Con người được giáo dục và tự giáo dục đượccoi là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển xã hội.Điều này lại càng được khẳng định khi chúng ta bước v
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay sự phồn vinh của mỗi quốc gia phụ thuộc lớn vào khả nănghọc tập của mỗi cá nhân trong cộng đồng Con người được giáo dục và tự giáo dục đượccoi là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển xã hội.Điều này lại càng được khẳng định khi chúng ta bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyêncủa nền văn minh trí tuệ, của khoa học kỹ thuật và công nghệ được xây dựng trên nền tảngcủa tri thức.Vì vậy ngay từ bây giờ cần quan tâm đến chất lượng dạy và học, đăc biệt làchất lượng học tập của học sinh - sinh viên, để mỗi cá nhân có thể thường xuyên rèn luyện
và học tập suốt đời Như vậy mới có thể đáp ứng nhu cầu của xã hội
Trước những đòi hỏi mang tính khách quan của xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôncoi trọng công tác giáo dục và đào tạo, coi đó là điều kiện tiên quyết để thực hiện sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cụ thể tại nghi quyết Đại Hội X Đảng
Cộng sản Việt Nam đã khẳng định “ Đổi mới cơ bản cách dạy, cách học, phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn” Tích cực, chủ động tạo ra ý chí và năng lực “ Học liên tục, học suốt đời”
<Luật Giáo dục Điều 40> nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độhọc vấn, chuyên môn nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và thíchnghi với sự biến động không ngừng của xã hội
Để thực hiện nhiệm vụ đó, trong quá trình dạy học các môn học ở nhà trường, bêncạnh việc đổi mới nội dung, vận dụng các phương pháp dạy học mới thì cần bồi dưỡng chohọc sinh và sinh viên các kỹ năng học tập, mỗi suinh viên cần tự xây dưng kế hoạch họctập cho mình, tìm được phương pháp học tập phù hợp để đạt được chất lượng học tập tôtnhất
Trong nhà trường sư phạm, Giáo dục học là môn khoa học quan trọng, giúp sinhviên biết nhiệm vụ của người giáo viên, rèn luyện cho họ những kỹ năng sư phạm, hìnhthành đạo đức và tình cảm nghề nghiệp Song việc giảng dạy trong nhà trường sư phạmcòn nhiều bất cập như “ Nặng về lý thuyết nhẹ về thực hành, nặng về kiến thức nhẹ về kỹnăng”
Qua thực tiễn thực tập và giảng dạy môn Giáo dục học ở trường Cao đẳng HảiDương cho thấy: sinh viên chưa có động lực trong học tập, tỏ ra thờ ơ, không quan tâm đọcsách, không chịu tìm tòi kiến thức, chưa thực sự quan tâm đến công tác dạy học và giáo
Trang 2dục sau này, đặc biệt với môn Giáo dục học, sinh viên chưa nhận thấy được ý nghĩa, vai tròcủa môn học nên việc học của sinh viên còn mang nặng hình thức chiếu lệ Tình trạng họcthụ động, học đối phó vẫn là hình thức khá phổ biến ở sinh viên, họ chưa có phương pháp
và kỹ năng học tập ở bậc Cao đẳng, Đại học Vì vậy kết quả học tập của sinh viên cònthấp
Vấn đề này đã được các giảng viên của nhà trường quan tâm, nghiên cứu, đã đề cậptới trong nhiều kỳ họp Ngay bản thân một số sinh viên cũng rất quan tâm và mong muốn
có kết quả học tập tốt hơn để nâng cao hơn nữa chất lượng học tập môn Giáo dục học.Nhiều biện pháp đã được đưa ra nhưng mức độ chuyển biến vẫn không đáng kể Chínhđiều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập, dạy học và đào tạo của truờng Vìvậy xây dựng biện pháp tối ưu nhằm nâng cao biện pháp cho chất lượng học tập môn Giáodục học là rất cần thiết
Xuất phát từ những lý do trên đã định hướng cho chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu
là: “Biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao Đẳng Hải Dương” với mong muốn đề ra những biện pháp hữu hiệu giúp sinh viên nâng cao chất
lượng học tập môn Giáo dục học trong quá trình học tập ở trường Cao đẳng sư phạm
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinhviên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường Cao Đẳng Hải Dương
3 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học ở Cao đẳng Hải Dương
4 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao đẳngHải Dương
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 3Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học củasinh viên Cao đẳng Hải Dương.
6 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ trên đề tài chọn phương pháp nghiên cứu sau:
6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận.
Bằng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết như: phân tích và tổng hợp lý thuyết;phân loại hệ thống hóa lý thuyết; thông qua việc nghiên cứu tài liệu lý thuyết đã thu thậpđược từ các nguồn khác nhau nhằm tìm hiểu một số vấn đề lý thuyết về: hoạt động học tập;mục tiêu môn học; chất lượng; chất lượng học tập để làm cơ sở cho việc nghiên cứu lý luậncho đề tài
6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
6.2.1 Phương pháp điều tra trong giáo dục
Cần phải chú ý: ngoài việc xem xét kết quả học tập qua bảng điểm, qua phiếu điềutra, để đo thực trạng chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao Đẳng HảiDương một cách khách quan với độ chính xác cao ở những mức độ khác nhau, chúng tôixem xét thực trạng chất lượng học tập môn Giáo dục học tìm ra một số yếu tố ảnh hưởngđến chất lượng học tập môn Giáo dục học và tìm ra một số biện pháp nâng cao chất lượnghọc tập môn Giáo dục học
Dự giờ, theo dõi diễn biến quá trình học tập trên lớp, ngoài giờ lên lớp, trong các
kỳ kiểm tra, thi hết môn nhằm thu thập những thông tin về chất lượng học tập bộ môn Giáodục học của sinh viên
6.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Tiến hành xây dựng 2 phiếu hỏi dành cho đối tượng là sinh viên và giảng viên nhằmthu thập thông tin cần thiết phục vụ cho việc phân tích và đánh giá thực trạng vấn đềnghiên cứu
6.2.3 Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành phỏng vấn, trao đổi với một số giảng viên và sinh viên của Cao đẳng HảiDương để làm rõ hơn những kết quả thu được qua phiếu hỏi, đồng thời bổ sung thêmnhững thông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
6.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Nghiên cứu kết quả học tập, vở bài tập, các bài kiểm tra của sinh viên để đánh giá chấtlượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên
Trang 46.2.5 Phương pháp chuyên gia
Tiến hành xin ý kiến đóng góp của các chuyên gia chuyên ngành Giáo dục học
6.2.6 Phương pháp nghiên cứu hỗ trợ
Phương pháp thống kê toán học: được sử dụng để tính toán, sử dụng, xử lý, phân tích
số liệu thu đuợc trong quá trình nghiên cứu
7 Phạm vi nghiên cứu
- Vì điều kiện khách quan và chủ quan còn nhiều hạn chế nên đề tài chỉ tập trungnghiên cứu và sử dụng các số liệu thu được từ việc khảo sát và phân tích thực trạng chấtlượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên hệ chính quy chuyên ngành sư phạm củatrường Cao đẳng Hải Dương
- Về nội dung: Chúng tôi thực hiện đề tài theo ba nhiệm vụ đã nêu trên
- Về thời gian nghiên cứu:
Thời gian nghiên cứu Nội dung nghiên cứu
Từ ngày 20/12/2010 đến 28/12/2010 Tiến hành xác định tên đề tài nghiên cứu, tham
khảo các luận văn, tài liệu có liên quan
29/12/2010 đến 10/01/2011 Xây dựng đề cương chi tiết và hoàn thiện
12/01/2011 đến 15/02/2011 Xây dựng phiếu hỏi và tiến hành khảo sát
16/02/2011 đến 2/03/2011 Phân tích, đánh giá thực trạng
3/03/2011 đến 15/03/2011 Nghiên cứu, đề xuất các biện pháp
16/03/2011 đến 30/04/2011 Viết báo cáo cho toàn khóa luận
8 Cấu trúc luận văn.
Luận văn gồm có 3 phần:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao đẳng HảiDương
Chương 3: Đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viênCao đẳng Hải Dương
Trang 5CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề nâng cao chất lượng học tập.
Học tập không chỉ có ý nghĩa quyết định tới cuộc sống mỗi chúng ta, con cái chúng
ta mà nó còn ảnh hưởng tới thực tại, tương lai của đất nước Chúng ta ngày càng phải suynghĩ sâu sắc hơn về điều này khi bước vào thế kỷ mới, mà Nhật Bản là một ví dụ điểnhình Nhật bản – đất nước trở thành “nền kinh tế thần kỳ” nhờ vào chính sách giáo dụcđúng đắn từ những năm 1960 Thế mà khi bước vào thế kỷ 21 họ cũng phải “ giật mình”xem lại vấn đề giáo dục – học tập của đất nước mình Trước những băn khoăn lo lắngkhông phải là nhỏ khi người Nhật bản đã nhận ra rằng chất lượng trí tuệ của lớp trẻ cầnđược điều chỉnh, nâng cao hơn nữa bởi đó là nguyên nhân chính làm cho nền kinh tế nướcNhật trở nên mất dần khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới trong một vài năm trở lạiđây Đó là một vài dấu hiệu của cuộc cách mạng trong việc dạy và học ở thế kỷ 21, cuộccách mạng trong học tập ở thế kỷ mới này đã giúp người học thay đổi cách nghĩ, cáchsống, cách học, cách hoạt động của bản thân
Nâng cao chất lượng giáo dục và dạy học là một trong những vấn đề bức xúc củatất cả các cấp học, bậc học trong mọi thời đại và của mọi nền giáo dục Trong lịch sử pháttriển của nền giáo dục nói chung và giáo dục học nói riêng đã có không ít nhà giáo dụcnghiên cứu tìm tòi và xây dựng các chương trình, biện pháp, cách thức học tập và giảngdạy phù hợp với mục đích giáo dục nhằm đưa đến một nền giáo dục có chất lượng cao,phát triển đồng đều ở tất cả các môn học
Chính vì vậy mà vấn đề làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh
đã được nhiều tác giả, nhiều nhà giáo dục trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu.Những quan điểm, những công trình này đã đi vào khá nhiều khía cạnh khác nhau của vấn
đề và cũng đạt được những thành công nhất định Trong đề tài nghiên cứu này chúng tôichỉ xin điểm qua một số công trình nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới về vấn đềnày
1.1.1 Các tác giả nước ngoài.
Ngay từ thời cổ đại hay trong xã hội chiếm hữu nô lệ khi mà nền giáo dục vừa mớiđược hình thành thì người ta đã chú ý đến việc nâng cao hiệu quả giáo dục Các nhà giáodục tiêu biểu nổi bật trong thời lỳ này đã đề xuất những tư tưởng giáo dục, dạy học nhằm
Trang 6triển, đó là các nhà giáo dục như: Đêmôcrit (460 – 370 TCN) với tư tưởng giáo dục về sựthích ứng giữa giáo dục với tự nhiên; hay như Xôcrat (469 – 390 TCN) với phương phápgiảng dạy mới mà người ta thường gọi là phương pháp “Xocrat” phương pháp “đỡ đẻ”: đó
là Aristote (384 – 322 TCN)…
Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục đã không ngừng được cải tiến, đổi mới
về cả nội dung, hình thức và phương pháp Đã có nhiều hơn nữa những tư tưởng đổi mớitrong giảng dạy và học tập góp phàn tạo nên những bước ngoặt quan trọng trong việc nângcao chất lượng học tập Nếu như ở phương Tây vấn đề học cái gì? Học như thế nào? Ngườigiáo viên phải dạy ra sao để người học nắm bắt được tri thức một cách nhanh chóng được
đặt ra cho các nhà giáo dục lớn như: Rabơle, Môngtennhơ, J.A Coomenxki, J.J Rutxơ; Macarencô, Usinxki…Thì ở phương Đông người ta cũng rất chú ý đến việc nâng cao chất
lượng dạy học Ở phương Đông cũng có rất nhiều nhà giáo dục tiêu biểu, nhưng có mộtnhà giáo dục vĩ đại nhất tiêu biểu nhất mà chúng ta không thể không nhắc đến đó là Khổng
Tử (551 – 479) Khổng Tử đã khẳng định rằng: để nâng cao chất lượng học tập cho họcsinh trong quá trình dạy học người giáo viên phải quan tâm đến một số phương pháp dạyhọc như: phương pháp thân giáo, phương pháp dạy học gắn liền với thực tiễn; phươngpháp dạy học phù hợp với đối tượng Và cũng theo ông: trong học tập người học muốnnắm được tri thức nâng cao hơn nữa chất lượng học tập của mình thì họ cần phải có phẩmchất sau: nhẫn nại với việc học; khiêm tốn cầu thị; tích cực chủ động trong học tập; sángtạo trong học tập; học tập phải thường xuyên ôn luyện củng cố; học phải kết hợp với suynghĩ
Ngày nay đứng trước ngưỡng cửa của thế kỷ 21 với biết bao nhiêu biến động to lớncủa thời đại, không ai trong chúng ta lại không khẳng định được vai trò to lớn mà giáo dụcđem lại Và cũng chính vì thế mà câu hỏi làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục, dạyhọc được quan tâm hơn bao giờ hết Đã có hàng nghìn các công trình lớn, nhỏ khác nhaunghiên cứu về vấn đề: Làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, chất lượnghọc tập nói riêng ở mọi khía cạnh khác nhau
- Có tác giả thì đi sâu vào nghiên cứu việc nâng cao chất lượng học tập ở các mônhọc khác nhau như công trình của:
+ A Z Retcô trong luận án thạc sĩ bảo vệ năm 1950 với đề tài: “Nâng cao chất lượng học tập môn lịch sử lớp 6 và lớp 7”.
Trang 7+ A T Richart với đề tài nghiên cứu “Việc nâng cao chất lượng học tập môn Toán trong nhà trường Phổ thông” vào năm 1971.
- Một số công trình khác lại đi nghiên cứu cách thức, biện pháp để nâng cao hơnnữa chất lượng học tập như:
+ Rubakin với tác phẩm: “Tự học như thế nào” năm 1997.
+ Hay như công trình nghiên cứu đã được chuyển tải thành tác phẩm giáo dục nổi
tiếng hiện nay “The learning Revolution” – Cuộc cách mạng trong học tập đã được dịch
ra bằng 11 thứ tiếng trên thế giới và là cuốn sách bán chạy nhất năm 1999 của hai tác giả: Jeannette Vos ở Mỹ, bà đã nhận được học vị Tiến sĩ Giáo dục học nhờ kết quả nghiên cứu
hơn 7 năm liền phương pháp học tập nhanh; tác giả thứ hai của cuốn sách là ông GordenDryden người Niu Dilân là một phát thanh viên, một chuyên gia giỏi về truyền thông đaphương tiện…
Tóm lại, trong mọi thời kỳ lịch sử khác nhau, ở mỗi nền giáo dục của các quốc giakhác nhau cũng đều mong muốn giáo dục phát triển, đều mong muốn chất lượng giáo dụcngày càng được nâng cao hơn nữa Vấn đề làm thế nào nâng cao chất lượng học tập vàgiảng dạy vẫn luôn và mãi mãi là “mảnh đất” nghiên cứu không bao giờ cạn mà hễ chúng
ta càng tìm hiểu, càng đào xới nó lên chúng ta càng thấy nó phát triển ngày một sâu rộnghơn ở tất cả các lĩnh vực khác nhau, trong mọi thời đại và ở mỗi quốc gia
1.1.2 Các tác giả trong nước
Vấn đề sự nâng cao chất lượng học tập không chỉ được các tác giả nước ngoàinghiên cứu mà ở trong nước nó cũng là đề tài được nhiều người quan tâm nghiên cứu Cótác giả nghiên cứu kỹ về việc nâng cao chất lượng học tập ở các cấp hoc và ở những mônhọc khác nhau như:
- Năm 1970: Tác giả Quốc Chấn – Giảng viên trường ĐHSP Huế có đề tài: “Nâng cao chất lượng giờ học ở nhà cho học sinh THCS”.
- Năm 1980: Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Nhân với đề tài: “Nâng cao chất lượng môn Văn học lớp 7”.
Một số khác lại đi vào phân tích một số nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng học tậpcũng như giảng dạy để trên cơ sở đó đề ra các biện pháp nâng cao chất lượng học tập
- Từ năm 1970: Tổ Tâm lý học của Viện khoa học giáo dục do Tiến sĩ Hà Vĩ chủ trì
đã nghiên cứu vấn đề ảnh hưởng của các tác động tâm lý đến việc hình thành và lĩnh hộkhái niệm Các tác giả này đã tìm ra cơ chế, qui luật của sự hình thành khái niệm Bằng
Trang 8phương pháp chủ yếu là cấu trúc lại giờ học, biến đổi phương pháp giáo dục theo tinh thần
từ hoạt động vật chất dẫn tới hoạt động tinh thần để lĩnh hội khái niệm giúp quá trình họctập môn học được tốt hơn
- Năm 1976 đến năm 1978: Cùng với nhóm nghiên cứu của Trường Đại Học Sư
Phạm Hà Nội tác giả Đàm Ngọc Chương đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hướng dẫn sinh viên ôn tập hệ thống tri thức cơ bản toàn bộ chương trình giáo dục bằng sơ đồ Logic”.
- Năm 1980: Luận văn Thạc sĩ sinh học của Nguyễn Thị Thanh Vân với đề tài:
“Dạy học sinh phương pháp học tập bộ môn Sinh vật lớp 9”.
Trong những năm gần đây cán bộ và sinh viên khoa Tâm lý giáo dục cũng đã trìnhbày vấn đề này qua rất nhiều các đề tài nghiên cứu như:
- Năm 1991: Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Văn Huệ giảng viên khoa Tâm lý giáo dục có bài nghiên cứu “Nâng cao chất lượng giảng dạy Tâm lý học” Báo Nghiên cứu giáo dục
năm 1991, số 3
- Năm 1999: Tác giả Bùi Quang Huy luận văn tiến sĩ với đề tài “Tổ chức thảo luận nhóm trong quá trình dạy học môn Giáo dục học cho sinh viên Cao đẳng sư phạm Lai Châu”.
- Năm 2001: Trần Văn Khanh nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh Trung học phổ thông ở Thành Phố Hải Phòng”.
Và còn rất nhiều nghiên cứu của các tác giả khác nhau
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề nâng cao chất lượnggiáo dục nói chung và chất lượng giảng dạy và học tập nói riêng một cách khá sâu rộngnhư: thực trạng chất lượng giảng dạy và học tập; các yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng caochất lượng; các biện pháp nâng cao chất lượng…Các công trình nghiên cứu biện pháp nângcao chất lượng học tập được xem xét ở nhiều môn học khác nhau, ở các cấp học khác nhaunhư: môn Toán, Lý, Sinh học, Anh văn… ở cấp I, cấp II, cấp III và ở các trường Đại học,Cao đẳng…Song cho đến hiện nay chúng tôi chưa thấy một công trình nào nghiên cứu vềcác biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Bởi vậy, trong
đề tài này chúng tôi đi sâu tìm hiểu một số biện pháp nâng cao chất lượng học tập mônGiáo dục học
Trang 91.2 Học là hoạt động trung tâm trong quá trình dạy học.
1.2.1 Học là hoạt động tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
Quá trình dạy học bao gồm quá trình dạy và quá trình học Dạy là hoạt động lãnhđạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh Học do sự lãnh đạo, tổ chức,điều khiển đó nên nó là hoạt động nhận thức đặc biệt
Học là hoạt động nhận thức Như chúng ta đã biết nhận thực là sự phản ánh thế giớikhách quan vào não người, sự phản ánh này không phải là sự phản ánh đơn thuần như phảnánh vật lý, hay các phản ánh chiếu gương những hiện tượng sự vật và quá trình nhận thứcvào ý thức của con người Mà đó là sự phản ánh tâm lý của con người bắt đầu từ cảm giácđến tư duy, tưởng tượng Sự học tập của học sinh cũng là quá trình như vậy, Sự phản ánh
đó là sự phản ánh đi trước, có tính chất cải tạo mà mức độ cao nhất của tính chất cải tạo đó
là sự sáng tạo Đó có thể là sự phản ánh giống hệt của những đối tượng trong hiện thực vàcũng có thể tạo nên những hình ảnh mới của những sự vật, hiện tượng, quá trình đang tồntại trong hiện thực Vì vậy bất kỳ một sự nhận thức nào, trong đó có sự học là một quátrình tích cực, thể hiện ở chỗ:
- Sự phản ánh sự vật, hiện tượng của hiện thực diễn ra trong quá trình hoạt động đókhông phải thụ động như chiếc gương mà bao giờ cũng lại khúc xạ qua lăng kính chủ quancủa mỗi người như thông qua tri thức, kinh nghiệm nhu cầu, hứng thú…của chủ thể nhậnthức Sự phản ánh đó được thể hiện trong tiến trình hoạt động phân tích – tổng hợp, trảiqua hoạt động tư duy phức tạp dựa trên những thao tác tư duy loogic
- Sự phản ánh đó đòi hỏi sự lựa chọn Trong vô số những sự vật, hiện tượng của hiệnthực khách quan chủ thể nhận thức phải tích cực lựa chọn những cái trở thành đối tượngphản ánh của họ
Học là hoạt động nhận thức nhưng là hoạt động nhận thức đặc biệt Tính đặc biệttrong quá trình nhận thức của học sinh thể hiện như thế nào? Quá trình nhận thức của họcsinh trong quá trình dạy học được sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của giáo viên với nhữngđiều kiện sư phạm nhất định nên nó có tính chất đặc biệt Tính chất đặc biệt đó được thểhiện ở chỗ:
- Quá trình nhận thức của học sinh không diễn ra theo con đường mò mẫm, thử vàsai như quá trình nhận thức chung của loài người, mà diễn ra theo con đường được khámphá, được những nhà xây dựng nội dung dạy học và người giáo viên gia công vào
Trang 10- Quá trình nhận thức của học sinh không phải là quá trình tìm ra cái mới cho nhânloại mà chỉ là sự tái tạo những tri thức của loài người đã tạo ra, nên họ nhận thức cái mớirút ra từ kho tàng tri thức chung của loài người đối với bản thân họ còn là mới mẻ.
- Trong một thời gian tương đối ngắn, người học sinh có thể lĩnh hội khối tri thứcrất lớn một cách thuận lợi Chính vì vậy mà trong quá trình học tập của học sinh phải tiếnhành củng cố, tập vận dụng, kiểm tra, đánh giá, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhằm biến chúngthành tài sản của bản thân
Trong quá trình nhận thức của học sinh phải quan tâm phát triển năng lực nhậnthức và tiến hành giáo dục cho họ
Trong quá trình dạy học cần phải chú ý tới tính đặc biệt đó trong quá trình nhậnthức của học sinh để tránh sự đồng nhất quá trình nhận thức chung của loài người với quátrình nhận thức của học sinh Song, không vì quá coi trọng tính đặc biệt đó mà thiếu quantâm đến việc tổ chức cho học sinh dần dần tìm hiểu và tập tham gia các hoạt động tìm tòikhoa học một cách vừa sức, nâng cao dần để chuẩn bị cho họ tự khai thác tri thức, tham gianghiên cứu khoa học trong tương lai
Học như là một hoạt động nó bao gồm những thành phần sau:
Thành phần động cơ: bao gồm trong đó nhu cầu, hứng thú, động cơ, nghĩa là tất cả
cái gì đảm bảo thu hút học sinh vào quá trình học tập tích cực và duy trì tính tích cực đótrong tất cả những giai đoạn nhận thức học tập
Thành phần định hướng: Bao gồm trong đó việc học sinh ý thức được những mục
đích hoạt động nhận thức, học tập, lập kế hoạch dự đoán được hoạt động đó
Thành phần nội dung – thao tác: Bao gồm hai bộ phận thành phần: hệ thống tri
thức chủ đạo (sự kiện, khả năng, định luật…) và cách học (công cụ tiếp nhận và chế biếnthông tin)
Thành phần năng lượng: bao gồm sự chú ý tạo điều kiện tập trung hành động trí
tuệ và thực hành xung quanh mục đích chủ yếu của hoạt động và ý chí nhằm đảm bảo mức
độ cao tính tích cực nhận thức có chủ đích
Thành phần đánh giá: là thành phần mà nội dung của nó là học sinh tiếp nhận có
hệ thống những thông tin về tiến trình hoạt động nhận thức của mình trên cơ sở tự kiểmtra, tự đánh giá
Trang 11Tất cả những thành phần này trong quá trình học tập sinh động luôn tồn tại trongmột thể thống nhất Làm không tốt, không coi trọng một trong các thành phần nêu trên củahoạt động học tập sẽ làm quá trình học tập không đạt hiệu quả.
Từ những điểm trình bày trên đó thực chất của học là hoạt động tích cực, tự lực nhận thức
1.2.2 Tính tích cực, tự lực nhận thức và mối liên hệ giữa chúng.
1.2.2.1 Tính tích cực nhận thức
Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua
sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những vấn đề học tập –nhận thức Nó vừa là mục đích hoạt động, vừa là phương tiện vừa là điều kiện để đạt đượcmục đích vừa là kết quả của hoạt động Nó là phẩm chất hoạt động của cá nhân
Tính tích cực nhận thức – học tập vận dụng đối với học sinh đòi hỏi phải có nhântố: (1) tính lựa chọn thái độ đối với đối tượng nhận thức; (2) đề ra cho mình mục đích.Nhiệm vụ cần giải quyết sau khi đã lựa chọn đối tượng, cải tạo đối tượng cho hoạt độngsau này nhằm giải quyết vấn đề: Hoạt động mà thiếu những nhân tố đó thì nó chỉ là sự thểhiện trạng thái hoạt động nhận định của con người không nói lên tính tích cực nhận thức.Chẳng hạn, người học sinh trong quá trình học tập có thể làm theo yêu cầu của giáo viên,
họ cũng đọc sách ghi chép lời giáo viên giảng nhưng nếu họ không có tính tích cực trongnhận thức thì họ không nhận biết được gì cả, vì họ không thể hiện thái độ cải tạo đối vớiđiều đó, họ không có ý định suy ngẫm mối liên hệ điều thấy được, nghe được với nhữngđiều họ đã biết và tìm ra những dấu hiệu mới sau này Hiện tượng tính tích cực và trạngthái hoạt động về bề ngoài có thể giống nhau, nhưng khác nhau về bản chất
Tùy theo việc huy động chủ yếu những chức năng tâm lý nào và mức độ huy độngnhững chức năng tâm lý đó thì người ta phân ra ba loại tính tích cực:
- Tính tích cực tái hiện, bắt chước: Tính tích cực chủ yếu dựa vào trí nhớ và tư duytái hiện
- Tính tích cực tìm tòi: Đó là tính tích cực được đặc trưng bởi sự bình phẩm, phêphán, tìm tòi tích cực về mặt nhận thức, óc sáng kiến, lòng khát khao hiểu biết, hứng thúhọc tập Tính tích cực đó không bị hạn chế bởi những yêu cầu của giáo viên
- Tính tích cực sáng tạo: Là mức độ cao nhất của tính tích cực Nó đặc trưng bằng
sự khẳng định con đường, cách suy luận riêng của mình không giống với con đường màmọi người đã thừa nhận
1.2.2.2 Tính tự lực nhận thức
Trang 12Tính tự lực nhận thức là hạt nhân của tính tự lập, tính độc lập trong nhận thức.
Tìm hiểu theo nghĩa rộng, tính tự lực nhận thức là sự sẵn sàng về mặt tâm lý cho sự
tự học Sự chuẩn bị về mắt tâm lý cho sự tự học thường được biểu hiện ở việc:
- Người học ý thức được nhu cầu học tập của mình, ý thức được yêu cầu của xã hội,của tập thể hoặc nhiệm vụ do người khác đề ra với việc học tập của mình
- Người học ý thức được mục đích học tập là gì và thực hiện được mục đích đó sẽlàm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của mình
- Người học luôn suy nghĩ kỹ và đánh giá đúng những điều kiện hoạt động học tậpcủa mình, tích cực hóa kiến thức, kinh nghiệm đã tích lũy được có liên quan tới việc giảiquyết nhiệm vụ và yêu cầu học tập
- Dự đoán trước những diễn biến của quá trình trí tuệ, cảm xúc, động cơ, ý chí củamình, đánh giá đúng mối tương quan giữa khả năng, nguyện vọng và sự cần thiết phải đạtđược kết quả học tập nhất định
- Huy động mọi sức lực phù hợp với điều kiện và nhiệm vụ đòi hỏi
Theo nghĩa hẹp, tính độc lập –tự lực nhận thức là năng lực nhu cầu học tập và tính tổ chứchọc tập cho phép học sinh tự học
Trang 13SƠ ĐỒ CẤU TRÚC TÍNH ĐỘC LẬP NHẬN THỨC
Bốn thành phần của tính tự lực nhận thức đó có mối quan hệ ràng buộc, phụ thuộc vàqui định lẫn nhau Mà thiếu một trong bốn thành phần đó thì không thể hiện được tính tựlực nhận thức
1.2.2.3 Mối quan hệ giữa tính tích cực và tính tự lực nhận thức.
Động cơ nhận thức
Hành động ý chí
Tổ chức học tập
Hứng thú nhận thức Động cơ có TCXH Thế giới quan Nhu cầu hiểu biết
Trang 14Tính tích cực nhận thức có liên hệ mật thiết với tính tự lực nhận thức.
Tính tích cự nhận thức là điều kiện cần thiết của tính tự lực nhận thức và không thể nào
1.2.3 Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học trong việc nâng cao chất lượng học tập.
- Từ quan niệm học là hoạt động nhận thức tích cực, tự lực và sáng tạo như đã trìnhbày trên Hoạt động dạy của người giáo viên là hoạt động tổ chức, điều khiển hoạt động tựlực nhận thức của người học sinh nhằm hình thành cho người học thái độ, năng lực,phương pháp học tập và ý chí học tập để họ tự khai phá những tri thức khoa học
Ngày nay, người giáo viên trong việc dạy học phải dạy người học rèn luyện bộ óc,dạy cho người học phương pháp học tập, phương pháp suy nghĩ, phương pháp tìm tòi, vậndụng tốt nhất bộ óc của mình Điều đó có nghĩa là phải hình thành cho học sinh cách học
- Quá trình dạy học là quá trình thống nhất bản chất bao gồm: hoạt động dạy – giáoviên và hoạt động nhận thức – học tập của học sinh Trong hệ thống đó mỗi chủ thể tácđộng lẫn nhau, mỗi chủ thể đều có chức năng và vai trò riêng của mình Người học ở đay
là chủ thể hoạt động tự giác, tích cực chủ động chiếm lĩnh tri thức, hình thành khả năng vàthái độ nhằm đáp ứng được những yêu cầu của xã hôi đã được phản ánh trong mong muốn
và nguyện vọng của người học Người học phải là chủ thể tạo nên sản phẩm giáo dục chochính mình, chính họ chứ không phải ai khác, là người nhập cuộc vào hoạt động học tậpcủa mình sau khi đã có sự cân nhắc, chọn lựa cẩn thận Người học là trung tâm của quátrình dạy học Nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp vai trò của người dạy Mà người
“giáo viên giữ vai trò quyết định trong quá trình dạy học và đặc trưng trong việc định hướng giáo dục…không một hệ thống giáo dục nào có thể vươn cao quá tầm những giáo viên làm việc trong hệ thống đó…Người giáo viên không chỉ là người truyền đạt, thông báo những tri thức rời rạc, mà còn là người lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận
Trang 15thức – học tập của người học sinh, người hướng dẫn, người cố vấn, người mẫu mực của người học.”
(Raja Roy Singh Nền giáo dục cho thế kỷ XXI Những triển vọng Châu Á – Thái Bình Dương – UNESCO Hà Nội 1994, trang 115)
Để đạt được điều đó, người giáo viên phải năng động hơn, do hoạt động dạy ngàycàng đa dạng phức tạp và khó khăn hơn nhiều Người giáo viên nếu thiếu tình cảm nghềnghiệp, tình cảm đối với học sinh, thiếu tri thức sâu và mở rộng, thiếu kỹ năng sư phạm thì
họ không thể hoàn thành được nhiệm vụ cao cả đó Và trong quá trình này, quá trình dạycủa giáo viên và quá trình học của học sinh liên hệ với nhau, tác động lẫn nhau Nếu thiếumột trong hai quá trình đó thì quá trình dạy học không diễn ra
1.3 Chất lượng học tập môn Giáo dục học trong trường Đại học, Cao đẳng.
1.3.1 Khái niệm chất lượng, chất lượng học tập.
1.3.1.1 Chất lượng.
Chất lượng là một khái niệm quen thuộc với tất cả mọi người, tuy nhiên quan niệm
về chất lượng lại rất đa dạng và thậm chí vẫn còn nhiều tranh cãi Tuy nhiên chúng ta đều
có thể khẳng định được rằng: Khái niệm chất lượng luôn gắn với một sản phẩm nhất định
Chất lượng là yếu tố khách quan, là mục tiêu phấn đấu là cái hướng tới của hoạtđộng lao động Chất lượng tồn tại khách quan, nó là thuộc tính vốn có tạo nên giá trị sựvật, nó tồn tại độc lập với ý muốn của con người Chất lượng sản phẩm của một sản phẩmluôn biến đổi theo thời gian, trình độ phát triển và nhu cầu cuộc sống Khái niệm chấtlượng của một sản phẩm không phải là một khái niệm bất biến mà là khái niệm biến đổithường xuyên cho nên trong sản xuất chất lượng là yếu tố cạnh tranh sống còn của sảnxuất Mọi quốc gia, mọi nhà sản xuất, mọi người, mọi thời đại đều hướng tới chất lượng vàlàm cho nó ngày càng được nâng cao hơn
Chất lượng của sản phẩm phụ thuộc vào nhu cầu Nếu ta hiểu chất lượng phảihướng tới nhu cầu của người tiêu dùng Người sản xuất hướng vào nhu cầu của người tiêudùng Sản phẩm có đạt được chất lượng hay không nó còn phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật,trình độ khoa học công nghệ sản xuất Chất lượng còn phụ thuộc vào mục tiêu đã đặt rangay ban đầu Tóm lại, chất lượng luôn gắn liền với yếu tố thời đại, nhu cầu thị hiếu củacon người trong thời đại đó
Trang 16Có nhiều khái niệm chất lượng, mà tùy theo đối tượng và mục đích sử dụng kháiniệm chất lượng có ý nghĩa khác nhau Nhưng theo cách hiểu khái quát nhất, được nhiềungười công nhận và sử dụng nhất thì:
Chất lượng là yếu tố đặt ra theo mục tiên sản xuất phù hợp với yêu cầu của khách hàng và
nó thỏa mãn với từng giai đoạn phát triển của thời đại.
1.3.1.2 Chất lượng học tập
Chất lượng học tập là việc tiếp thu, tu dưỡng, rèn luyện của người học qua quátrình truyền tải nội dung tri thức của người giáo viên để đạt được mục tiêu học tập mà mônhọc đã đề ra cho người học và đáp ứng được yêu cầu của xã hội, thời đại
Chất lượng học tập các môn học trong nhà trường chỉ có thể có được khi nhàtrường nói chung và người giáo viên nói riêng thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ dạy học Tùytheo yêu cầu của xã hôi,tùy theo tính chất và mục tiêu môn học, tùy theo trình độ phát triểntâm sinh lý lứa tuổi của học sinh ở những điều kiện khác nhau cũng như đặc điểm cụ thểcủa từng loại trường, từng môn học khác nhau
Trong phạm trù giáo dục, chất lượng dạy và học luôn là một vấn đề được bàn cãinhiều qua diễn đàn hội thảo hoặc các cuộc tranh luận từ nhiều năm nay Chất lượng giáodục nói chung, dạy và học nói riêng có thể hiểu là sự biểu hiện tập chung ở nhân cách,trình độ học vấn, khối lượng kiến thức của người học sinh - là người được giáo dục đàotạo
1.3.2 Các tiêu chí biểu hiện chất lượng học tập môn Giáo dục học
Tiêu chí đánh giá chất lượng học tập môn học của sinh viên trong quá trình dạy họcđược xem xét đối chiếu với mục tiêu môn học đề ra Cụ thể tiêu chí biểu hiện chất lượnghọc tập môn học được đánh giá bằng nguồn tri thức, kỹ năng và thái độ được hình thành ởngười học
Để xác định được nguồn tri thức, kỹ năng và thái độ đã được hình thành ở ngườihọc trong quá trình học tập như thế nào thì chúng ta phải kiểm tra đánh giá được kết quảhọc tập của sinh viên - đây là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học Bởi:
Đối với sinh viên nhân vật trung tâm của quá trình dạy học kiểm tra ,đánh giá cótác dụng thúc đẩy học tập phát triển không ngừng Qua kết quả kiểm tra sinh viên đánh giámức độ chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng so với yêu cầu mục tiêu đề ra của môn học và tự mình
ôn tập, củng cố, bổ sung hoàn thiện học vấn bằng phương pháp tự học với hệ thống cácphương pháp tư duy của mình Đối với giảng viên thì kết quả kiểm tra đánh giá chẳng
Trang 17những phản ánh thành tích học tập của sinh viên mà qua đó mỗi giảng viên tự đánh giá vốntri thức trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm, nhân cách và uy tín của mình với họcsinh Trên cơ sở đó không ngừng nâng cao và hoàn thiện trình độ chuyên môn và trình độ
Mục tiêu học tập không thể thiếu được của tất cả môn học đó là tri thức
Thiếu tri thức tức là thiếu cơ sở để tư duy, để hình thành thế giới quan khoa học và do đóthiếu phương pháp luận đúng dắn trong hoạt động nhận thức và thực hành Điều đó cónghĩa là, nếu thiếu tri thức thì hành động sẽ thiếu phương hướng Song, tri thức loài ngườitích lũy được vô cùng phong phú còn từng người trong cuộc đời của mình không thể nắmbắt được tất cả tri thức đó mà chỉ có thể nắm được một bộ phận mà thôi Vì vậy, điều quantrọng làm sao bộ phận tri thức đó phải bao gồm những lĩnh vực khác nhau, là cơ sở củanhững khoa học, là những dạng cơ bản của hoạt động xã hội và của đời sống Ngoài ra, bộphận tri thức đó phải bao gồm những dạng tri thức khác nhau đặc trưng cho những khoahọc có những tính chất làm nền tảng vì chỉ với điều kiện đó thì tri thức mới thực hiên đượcnhững chức năng cơ bản của mình: Chức năng thể luận, chức năng định hướng, chức năngđánh giá
1.3.2.2 Về kỹ năng
Mục tiêu học tập môn học không chỉ nắm được tri thức mà còn phải nắm được kinhnghiêm, vận dụng những cách thức hành động trong thực tiễn Kỹ năng và kỹ xảo là kinhnghiệm về cách thức hành động khác nhau được con người tiếp thu Các nhà tâm lý họccho rằng, có kỹ năng sơ đẳng và kỹ năng phức tạp Kỹ năng sơ đẳng được luyện tập nhiềulần trở thành kỹ xảo Nói cách khác, kỹ xảo là hành động được tự động hóa trên cơ sởluyện tập Còn kỹ năng phức tạp bao gồm rất nhiều kỹ xảo ví dụ như: Kỹ năng giải bài tập,
kỹ năng sư phạm… rất cần những kỹ xảo khác nhau và bao giờ cũng thực hiện có sự thamgia của ý thức Có thể có kỹ xảo, kỹ năng thực hành và kỹ xảo, kỹ năng trí tuệ Ngoài racòn có kỹ xảo, khả năng chung cho các môn học như kỹ xảo, kỹ năng lập kế hoạch; kỹ xảo,
kỹ năng lập dàn bài, so sánh phân tích những ý chính, ý phụ, rút ra kết luận… và những kỹxảo, kỹ năng đặc trưng cho từng môn học Trong số kỹ năng, kỹ xảo đó có những kỹ năng,
Trang 18kỹ xảo có liên hệ trực tiếp với sự lĩnh hội tri thức mà cũng có những kỹ xảo kỹ năng làmđiều kiện để độc lập lĩnh hội trí thức như kỹ năng, kỹ xảo tóm tắt, nhận xét, phê bình….
1.3.2.3 Về thái độ.
Tiêu chuẩn về thái độ đối với tự nhiên, xã hội và con người thực chất đó là tínhgiáo dục của nội dung dạy học môn học Mục tiêu học tập các môn học không chỉ đạt đếnthu nhận những tri thức kỹ năng, kỹ xảo mà còn cả thái độ đánh giá, thái độ cảm xúc đốivới thế giới, đối với con người, đối với hoạt động Trong thực tế có thể dễ dàng nhận thấythái độ của con người đối với hiện thực khách quan, tình cảm của họ không phải bao giờcũng phù hợp với sự hiểu biết của họ, lời nói của họ không phải bao giờ cũng đi đôi vớiviệc làm
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng và đảm bảo đến chất lượng giáo dục môn Giáo dục học.
1.3.3.1 Kế hoạch dạy học
Kế hoạch dạy học là văn kiện do Nhà nước ban hành trong đó qui định các mônhọc; trình tự dạy các môn học qua từng năm học; việc tổ chức năm học (số tuần thực học,
số tuần lao động và nghỉ, chế độ học tập hành tuần, hàng ngày)
Với cách hiểu trên về kế hoạch dạy học, có thể nhận thấy những yếu tố cơ bản trònmột kế hoạch dạy học: 1 Quan hệ giữa thành phần các môn học với thành phần lớp học(môn học được dạy ở lớp học nào và từng lớp học cụ thể sẽ phải học những môn học nào)
2 Quan hệ giữa các thành phần môn học với phân bố thời gian (thời lượng dành cho mỗimôn và thời lượng học từng môn trong từng lớp theo ngày, tuần và năm học) 3.Cấu trúc
và thời gian dạy học (thời lượng chung của năm học theo bậc học, khối lớp và thời lượngcủa tuần học, ngày học, tiết học)
Kế hoạch dạy học ở từng cấp học và bậc học khác nhau Sự khác biệt trong kếhoạch dạy học được thể hiện ở một số khía cạnh sau:
- Số lượng các môn học được xác định trong từng kế hoạch dạy học
- Do mối quan hệ liên môn, do đặc điểm các bộ môn và đặc điểm nhận thức củahọc sinh cũng như yêu cầu cân đối về số tiết hàng tuần ở các lớp nên trong kế hoạc dạy họcviệc bố trí các môn học cũng khác nhau Có môn được học từ đầu cấp, bậc học, nhưngcũng có môn được thực hiện ở các khối lớp xác định theo cấp bậc học…
- Số tiết dành cho mỗi môn học cũng khác nhau ở từng khối lớp thuộc cấp, bậc họckhác nhau
Trang 19Giáo viên khi thực hiện nhiệm vụ dạy học của mình buộc phải nghiên cứu kế hoạchdạy học để hiểu chương trình dạy học môn học, từ đó lập kế hoạch dạy học của cá nhân.Sinh viên sư phạm phải hình thành kỹ năng nghiên cứu kế hoạch của cấp, bậc học trongchương trình nghiên cứu môn Giáo học pháp bộ môn.
1.3.3.2 Sách giáo khoa và các tài liệu dạy học.
Sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác dùng chung trong các trường học doNhà nước qui định
Nếu chương trình dạy học qui định phạm vi dạy học của các môn học thì sách giáokhoa có nhiệm vụ trình bày nội dung của môn học một cách rõ ràng, cụ thể và chi tiết vớicấu trúc xác định Sách giáo khoa là hình thái vật chất của các môn học, của nội dung họcvấn mà môn học thể hiện
Sách giáo khoa trình bày những nội dung cơ bản, những thông tin cần thiết vừa sứcđối với học sinh và theo một hệ thống chặt chẽ Chức năng của sách giáo khoa là giúp họcsinh lĩnh hội, củng cố, đào sâu những tri thức tiếp thu được trên lớp, phát triển năng lực trítuệ và giáo dục các phẩm chất nhân cách cho học sinh Mặt khác, sách giáo khoa cũng là
cơ sở để giáo viên dựa vào đó xác định nội dung lựa chọn phương pháp, phương tiện dạyhọc để tổ chức tốt công tác dạy học của mình Điều cần chú ý là, chỉ có thông qua sáchgiáo khoa thì những yếu tố chỉ đạo quá trình dạy học môn học (thuộc khối quá trình củamôn học) mới thể hiện rõ nét và thực sự phát huy vai trò tổ chức, điều khiển với quá trìnhdạy học môn học
Ngoài sách giáo khoa còn có những sách và các tài liệu tham kháo khác nhau dànhcho giáo viên và học sinh như: sách hướng dẫn giảng dạy, sách tra cứu, các loại từ điển,sách bài tập…các tài liệu học tập này giúp học sinh mở rộng, bổ sung, đào sâu kiến thức,phù hợp với trình độ và hứng thú của mình
Sách giáo khoa cũng như các tài liệu học tập khác phải đảm bảo những yêu cầu sau:
- Những tri thức trình bày trong sách giáo khoa phải đảm bảo tính khoa học, tính hệthống, tính vừa sức và phù hợp với chương trình qui định
- Phải giúp học sinh nắm được phương pháp học tập một cách độc lập nhằm giúp
họ biết học tập suốt đời, liên tục và tự giác, học tập qua sách báo và hoạt động thực tiễncủa mình Vì vậy cần có những chỉ dẫn cho các bài tập quan sát và luyện tập, những câuhỏi ôn tập và tự kiểm tra
Trang 20- Sách giáo khoa phải kích thích sự suy nghĩ, mở rộng tầm hiểu biết cho học sinh.
Do đó, cần nêu lên những vấn đề, những hiện tượng trong đời sống đòi hỏi phải vận dụngtri thức trong sách giáo khoa và tri thức đã biết để giải quyết
- Ngôn ngữ phải rõ ràng, dễ hiểu, gọn và chính xác
- Đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh và thẩm mỹ Hình thức sách giáo khoa phải đẹp,phải trình bày hấp dẫn, sử dụng khổ chữ thích hợp với đặc điểm tri giác của học sinh.Những kiến thức trọng tâm phải có sự nhấn mạnh bởi các kĩ thuật khác nhau để tập trungđược sự chú ý của học sinh
1.3.3.3 Yếu tố người học.
- Thái độ của người học đối với việc học tập các môn học.
Thái độ học tập tích cực hay không tích cực ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập nếungười học có thái độ đứng đắn đối với việc học tập thì chắc chắn kết quả học tập sẽ caohơn
Theo quan điểm của các nhà sư phạm thì: Động cơ học tập đúng đắn sẽ tạo ra ởngười học thái độ đúng, việc xây dựng động cơ học tập trở thành nét nhân cách bền vữngcủa người học là điều không thể thiếu trong từng giờ giảng, từng môn học Một câu hỏi lớnđược đặt ra là: Động cơ học tập nào là động cơ học tập tối ưu đối với học tập
Chúng ta biết rằng: Học tập được thúc đẩy được hai loại động cơ: Loại động cơhoàn thiện trí thức và loại động cơ quan hệ xã hội
Thuộc về động cơ quan hệ xã hội, học sinh học tập bởi sự lôi cuốn hấp dẫn củanhững cái khác ngoài mục đích trực tiếp của việc học như: Vì một lời khen; sợ bị tráchphạt; để được một phần thưởng vật chất nào đó; làm vui lòng cha mẹ; thích được sự khâmphục của bạn bè… Ở đây những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ hành vi không phải làmục đích mà chỉ là phương tiện để đạt được những điều mong muốn, hoàn thiện nhữngmối quan hệ cá nhân Loại động cơ này ở mức độ nào đó mang tính chất cưỡng bức, tạo ra
ở người học sự căng thẳng về mặt tâm lý… để xảy ra hiện tượng tiêu cực trong xã hội
Loại động cơ xuất phát từ lòng khao khát, mong muốn, hiểu biết bị lôi cuốn, say
mê bởi chính quá trình giải quyết nhiệm vụ học tập Mỗi lần dành được cái mới ở đốitượng học thì các em cảm thấy nguyện vọng hoàn thiện tri thức được thỏa mãn một phần.Người ta gọi loại động cơ học tập này là động cơ hoàn thiện tri thức Loại động cơ nàythường không chứa đựng xung đột bên trong Học sinh có sự huy động, nỗ lực ý chí để
Trang 21hướng vào khắc phục những trở ngại bên ngoài chứ không hướng vào đấu tranh với chínhbản thân mình Đây là loại đông cơ tối ưu của quá trình học tập
Động cơ đúng đắn sẽ tạo ra thái độ đúng đắn trong học tập Thái độ đúng đắn thểhiện các mặt sau:
Mặt thứ nhất: Có hứng thú nhận thức
Hứng thú là sự đinh hướng cơ bản, có lựa chọn của cá nhân vào sự vật hiện tượngtrong thực tiễn Sự định hướng đó được đặc trưng bởi sự tham gia của ý thức nhằm nhậnthức sự vật hiện tượng có hiệu quả hơn và đưa lại cho cá nhân một sự khoái cảm
Trong học tập, hứng thú nhận thức giữ một vai trò quan trọng Nó làm cho ngườihọc hoạt động một cách tự giác, tích cực, tăng hiệu quả của quá trình nhận thức Người học
sẽ học một cách có hiệu quả, sâu sắc, khả năng ghi nhớ nhanh chóng, lâu bền… Khi cóhứng thú học tập Bởi hứng thú học tập sẽ huy động được các quá trình tâm lý như: Trigiác, tư duy, biểu tượng… đặc biệt hứng thú làm cho người học nảy sinh khao khát hànhđộng và hành động sáng tạo
Usinxki đã khẳng định: “ Một sự học tập nào mà chẳng có hứng thú gì cả, chỉ biết hành động bằng sức mạnh cưỡng bức thì sẽ giết chết lòng ham muốn học tập của cá nhân”
Tóm lại, nếu có hứng thú học tập với môn học nào đó thì chắc chắn học sinh sẽ họctập môn học đó có hiệu quả hơn
Mặt thứ hai: Chú ý
Thái độ học tập của người học thể hiện một số yếu tố không kém phần quan trọng
đó là chú ý Đây là yếu tố làm nên sự thành công cho người học bởi “chú ý là cánh cửa để
từ đó học sinh có thể nhận thức được thế giới xung quanh” Chú ý là điều kiện vật chất đểlàm việc một cách có tổ chức, có kỷ luật tạo nên trạng thái làm việc tốt và như vậy sẽ đemlại kết quả học tập cao
- Vốn tri thức và kinh nghiệm cá nhân.
Chất lượng học tập của người học còn phụ thuộc vào vốn tri thức và kinh nghiệmcủa họ Thường thì những khái niệm nào quen thuộc với kinh nghiệm đã có thì người học
dễ lĩnh hội hơn, tạo điều kiện tốt hơn cho người học Còn những khái niệm hoàn toàn mới
so với kinh nghiệm của người học thì việc lĩnh hội nó sẽ vất vả Trong quá trình học tập ởmỗi cá nhân sẽ đạt kết quả khác nhau, bởi sự tham gia của hệ thống kinh nghiệm của cánhân là khác nhau Có thể nói vốn tri thức và kinh nghiệm cá nhân của người học làphương tiện cơ bản của việc học tập
Trang 221.3.3.4 Yếu tố giáo viên.
Dạy học là hoạt động của người lớn tổ chức điều khiển hoạt động của trẻ nhằmgiúp họ lĩnh hội nền văn hóa, xã hội tạo nên sự phát triển tâm lý, hình thành nhân cách.Trong quá trình lĩnh hội nền văn hóa nhân loại, người học không phải tự mình tiến hànhđược mà nhất định phải có sự tổ chức điều khiển của giáo viên Trong hoạt động dạy ngườigiáo viên đóng vai trò chủ thể với chức năng nhằm tái tạo lại trí thức cho người học Ngườigiáo viên phải sử dụng tri thức mà mình đã có như một phương tiện, vật liệu để tổ chức,điều khiển người học lĩnh hội được tri thức của loài người cho chính bản thân mình
Như vậy, khi tiến hành hoạt động dạy giáo viên không chỉ nhằm phát triển chínhmình mà còn nhằm phát triển học sinh, có nghĩa giáo viên là người tổ chức tái tạo nền vănhóa xã hội nhằm tạo ra cái mới cho người học Để thực hiện đúng mục đích đó thì việc lựachọn phương pháp của thầy có ý nghĩa quyết định đối với việc lĩnh hội tri thức, việc họctập của người học Yếu tố dạy học của người giáo viên cũng là yếu tố hết sức quan trọnggóp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng học tập của người học
Muốn nâng cao hơn nữa chất lượng học tập môn Giáo dục học thì người giảng viêngiảng dạy bộ môn cũng phải có: trình độ chuyên môn nhất định; có năng lực sư phạm vàphải có các phẩm chất của người thầy giáo
1.3.3.5 Cơ sở vật chất đảm bảo nâng cao chất lượng học tập môn học.
Quá trình học tập của người học được diễn ra trong điều kiện nhất định và bị chiphối bởi các yếu tố, điều kiện, phương tiện, kỹ thuật dạy học Trong giai đoạn hiện nay,khi mà sự bùng nổ thông tin, sự tiến bộ của khoa học công nghệ làm cho hoạt động dạyhọc trong nhà trường cần phải có sự đầu tư nhiều về cơ sở vật chất kỹ thuật
Việc lĩnh hội khái niệm, tri thức khoa học sẽ trở nên cố hiệu quả hơn nếu chúng tachú trọng đến đầu tư, sử dụng có hiệu quả các loại phương tiện kỹ thuật dạy học như: bảngđen, đèn chiếu, radio, catssette, video, máy quay phim, máy thu hình… cũng như các loại
đồ dùng dạy học trực quan như: mẫu vật, hình mẫu, mô hình, phương tiện đồ họa nhưtranh, hình vẽ, sơ đồ, bản đồ…
Đồng thời để trong quá trình học tập đạt hiệu quả cao hơn chúng ta phải đầu tư tạođiều kiện về cơ sở vật chất như tôn tạo, sang sửa, xây mới lại các trường học, lớp học,phòng đọc thư viện, sân chơi…những điều kiện cơ sở vật chất ấy phải được xây dựng đủtiêu chuẩn về ánh sáng, màu sắc trang trí, độ lớn…có như thế mới tạo điều kiện tốt cho các
Trang 23em trong quá trình lĩnh hội tri thức, nhằm phát triển một cách toàn diện nhân cách ngườihọc.
1.3.4 Môn giáo dục học
- Biết cách sưu tầm, xử lý thông tin
- Ý thức được tầm quan trọng đặc biệt của giáo viên đối với sự phát triển của conngười và xã hội để tích cực thực hiện nhiệm vụ giáo dục con người thông qua hoạt độngnghề nghiệp
1.3.4.2 Nội dung cơ bản của môn Giáo dục học.
Trang 24KẾT LUẬN CHƯƠNG 1Nhận thức được mặt lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng học tập giúp chúng takhông chỉ thấy được vai trò và tầm quan trọng ảnh hưởng đến sự nghiệp giáo dục và đàotạo mà nó còn ảnh hưởng tới cuộc sông và sự phát triển của xã hội loài người Các tác giảtrong nước cũng như các tác giả nước ngoài đều nghiên cứu rất thành công, đem lại nhiềubiện pháp nâng cao chất lượng dạy và học Ngoài ra hoạt động học và hoạt động dạy trongquá trình dạy học là nhân tố quan trọng ảnh hưởng và quyết định đến chất lượng học tậpcủa sinh viên Để có thể đi nghiên cứu, tìm hiểu được một vấn đề thì cơ sở lý luận của vấn
đề đó rất quan trọng và cần được làm rõ Đặc biệt là vấn đề nghiên cứu chất lượng học tậpmôn học, từ cơ sở lý luận sẽ làm nền tảng để nghiên cứu thực trạng và đưa ra giải pháp mộtcách hiệu quả
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC HỌC CỦA SINH
VIÊN CAO ĐẲNG HẢI DƯƠNG
Trang 252.1 Tình hình chung
2.1.1 Vài nét về trường Cao đẳng Hải Dương.
Lịch sử truyền thống: Trường Cao đẳng Hải dương được thành lập từ năm 1960.Năm 1978, Thủ tướng chính phủ ký quyết định số 164/TTg nâng cấp lên thành trường Sưphạm 10 + 3 lên thành trường Cao đẳng sư phạm Năm 2009 được Bộ trưởng Bộ giáo dục
và đào tạo ký quyết định đổi thành trường Cao đẳng Hải dương Hiện nay, Nhà trườngđang thực hiện đề án quy hoạch phát triển thành Đại học Hải Dương đa ngành, đa cấp
Quy mô, ngành nghề đào tạo: Trường đào tạo đa ngành, nhằm đáp ứng nhu cầuphát triển kinh tế xã hội Người học được phát triển toàn diện, có phẩm chất đạo đức, sứckhỏe, thẩm mỹ, có năng lực chuyên môn vững vàng góp phần đáp ứng yêu cầu sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hiện nay Nhà trường có các khối ngành sau:
+ Khối ngành sư phạm
+ Khối ngành kinh tế và kỹ thuật
+ Khối ngành khoa học xã hội và nhân văn
Tuyển sinh đào tạo hệ Cao đẳng sư phạm: Giáo dục Tiểu học, Mầm non, Ngữ văn,Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân, Toán, Vật lý, Hóa học, Lý – Kỹ thuật công nghiệp,Sinh học, Âm nhạc – Công tácđội, Mỹ thuật – công tác đội, Thể dục – công tác đội, Ngoạingữ
Tuyển sinh đào tạo hệ trung cấp: Trung cấp giáo dục tiểu học, trung cấp giáo dụcmầm non, trung cấp giáo dục thể chất, trung cấp Tin học, trung cấp thiết bị trường học
Ngoài ra trường còn đào tạo nhiều ngành nghề khối ngành kinh tế và kỹ thuật, khốingành khoa học xã hội và nhân văn; đào tạo tại trường và đào tạo liên kết với các cơ sởgiáo dục ngoài tỉnh
Nhà trường có đội ngũ cán bộ, giảng viên đủ ở các chuyên ngành đào tạo, có trình
độ chuyên môn sâu, tâm huyết và trách nhiệm Gần 60% Giảng viên có trình độ Thạc sĩ,trong đó có nhiều giảng viên là Tiến sĩ, đang nghiên cứu sinh Nhiều giảng viên trẻ đạtdanh hiệu giáo viên giỏi cấp tỉnh, toàn quốc, tích cực nghiên cứu, cập nhật cái mới, sátthực tế, thỏa mãn được nhu cầu của người học, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đàotạo
Những điều kiện trên có tác động rất lớn đến chất lượng học tập của sinh viên, gópphần thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo của nhà trường
Trang 26Giáo dục học là một ngành khoa học chuyên nghiên cứu về quá trình giáo dục conngười, đặc biệt là nghiên cứu bản chất, cấu trúc, quy luật…của quá trình đó Những tưtưởng của khoa học giáo dục đã xuất hiện từ thời cổ đại, song cũng như nhiều ngành khoahọc xã hội khác, giáo dục học cũng chỉ là một bộ phận của Triết học, những tư tưởng Giáodục được lồng ghép trong những tư tưởng triết học của Trung hoa, Hi Lạp, La Mã cổ đại…Phải song đến thế kỷ (XVII – XVIII ) Giáo dục học mới dần tách khỏi triết học để trởthành một ngành khoa học tương đối độc lâp.
Do lịch sử ra đời và đối tượng nghiên cứu như vậy nên giáo dục có hệ thống kháiniệm, phạm trù chưa thực sự thống nhất giữa các tác giả Đặc biệt, hệ thống khái niệm,phạm trù này rất phức tap, trừu tượng, dựa trên cơ sở lý thuyết của nhiều ngành khoa họckhác như: Triết học, Tâm lý học, Sinh học…Đối với các trường Cao đẳng, đặc biệt là hệthống các trường sư phạm, khoa học giáo dục đã trở thực sự khẳng định được vai trò và vịtrí của mình, được xây dựng thành chương trình môn Giáo dục học – môn khoa học sưphạm có tính chất chuyên môn nghiệp vụ đặc trưng của trường sư phạm
Trong chương trình Cao đẳng sư phạm đào tạo giáo viên Trung học cơ sỏ ban hànhquyết định số 2493/ GD – ĐT ngày 27/05/1995 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo đãqui định:
Mục đích: Chương trình môn giáo dục học nhằm trang bị cho sinh viên Cao đẳng
sư phạm những kiến thức cơ bản, kiên định về Giáo dục học, hình thành cho họ những kỹnăng nghề nghiệp cơ bản để thực hiện được nhiệm vụ của người giáo viên Trung học cơsở
Yêu cầu: Khi học xong môn Giáo dục học, sinh viên có khả năng:
- Hiểu biết những kiến thức cơ bản về mục đích giáo dục, những vấn đề chung vềgiáo dục Việt Nam
- Hiểu biết về mục tiêu, nội dung, khoa học dạy học, phương pháp dạy học và giáodục ở bậc Trung học cơ sở
- Bước đầu hình thành kỹ năng kết hợp các lực lượng sư phạm để tiến hành giáo duc
- Tự hoàn thiện nhằm nâng cao trình độ nghề nghiệp
Với mục đích, yêu cầu qui định trong chương trình giảng dayy bộ môn Giáo dụchọc đặt ra gồm cả lý thuyết và hình thành kỹ năng cho người học
2.1.3 Đặc điểm sinh viên trường Cao đẳng Hải Dương
Trang 27Hầu như tất cả sinh viên của trường đều ở độ tuổi thanh niên (từ 18 đến 25 tuổi),lứa tuổi có sự phát triển mạnh mẽ về thể chất và tinh thần, họ đang thực hiện quá trình tíchlũy tri thức, kinh nghiệm của bản thân để phục vụ cuộc sống hiện tại và trong tương lai.Các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học, sản xuất hay hoạt động sản xuất cơ bản nhằmphục vụ cho hoạt động mang tính nghề nghiệp của họ.
- Sự thích ứng của sinh viên với hoạt động và môi trường học tập mới
Khi bước vào học trường Cao đẳng sư phạm, sinh viên đã gia nhập vào một môitrường khác so với môi trường học tập ở phổ thông Với những yêu cầu mới về hoạt độnghọc tập và những thay đổi cơ bản về môi trường cũng như điều kiện sống đòi hỏi sinh viênphải thích nghi với hoàn cảnh mới, sinh viên thích nghi nhanh thì sự phát triển của họ càngtốt
Đa số sinh viên nhanh chóng thích nghi với môi trường xã hội mới, đặc biệt lànhanh chóng thích ứng với việc sống tập thể vì họ là những thanh niên sôi động, thích tiếpcận với cái mới, thích giao lưu với bạn bè, đặc biệt là những người cùng lứa tuổi
- Sự phát triển nhận thức của sinh viên
Sinh viên tiếp nhận tri thức khoa học một cách khái quát hệ thống để trở thànhnhững thầy cô giáo tương lai Hoạt động nhận thức của họ gắn chặt với hoạt động nghềnghiệp
Hoạt động nhận thức của sinh viên diễn ra một cách có kế hoạch, có mục đích, nộidụng, chương trình nhất định
Những phương tiện phục vụ cho hoạt động nhận thức của sinh viên vô cùng đadạng, phong phú và hiện đại với những trang thiết bị như: thư viện, phòng máy, phònghọc…
Sinh viên phải tìm được phương pháp học tập mới ở Cao đẳng phù hợp với nghềnghiệp của mình vì không tìm được phương pháp học tập thích hợp thì sinh viên khôngthể có kết quả học tập tốt được
Như vậy, hoạt động nhận thức của sinh viên là hoạt động trí tuệ đích thực, đòi hỏi
sự tích cực năng động và có tính lựa chọn rõ rệt Hoạt động nhận thức này cũng diễn ratheo quy luật nhận thức chung của loài người, song đối với sinh viên thì hoạt động nhậnthức của họ diễn ra tinh tế, nhanh nhạy, linh động và sáng tạo hơn Vì vậy họ luôn tiếp cậnđược với cái mới, luôn đào sâu suy nghĩ, không bằng lòng với tri thức dập khuôn như tronggiáo trình
Trang 28- Sự tự ý thức của sinh viên.
Tự ý thức là một loại đặc biệt của ý thức trong đời sống cá nhân, có chức năng điềuchỉnh nhận thức và thái độ đối với bản thân Tự ý thức chính là điều kiện để phát triển vàhoàn thiện hướng nhân cách theo yêu cầu của xã hội Tự ý thức của sinh viên được hìnhthành trong quá trình xã hội hóa và liên quan chặt chẽ với tính tích cực nhận thức của họ
Với đa dạng ngành nghề đào tạo, Nhà trường tuyển sinh sinh viên hệ cao đẳng,trung cấp, tại chức…Sinh viên Cao đẳng Hải Dương ngành sư phạm có hộ khẩu thường trú
ở Hải dương và các tỉnh lân cận Hiện nay đã có trên 3000 sinh viên đang được đào tạo.Chất lượng tuyển sinh đầu vào của trường Cao đẳng Hải dương cũng khá cao
Sinh viên trường Cao đẳng Hải Dương luôn đạt thành tích cao trong học tập cũngnhư trong các hoạt động ngoại khóa, công tác xã hội và tình nguyện Sinh viên Cao đẳngHải Dương là những sinh viên năng động, sáng tạo và ham học hỏi
2.2 Thực trạng chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao đẳng Hải dương.
2.2.1 Kết quả kiểm tra, thi cử.
Để tìm hiểu thực trạng kết quả học tập bộ môn Giáo dục học của sinh viên, chúngtôi khảo sát sinh viên bằng hai cách:
- Thứ nhất, chúng tôi khảo sát bằng phiếu trưng cầu, cho sinh viên tự đánh giá kếtquả học tập theo các loại: Giỏi (điểm 9, 10); Khá (điểm 7, 8); Trung bình (điểm 5, 6); Yếu(điểm 3, 4); Kém (điểm dưới 3)
- Thứ hai, chúng tôi thống kê kết quả thi học phần sau học kỳ của sinh viên theoloại trên
Sau khi xử lý số liệu thu được, chúng tôi thống kê kết quả trong bảng 2.1
Trang 29Bảng 2.1: Kết quả học tập môn Giáo dục học của sinh viên K3 Khoa Nhạc -Họa - Thể dục
và Khoa Giáo dục Mầm non ( 96 Sinh viên)
Biểu đồ 2.1: Biểu diễn kết quả học tập môn Giáo dục học của sinh viên Khoa Nhạc –
Họa – Thể dục và Khoa Giáo dục mầm non.
3.1 32.3 61.5
3.1 0 0
29.2 59.3
11.5 0 0
10 20 30 40 50 60
Ở loại Giỏi: có 3 sinh viên tự đánh giá (chiếm 3,1%); trong kết quả thi học phầnkhông có sinh viên đạt loại Giỏi
Loại Khá: Có 31 sinh viên tự đánh giá (chiếm 32,3%); trong kết quả thi học phần
có 28 sinh viên (đạt 29,2%)
Trang 30Loại Trung bình: Có 59 sinh viên tự đánh giá (chiếm 61,5%); trong kết quả thi họcphần có 57 sinh viên (chiếm 59,3%).
Loại Yếu: có 3 sinh viên tự đánh giá (chiếm 3,1%); trong kết quả thi học phần có
11 sinh viên đạt loại yếu (chiếm 11,5%)
Những kết quả điều tra trên phản ánh một thực trạng kết quả học tập của sinh viênchưa cao, kết quả loại khá và loại giỏi còn thấp Đặc biệt kết quả thi học phần môn học cònthấp hơn so với kết quả tự đánh giá của sinh viên Từ kết quả đó, chúng ta nhận định rằng:Sinh viên cần có biện pháp để nâng cao chất lượng học tập bộ môn Giáo dục học
2.2.2 Kết quả điều tra từ sinh viên.
Chúng tôi điều tra thực trạng học tập môn Giáo dục học của sinh viên trường Caođẳng Hải Dương ở các khía cạnh sau:
Trước tiên: Nhận thức của sinh viên về vai trò của môn Giáo dục học?
- Là môn học thiết thực
- Là môn học phụ (học cũng được, không học cũng được)
- Là môn học không thiết thực
Sau khi xử lý số liệu, chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.2 như sau:
Bảng 2.2: Mức độ nhận thức của sinh viên về vai trò của môn Giáo dục học
STT Mức độ nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của môn
Giáo dục học
Số lượng (SV)
TL (%)
Một điều hiển nhiên rằng: mức độ nhận thức về tầm quan trọng của môn học sẽđóng vai trò là động cơ học tập tích cực của sinh viên Sinh viên khi nhận thức đúng và sâusắc về vai trò quan trọng của môn học thì động cơ thúc đẩy tích cực của môn học mớimạnh mẽ, kết quả học tập sẽ cao, hơn nữa khả năng vận dụng tri thức vào thực tiễn nghềnghiệp sau này mới có giá trị đích thực
Kết quả điều tra trong bảng 2.2 cho thấy có 94,1 % số sinh viên cho rằng môn Giáodục học là môn học thiết thực, cần thiết Còn lại 4,8 % cho rằng môn Giáo dục học là mônhọc phụ, học cũng được không học cũng được Và 1,1 % sinh viên nhận thức đây là mônhọc không thiết thực Như vậy, tỷ lệ sinh viên nhận thức đúng ý nghĩa và tầm quan trọngcủa môn Giáo dục học là tương đối cao
Trang 31Qua trò chuyện với một số bạn sinh viên, chúng tôi thu được ý kiến rất khác nhau
về vấn đề này Phần nhiều các em cho rằng: môn Giáo dục học là môn học khô khan nhưng
nó cung cấp một lượng tri thức rất lớn cho nghề nghiệp sau này của sinh viên
Để điều tra về mức độ hứng thú học tập môn Giáo dục học của sinh viên, chúng tôiđưa ra câu hỏi: Khi học môn Giáo dục học, bạn thấy có hứng thú không?
Khi xử lý số liệu thu được, kết quả như sau:
Biểu đồ 2.2: Mức độ hứng thú đối với môn Giáo dục học của sinh viên.
10 20 30 40 50
Trang 32ít hứng thú và 14,1% sinh viên trả lời bình thường, không có sinh viên chán học môn Giáodục học.
Chúng tôi cho rằng hứng thú với môn học là đầu mối của khá nhiều vấn đề Hứngthú học tập bộ môn Giáo dục học có vai trò quan trọng góp phần nâng cao chất lượng vàtăng hiệu quả học tập của sinh viên Ít hứng thú học tập thì sinh viên sẽ ít tích cực học tập,
ít tích cực tư duy, ít đầu tư thời gian và trí lực để học môn Giáo dục học, ít chịu khó tìm tòinhứng phương pháp học tập hiệu quả
Mặt khác, sinh viên sẽ có những biểu hiện như: không chuyên cần, không siêngnăng, học tập chỉ mang tính hình thức, đối phó dẫn đến khả năng vận dụng tri thức vàonghề nghiệp sau này bị hạn chế
Kết quả học tập môn học của sinh viên phụ thuộc vào nhiều yếu tố, một trongnhững yếu tố quan trọng đó là sự đầu tư thời gian cho việc học tập môn đó Để điều traviệc sử dụng thời gian cho việc học tập môn Giáo dục học của sinh viên trường Cao đẳngHải Dương như thế nào?
Câu 5: Trong các mức độ sử dụng thời gian học tập dưới đây, bạn thường sử dụng mức độnào cho việc học môn Giáo dục học ?
- Học thường xuyên, liên tục
- Học theo mùa thi
- Không giành thời gian để học
Sau khi xử lý số liệu, chúng tôi thu được kết quả điều tra thể hiện ở biểu đồ 2.3.Qua những con số thể hiện dưới biểu đồ 2.3, chúng tôi có nhận định: phần lớn sinhviên trường Cao đẳng Hải Dương chưa có ý thức cao trong việc học tập môn Giáo dục học.Biểu hiện ở chỗ: sinh viên học tập môn Giáo dục học với thái độ thụ động, thiếu tích cực.Mục đích học tập của sinh viên còn mang nặng tính thời vụ, thi cử, có tính chất đối phóhơn là vấn đề tự ý thức học tập môn học đối với nghề nghiệp của mình trong tương lai.Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến phương pháp học tập môn Giáo dụchọc của sinh viên
Trang 33Biểu đồ 2.3: Mức độ sử dụng thời gian học tập cho việc học tập môn Giáo dục học.( Tỷ
Để điều tra phương pháp học tập của sinh viên trường Cao đẳng Hải Dương, chúngtôi điều tra bằng câu hỏi số 6
Câu 6: Khi học môn Giáo dục học, bạn thường sử dụng phương pháp học tập nào ?
- Học theo vở ghi
- Kết hợp vở ghi, sách giáo khoa và tài liệu tham khảo
- Học ý cơ bản, trọng tâm
- Học bằng cách lập đề cương, dàn ý
- Học bằng cách liên hệ, vận dụng vào thực tiễn
- Tự nghiên cứu, trao đổi trước theo hướng dẫn của giáo viên
- Học phối hợp nhiều cách
- Cách khác ( xin nêu cụ thể)…
Trang 34Biểu đồ 2.4: Cách thức học tập môn Giáo dục học sinh viên thường sử dụng.
Tiếp đó là 60,8% số sinh viên được điều tra chọn cách học: học ý cơ bản, trọngtâm, cách học này giúp sinh viên nắm rõ vấn đề học tập
Kết quả điều tra sinh viên về cách học: học bằng cách lập đề cương, dàn bài (chiếm
Trang 35sinh viên hiểu bài sâu, nắm chắc kiến thức, có kỹ năng vận dụng vào thực tiễn thì còn ítsinh viên sử dụng Đặc biệt cách học, tự nghiên cứu trao đổi trước chỉ có 8,4% số sinh viênđược điều tra lựa chọn cũng khẳng định một điều: trong quá trình học tập môn Giáo dụchọc sinh viên chưa nỗ lực bản thân, chưa huy động các phẩm chất trí tuệ như khả năng tưduy độc lập, khả năng khái quát hóa, hệ thống hóa tri thức.
Cách học theo vở ghi (chiếm tỷ lệ 32,6%) phản ánh rằng sinh viên chưa chăm họcmôn Giáo dục học, chưa có ý thức đầu tư thời gian và trí lực cho việc học môn này
2.2.3 Kết quả điều tra từ giáo viên.
Để tìm hiểu thêm về thực trạng học tập môn Giáo dục học của sinh viên trường Caođẳng Hải Dương, đặc biệt về mức độ tích cực học tập của sinh viên và những biểu hiện củasinh viên trong quá trình học tập môn Giáo dục học, chúng tôi trưng cầu ý kiến của cácgiảng viên trực tiếp giảng dạy môn Giáo dục học trường Cao đẳng Hải Dương bằng câuhỏi số 1 trong phiếu trưng cầu ý kiến của giáo viên
Theo thầy (cô) trong quá trình học tập môn giáo dục học, mức độ học tập của sinh viênnhư thế nào?
Sau khi xử lý số liệu, chúng tôi thống kê kết quả thu được trong bảng 2.3
Bảng 2.3: Đánh giá của giáo viên về mức độ tích cực học tập môn Giáo dục học của sinh
viên trường Cao đẳng Hải Dương
Trang 36kết quả điều tra sinh viên về hứng thú học tập môn Giáo dục học Ngoài ra, chúng tôi còntrưng cầu ý kiến giảng viên bằng câu hỏi mở:
Thầy (cô) nhận xét gì về thực trạng học tập môn Giáo dục học của sinh viên trường Caođẳng Hải Dương?
Sau khi xử lý thông tin và số liệu, chúng tôi nhận thấy đa số giảng viên nhận xétsinh viên có động cơ học tập đúng đắn, có thầy cô nhận xét sinh viên chưa có kỹ năng họctập, học tập còn thụ động, kỹ năng thực hành, vận dụng còn hạn chế, học tập còn qua loa,đối phó chưa đi sâu vào việc tìm tòi và nghiên cứu
2.3 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao đẳng Hải Dương.
2.3.1 Nguyên nhân chủ quan.
Chất lượng học tập nói chung, chất lượng học tập môn Giáo dục học nói riêng củasinh viên trường Cao đẳng Hải Dương phụ thuộc phần lớn vào sự học tập tích cực của mỗisinh viên
Sau khi xử lý số liệu điều tra, chúng tôi thống kê kết quả thu được ở bảng 2.4
Bảng 2.4: Những nguyên nhân chủ quan dẫn đến thực trạng học tập môn Giáo dục học của
sinh viên trường Cao đẳng Hải Dương
1 Sinh viên chưa nhận thức đúng vai trò, ý nghĩa của môn
2 Sinh viên không hứng thú học môn giáo dục học 71,8 58,3
3 Bản thân chưa nỗ lực, khắc phục khó khăn trong học tập 70,9 75,0
Từ kết quả thu được ở bảng 2.4 cho thấy những hạn chế từ thực trạng học tập môngiáo dục của sinh viên trường Cao đẳng Hải Dương là những nguyên nhân chủ quan sau:
- Sinh viên trường cao đẳng Hải Dương chưa nhận thức đúng và sâu sắc về vai trò
và tầm quan trọng của môn giáo dục học trong nhà trường sư phạm, do đó họ không cóđộng cơ học tập môn giáo dục học một cách rõ ràng, học tập một cách bắt buộc, không tựnguyện, tự giác, tích cực học tập Nguyên nhân này có 75,3 % sinh viên đồng ý và 83,3 %giảng viên nhận xét đánh giá
- Có 71,8 % sinh viên và 58,5 % giảng viên cho rằng sinh viên không hứng thú họcmôn giáo dục học là nguyên nhân làm hạn chế đến kết quả học tập môn giáo dục học
Trang 37- Bản thân sinh viên chưa nỗ lực khắc phục khó khăn trong học tập khắc phục vấn
đề thiếu tài liệu, thiếu giáo trình, vấn đề lập kế hoạch và đầu tư thời gian cho môn học, sự
cố gắng về mặt ý chí để nhận thức nội dung môn học mang nặng tính lý luận và trừutượng Nguyên nhân này có 70,9 % sinh viên và 75,0 % giảng viên đồng ý
- Sinh viên thiếu phương pháp học tập, thiếu tính sáng tạo và linh hoạt trong việcvận dụng phối hợp các phương pháp học tập nghiên cứu cũng là một nguyên nhân chủquan, có tới 79,7 % sinh viên đồng ý và 75,0 % giảng viên chấp nhận
- Nguyên nhân cho rằng năng lực học tập hạn chế của sinh viên thể hiện ở kết quảtuyển sinh đầu vào không cao Nguyên nhân này có 52,4 % sinh viên và 58,3 % gảng viênđồng ý
Ngoài ra còn có ý kiến cho rằng do đặc điểm tâm lý riêng của sinh viên cũng ảnhhưởng đến chất lượng học tập của họ
2.3.2 Nguyên nhân khách quan.
Sau khi xử lý số liệu điều tra, chúng tôi thống kê kết quả thu được ở bảng 2.5
Bảng 2.5: Nguyên nhân khách quan dẫn đến thực trạng học tập môn Giáo dục học của sinh
viên trường Cao đẳng Hải Dương
1 Nội dung môn học vừa khó vừa trừu tượng 80,2 75,0
2 Phương pháp giáo dục của giáo viên chưa cải tiến 67,3 75,0
4 Không sử dụng phương tiện dạy học hiện đại 69,6 66,7
5 Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập chưa cải tiến 65,2 91,7
Kết quả thu được ở bảng 2.5 cho thấy:
- Có 80,2 % sinh viên và 75% giảng viên cho rằng nội dung tri thức môn giáo dụchọc còn trừu tượng, nặng về lý thuyết là nguyên nhân khách quan dẫn đến sinh viên họcmôn giáo dục học không có hứng thú, nếu có cố gắng học tập thì cũng khó nhớ, dẫn đếnkết quả học tập không cao
- Có 67,3% sinh viên và 75% giảng viên cho rằng: Do phương pháp giảng dạy củagiảng viên chưa được cải tiến, giảng viên còn sử dụng phương pháp thuyết trình là chủyếu, đọc cho sinh viên ghi chép, ít liên hệ thực tiễn là nguyên nhân không phát huy đượctính tích cực học tập của sinh viên, dễ làm cho giờ học buồn tẻ dẫn đến chất lượng học tậpmôn Giáo dục học của sinh viên ở mức độ thấp