 oC Đây là một trong những

ưu thế của các chủng EPN bản địa của Việt Nam

Các chế phẩm EPN đã được thử nghiệm diệt sâu hại ngoài đồng ruộng trên

một số cây trồng Các loài sâu hại chủ yếu như sâu tơ (Plutella xylostella) sâu xanh bớm trắng (Pieris rapae) hại rau, sâu sám (Agrotis ypsilon) hại thuốc lá, sâu keo da láng (Spodoptera exigua) hại nho, bọ hung hại mía (Alissonotum impressicolle)… đều là những loại sâu có khả năng kháng thuốc hoá học, đặc

biệt đối với sâu sám, bọ hung hại mía chủ yếu sống trong đất nên việc phòng trừ bằng thuốc hoá học càng khó khăn và phải sử dụng thuốc hoá học với nồng độ cao hơn Trong các trường hợp sâu đã kháng thuốc hoá học khi sử dụng chế phẩm EPN đều có hiệu quả diệt sâu tốt

Trang 22

thuốc sinh học tuyến trùng cho phòng trừ sinh học sâu hại cây trồng là một ướng khoa học công nghệ mới ở Việt Nam Tuy nhiên để thuốc sinh học này nhanh chóng đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn sản xuất nông lâm nghiệp theo hướng xây dựng một nền nông nghiệp sinh thái bền vững cần phải tiếp tục đầu tư nghiên cứu về mặt công nghệ để giảm giá thành sản phẩm

h-Bài tập và sản phẩm thực hành của học viên

Bài tập 1: Nhận diện thiên địch bắt mồi và thiên địch ký sinh trên đối tượng cây

trồng như cây rau, cây lương thực, cây ăn quả

Cách thức tiến hành:

- Chia thành nhiều nhóm: mỗi nhóm từ 3-5 học viên

- Nội dung: Nhận diện thiên địch bắt mồi và thiên địch ký sinh trên đối tượng cây trồng như cây rau, cây lương thực, cây ăn quả

- Địa điểm: phòng học, tại ruộng, vườn đang sản xuất

- Viết báo cáo kết quả thực hiện

Cụ thể như sau:

- Cách thức: mỗi học viên được nhận các dụng cụ điều tra, giấy, viết

- Thời gian hoàn thành: 2 giờ/1 học viên

- Hình thức trình bày: báo cáo số liệu

- Phương pháp đánh giá: đánh giá trên cơ sở nhận diện được các thiên địch

chính trên đồng ruộng

- Kết quả sản phẩm cần đạt được: Danh sách các loại thiên địch trên các

đối tượng cây trồng

Yêu cầu về đánh giá kết quả học tập

Tiêu chí đánh giá Cách thức đánh giá

Nhận diện được các thiên địch

chính trên đồng ruộng Mô tả chi tiết, rõ ràng các loại thiên địch chính trên đồng ruộng

Ghi nhớ: Cần chú ý một số nội dung trọng tâm:

- Nhận diện được các thiên địch bắt mồi thiên địch ký sinh

Ngày đăng: 24/06/2015, 20:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 6.1.1: Thiên địch bọ nhựa bắt mồi - giáo trình sử dụng biện pháp sinh học nghề quản lý dịch hại tỏng hợp
Hình 6.1.1 Thiên địch bọ nhựa bắt mồi (Trang 7)
Hình 6.1.2: Nhện bắt mồi ( Amblyseius. sp) - giáo trình sử dụng biện pháp sinh học nghề quản lý dịch hại tỏng hợp
Hình 6.1.2 Nhện bắt mồi ( Amblyseius. sp) (Trang 9)
Hình 6.1.3: Bọ xít bắt mồi (Orius sauteri P) - giáo trình sử dụng biện pháp sinh học nghề quản lý dịch hại tỏng hợp
Hình 6.1.3 Bọ xít bắt mồi (Orius sauteri P) (Trang 9)
Hình 6.1.4: Ong mắt đỏ (Trichogramma ) - giáo trình sử dụng biện pháp sinh học nghề quản lý dịch hại tỏng hợp
Hình 6.1.4 Ong mắt đỏ (Trichogramma ) (Trang 11)
Hình 6.1.5: Nhện lùn (Atypera formosana) - giáo trình sử dụng biện pháp sinh học nghề quản lý dịch hại tỏng hợp
Hình 6.1.5 Nhện lùn (Atypera formosana) (Trang 11)
Hình 6.1.6: Nhện ăn thịt (Lycosa pseudoaunulata) - giáo trình sử dụng biện pháp sinh học nghề quản lý dịch hại tỏng hợp
Hình 6.1.6 Nhện ăn thịt (Lycosa pseudoaunulata) (Trang 12)
Hình 6.1.8: Bọ xít nước (Microveliadouglasi atrolineata) - giáo trình sử dụng biện pháp sinh học nghề quản lý dịch hại tỏng hợp
Hình 6.1.8 Bọ xít nước (Microveliadouglasi atrolineata) (Trang 13)
Hình 6.1.10: Hình bọ xít nước gọng vó (Limnognus fossarum) - giáo trình sử dụng biện pháp sinh học nghề quản lý dịch hại tỏng hợp
Hình 6.1.10 Hình bọ xít nước gọng vó (Limnognus fossarum) (Trang 14)
Hình 6.1.11: Bọ cánh cứng ba khoang (Ophionea nigrofasciata) - giáo trình sử dụng biện pháp sinh học nghề quản lý dịch hại tỏng hợp
Hình 6.1.11 Bọ cánh cứng ba khoang (Ophionea nigrofasciata) (Trang 14)
Hình 6.1.12: Bọ đuôi kìm (Forficula splendida) - giáo trình sử dụng biện pháp sinh học nghề quản lý dịch hại tỏng hợp
Hình 6.1.12 Bọ đuôi kìm (Forficula splendida) (Trang 15)
Hình 6.1.16: Ong kén nhỏ ký sinh sâu đục thân (Phanerotoma sp.) - giáo trình sử dụng biện pháp sinh học nghề quản lý dịch hại tỏng hợp
Hình 6.1.16 Ong kén nhỏ ký sinh sâu đục thân (Phanerotoma sp.) (Trang 18)
Hình 6.1.15: Ong ký sinh trứng rầy (Anagrus optabilis) - giáo trình sử dụng biện pháp sinh học nghề quản lý dịch hại tỏng hợp
Hình 6.1.15 Ong ký sinh trứng rầy (Anagrus optabilis) (Trang 18)
Hình 6.2.2: Chế phẩm Bt (Bacillus thuringiensis) - giáo trình sử dụng biện pháp sinh học nghề quản lý dịch hại tỏng hợp
Hình 6.2.2 Chế phẩm Bt (Bacillus thuringiensis) (Trang 25)
Hình 6.2.3: Chế phẩm được chiết xuất từ nấm men Streptomyces hygroscopius - giáo trình sử dụng biện pháp sinh học nghề quản lý dịch hại tỏng hợp
Hình 6.2.3 Chế phẩm được chiết xuất từ nấm men Streptomyces hygroscopius (Trang 26)
Hình 6.3.4: Cây củ đậu (Pachyrhizus erosus) - giáo trình sử dụng biện pháp sinh học nghề quản lý dịch hại tỏng hợp
Hình 6.3.4 Cây củ đậu (Pachyrhizus erosus) (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w