1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Bài báo NCKH_nghiên cứu hydrate bằng phương pháp địa chấn nguồn năng lượng mới cho tương lai

6 579 7

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 751,9 KB
File đính kèm Nghiên cứu gas hydrate.rar (714 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm tắt: Gas Hydrate (GH) là một nguồn năng lượng mới tiềm năng, là đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình khoa học trong nước và trên thế giới. Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề về GH hiện chưa được làm rõ. Bài báo này tập trung giải quyết vấn đề xây dựng mô hình tín hiệu địa chấn cụ thể theo phương pháp AVO của trầm tích chứa GH trên phần mềm Hampson Russell. Trước hết nhóm nghiên cứu tổng quan về GH; các phương pháp nghiên cứu tìm kiếm thăm dò GH, trong đó chủ yếu đi sâu tìm hiểu địa chấn phản xạ đa kênh phân giải cao và AVO nghiên cứu sự biên đổi biên độ phản xạ theo khoảng cách thu nổ. Từ đó tổng hợp các tham số tạo mô hình, xây dựng mô hình đối với trường hợp GH có nồng độ không thay đổi và trường hợp nồng độ GH thay đổi tăng dần theo độ sâu. Nội dung nghiên cứu thực chất chính là giải quyết nội dung bài toán thuận trong Thăm dò địa chấn.

Trang 1

NGHIÊN CỨU KHÍ HYDRATE BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐỊA CHẤN

GVHD: PGS TS PHAN THIÊN HƯƠNG

SVTH: BÙI THỊ HẠNH, NGUYỄN VĂN QUÝ, NGUYỄN ĐĂNG CƯƠNG LỚP ĐỊA VẬT LÝ K55

Tóm tắt: Gas Hydrate (GH) là một nguồn năng lượng mới tiềm năng, là đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình khoa học trong nước và trên thế giới Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề về GH hiện chưa được làm rõ Bài báo này tập trung giải quyết vấn đề xây dựng mô hình tín hiệu địa chấn cụ thể theo phương

quan về GH; các phương pháp nghiên cứu tìm kiếm thăm dò GH, trong đó chủ yếu đi sâu tìm hiểu địa chấn phản xạ đa kênh phân giải cao và AVO - nghiên cứu sự biên đổi biên độ phản xạ theo khoảng cách thu nổ Từ đó tổng hợp các tham số tạo mô hình, xây dựng mô hình đối với trường hợp GH có nồng độ không thay đổi và trường hợp nồng độ GH thay đổi tăng dần theo độ sâu Nội dung nghiên cứu thực chất chính là giải quyết nội dung bài toán thuận trong Thăm dò địa chấn

1 MỞ ĐẦU

1.1 Hiện trạng nghiên cứu trên thế giới và trong nước

Hiện đã có hơn 90 nước trên thế giới đang tiến hành các chương trình nghiên cứu điều tra về GH

Ở Nhật Bản, năm 2013, đã công bố sự thành công trong việc thu khí đốt từ lớp methane hydrate nằm sâu 300m dưới lớp trầm tích ở đáy đại dương Ở Việt Nam, GH đã bước đầu được nghiên cứu Biển Việt Nam nằm trong khu vực Biển Đông được Sở Địa chất Hoa Kỳ đánh giá đứng hàng thứ 5 ở Châu Á về tiềm năng GH Hiện nay, đã có một số kết quả nghiên cứu bước đầu về triển vọng GH ở sườn lục địa Bắc, Tây và Tây Nam của biển Đông nước ta Trong đó, năm vùng biển triển vọng GH ở sườn phía Tây và Tây Nam biển Đông đã được xác định: Nam và Tây Nam đới Tri Tôn, Đông và Đông Nam đới Phú Quý, Bắc cụm bãi Phúc Tần - Phúc Nguyên, Tây Nam bãi Tư Chính và quanh bãi cạn Vũng Mây [15]

1.2 Tính cấp thiết của nghiên cứu

Hiện nay, thế giới đang đối mặt với nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên năng lượng hoá thạch Trước tình hình mức tiêu thụ năng lượng thế giới ngày càng tăng cao và năng lượng hóa thạch chiếm 90% tổng nhu cầu thì việc tìm kiếm các nguồn năng lượng mới ngày càng được quan tâm Một trong số đó là GH - hiện được đánh giá là một nguồn năng lượng mới tiềm năng và triển vọng Nó là đối tượng nghiên cứu của hàng trăm công trình nghiên cứu khoa học trên thế giới và

ở Việt Nam Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề mô hình hóa tín hiệu địa chấn của trầm tích chứa GH Vì vậy, nhóm tôi đã lựa chọn đề tài này

2 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

2.1 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của đề tài là ứng dụng địa chấn phản xạ đa kênh, phân giải cao và AVO

để tiến hành xây dựng mô hình tín hiệu địa chấn của trâm tích chứa GH

Trang 2

2.2 Nội dung nghiên cứu đã thực hiện được

 Tổng quan về GH

GH (băng cháy hay còn gọi là hydrat khí) là hợp chất giữa các chất khí và nước, khí ở đây chủ yếu là metan CH4, một lượng nhỏ các khí hydocarbon nặng như etan, propan; CO2; H2S [3, 4, 5]

Có thể hình dung “ phân tử metan được bao bọc và ngồi trong chiếc lồng làm từ phân tử nước”

GH thường hình thành trong các trầm tích đại dương, rìa lục địa, sườn lục địa nước sâu nói chung cũng như ở các vùng địa cực nơi phát triển đất băng vĩnh cửu và có cả trong các hồ, biển nội lục trong điều kiện áp suất cao, nhiệt độ thấp [16] GH xuất hiện dưới 3 dạng chủ yếu: cấu trúc loại I (với cấu trúc mỗi lồng được tạo thành từ 46 phân tử nước và nó chỉ có thể nhốt giữ các phân tử khí nhỏ với đường kính phân tử không vượt quá 0.5nm như metan và etan), cấu trúc loại II ( với cấu trúc mỗi lồng rỗng được tạo thành từ 136 phân tử nước, nhìn chung các lồng rỗng nhốt giữ được các phân tử khí lớn hơn (như propan và isobutan) có đường kính phân tử từ 0.6 - 0.7 nm) và cấu trúc loại H ( loại này không phổ biến, chỉ xuất hiện khi có sự trộn lẫn giữa các phân tử khí nhỏ và lớn, đường kính phân tử khí trong mỗi lồng lớn hơn hai loại trên từ 0.8-0.9nm), trong đó trong tự nhiên thì cấu trúc loại I là phổ biến nhất GH ẩn chứa một tiềm năng năng lượng khổng

lồ Trên thế giới đã ước tính lượng khí tự nhiên trong các tích tụ GH ở vùng băng vĩnh cửu nằm trong phạm vi từ 5.0x102 đến 1.2x106 nghìn tỉ cubic feet, còn ở trong các trầm tích biển là từ 1.1x105 đến 2.7x108 nghìn tỉ cubic feet [3, 13]

 Áp dụng địa chấn phản xạ đa kênh phân giải cao và AVO vào nghiên cứu

Cơ sở của phương pháp địa chấn phản xạ đa kênh phân giải cao là sự thay đổi về tốc độ truyền sóng dọc Vp Dấu hiệu nhận biết GH từ tài liệu địa chấn phản xạ phân giải cao gồm có BSR - mặt phản xạ mô phỏng đáy biển, “sự đảo ngược” tốc độ truyền sóng và blanking - sự giảm mạnh biên

độ phản xạ trong tầng trầm tích chứa GH Trong đó BSR là dấu hiệu tìm kiếm trực tiếp, quan trọng nhất đối với GH BSR có thể quan sát được trong

các mặt cắt địa chấn phản xạ, nó có thể xuất hiện ở đáy

của vùng ổn định nhiệt độ - áp suất của GH, đánh dấu

đáy của đới trầm tích chứa GH và nóc của đới chứa khí

tự do ở bên dưới (hình 1) Tại BSR biên độ phản xạ

mạnh và sự đảo cực sóng phản xạ, hệ số phản xạ RC

âm BSR có dạng mô phỏng mặt đáy biển Theo các kết

quả nghiên cứu, độ sâu thường gặp GH là ở khoảng vài

trăm m từ 300-600 dưới mặt đáy biển trong vùng sườn

dốc thêm lục địa hay trong vùng đới hút chìm của các

mảng và có độ sâu nước biển lớn (>600-800m)

Hình 1 Ví dụ về BSR ([12])

Trang 3

Chú thích: Trong phân tích minh giải địa chấn phần đỉnh sóng lệch về phía bên phải được kí hiệu

là peak - phần được bôi đen (đây là sóng phản xạ tại một mặt ranh giới nó đi từ lớp có trở kháng

âm học thấp tới lớp có trở kháng âm học cao) và phần đỉnh sóng lệch về phía bên trái được kí hiệu là trough (đây là sóng phản xạ tại một mặt ranh giới nó đi từ lớp có trở kháng âm học cao tới lớp có trở kháng âm học thấp)

2.3 Mô hình hóa tín hiệu địa chấn cụ thể theo phương

pháp AVO của trầm tích chứa GH

Xây dựng mô hình 4 lớp gồm trầm tích biển nằm trên đới

trầm tích chứa GH, trầm tích chứa GH nằm trên BSR, đới

khí tự do bên dưới BSR, các trầm tích bão hoà nước biển

Với các tham số địa vật lý tạo mô hình tín hiệu địa chấn

của trầm tích chứa GH (bảng 1) là kết quả tìm hiểu các

công trình nghiên cứu khoa học về GH bằng địa chấn phản

xạ đa kênh phân giải cao đã được công bố ở trên thế giới

Hình 2 Dị thường AVO loại I[18].

Hình 3 Dị thường AVO loại II[18].

Hình 4 Dị thường AVO loại IIi[18].

Đối với phương pháp AVO - Nghiên cứu sự biến đổi

biên độ theo khoảng cách thu nổ

Phương pháp này dựa trên cơ sở các mặt ranh giới

phản xạ có trở sóng âm học và hệ số Poisson khác

nhau sẽ dẫn tới sự thay đổi biên độ khi quan sát ở

khoảng cách khác nhau Có 3 l oại dị thường AVO

khác nhau

Dị thường AVO loại I có biên độ phản xạ dương rõ

rệt ở khoảng cách gần nguồn nổ và giảm dần theo

khoảng cách, có biên độ phản xạ âm nhỏ dần tại

khoảng cách xa mặc dù gradien AVO của loại bất

thường này có thể nhỏ (hình 2)

Dị thường AVO loại II có giá trị biên độ dương nhỏ ở

khoảng cách gần và biên độ âm trung bình đến tương

đối cao ở khoảng cách xa (hình 3)

Dị thường AVO loại III có biên độ âm cao ở gần

nguồn nổ và biên độ âm mạnh dần hơn khi ra xa Sự

biến đổi của chúng là đáng kể nhưng biên độ thường

nhỏ hơn dị thường loại I

(hình 4).

Trang 4

Về tham số độ dày dựa vào kết quả nghiên cứu của T.S Nguyễn Như Trung về tầng ổn định về nhiệt độ-áp suất của GH ở biển Đông

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ NHẬN XÉT

4.1 Kết quả

4.1.1 Trường hợp nồng độ GH không đổi

Ở trường hợp này các tham số Vp, Vs,  tương

đối ổn định trong tầng trầm tích chứa GH, sau

khi sử dụng chương trình AVO modelling tính

toán các tham số bao gồm hệ số Poisson, trở

kháng âm học, hệ số phản xạ (hình 6); xây dựng

băng địa chấn (hình 8) ta nhận thấy tại BSR có

sự đảo cực sóng phản xạ, biên độ phản xạ mạnh

đồng thời biên độ thay đổi theo khoảng cách thu

nổ, hệ số RC tại đó âm lớn vì sóng đi từ môi

trường có trở kháng âm học cao đến môi trường

có trở kháng âm học thấp

4.1.2 Trường hợp nồng độ GH thay đổi tăng

dần theo độ sâu

Đối với trường hợp này GH có nồng độ thay đổi

tăng dần theo chiều sâu do với vai trò là xi măng

gắn kết trong trầm tích các tham số Vp, Vs,  tăng

lên khi xuống sâu Kết quả ở hình 7, 9

4.2 Nhận xét

Từ sự biến thiên của Vp, Vs, ,  và đặc điểm

băng địa chấn tổng hợp: tại phần nóc có giá trị

biên độ dương nhỏ ở khoảng cách gần và biên độ

âm trung bình đến tương đối cao ở khoảng cách xa

nên có thể đây là dị thường AVO loại II; tại phần

đáy của tầng trầm tích chứa GH có biên độ âm

cao ở gần nguồn nổ và biên độ âm mạnh dần hơn

khi ra xa đây có thể là dị thường AVO loại III

Tuy nhiên để khẳng định được điều này cần phải

(m/s)

 (kg/m3) Bề dày

(m)

Trầm tích đáy biển

1510-1620

460

1460-1580

200-300 Trầm tích

chứa GH

1950-2600

700

1860-1900

225-360 Đới chứa

khí tự do

1200-1420

740

1720-1840

20-100

Trầm tích bão hoà nước biển

1820-1900

610

1880-1900

Bảng 1 Bảng tổng hợp các tham số tạo mô hình

Hình 6 Kết quả trường hợp nồng độ GH không đổi

Hình 7 Kết quả trường hợp nồng độ GH thay đổi

Trang 5

dựa vào nhiều điều kiện đia chất khác Việc xây dựng mô hình hóa tín hiệu địa chấn cụ thể theo phương pháp AVO của trầm tích chứa GH thực chất là giải bài toán thuận trong Thăm dò địa chấn, kết quả bài thu được là một trong những cơ sở để giải bài toán ngược Nhóm nghiên cứu kiến nghị được cung cấp tài liệu các tuyến địa chấn thực tế cũng như tài liệu giếng khoan vùng nghiên cứu GH để từ đó xây dựng được mô hình dị thường AVO trên tài liệu thực, so sánh đối chiếu mô hình lý thuyết và thực tế

5 TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Andreassen_1995_seismic studies of a bottom silulating reflection related to gas hydrate beneath the continental margin of the Beaufort sea, Journal of Geophysical research

[2] William P Dillon, Identification of marine hydrate In situ and their distribution off the Atlantic Coast of the

United States, U.S Geological Survey

[3] Lee_1993_seismic character of gas hydrates on the southeastern U.S continental margin , U.S Geological Survey

[4] Lee Wyung_2001_amplitude blanking related to the pore-filling hydrate in sediments

[5] Taylor_2000_trapping and migration of methane associated with the gas hydrate statiblity zone at the Blake Ridge Diapir

[6] Swart_2009_hydrate occurrentces in the Namibe basin, offshore Namibia; Geological society, London, special publications

[7] Sutan_ 2007 _detection of free gas and gas hydrate based on 3D seismic data and cone penetration testing_ an example from the Nigerian continental slope

Hình 9 Băng địa chấn tổng hợp trường hợp nồng độ GH

thay đổi

Hình 8 Băng địa chấn tổng hợp trường hợp nồng độ GH

không đổi

Trang 6

[8] Sultan_2004_ gas hydrate melting on seafloor slope instability

[9] Stoian_2008_ seismic reflection blank zones , offshore korea, associated with high concentratio of gas hydrate

[10] Spence_1995 seismic studies of methane gas hydrate, offshore vancouver island

[11] Shipley_1979_Seismic evidence for widespread possible gas hydrate horizons on continental slopes and rises

[12] Nghiên cứu khoa học - Cơ sở vật lý địa chất và các phương pháp địa vật lý để tìm kiếm thăm dò khí Hidrat ở

vùng biển Việt Nam,ThS Phạm Văn Tiềm, 2009, Viện Dầu khí Việt Nam

[13] Trung_2012_gas hydrate potentialing the SCS

[14] Giáo trình Thăm dò địa chấn _ GS.TSKH Mai Thanh Tân_2011_Đại học Mỏ Địa Chất

[15] Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển T11(2011) Số 2 Tr 1-22

[16] Một số thông tin về điều tra địa chất Hydrat khí, Nguyễn Thành Vạn, Trần Văn Trị

[17] Phần mềm Hampson Russell được Viện Dầu Khí Việt Nam hỗ trợ

[18] Rutherford, S.R., and Williams, R.H., 1989, Amplitude-versus-offset variations in gas sands: Geophysics, 54,

680-688

Ngày đăng: 24/06/2015, 16:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Ví dụ về BSR.  ([12]) - Bài báo NCKH_nghiên cứu hydrate bằng phương pháp địa chấn nguồn năng lượng mới cho tương lai
Hình 1. Ví dụ về BSR. ([12]) (Trang 2)
Hình 2. Dị thường AVO loại I[18]. - Bài báo NCKH_nghiên cứu hydrate bằng phương pháp địa chấn nguồn năng lượng mới cho tương lai
Hình 2. Dị thường AVO loại I[18] (Trang 3)
Hình 3. Dị thường AVO loại II[18]. - Bài báo NCKH_nghiên cứu hydrate bằng phương pháp địa chấn nguồn năng lượng mới cho tương lai
Hình 3. Dị thường AVO loại II[18] (Trang 3)
Bảng 1. Bảng tổng hợp các tham số tạo mô hình - Bài báo NCKH_nghiên cứu hydrate bằng phương pháp địa chấn nguồn năng lượng mới cho tương lai
Bảng 1. Bảng tổng hợp các tham số tạo mô hình (Trang 4)
Hình 9. Băng địa chấn tổng  hợp trường hợp nồng độ GH - Bài báo NCKH_nghiên cứu hydrate bằng phương pháp địa chấn nguồn năng lượng mới cho tương lai
Hình 9. Băng địa chấn tổng hợp trường hợp nồng độ GH (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm